Thực trạng phát triển công nghiệp nông thôn tỉnh thanh hoá

  • Số trang: 22 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 33 |
  • Lượt tải: 0
e-lyly

Đã đăng 5165 tài liệu

Mô tả:

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN TỈNH THANH HOÁ I. Những nét cơ bản của phát triển ngành nghề nông tôn. 1. Khái niệm ngành nghề tiểu thủ công nghiêp (TTCN) 1.1 Khái niệm ngành nghề tiểu thủ công nghiệp Ngành nghề TTCN nông thôn là một bộ phận quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội , nó tác động đến phân công lao động , chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy quá trình phát triển khoa học công nghệ. Đặc biệt hiện nay đảng và nhà nước ta đang thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới thì phát triển ngành nghề thủ công là một bộ phận ko thể thiếu trong xây dựng nông thôn mới. vậy ngành nghề thủ công nghiệp nông thôn là gì? Ngành nghề thủ công nghiệp nông thôn là những hoạt động kinh tế phi nông nghiệp ở nông thôn, bao gồm sản xuất công nghiệp vừa và nhỏ, sản xuất tiểu thủ công nghiệp như sản xuất các sản phẩm tiêu dùng,sản phẩm mỹ nghệ.cói,... chính vì vậy nên Thanh Hoá đã thực hiện nhiều cơ chế chính sách phát triển ngành nghề TTCN khu vực nông thôn như: Quy hoạch xây dựng các cụm công nghiệp làng nghề, hỗ trợ đào tạo nghề, khôi phục nghề truyền thống, du nhập, nhân cấy nghề mới, quyết định thành lập Trung tâm Khuyến công và Tư vấn công nghiệp Đến thời điểm này, tỉnh Thanh Hoá đã có 60.236 cơ sở sản xuất TTCN, chủ yếu là hợp tác xã (HTX), tổ hợp tác (THT) và hộ cá thể với trên 150.000 lao động chuyên và hàng chục nghìn lao động tham gia sản xuất khi thời vụ nông nhàn. Giá trị sản xuất TTCN và ngành nghề khu vực nông thôn đạt trên 4.000 đến 4.500 tỷ đồng/năm, chiếm tỷ trọng trên 30% giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh. 1.2 Khái niệm làng nghề tiểu thủ công nghiệp Làng nghề là một trong những nét đặc thù của nông thôn Việt Nam. Nhiều sản phẩm được sản xuất trực tiếp tại các làng nghề đã trở thành hàng hóa, góp phần cải thiện đời sống gia đình và tận dụng những lao động dư thừa lúc nông nhàn. Làng nghề được hình thành 1 cùng với sự phát triển của văn hóa xã hội và sản xuất, một nét đẹp truyền thống của dân tộc Việt Nam. Hoạt động sản xuất của làng nghề không chỉ góp phần phát triển văn hóa, tinh thần và cải thiện đời sống vật chất của nông thôn mà còn mang nặng dấu ấn về tính sáng tạo, sự khéo léo và ý chí vươn lên trong cuộc sống của cha ông chúng ta từ nhiều đời nay. Hầu hết các nghệ nhân ở làng nghề đều biết rằng, nước ngoài chuộng hàng thủ công nước ta, vì những giá trị văn hóa được thể hiện trong mỗi sản phẩm, khác biệt so với các nước khác. Vì vậy nhiều làng nghề cũng là điểm du lịch hấp dẫn khánh nước ngoài, nhiều địa phương đã kết hợp du lịch làng nghề với du lịch văn hóa, du lịch sinh thái, góp phần xuất khẩu hàng hóa tại chỗ vừa phát triển làng nghề, vừa tăng thêm sản phẩm du lịch và tăng thêm thu nhập cho nhân dân địa