Tổ chức lãnh thổ công nghiệp nghệ an

  • Số trang: 184 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 18 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

1 MỞ ĐẦU 1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Tổ chức lãnh thổ công nghiệp là một trong những hình thức tổ chức của nền sản xuất xã hội theo lãnh thổ. Nó có vai trò to lớn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nghiên cứu về các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp có ý nghĩa thực tiễn lớn lao. Nắm được đặc điểm, bản chất của các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp là cơ sở để bố trí hợp lý không gian công nghiệp phù hợp với các điều kiện phát triển của từng khu vực, từng quốc gia, từng miền, từng vùng... nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao nhất thông qua sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, vật chất, lao động cũng như tiết kiệm chi phí trong hoạt động sản xuất. Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, vấn đề tổ chức lãnh thổ công nghiệp đã và đang được quan tâm một cách rộng rãi. Nó được xem như một giải pháp phát triển công nghiệp nói riêng và cả nền kinh tế - xã hội nói chung. Các nhà khoa học đã đưa ra một số hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp cơ bản. Nhiều quốc gia đã áp dụng thành công và mang lại hiệu quả kinh tế rất cao, tạo động lực thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế - xã hội phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Malaixia... Ở Việt Nam, trước thập kỉ 90 của thế kỉ XX hầu như chưa có các nghiên cứu về các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp. Năm 1994, Viện Chiến lược phát triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) đưa ra 6 hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp ở Việt Nam là: điểm công nghiệp, cụm công nghiệp, khu công nghiệp, trung tâm công nghiệp, dải công nghiệp, địa bàn công nghiệp trọng điểm; còn Viện chiến lược phát triển (Bộ Công Thương) thì đưa ra phương án 6 vùng công nghiệp và được Chính phủ phê duyệt; bước đầu đã góp phần hoàn thiện bức tranh không gian tổ chức lãnh thổ của nền kinh tế - xã hội nước ta. Tuy nhiên, giữa các quốc gia khác nhau, trên bình diện lãnh thổ rộng lớn, các khái niệm về các hình thức tổ chức lãnh thổ còn vênh nhau. Đơn cử như khái niệm về “cụm công nghiệp”, “khu công nghiệp”… 2 Ở Nghệ An, khái niệm tổ chức lãnh thổ công nghiệp chưa được nghiên cứu sâu và mới chỉ mang tính chất qui hoạch. Do đó, đề tài “Tổ chức lãnh thổ công nghiệp tỉnh Nghệ An” được phát triển theo hướng chuyên sâu, chuyển từ mức độ định tính đơn giản sang định lượng với mong muốn xây dựng một mô hình tổ chức lãnh thổ công nghiệp của tỉnh sao cho mang lại hiệu quả cao nhất, góp phần vào định hướng phát triển tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An. 2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI Trên thế giới, vấn đề tổ chức lãnh thổ hay tổ chức không gian các hoạt động phát triển của con người, trước hết là hoạt động kinh tế, bắt nguồn từ những cơ sở lý thuyết kinh tế của Adam Smith (Lý thuyết bàn tay vô hình) và David Ricardo (Qui luật lợi thế so sánh) [trong 18]. Từ các công trình nghiên cứu của V.Thunen vào năm 1826 [trong 49], của A.Weber vào năm 1909 [90] đến “Lý thuyết của thành phố trực thuộc trung ương” (V.Christaller) [87], học thuyết khu kinh tế (IG. Alessandrovob, M.M. Kolososkij), học thuyết phân chia địa lý của lao động (M.M. Baranskij) [trong 86]… Các nhà địa lý kinh tế - xã hội nghiên cứu kinh tế lãnh thổ, phát hiện những vấn đề có tính qui luật và đúc rút chúng thành những lí thuyết phát triển kinh tế và không gian kinh tế của sự phát triển. Quan sát cuộc sống của cộng đồng trên các lãnh thổ, thể hiện qua các hành vi địa lí như sự trao đổi hàng hóa giữa người sản xuất và tiêu dùng tại các “đầu ra”, “đầu vào”, các “nút” trung tâm và ngoại vi, nhà khoa học người Đức V. Thunen đã nẩy sinh ý tưởng về phát triển chuyên môn hóa nông nghiệp. Từ đây ông đề xuất “Lý thuyết vành đai giữa trung tâm và ngoại vi”, trên cơ sở phân tích những yếu tố định vị về địa tô chênh lệch, về mối quan hệ trong trao đổi hàng hóa… Ông cho rằng “thành phố là trung tâm của thị trường” [trong 49, 80]. Ý tưởng địa tô chênh lệch giữa các lãnh thổ về sau này được coi như nhân tố chìa khóa trong sự phân chia lãnh thổ đồng nhất của một quốc gia thành các vùng đất khác nhau cho mọi chủ thể kinh tế xã hội. Mô hình này bước đầu thể hiện ý thức tổ chức lãnh thổ. Được đề xuất bởi học giả Anfred Weber (1909), lý thuyết khu vị luận công nghiệp giải thích sự tập trung công nghiệp vào lãnh thổ do 3 nguyên nhân chủ yếu: 2 3 yếu tố đầu là chi phí vận tải rẻ nhất và chi phí nhân công thấp nhất là những yếu tố lãnh thổ chung nhất để xác định mô hình định vị và cơ cấu địa lí, thứ 3 là các lực tích tụ và không tích tụ - đó là những yếu tố địa phương xác định mức độ phát tán trong khung chung. Nhưng quan trọng hàng đầu trong định vị vẫn là yếu tố chi phí vận tải. Mục đích của sự định vị công nghiệp tập trung là để “cực tiểu hóa chi phí và cực đại hóa lợi nhuận” [90, trong 27]. Và A. Weber là người đầu tiên nghiên cứu lý thuyết tổng hợp về định vị công nghiệp, đưa ra mô hình không gian về phân bố công nghiệp. Trên cơ sở những ý tưởng của Thunen và Weber, khoảng gần 100 năm sau, tức năm 1903 khi đã hình thành nhiều không gian công nghiệp thường kéo theo là các không gian đô thị, nhà khoa học người Mỹ W. Christaller đề xuất “lý thuyết về điểm trung tâm”. Do sự cạnh tranh