phương, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới, hàng hóa thủ công mỹ nghệ nước ta đã có mặt trên 160 quốc gia và vùng lãnh thổ, từ hàng gốm sứ, đồ gỗ, mây tre đan, hàng đan lát… Làng nghề truyền thống phân bố và có mật độ không đều giữa các vùng miền trên phạm vi toàn quốc và phản ánh những nét đặc thù của các dân tộc anh em. Ví dụ, ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số thì nghề dệt thổ cẩm, đan lát, nghề gốm là những thế mạnh, mang nặng tính tự cung tự cấp, ở vùng đồng bằng hoạt động làng nghề rất đa dạng từ những hoạt động sản xuất các công cụ sản xuất nông nghiệp đến những hoạt động đòi hỏi kỹ năng tay nghề cao như chạm bạc, đúc đồng làm các vật dụng thờ cúng… Làng nghề tập trung nhiều nhất ở miền Bắc, chiếm từ 60-70% trong đó đồng bằng sông Hồng chiếm khoảng 50%, tập trung chủ yếu ở các tỉnh Hà Tây cũ, Bắc Ninh; Hưng Yên, Hà Nội, Thái Bình, Nam Định…Ở miền Trung chiếm khoảng 23,6%, tập trung nhiều ở các tỉnh Quảng Nam, Thừa Thiên Huế Ở miền Nam chiếm khoảng 16,4% tập trung tại các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Cần Thơ. Nhìn chung, các làng nghề ở khu vực miền Trung và miền Nam tương đối đơn điệu, tập trung chủ yếu vào làm thủ công mỹ nghệ, chế biến thủy hải sản, chế biến lương thực và thực phẩm. ĐẶC ĐIỂN CƠ BẢN CUẢ 1 LÀNG NGHỀ.3 - Là một làng làm một nghề hoăch nhiều nghề 2 - thời gian làm nghề nhiều hơn hản so với thời gian sx nông nghiệp - có những sản phảm mang tính đặc thù * tiêu chí công nhận làng nghề. Theo thông tư 116-TT-BNN ngày 18.12.2006 của Bộ NNvà PTNN về hướng dẫn thực hiện nghị định 66/NĐ-CP thì tiêu chí làng nghề có 3 điểm cơ bản sau: -Có tối thiẻu 30% số hộ trên địa bàn tham gia hoạt động ngành nghề -Hoạt động kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm - Chấp hành tốt chính sách pháp luật. II. Sự cần thiếp phải phát triển công nghiệp nông thôn 1. Vai trò của công nghiệp nông thôn Ngành nghề TTCN trong nông thôn cả nước nói chung và thanh hoá nói riêng đã phát triển từ rất sơn Đa số các làng nghề đã trải qua phát triển hàng trăm năm. Ví dụ làng đúc đồng Đại Bái (Bắc Ninh) với hơn 900 năm phát triển; làng nghề gốm Bát Tràng (Hà Nội) có gần 500 năm tồn tại; nghề Chạm bạc ở Đồng Xâm (Thái Bình) hay nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non nước (Đà Nẵng) cũng đã hình thành cách đây hơn 400 năm.nghề đúc đồng, nghề cói Tuy nhiên, cũng có thời gian dài ngành nghề thủ công phát triển chậm, thậm chí có lúc còn bị mai một. Nguyên nhân là do TTCN nông thôn chỉ được xem như ngành nghề phụ giải quyết bthời gian nông nhàn và lao động dư thừa của nông thôn do có chu trương chính sách của nhà nước là nhân rộng, khôi phục các ngành nghề nồng thôn,thấy được vai trò quan trọng của TTCN nông thôn nên những năm gần đây ngành nghề và làng nghề đã có những chuyển biến, Sự phát triển sản xuất làng nghề đang đóng góp phần quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn, cải thiện và nâng cao mức sống của người dân làng nghề. Mức thu nhập của người sản xuất nghề