trong phát triển cùng với lý thuyết về chi phí nhỏ nhất và thu lợi lớn nhất nên đã hình thành nhiều điểm trung tâm với qui mô kích cỡ khác nhau [87, trong 85, 83]. Lý thuyết trung tâm của Christaller sau này đã được nhà bác học người Đức A. Losh bổ sung và phát triển: giữa các trung tâm có mức độ phụ thuộc khác nhau. Thành phố quan trọng nhất trong hệ thống là đầu mối của toàn bộ hệ thống các điểm dân cư, vai trò thương mại dịch vụ của nó khống chế các vùng phụ cận [trong 85, 27]. Từ các lý thuyết trên đây đã hình thành lý thuyết mang tính qui luật trong phân bố không gian trong nghiên cứu phân cấp đô thị, xác định các nút trọng điểm trong một lãnh thổ nhất định. Nhà kinh tế học người Pháp, Francoi Perroux đưa ra lí thuyết cực phát triển vào đầu những năm 50 của thế kỉ XX. Lí thuyết này chú trọng vào những lãnh thổ làm phát sinh sự tăng trưởng kinh tế của lãnh thổ [trong 88]. Lí thuyết cực phát triển được cải biên qua các thời kì, sau đó đã được một số tác giả như Albert, O. Hirshman, Gunnar Myrdal, Friedmann tổng hợp lại. Lí thuyết này cho rằng công nghiệp và dịch vụ có vai trò to lớn đối với sự tăng trưởng của vùng. Đi kèm theo với điểm phát triển tăng trưởng là một “nhân” công nghiệp then chốt. Ngành công nghiệp then chốt phát triển và phát đạt thì lãnh thổ địa phương nơi nó phân bố cũng phát triển và phát đạt, do công ăn việc làm tăng nên thu nhập và sức mua của dân cư cũng tăng lên, các ngành công nghiệp và các hoạt động mới bị thu hút vào vùng đó 4 [trong 27, 35]. Trên cơ sở lực hút và lực đẩy của mỗi trung tâm mà hình thành nên vùng ảnh hưởng của nó tới xung quanh. Đây là lí thuyết giải thích sự cần thiết của phát triển kinh tế lãnh thổ theo hướng phát triển có trọng điểm. Trong số các lý thuyết của trường phái Xô Viết, đáng chú ý chu trình sản xuất năng lượng của Kolososkij (1947), theo ông: “chu trình năng lượng được hình thành trên cơ sở một loại tài nguyên chủ yếu kết hợp với một nguồn năng lượng để tổ chức sản xuất theo một quy trình hoàn chỉnh”. Kế thừa tư tưởng này, nhiều nhà địa lý Xô viết đã bổ sung, hoàn thiện và đưa ra chu trình sản xuất năng lượng EPS) bao gồm: EPS kim loại đen, EPS kim loại màu, EPS nhiên liệu cứng (than đá, dầu), EPS hoá học quặng mỏ, EPS hoá học kim loại hiếm, EPS công nghiệp dầu khí, EPS silicat, EPS kĩ thuật thuỷ lợi, EPS sử dụng nhiệt năng dưới sâu, EPS công nghiệp gỗ, EPS nông - công nghiệp, EPS đại dương, EPS công nghiệp chế biến và EPS sinh hoá [trong 49]. Từ các lý thuyết về tổ chức lãnh thổ và thực tiễn phát triển, phân bố của ngành công nghiệp, các nhà địa lý đã đưa ra những ý tưởng và đề xuất về khái niệm tổ chức lãnh thổ công nghiệp cũng như hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp. Mặc dù khái niệm và các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp trên thế giới có những nét khác nhau nhưng đều hướng tới mục đích khai thác lãnh thổ một cách tối ưu và nâng cao hiệu quả sản xuất công nghiệp. Tại Liên Xô, ý tưởng tập trung các lực lượng sản xuất trong một lãnh thổ nhất định với mục tiêu tối ưu hóa việc sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động của khu vực và phát triển toàn diện trong các điều kiện của nền kinh tế kế hoạch được thực hiện trong các mô hình của lãnh thổ - công nghiệp phức hợp (TIC) [trong 86]. Như vậy, từ năm 1920 trong các văn liệu khoa học, các TIC đã được xác định bởi các nhà khoa học Liên Xô - đó là các khu vực kinh tế: “Khu vực kinh tế là một lãnh thổ công nghiệp đảm bảo việc sử dụng đầy đủ nhất, hợp lí nhất của tự nhiên và các nguồn lực lao động của khu vực” (Kazanskij, 1970) [trong 86]. Cùng với sự biến đổi của hệ thống lãnh thổ sản xuất của Liên Xô, có sự cần thiết phải phân chia các tiểu vùng kinh tế, vì đảm bảo cho kế hoạch chính xác hơn, phục vụ cho sự phát triển của lãnh thổ. Kể từ đó, TIC đã được phân tích như một tế bào chủ yếu của khu vực 5 kinh tế, từng bước biến đổi từ một khái niệm khoa học vào một đối tượng của qui hoạch kinh tế và hình thành một hình thức tổ chức lãnh thổ của lực lượng sản xuất. Như vậy, cùng với khái niệm “tổ chức lãnh thổ kinh tế”, thuật ngữ “tổ chức lãnh thổ sản xuất công nghiệp” được các nhà khoa học Xô Viết công nhận và sử dụng trong các tài liệu khoa học vào đầu những năm 60. Sau đó khái niệm “tổ chức lãnh thổ” hay còn gọi là “tổ chức không gian” được tiếp nhận và sử dụng ở nhiều nước phương Tây, đặc biệt là ở Mĩ vào đầu những năm 70 [trong 49, 80]. Nhưng chỉ từ giữa và cuối thời gian này, khái niệm “tổ chức lãnh thổ” mới được các nhà khoa học thế giới nghiên cứu và sử dụng rộng rãi với tư cách là công cụ tư duy tổng hợp, công cụ tổ chức thực tiễn các hoạt động của xã hội. Các hình thức TCLTCN rất đa dạng và phong phú. Lịch sử nghiên cứu các hình thức TCLTCN đã có từ lâu, song cho tới nay quan niệm về các hình thức TCLTCN rất khác nhau giữa các nước. Ở Liên Xô và Đông Âu trước đây đã đưa ra 6 hình thức TCLTCN bao gồm: điểm công nghiệp, trung tâm công nghiệp, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, thể tổng hợp công nghiệp, vùng công nghiệp [trong 49]. Khác với trường phái địa lý Xôviết, các nhà khoa học phương Tây không đưa ra những định nghĩa có tính chất hàn lâm, mà đi thẳng vào một số hình thức TCLTCN gắn với thực tiễn và nhấn mạnh nhiều đến quan niệm, nội dung cũng như quá trình hình thành KCN [35]. Cũng giống như phương Tây, các nước trong khu vực Châu Á nhấn mạnh đến quan niệm và quá trình hình thành các khu công nghiệp (KCN). Hơn 40 năm qua, một số nước đã có nhiều thành công trong việc xây dựng những KCN, khu chế xuất, khu thương mại tự do, khu kinh tế cửa khẩu... và nó đã có vai trò tích cực đối với sự phát triển kinh tế của các nước này. Ở Việt Nam, tổ chức không gian được đưa vào nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn bước đầu vào những năm 80. Tổ chức không gian kinh tế - xã hội đã trở thành chương trình đào tạo sau đại học tại Trường Đại học Kinh tế quốc dân [53], và là đối tượng nghiên cứu của các luận án phó tiến sĩ khoa học kinh tế và địa lí kinh tế chính trị của rất nhiều nghiên cứu sinh. Từ năm 1990 đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội nói chung, TCLTCN nói riêng. 