cao gấp 3-4 lần so với thu nhập của người sản xuất thuần nông. Do giải quyết việc làm cho nhiều lao động đã làm giảm đáng kể các tệ nạn xã hội, góp phần đảm bảo an sinh xã hội của vùng nông thôn. 3 ở Thanh Hoá có những sản phảm phù hợp với thị trường được mở rộng ra các làng trong xã ,trong huyện phát triển nhanh thành langd nghề như mây tre đan Hoằng Thịnh,Huyện nghề như chế biến cói Nga Sơn. Vai trò: - Phát triển Công nghiệp nông thôn đóng vai trò “chìa khoá ” cho công cuộc phát triển toàn diện nông thôn, nó tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, làm tăng năng suất lao động.Công nghiệp nông thôn có vai trò ngày càng to lớn, hiện đang thu hút 60% tổng số lao động và tạo ra khoảng 40% giá trị tổng sản lượng của tiểu thủ công nghiệp trong cả nước. -Thúc đẩy phát triển hàng hoá cho nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu,tăng thu nhập cho người lao động, giảm bớt chênh lệch về mức sống vốn đang cách biệt giữa nông thôn và thành thị. Thu nhập bình quân lao động ngành nghề nông thôn năm 2010 vào khoảng 1.757.000 đồng/người/tháng (tăng 48 % so với năm 2006 và cao gấp 1,2 – 3 lần so với thu nhập của lao động thuần nông), trong đó: + Chế biến thực phẩm: 500.000 – 1.500.000 đồng/LĐ/tháng. + Nghề mộc gia dụng: 800.000 – 1.000.000 đồng/LĐ/tháng. + Nghề đan lát: 500.000 – 1.200.000 đồng/LĐ/tháng. + Sản xuất vật liệu xây dựng: 1.000.000 – 2.000.000 đồng/LĐ/tháng. + Nghề thợ xây: 900.000 – 1.500.000 đồng/LĐ/tháng. - Hình thành hoàn thiện và mở rộng thị trường, góp phần nâng cao trình độ kỹ thuật, mở rộng quy mô của quá trình sản xuất và tái sản xuất kinh tế nông thôn. công nghiệp nông thôn gắn chặt chẽ với sự phát triển kinh tế xã hội nông thôn, nó có tác động đến sản xuất nông nghiệp ở cả đầu vào lẫn đầu ra trong sản xuất nông nghiệp. -Đảy mạnh phát triên một số ngành như du lịch,thương mại ,bảo tồn và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc. Bởi vì Trước đây, làng nghề không chỉ là trung tâm sản xuất sản phẩm thủ công mà còn là điểm văn hóa, nơi hội tụ những thợ thủ công có tay nghề cao, nơi tập trung những tinh hoa trong kỹ thuật sản xuất sản phẩm của làng. Ngày nay, làng nghề thay đổi nhanh chóng theo nền kinh tế thị trường, các hoạt động sản xuất tiểu thủ công phục vụ 4 tiêu dùng trong nước và xuất khẩu được tạo điều kiện phát triển, nhiều công nghệ mới đang ngày càng được áp dụng phổ biến, góp phần tăng thu nhập, tạo công ăn việc làm và thu nhập ổn định ở nông thôn. Góp phần xóa đói giảm nghèo. Ví dụ,làng nghề làng đá Mỹ nghệ Non nước ( Tp.Đà Nẵng ) thu hút hơn 2.000 lao động,doanh thu năm 2007 ước đạt 60 tỷ đồng;Làng nghề chè Blao( Lâm Đồng) với 22.000 ha chè,chiếm 30% diện tích chè cả nước,thu hút hơn 120.000 lao động.Giá trị sản xuất của các làng nghề tỉnh Hà Nam năm 2005 đạt 390,9 tỷ đồng,tốc độ đạt tăng trưởng bình quân đạt 12,55%/năm,đóng góp vào ngân sách gần 2,9 tỷ đồng.Những mặt hàng có tốc độ tăng trưởng nhanh do chủ yếu được xuất khẩu như mây giang đan đạt 4 triệu USD/năm,thêu ren 2,5 triệu USD/năm. II. Thực trang phát triển công nghiệp nông thôn giai đoạn 2006-2010 NNNT giữ vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển nông thôn Việt Nam, không chỉ góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho nông dân mà còn tạo nên những dấu ấn, bản sắc văn hóa của mỗi vùng, miền thông qua các sản phẩm văn hóa được lưu giữ từ đời này qua đời khác trước khi tìm hiểu thực trạng, chúng ta nên biết điều kiện để phát triển TTCN ở tỉnh ta. - Thanh Hoá là tỉnh có vị trì địa lý gần với trung tâm thủ đô Hà Nội, Cảng biển phát triển, nguồn tài nguyên và nhân lực dồi dào. Do có chính sách thông thoáng khuyến khích kêu gọi đầu tư nên công nghiệp và dịch vụ đã có mức tăng trưởng đáng kể. Cơ cấu kinh tế dần chuyển dịch từ ngành sản xuất cho hiệu quả thấp như nông nghiệp sang các ngành có giá trị cao như công nghiệp-xây dựng và dịch vụ. - Đối với lâm nghiệp, là tỉnh có nhiều tài nguyên rừng và đa dạng sinh học cao đặc biệt là tre nứa, với điều kiện khí hậu và địa chất địa hình, không chỉ là rừng tre nứa tự nhiên mà rừng luồng trồng cũng đã được phát triển. Đã từ lâu cây luồng, vầu, nứa đóng một vai trò quan trọng đối với đời sống của người dân miền núi phía Tây tỉnh Thanh Hoá như các huyện Quan Hoá, Quan Sơn, Thường Xuân, Lang Chánh... Đây là nguồn nguồn nguyên liệu phục vụ cho sản xuất công nghiệp, bột giấy, đồ dùng gia đình và đặc biệt là cho tiểu thủ công nghiệp và thủ công mỹ nghệ, tạo công ăn việc làm cho hàng vạn người dân. 5 Không những cung cấp đủ nguồn nguyên liệu cho tỉnh mà còn cung cấp cho một số tỉnh khác nơi ngành nghề tiểu thủ công và thủ công mỹ nghệ phát triển như Hà Tây, Hà Nam, Nam Định và Hải Phòng. - Đối với ngành nghề sản xuất tiểu thủ công mỹ nghệ đã có từ lâu đời, nguồn lực lao động dồi dào. Các làng nghề truyền thống về tre nứa như làng nghề đan cót và cót ép xã Thiệu Dương huyện Thiệu Hoá, Thọ Nguyên huyện Thọ Xuân, Thuý Sơn huyện Ngọc Lặc, Hà Toại huyện Hà Trung và làng nghề mây tre đan xuất khẩu xã Quảng Phong huyện Quảng Xương, Hoằng Thịnh huyện Hoằng Hoá, hàng năm sản xuất hàng triệu sản phẩm phục vụ nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. - Thanh Hoá đã ban hành các chính sách phát triển ngành nghề nông thôn như Quyết định số 3431/2002/QĐ-UB ngày 21/10/2002 của UBND tỉnh Thanh Hoá về chính sách khuyến khích phát triển xuất khẩu. Quyết định 2409/2006/QĐ-UBND ngày 05/9/2006 của Uỷ ban nhân tỉnh Thanh Hoá về cơ chế chính sách khuyến khích phát triển tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá. Quyết định số 2541/QĐ- UBND ngày 19/8/2086 của Uỷ ban nhân tỉnh Thanh Hoá về sửa đổi Quyết định 2409/2006/QĐ-UBND ngày 05/9/2006 của Uỷ ban nhân tỉnh Thanh Hoá về cơ chế chính sách khuyến khích phát triển tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá nhờ vậy NNNT ở Thanh Hoá đã từng bước phát triển với nhiều lĩnh vực như: Chế biến nông lâm thuỷ sản (chế biến thuỷ sản, mía đường, cao su, gỗ, chế biến bún bánh …), sản xuất vật liệu xây dựng (gạch