6 Vào những năm 1992, lần đầu tiên Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường đã chấp nhận và triển khai 2 đề tài độc lập và trọng điểm cấp Nhà nước, đó là “Tổ chức lãnh thổ Đồng bằng sông Hồng và các tuyến trọng điểm” do cố GS. Lê Bá Thảo chủ trì và “Tổ chức lãnh thổ địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam” do TS. Đặng Hữu Ngọc chủ trì. Với kết quả này, tổ chức lãnh thổ “đã trở thành một phương pháp luận mới được chấp nhận, khác biệt với khái niệm qui hoạch vùng, chiến lược (hay kế hoạch) phát triển, tổ chức lãnh thổ sản xuất, tổng sơ đồ phân bố lực lượng sản xuất… như đã làm trước đây.” [31] Đến năm 1996, với đề tài độc lập và trọng điểm cấp Nhà nước về “Cơ sở khoa học của tổ chức lãnh thổ Việt Nam”, GS. Lê Bá Thảo [12] đã phân tích một cách có hệ thống và sâu sắc cơ sở lí luận và thực tiễn của TCLTCN Việt Nam trong chương III của đề tài. Ở đây, giáo sư đã phân tích thực trạng phân bố không gian công nghiệp của Việt Nam để thấy được tính hợp lí và bất hợp lí trong nó. Từ đó đặt ra những yêu cầu cho TCLTCN, so sánh thực tế định vị không gian công nghiệp với những lý thuyết định vị phổ biến. Đồng thời, đưa ra các điều kiện và khả năng phân bố không gian công nghiệp, xác định những nhu cầu trước mắt và dự báo với sự phát triển của một số ngành công nghiệp chủ đạo, đặt ra vấn đề về việc lựa chọn các nguồn lực một cách kĩ lưỡng để phát triển hướng CMH cho từng địa phương. Cuối cùng là thử phác họa một sơ đồ khối TCLTCN Việt Nam. Năm 1994, Viện Chiến lược phát triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) đã đưa ra 6 hình thức TCLTCN ở Việt Nam là: điểm công nghiệp, cụm công nghiệp, khu công nghiệp, trung tâm công nghiệp, dải công nghiệp, vùng công nghiệp. Cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về TCLTCN Việt Nam như: “KCN Việt Nam” [1], “Tổ chức lãnh thổ công nghiệp Việt Nam” [49]... Các công trình nghiên cứu trên hầu hết đều nghiên cứu công nghiệp và TCLTCN trên phạm vi lãnh thổ cả nước. Ở lãnh thổ cấp vùng, tỉnh, thành phố có những đề tài nghiên cứu về TCLTCN như: “TCLTCN chế biến nông - lâm - thủy sản vùng Đông Nam Bộ” [32], “Tổ chức lãnh thổ công nghiệp vùng Tây Nguyên” [36]… Ở Nghệ An, tỉnh đã lập và triển khai qui hoạch phát triển công nghiệp đến 7 năm 2020. Bên cạnh đó, cũng đã có một số công trình nghiên cứu có đề cập đến công nghiệp và TCLTCN Nghệ An như: "Qui hoạch phát triển công nghiệp Nghệ An đến năm 2020" [69], “Qui hoạch chung KKT Đông Nam và qui hoạch các KCN trên địa bàn Nghệ An” [67]... Như vậy, dựa trên những kết quả đạt được của các công trình nghiên cứu đề tài đã kế thừa được hệ thống cơ sở lí luận về tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội nói chung, tổ chức lãnh thổ công nghiệp nói riêng, cũng như cơ sở thực tiễn của tổ chức lãnh thổ công nghiệp trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, đề tài vận dụng những lí luận về tổ chức lãnh thổ để xây dựng cơ sở lí luận cho tổ chức lãnh thổ công nghiệp Nghệ An và nghiên cứu sâu hơn các chỉ tiêu định lượng để lượng hóa hiệu quả hình thức khu công nghiệp, một hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp tiêu biểu, phổ biến hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam và đang được tỉnh quan tâm đầu tư. 3. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ, GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU 3.1. Mục đích Trên cơ sở tổng quan những vấn đề lí luận và thực tiễn về tổ chức lãnh thổ công nghiệp, đề tài phân tích các nhân tố tác động đến TCLTCN, đánh giá hiện trạng tổ chức lãnh thổ công nghiệp của tỉnh, trong đó tập trung vào phân tích hiệu quả hoạt động khu công nghiệp nhằm phát hiện những bất hợp lí, những xu thế có tính qui luật đối với tổ chức lãnh thổ công nghiệp của tỉnh. Qua đó, đề xuất phương hướng tổ chức lãnh thổ công nghiệp và các giải pháp nhằm đem lại hiệu quả cao nhất về kinh tế - xã hội và môi trường. 3.2. Nhiệm vụ - Tổng quan có chọn lọc cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn về tổ chức lãnh thổ công nghiệp. Xác định hệ thống chỉ tiêu đánh giá cho một hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp tiêu biểu cho địa bàn cấp tỉnh - khu công nghiệp - Phân tích, đánh giá những nhân tố chính ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ công nghiệp tỉnh Nghệ An. 8 - Phân tích, đánh giá hiện trạng tổ chức lãnh thổ công nghiệp Nghệ An, trọng tâm vào khu công nghiệp. - Đề xuất định hướng và các giải pháp phù hợp cho việc tổ chức lãnh thổ công nghiệp tỉnh Nghệ An. 3.3. Giới hạn nghiên cứu đề tài - Về phương diện lãnh thổ, đề tài nghiên cứu trên phạm vi lãnh thổ xác định là tỉnh Nghệ An, có liên hệ với một số địa phương lân cận. - Về nội dung: đề tài đánh giá những nhân tố chính tác động đến tổ chức lãnh thổ công nghiệp Nghệ An. Phần hiện trạng, đề tài tập trung phân tích một số hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp chính trên địa bàn tỉnh, đặc biệt chú trọng vào phân tích hiệu quả hoạt động của hình thức khu công nghiệp tập trung. - Về thời gian: Đề tài sử dụng chuỗi số liệu từ 2001 - 2010 để phân tích hiện trạng; định hướng đến 2020. 4. QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU 4.1. Quan điểm tổng hợp, lãnh thổ Mọi sự vật hiện tượng đều tồn tại trong một không gian nhất định. Vì vậy, cần phải gắn đối tượng nghiên cứu với không gian xung quanh mà nó đang tồn tại. Tổ chức lãnh thổ công nghiệp là một bộ phận quan trọng trong tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội, nó gắn bó chặt chẽ với hoạt động sản xuất của con người, môi trường tự nhiên và môi trường kinh tế - xã hội bao quanh. Các thành phần cơ bản đó cùng với phương thức sản xuất tiến bộ hay lạc hậu sẽ đem lại sự phát triển nhanh hay chậm cho lãnh thổ đó. Tổ chức lãnh thổ công nghiệp Nghệ An là một bộ phận quan trọng trong tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội của tỉnh, nó gắn bó chặt chẽ với môi trường tự nhiên, môi trường kinh tế - xã hội và hoạt động sản xuất của con người trong phạm vi lãnh thổ tỉnh Nghệ An. Bởi vậy, nghiên cứu TCLTCN của tỉnh là nghiên cứu mối quan hệ tương tác giữa các nhân tố tự nhiên - kinh tế - xã hội trên lãnh thổ tỉnh Nghệ An để từ đó phát hiện ra những mối liên hệ nhân quả, những qui luật phát triển riêng của TCLTCN. Trong quá trình nghiên cứu, quan điểm này được vận dụng khắc họa những đặc trưng của tài nguyên thiên nhiên và các điều kiện kinh tế - xã hội - văn hóa của Nghệ 9 An nói chung, cũng như các địa phương nói riêng, để làm căn cứ xác định các vùng sản xuất CMH, các khu nhân hội tụ cũng như những khu vực chậm phát triển, nhằm điều chỉnh lại cấu trúc lãnh thổ công nghiệp Nghệ An một cách hợp lí và hiệu quả. 4.2. Quan điểm hệ thống Mọi chủ thể tồn tại và phát triển trên trái đất đều có mối quan hệ gắn kết hữu cơ trong thể thống nhất - như một hệ thống mang tính tự nhiên khách quan. Về góc độ tổ chức lãnh thổ, quan điểm hệ thống trong nghiên cứu thiết kế, quản lí điều hành hệ thống là lợi ích cục bộ phải phục tùng lợi ích chung của hệ thống, có nghĩa là mọi chủ thể kinh tế - xã hội của một địa phương (ví dụ: thể tổng hợp kinh tế một ngành trong một thể tổng hợp kinh tế của một tỉnh) phải đặt lợi ích chung của tỉnh lên trên hết; các tỉnh thỏa thuận với cấp vùng vĩ mô, các vùng vĩ mô phục tùng lợi ích của quốc gia. Lãnh thổ Nghệ An được coi là một hệ thống tổng hợp các yếu tố tự nhiên - kinh tế - xã hội bao gồm các hệ thống nhỏ bên trong là hệ thống tự nhiên, hệ thống dân cư xã hội, hệ thống hoạt động của TCLTCN. Hoạt động của hệ thống trong TCLTCN Nghệ An luôn luôn trong trạng thái cân bằng động. Chẳng hạn như xây dựng một công trình qui mô lớn như thủy điện Bản Vẽ sẽ có những biến động nhiều mặt trong nền kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An, của vùng Bắc Trung Bộ và thậm chí là cả nước láng giềng. Bên cạnh đó, việc xây dựng một ĐCN dựa trên các yếu tố tự nhiên cũng cần được xem xét một cách kĩ lưỡng, cẩn thận để tránh những tác động làm tổn thương đến cấu trúc của hệ thống tự nhiên, biến đổi hệ thống tự nhiên trên diện rộng. Việc xây dựng hàng loạt nhà máy thủy điện trên địa bàn tỉnh Nghệ An cần được xem xét lại một cách có chọn lọc để có thể hạn chế những tác động xấu, phá vỡ thế cân bằng tự nhiên cũng như kinh tế - xã hội trên lãnh thổ của tỉnh. Xuất phát từ quan điểm hệ thống, TCLTCN Nghệ An là một bộ phận của tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội Nghệ An và đồng thời là một bộ phận của TCLTCN vùng Bắc Trung Bộ. Do đó, vận dụng quan điểm hệ thống vào nghiên cứu TCLTCN Nghệ An để xem xét mối quan hệ liên ngành, liên lãnh thổ để làm sao TCLTCN Nghệ An có thể phối hợp tốt nhất với tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội Nghệ An, cũng như TCLTCN Nghệ An phải phục vụ tốt nhất cho TCLTCN Bắc Trung Bộ nói riêng, TCLTCN Việt Nam nói chung. 10 4.3. Quan điểm phát triển bền vững Quan niệm phát triển bền vững trong phát triển kinh tế là quá trình phải đảm bảo có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lí, hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Đó cũng chính là tiêu chí cho tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội nói chung, tổ chức lãnh thổ công nghiệp tỉnh Nghệ An nói riêng. Trong quá trình xây dựng cấu trúc lãnh thổ sản xuất kinh tế cần phải đảm bảo tính bền vững kinh tế, tính bền vững xã hội và tính bền vững môi trường. Về không gian, cần phải chú trọng phát triển bền vững từng khu vực trên lãnh thổ của tỉnh, bộ phận cấu thành của phát triển bền vững vùng của tỉnh. Tuy thực tiễn phát triển của nền kinh tế cạnh tranh đã thúc đẩy các vùng phát triển (như khu vực thành thị, khu vực đồng bằng ven biển) phải phát huy cao độ các lợi thế của vùng và gây xung đột với tính bền vững của toàn tỉnh và những vùng chậm phát triển (khu vực đồi núi), thiếu gắn kết trong mô hình phát triển theo thời gian trên không gian, dẫn tới mức độ lãng phí tài nguyên trầm trọng không ai kiểm soát, mức thu nhập của các tầng lớp dân cư trên các vùng chênh lệch nhau khá xa, nhất là giữa thành thị và nông thôn. Do đó, để phát triển bền vững tổ chức lãnh thổ công nghiệp cần phải có sự gắn kết giữa các mục tiêu kinh tế - xã hội - môi trường, cũng như có sự gắn kết trong hệ thống lãnh thổ của tỉnh giữa khu vực trung du miền núi với đồng bằng ven biển, thành thị với nông thôn, cũng như sự gắn kết các mục tiêu phát triển của tổ chức lãnh thổ của