nung, vôi, đá xây dựng các loại, đá xẻ....), đan lát, hàng thủ công mỹ nghệ (sơn mài), trồng dâu nuôi tằm, dệt thổ cẩm ... Bên cạnh đó, Thanh Hoá cũng có nhiều tiềm năng về nguồn nguyên liệu phục vụ phát triển NNNT như mây, tre, gỗ, đá vôi, cao lanh... tiềm năng du lịch: Biển Sầm Sơn, di tích Lam Kinh, đền Bà triệu... NNNT đã trở thành một trong những thành phần kinh tế quan trọng, hàng năm đóng góp khoảng 20 - 22% trong tổng GDP toàn tỉnh. Góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, sử dụng được nguồn nguyên liệu sẵn có, nâng cao thu nhập của người nông dân. Đồng thời đóng góp vào chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. 6 1. ngành sản xuất VLXD và khai khoáng Ngoài thế mạnh về tài nguyên khoáng sản làm vật liệu xây dựng (VLXD) như đá vôi, xi-măng, đá ốp lát, đá xây dựng, cao lanh... thì vị trí địa lý, giao thông - vận tải ở tỉnh Thanh Hóa khá thuận lợi cho việc phát triển ngành nghề sản xuất vật liệu xây dựng (VLXD) Cùng với tiến bộ công nghệ, nghề sản xuất gạch, ngói, đá truyền thống đã thay đổi căn bản, không còn "đất" cho sản xuất kiểu thủ công truyền thống, quy mô cơ sở sản xuất tăng lên, nhưng số lượng giảm đi nhiều, nghề gốm, sứ không còn thích hợp để phát triển do nhu cầu sử dụng gốm sứ chất lượng cao hơn ngày càng phổ biến. Cụ thể a.Ngành nghề sảnVLXD - sản xuất gạch tuy-nen, hiện nay trên địa bàn tỉnh có 22 đơn vị sản xuất với 25 lò nung công suất thiết kế 450 triệu viên/năm, được phân bố tập trung theo 4 tuyến quốc lộ: 1A, 45, 47, 217. Trong chiến lược phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng (CNVLXD) của tỉnh là một mắt xích quan trọng đã được xác định. Tuy nhiên sản xuất vật liệu thủ công chủ yếu là công nghệ cũ, lạc hậu nên gây ô nhiễm môi trường. Do vậy hướng đi mới cần đầu tư chiều sâu, nâng cao năng lực sản xuất của các lò Tuy nen đã có, thay thế các cơ sở sản xuất gạch bằng phương pháp thủ công bằng các lò gạch Tuy nel để đáp ứng nhu cầu xây dựng của nhân dân cũng như vật liệu xây dựng các công trình hạ tầng trên địa bàn tỉnh - Thị trường tiêu thụ sản phẩm gạch của Thanh Hoá trước hết là dân cư trong tỉnh. Trong mấy năm gần đây, thu nhập của người dân tăng nhanh nên nhu cầu gạch và vật liệu xây dựng cũng tăng khá. - Một tồn tại lớn đối với các cơ sở sản xuất gạch thủ công ở Thanh Hoá nói riêng và cả nước nói chung là tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng; các hộ đốt lò bằng than, củi, trấu … thi nhau thả khói đen kịt cả một vùng trời; khói bụi từ các lò nung gạch thải ra làm ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến trồng trọt, chăn nuôi và sức khỏe của các hộ dân sống ở liền kề. 7 - Trong những năm gần đây, Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Thanh Hoá đã tiến hành kiểm tra, khảo sát tình trạng ô nhiễm tại các lò gạch thủ công và đã tham mưu cho UBND tỉnh buộc di dời các cụm lò gạch vào khu công nghiệp hoặc chuyển đổi công nghệ đốt lò (công nghệ đốt lò gạch không khói hoặc xây dựng lò Tuynel, lò hoffman…). - Nghề sản xuất đá xây dựng Trữ lượng đá vôi trên địa bàn tỉnh rất lớn, hàng chục tỷ tấn, chất lượng đá tốt, hầu hết có thể dùng cho các ngành xây dựng, giao thông,... do vậy nghề này mấy năm gần đây phát triển nhanh đáp ứng nhu cầu của các ngành và người dân trên địa bàn. - Toàn tỉnh có 884 cơ sở với 2.864 lao động. Phân bố ở cả 3 vùng: miền núi (192 cơ sở); đồng bằng (602 cơ sở); ven biển (90 cơ sở). Các huyện trọng điểm tập trung là Đông Sơn (259 cơ sở), Nông Cống (181 cơ sở), Hà Trung (110 cơ sở),.... Nghề này sản xuất cũng gây ô nhiễm tới môi trường xung quanh và quá trình khai thác tương đối nguy hiểm nếu các biện pháp an toàn không được chú ý tới. Khaii thác cát Toàn tỉnh có 211 cơ sở khai thác cát, chủ yếu phân bố dọc theo các sông lớn: sông Mã, sông Chu, sông Tào Xuyên, sông Lèn.... Các cơ sở khai thác cát tập trung ở các huyện : Yên Định (59 cơ sở), Thọ Xuân (36 cơ sở), TP Thanh Hóa (30 cơ sở),.... - Tuy nhiên, việc quản lý khai thác còn nhiều vấn đề cần phải khắc phục, một số doanh nghiệp, tư nhân đã đưa các phương tiện khai thác cát sỏi vào khu vực kè để khai thác, không đúng vùng cấp mỏ gây cản trở giao thông vận tải, gây nguy hại cho hệ thống đê khi mùa mưa lũ đến. - Sản xuất đá xẻ: 342 cơ sở Đây là ngành khai thác mũi nhọn của tỉnh, phát triển mạnh mẽ trong vòng trên chục năm gần đây. Hiện tại có 342 cơ sở, phân bố ở Đông Sơn (199 cơ sở), Hà Trung (64 cơ sở), TP Thanh Hóa (32 cơ sở),.... Nghề này do đầu tư thiết bị đắt tiền, thị trường sản phẩm thuận lợi nên thu nhập tương đối cao. Tổ chức sản xuất: Khai thác chế biến đá ốp lát là nghề có nguy cơ mất an toàn cao, các đơn vị lại ít quan tâm đến các biện pháp hạn chế nguy cơ nên việc khai thác thường xảy 8 ra tình trạng mất an toàn lao động. Do công nghệ khai thác lạc hậu nên việc tỷ lệ thu hồi thành phẩm thấp, thường đạt 10-13%. .2.Nghề Thủ công,mỷ nghệ mây tre đan Đây là một ngành nghề tương đối phổ biến ở nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh và có nhiều làng nghề sản xuất với số lượng lớn đem lại thu nhập ổn định cho người sản xuất. Hiện tại trên địa bàn có 6.090 cơ sở, hộ, thu hút 11.861 lao động. Các cơ sở mây tre đan phân bố chủ yếu ở các huyện vùng Ven biển (Hoằng Hóa, Tĩnh Gia), vùng đồng bằng (Triệu Sơn, Thọ Xuân, Nông Cống, Yên Định). - Các sản phẩm đan lát chủ yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh và các tỉnh lân cận. Một số sản phẩm đan lát có chất lượng cao bắt đầu được đào tạo để phục vụ thị trường xuất khẩu. Những năm trước đây, thị trường tiêu thụ các loại sản sản xuất từ mây tre chủ yếu là các nước châu Á như Đài Loan, Hàn Quốc và Nhật Bản. Hiện nay, thị trường tiêu thụ hiện nay chủ yếu là các nước Mỹ, Châu Âu và các nước Trung Đông; đây là những thị trường có nhiều tiềm năng và sức tiêu thụ khá lớn. Tuy nhiên do chưa có định hướng lâu dài nên việc đào tạo ngành nghề còn nhiều hạn chế, nhất là khả năng duy trì và mở rộng các nhóm đã được đào tạo và đưa họ vào sản xuất ổn định, nhiều nhóm sau khi đào tạo xong thì cũng tan