tỉnh với mục tiêu phát triển tổ chức lãnh thổ của vùng Bắc Trung Bộ và cả nước. 4.4. Quan điểm lịch sử, viễn cảnh Mỗi một lãnh thổ đều có một bề dày lịch sử và có một nền văn hóa riêng; trải qua một quá trình phát triển lâu dài để có thể tạo nên những đặc điểm riêng biệt về tự nhiên, văn hóa và con người. Tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội nói chung, tổ chức lãnh thổ công nghiệp nói riêng cũng là sản phẩm của lịch sử. Do đó, việc nhìn nhận sự phát triển của nó trong các giai đoạn phát triển là việc làm cần thiết để từ đó có thể rút ra những qui luật phát triển, những bài học quí giá để có thể cấu trúc lại lãnh thổ ngày càng hợp lý. Nghệ An là mảnh đất có một bề dày lịch sử và có một nền văn hóa lâu đời với những bản sắc riêng. Trải qua quá trình phát triển lâu dài với bao thăng trầm của lịch sử 11 đã định hình những nét riêng ấy trong thế núi, hình sông và con người xứ Nghệ. Những đặc trưng ấy đã được khai thác vào trong sự phát triển của TCLTCN của tỉnh. Do đó, việc nghiên cứu TCLTCN của tỉnh trước hết cần phải xem xét những yếu tố có tính chất nguồn cội cũng như sự biến động của những yếu tố đó và sự thay đổi về mức độ tác động của các yếu tố đó theo thời gian đến TCLTCN. Dưới quan điểm lịch sử, cần phải có sự phân tích, đánh giá hiện trạng TCLTCN qua các giai đoạn phát triển để rút ra những qui luật phát triển của nó cũng như tiếp thu các bài học kinh nghiệm từ thực tiễn tổ chức lãnh thổ để có thể đánh giá được những khả năng, triển vọng và đề ra những giải pháp và định hướng phát triển của TCLTCN Nghệ An trong tương lai. 5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5.1. Phương pháp thu thập, xử lí và tổng hợp tài liệu Phương pháp thu thập, xử lí và tổng hợp tài liệu được sử dụng theo những bước sau để đạt được các nhiệm vụ nghiên cứu: - Bước chuẩn bị: xác định đối tượng và các nội dung thu thập tài liệu theo mục tiêu của đề tài. - Bước tiến hành thu thập tài liệu. - Bước xử lí, phân tích và tổng hợp tài liệu. Các tài liệu thu thập được xử lí, phân tích và tổng hợp trong đề tài dưới nhiều hình thức khác nhau. Đó có thể là những trích dẫn nguyên văn có chỉ rõ nguồn trích, hoặc những dẫn chứng, những minh họa dưới dạng các bảng biểu, tranh ảnh, hoặc có thể vận dụng để đưa ra cơ sở lí luận cho TCLTCN của tỉnh Nghệ An. Các tài liệu được tổng hợp theo từng mục riêng dựa vào đề cương nghiên cứu của đề tài. Đồng thời một danh sách đầy đủ các tài liệu tham khảo sử dụng trong đề tài cũng được lập ra để làm cơ sở cho việc đối chiếu. 5.2. Phương pháp thống kê, so sánh Phương pháp thống kê, so sánh được sử dụng trong việc lập ra các bảng thống kê định lượng cho các chỉ tiêu được đề cập trong đề tài. Mỗi bảng thống kê đều có đánh số và đề mục rõ ràng cũng như ghi rõ nguồn. Các bảng thống kê có thể là giá trị 12 tuyệt đối hoặc giá trị tương đối, có thể là số liệu gốc hoặc số liệu đã qua xử lí. Bên cạnh những số liệu của lãnh thổ nghiên cứu, các số liệu của các lãnh thổ kế cận và khu vực Bắc Trung Bộ về một số chỉ tiêu trong TCLTCN cũng được thu thập và xử lí để có thể phân tích, so sánh. Ngoài ra, các biều đồ, đồ thị cũng được sử dụng để thể hiện một cách trực quan các chỉ tiêu được đưa ra phân tích để có thể nhấn mạnh rõ hơn sự biến động của các đặc trưng, các mặt của đối tượng nghiên cứu. Trong quá trình sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, nguồn cung cấp số liệu cũng như sự thống nhất về mặt thời gian luôn được chọn lọc để đảm bảo tính nhất quán trong cho việc phân tích, so sánh. 5.3. Phương pháp thực địa Để có thể nghiên cứu một cách khách quan và xác thực TCLTCN Nghệ An, các nghiên cứu thực địa được tiến hành để có thể thu thập số liệu, hình ảnh cũng như rút ra những kết luận từ việc quan sát thực tiễn của các hình thức tổ chức lãnh thổ tỉnh Nghệ An. Cùng với phương pháp quan sát thực địa, phương pháp điều tra đã được sử dụng để thu thập thêm số liệu và thông tin thực tế. Phương pháp này được tiến hành trên cơ sở phỏng vấn, gợi mở và phát phiếu điều tra nhằm thăm dò ý kiến của người lao động và người dân tại khu vực xây dựng điểm, khu, CCN, coi đó là cơ sở quan trọng để đánh giá hiệu quả sản xuất, hiệu quả xã hội và những ảnh hưởng đối với môi trường của các cơ sở sản xuất công nghiệp cũng như đánh giá sức hút của các hình thức TCLTCN. 5.4. Phương pháp chuyên gia Trong nghiên cứu TCLTCN Nghệ An, đề tài đã nhận được sự góp ý từ các chuyên gia thuộc lĩnh vực phát triển vùng thuộc Bộ Kế hoạch Đầu tư, của Sở Công nghiệp Nghệ An, các giảng viên chuyên ngành địa lý kinh tế - xã hội của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Trên cơ sở lấy ý kiến chuyên gia về các lĩnh vực: Cơ sở lí luận của TCLTCN, về quản lí tài nguyên thiên nhiên trong phát triển công nghiệp, vấn đề phát triển các hình thức TCLTCN, vấn đề phát triển liên ngành, liên vùng, các giải pháp phát triển TCLTCN. Những kinh nghiệm của các chuyên gia trong lĩnh vực này đã góp phần xây dựng một số chỉ tiêu đánh giá cho hình thức tổ chức lãnh thổ KCN. 13 5.5. Phương pháp bản đồ và hệ thông tin địa lý Việc sử dụng GIS trong phạm vi nghiên cứu của đề tài nhằm xác định sự phân hóa không gian cũng như chất lượng và trữ lượng của các loại tài nguyên, sự định vị của các hình thức TCLTCN, cũng như mối quan hệ của TCLTCN theo các tuyến lực và hạt nhân hội tụ, xây dựng mô hình TCLTCN Nghệ An trong tương lai dựa trên các định hướng. 5.6. Phương pháp dự báo Trong việc xây dựng phương hướng phát triển TCLTCN Nghệ An, đề tài đã tham khảo và sử dụng những qui hoạch phát triển TCLTCN Nghệ An do Sở Công nghiệp và UBND tỉnh Nghệ An thực hiện. Các phương pháp dự báo có tính định lượng sử dụng phương pháp ngoại suy và kết quả của đề tài kế thừa một cách có chọn lọc từ qui hoạch chung của tỉnh. Tuy nhiên, dưới góc độ nghiên cứu tổ chức lãnh thổ, phương pháp lấy ý kiến chuyên gia được sử dụng để xây dựng định hướng và các giải pháp phát triển của TCLTCN Nghệ An. 6. ĐÓNG GÓP CHỦ YẾU CỦA LUẬN ÁN - Đúc kết, bổ sung và làm sáng tỏ được cơ sở lí luận và thực tiễn về TCLTCN và vận dụng chúng vào nghiên cứu ở tỉnh Nghệ An. - Xác định được hệ thống chỉ tiêu mang tính định lượng để đánh giá một hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp tiêu biểu cho địa bàn cấp tỉnh là KCN và áp dụng vào địa bàn nghiên cứu. - Đánh giá được các nhân tố ảnh hưởng đến TCLTCN của tỉnh Nghệ An để làm rõ được những thế mạnh và hạn chế của địa bàn nghiên cứu. - Đánh giá được thực trạng TCLTCN của tỉnh Nghệ An với các hình thức: điểm công nghiệp, cụm công nghiệp, khu công nghiệp, trung tâm công nghiệp, trong đó tập trung đánh giá các KCN bằng hệ thống chỉ tiêu đã được xác định. - Đề xuất được định hướng và các giải pháp để phát triển có hiệu quả hơn TCLTCN ở tỉnh Nghệ An. 7. CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về tổ chức lãnh thổ công nghiệp Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng đến TCLTCN tỉnh Nghệ An Chương 3: Hiện trạng tổ chức lãnh thổ công nghiệp tỉnh Nghệ An Chương 4: Định hướng và giải pháp TCLTCN tỉnh Nghệ An đến năm 2020 14 Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP 1.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1.1. Tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội 1.1.1.1. Phân công lao động xã hội: cơ sở nền tảng của tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội Phân công lao động xã hội (PCLĐXH) là một tất yếu khách quan bắt nguồn từ nhu cầu và sự phát triển đời sống xã hội. Kinh tế hàng hóa là một hình thái của nền sản xuất xã hội nối tiếp và cao hơn nền sản xuất tự cung tự cấp, trong đó, sản phẩm được sản xuất ra để trao đổi thông qua mua bán trên thị trường. Điều kiện chung của tồn tại sản xuất hàng hóa là PCLĐXH và sự tách biệt (độc lập) kinh tế giữa những người sản xuất. Phân công lao động xã hội tạo ra sự CMH sản xuất và từng ngành nghề riêng biệt làm cho hoạt động sản xuất ngày càng đa dạng, phong phú và rộng khắp. Như vậy, PCLĐXH có hai hình thức cơ bản là phân công lao động theo ngành và phân công lao động theo lãnh thổ. Phân công lao động xã hội theo ngành chính là tổ chức lao động xã hội theo các ngành để tạo ra những sản phẩm cụ thể phục vụ yêu cầu xã hội. PCLĐXH theo ngành phát triển từ thấp đến cao, từ nông nghiệp đến công nghiệp rồi đến dịch vụ. Quá trình PCLĐXH theo ngành đã kéo theo quá trình phân công lao động theo lãnh thổ - đây là một quá trình tất yếu thể hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa PCLĐXH theo ngành và PCLĐXH theo lãnh thổ. “Phân công lao động theo lãnh thổ chính là tổ chức lao động xã hội theo ngành gắn với lãnh thổ, làm cho mỗi lãnh thổ có một chức năng riêng và công năng tương đối khác nhau” [80]. Quá trình phân công lao động theo lãnh thổ thúc đẩy việc hình thành CMH sản xuất của từng vùng (địa phương) dựa vào những thế mạnh riêng của mình về sự khác biệt của điều kiện sản xuất cũng như tài năng của người lao động, nhằm tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa có chất lượng cao, giá thành hạ nhằm mang lại hiệu quả kinh tế. 15 Phân công lao động xã hội theo lãnh thổ không phải là bất biến mà là một phạm trù kinh tế, xã hội, lịch sử; quá trình này không chỉ phản ánh những quan hệ xã hội của con người do lịch sử tạo ra mà còn phản ánh cả trình độ phát triển của lực lượng sản xuất xã hội. Do đó, có thể thấy rằng tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội nói chung, TCLTCN nói riêng có quan hệ hữu cơ với PCLĐXH theo lãnh thổ, hay nói cách khác, PCLĐXH theo lãnh thổ có ý nghĩa đặc biệt đối với tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội. 1.1.1.2. Quan niệm về tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội Theo quan điểm của trường phái địa lý Xô Viết, tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội là sự sắp xếp, bố trí và phối hợp các đối tượng có ảnh hưởng lẫn nhau, có mối quan hệ qua lại giữa các hệ thống sản xuất, hệ thống dân cư nhằm sử dụng hợp lý các nguồn lực để đạt hiệu quả cao về kinh tế, xã hội và môi trường [49]. Theo quan điểm của trường phái địa lý phương Tây, tổ chức lãnh thổ (còn gọi là tổ chức không gian kinh tế - xã hội) được coi là sự lựa chọn về nghệ thuật sử dụng lãnh thổ một cách đúng đắn nhằm tìm kiếm một tỉ lệ, quan hệ hợp lý về phát triển kinh tế - xã hội giữa các ngành trong một vùng, giữa các lãnh thổ nhỏ trong một vùng lớn hoặc giữa các vùng trong cùng một quốc gia có xét đến mối liên hệ giữa các quốc gia để tạo ra giá trị mới [80]. Theo quan điểm này, về mặt địa lý, tổ chức không gian kinh tế xã hội được xem như là một hoạt động có tính chất định hướng, hướng tới sự công bằng về không gian giữa trung tâm và ngoại vi, giữa các cực với không gian ảnh hưởng nhằm giải quyết việc làm, cân đối giữa nông thôn và thành thị, bảo vệ môi trường sống của con người. Như vậy, có thể hiểu “tổ chức không gian kinh tế - xã hội” là sự “sắp xếp” và “phối hợp” các đối tượng trong mối quan hệ liên ngành, liên vùng nhằm sử dụng một cách hợp lí các tiềm năng tự nhiên, lao động, vị trí địa lý kinh tế, chính trị và cơ sở vật chất kỹ thuật đã và sẽ được tạo dựng để đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao và nâng cao mức sống dân cư, đảm bảo sự phát triển bền vững của lãnh thổ. 1.1.1.3. Các lý thuyết liên quan đến tổ chức lãnh thổ công nghiệp Kinh tế lãnh thổ và những lí thuyết kinh tế quan trọng có liên quan với nhau. Các nhà địa lý kinh tế - xã hội nghiên cứu kinh tế lãnh thổ, phát hiện những vấn đề có tính qui 16 luật và đúc rút chúng thành những lí thuyết phát triển kinh tế và không gian kinh tế của sự phát triển. Dưới đây là một số lí thuyết phổ biến ứng dụng trong TCLTCN. a. Lí thuyết tổ chức Hệ thống lãnh thổ kinh tế - xã hội nói chung, hệ thống lãnh thổ công nghiệp nói riêng cần phải được tổ chức. Giữa ngành với ngành, giữa ngành với lãnh thổ cần được bố trí theo một trật tự hợp lí, được định hướng phát triển đúng đắn [80]. Việc bố trí các ngành (xí nghiệp) trên lãnh thổ cần tôn trọng các qui luật tự nhiên, qui luật kinh tế - xã hội diễn ra trên lãnh thổ và xem xét trong mối quan hệ với lãnh thổ khác nhằm đảm bảo được hiệu quả cao nhất về kinh tế - xã hội - môi trường. b. Lý thuyết khu vị luận công nghiệp Với việc công bố Über den Standort der Industrie (Theory of the Location of Industries - Lý thuyết về Vị trí của ngành công nghiệp) vào năm 1909, Alfred Weber (1868-1958) đưa ra lý thuyết đầu tiên về định vị công nghiệp. Mô hình của ông đã tính toán các nhân tố không gian cho việc tìm kiếm vị trí tối ưu và chi phí tối thiểu cho các nhà máy sản xuất. Các điểm để định vị một ngành công nghiệp giảm thiểu chi phí vận chuyển và lao động yêu cầu phân tích của ba yếu tố: - Các điểm vận chuyển tối ưu dựa trên các chi phí về khoảng cách với "chỉ số vật liệu", tỷ lệ trọng lượng với các sản phẩm trung gian (nguyên liệu) đến thành phẩm. - Các biến dạng lao động, trong đó nhiều nguồn thuận lợi hơn của lao động làm cho chi phí thấp hơn có thể biện minh cho khoảng cách vận chuyển lớn hơn. - Các lực tích tụ và không tích tụ [90]. Vấn đề xác định vị trí cho một ngành công nghiệp ngày càng phù hợp với thị trường toàn cầu ngày nay và các tập đoàn xuyên quốc gia. Chỉ tập trung vào các cơ chế của mô hình Weber có thể biện minh khoảng cách vận chuyển lớn hơn đối với lao động rẻ và chưa được khai thác nguyên liệu thô. Khi nguồn tài nguyên đang cạn kiệt hoặc có những vấn đề nảy sinh của người lao động, ngành công nghiệp có thể di chuyển đến các nước khác nhau [trong 35]. Tóm lại, mục đích của sự định vị công nghiệp tập trung là để “cực tiểu hóa chi phí và cực đại hóa lợi nhuận”. Lý thuyết này coi trọng vai trò của thành phố và xem 17 thành phố là trung tâm thị trường, thành phố có lực hút lớn để lan tỏa ra xung quanh. Lý thuyết này chỉ phù hợp với một nền kinh tế đang ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa. Và A. Weber là người đầu tiên nghiên cứu lý thuyết tổng hợp về định vị công nghiệp, đưa ra mô hình không gian về phân bố công nghiệp. c. Lý thuyết các điểm trung tâm của W. Christaller - (Đức, 1933) Sự phân bố và kích thước của các vị trí đô thị là một câu hỏi quan trọng trong khoa học đô thị. Walter Christaller, một nhà địa lý Đức, là người đầu tiên đưa ra “Lí thuyết điểm trung tâm” (CPT) vào năm 1933. Christaller đang nghiên cứu các khu định cư đô thị ở miền nam nước Đức và lý thuyết cao cấp này như một phương tiện để nhận biết làm thế nào các khu định cư đô thị phát triển và có khoảng cách trong mối quan hệ với nhau [87, trong 83]. Một vị trí trung tâm là một khu định cư hoặc một điểm nút phục vụ khu vực xung quanh với hàng hoá và dịch vụ (Mayhew, 1997) [trong 83, 85]. Mô hình của Christaller cũng được dựa trên tiền đề rằng tất cả các hàng hoá và dịch vụ được mua bởi người tiêu dùng từ các địa điểm trung tâm gần nhất, mà nhu cầu được đặt trên tất cả các địa điểm trung tâm trong đồng bằng tương tự, và rằng không có nơi tập trung nào thực hiện lợi nhuận quá mức. CPT của Christaller đã được phát triển từ khái niệm về tập trung như một nguyên tắc đặt hàng. Chirstaller đề xuất rằng nếu tập trung khối lượng xung quanh hạt nhân là một hình thức cơ bản về trật tự, thì cùng một nguyên tắc có thể đánh đồng với việc tập trung hóa tại các khu định cư đô thị. Mô hình Christaller đề xuất một sự sắp xếp thứ bậc của các khu định cư và khái niệm mô hình với sự sắp xếp lục giác. Các hình lục giác tốt nhất tương đương một vòng tròn bảo hiểm tối đa và một số vấn đề của chồng chéo trong sắp xếp tròn đã được gỡ bỏ từ sắp xếp lục giác. Quy mô dân số và tầm quan trọng của trung tâm không nhất thiết đồng nghĩa, nhưng các trung tâm của nơi này đã được xác định về tầm quan trọng của nó trong khu vực xung quanh nó [trong 85]. Các lý thuyết bao gồm các khái niệm cơ bản của trung tâm, ngưỡng, và phạm vi. Tính trung tâm vẽ đến một nơi cụ thể. Ngưỡng là thị trường tối thiểu cần thiết để 18 mang lại một công ty mới hoặc nhà cung cấp dịch vụ mới, sự tồn tại thành phố và giữ cho nó hoạt động, và phạm vi là khoảng cách tối thiểu trung bình mà mọi người sẽ đi du lịch để mua các dịch vụ, hàng hóa. Đây là nguyên tắc tiếp thị trong mô hình của Christaller [trong 83, 85]. Trong những năm 1940, August Losch, một nhà kinh tế Đức đã mở rộng và sửa đổi cho CPT của Christaller. Ông xây dựng một mô hình tiêu dùng dựa trên cơ cấu hành chính và sản xuất nhưng trái ngược với các trung tâm dịch vụ trong mô hình của Christaller. Losch bắt đầu từ "đáy" của mô hình bằng cách xem xét một trong những "khách hàng tương đương" hoặc một đơn vị tiêu thụ và xây dựng từ đó [trong 35, 85]. Từ các lý thuyết trên đây đã hình thành lý thuyết mang tính qui luật trong phân bố không gian từ tương quan giữa các điểm dân cư, phát hiện một trật tự mang tính qui luật trong phân bố các thành phố, các đô thị, các thị trấn, làng mạc nông thôn, sau này được áp dụng trong nghiên cứu phân cấp đô thị, xác định các nút trọng điểm trong một lãnh thổ nhất định. d. Lí thuyết phát triển các cực François Perroux giới thiệu ý tưởng của “Cực tăng trưởng kinh tế” vào năm 1949. Ông và những người khác đã mở rộng thêm khái niệm này, nhưng vẫn không có nhiều sự đồng thuận trong giới nghiên cứu. Tuy nhiên, nó đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với các nhà hoạch định chính sách. Các nhà hoạch định chính sách cho rằng các nhà kinh tế có thể cung cấp các phân tích kỹ thuật cần thiết để tăng thêm ý nghĩa cho chính sách dựa trên khái niệm cực tăng trưởng. Khái niệm trực quan của các cực tăng trưởng xác định một cực tăng trưởng là một ngành công nghiệp hoặc một nhóm ngành công nghiệp. Tuy nhiên, Perroux quy định các cực tăng trưởng trong ý tưởng của ông là không gian kinh tế trừu tượng. Perroux cho rằng không gian kinh tế trừu tượng là có ba loại: - Một kế hoạch kinh tế - Một trường lực hoặc ảnh hưởng - Một tổng thể đồng nhất 19 Vì quan niệm trừu tượng về cực tăng trưởng nên Perroux phủ nhận không gian kinh tế trừu tượng có thể tương ứng với một khu vực địa lý như là một thành phố hoặc khu vực [trong 89]. Bất chấp sự từ chối của Perroux rằng các cực tăng trưởng ứng dụng trong không gian địa lý, các ý tưởng này đã được vận dụng vào không gian địa lý. Ví dụ, nền kinh tế khu vực của Paris có thể được coi là một cực tăng trưởng. Trường hợp của Paris cho thấy ảnh hưởng của sự phân cực trên khu vực địa lý bao quanh không phải luôn luôn tích cực. Sự hấp dẫn của Paris quá lớn nên nó đã vô cùng khó khăn để thúc đẩy phát triển kinh tế ở bất kỳ khu vực bên ngoài khu vực Paris. Các nhà hoạch định chính sách Pháp đề cập đến điều này như là hiện tượng của Paris và sa mạc Pháp. Ở Mỹ, khái niệm cực tăng trưởng thường được hiểu như việc nhấn mạnh vị trí địa lý và nó được gọi là trung tâm tăng trưởng. Các trung tâm tăng trưởng có liên quan đến các khái niệm về tích tụ [trong 35]. Trong nhiều phương diện, các tác phẩm của Mỹ về các trung tâm tăng trưởng gần như độc lập với Perroux và tư tưởng Pháp về các cực tăng trưởng. Nhà kinh tế người Mỹ, John R. Friedman, đã phát triển một khái niệm có liên quan nhưng khác biệt với những ý tưởng của các cực tăng trưởng và trung tâm tăng trưởng. Nó được gọi là vật chất của trung tâm so với ngoại vi. Friedman đã phát triển ý tưởng này trong việc phân tích các mối quan hệ của các khu vực bên trong của Venezuela đối với các vùng ven biển. Những người khác đã mở rộng khái niệm đối với mối quan hệ của trung tâm Bắc Đại Tây Dương của Tây Âu và Bắc Mỹ đến châu Mỹ La tinh, châu Phi và Đông Nam Á [trong 35, 88]. Nhìn chung các khái niệm về các cực tăng trưởng ban đầu không gắn với việc phân tích các vấn đề kinh tế vùng. Tuy nhiên ý tưởng về cực tăng trưởng đã có một vai trò quan trọng trong việc xây dựng chính sách khu vực. Lí thuyết cực tăng trưởng đã được áp dụng rộng rãi ở châu Á, nhất là ở các nước ASEAN và qua thực tế đã có nhiều kinh nghiệm và kết quả thích hợp với các quốc gia còn thiếu vốn cần kêu gọi vốn nước ngoài. Đây cũng là lí thuyết giải thích sự cần thiết của phát triển kinh tế lãnh thổ theo hướng phát triển có trọng điểm. 20 Trong các lí thuyết này thì lí thuyết các điểm trung tâm và lí thuyết phát triển các cực được đặc biệt quan tâm. Đặc biệt là việc vận dụng nó vào tổ chức lãnh thổ công nghiệp Nghệ An với việc hình thành mạng lưới đô thị tạo ra lực hút của lãnh thổ nhằm thúc đẩy sự ra đời của các điểm CN, CCN, KCN. 1.1.2. Tổ chức lãnh thổ công nghiệp 1.1.2.1. Quan niệm về tổ chức lãnh thổ công nghiệp Tổ chức lãnh thổ công nghiệp là một trong những hình thức tổ chức của nền sản xuất xã hội theo lãnh thổ. Nó có vai trò to lớn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trải qua quá trình lâu dài, được nghiên cứu dưới nhiều góc độ, thuật ngữ “tổ chức lãnh thổ công nghiệp” được sử dụng rộng rãi trong các tài liệu khoa học và thực tiễn. A.T.Khơrusov (1979) đã cho rằng: TCLTCN là hệ thống các mối liên kết không gian của các ngành và các kết hợp sản xuất lãnh thổ khác nhau trên cơ sở sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, vật chất, lao động cũng như tiết kiệm chi phí để khắc phục sự không phù hợp trong lịch sử về phân bố các nguồn nguyên nhiên liệu, năng lượng, nơi sản xuất và nơi tiêu thụ sản phẩm, góp phần đạt hiệu quả kinh tế cao [trong 49]. “Ở Việt Nam, hầu hết các nhà khoa học đều thống nhất: Tổ chức lãnh thổ công nghiệp là việc bố trí hợp lý các cơ sở sản xuất công nghiệp, các cơ sở phục vụ cho hoạt động công nghiệp, các điểm dân cư cùng kết cấu hạ tầng trên phạm vi một lãnh thổ nhất định nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên trong cũng như bên ngoài của lãnh thổ đó” [trong 49]. Như vậy, tổ chức lãnh thổ công nghiệp là việc tìm ra các mối liên kết không gian, là việc bố trí hợp lí các cơ sở kinh tế trên một lãnh thổ nhất định. Nói cách khác, đối với công nghiệp, đây là việc định vị các xí nghiệp, các khu công nghiệp để tạo nên các không gian công nghiệp thuộc các cấp khác nhau, trên cơ sở các lợi thế so sánh của từng lãnh thổ sao cho đạt hiệu quả cao về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường. 1.1.2.2. Các đặc tính của tổ chức lãnh thổ công nghiệp Tổ chức lãnh thổ công nghiệp có 3 đặc tính cơ bản, đó là:
- Xem thêm -