rã luôn.  nghề mộc dân dụng: - Chủng loại các mặt hàng sản xuất từ nghề mộc hết sức đa dạng và phong phú; Các sản phẩm chế biến từ gỗ của Thanh Hoá gồm có đồ nội thất (giường, tủ, bàn ghế,...), đồ gỗ phục vụ xây dựng (cửa và khung cửa, lan can cầu thang, ván ốp tường, ốp trần nhà, lát sàn). Chủng loại sản phẩm nhìn chung còn đơn giản về kiểu dáng, chất lượng cũng ở mức độ trung bình so với nhiều làng mộc khác trên cả nước như Vân Hà (Hà Nội), Vạn Điểm (Hà Tây (cũ)), Đồng Kỵ (Bắc Ninh)… phục vụ chủ yếu cho thị trường nội địa tại chỗ, chưa có sản phẩm đồ gỗ phục vụ xuất khẩu. Sản phẩm đồ gỗ sản xuất ở Thanh Hoá chủ yếu tiêu thụ tại thị trường trong tỉnh; theo dự báo, thị trường tiêu thụ đồ gỗ của tỉnh hiện tại tiềm năng còn khá lớn; song, về lâu dài nếu không có giải pháp gia tăng chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm để giữ thị trường hiện có và chủ động tìm kiếm mở rộng thị trường thì sẽ rất khó cho ngành phát triển, bởi 9 ngành này luôn chịu sự cạnh tranh quyết liệt của các "ông lớn” tại các làng nghề như Vân Hà (Hà Nội), Vạn Điểm (Hà Tây (cũ)), Đồng Kỵ (Bắc Ninh)… Nghề sản xuất hàng sơn mài, sơn dầu Trước đây các mặt hàng sơn mài của Thanh Hoá đã từng phát triển tốt ở Hoằng Hóa, Hậu Lộc, Quảng Xương,...Lâm Thao và thị xã Thanh Hoá, tuy nhiên sau khi thị trường Đông Âu sụp đổ, mặt hàng này mất dần chỗ đứng của mình và hiện tại chỉ còn phát triển nhỏ lẻ ở các huyện trên. Do giá thành sơn truyền thống cao, đồng thời với sự phát triển tràn ngập của các loại sơn hóa học, sơn điều..., ngay cả tranh sơn mài của Thanh Hoá cũng đã không duy trì được chất liệu sơn truyền thống mà chuyển rất nhiều sang sử dụng sơn hóa học với giá trị thấp. Các sản phẩm tranh sơn mài của Thanh Hoá hiện đang được cung cấp chủ yếu cho thị trường nội tỉnh và các tỉnh lân cận, không có các mặt hàng này phục vụ xuất khẩu. 3. Chế biến nông lâm,thuỷ, hải ,sản Thanh Hoá là một tỉnh có tiềm năng nuôi trồng và đánh bắt thủy sản lớn ở miền Bắc Việt Nam do có tiềm năng là tỉnh ven biển, có diện tích mặt nước lớn, có sông hồ tự nhiên, và ruộng trũng một vụ lúa một vụ cá cho phép đa dạng hóa các sản phẩm thủy sản nước ngọt. Toàn tỉnh có 623 cơ sở chế biến nước mắm và mắm các loại, với trên 1650 lao động, phân bố chủ yếu ở các huyện ven biển: Sầm Sơn (87 cơ sở); Hoằng Hóa (110 cơ sở); Hậu Lộc (41 cơ sở); Quảng Xương (209 cơ sở); Tĩnh Gia (1 Sản lượng thuỷ, hải sản của tỉnh tăng nhanh, nếu năm 2000 sản lượng là 48.968 tấn thì năm 2007 tăng lên đạt 83.909 tấn (sản lượng khai thác 60.779 tấn, sản lượng nuôi trồng 23.130 tấn); Năm 2009 là 98.075 tấn (khai thác 70.213 tấn, nuôi trồng 27.862 tấn). Đây là nguồn nguyên liệu dồi dào cho công nghiệp chế biến thuỷ, hải sản của tỉnh.  Chế biến gỗ - Chế biến gỗ rừng trồng: Toàn tỉnh có 341 cơ sở với 1.147 lao động tham gia vào nghề chế biến gỗ rừng trồng. Phân bố ở các huyện vùng đồng bằng có 135 cơ sở, vùng miền núi có 77 cơ sở và vùng ven biển có 129 cơ sở. 10  Chế biến lâm sản ngoài gỗ Toàn tỉnh có 310 cơ sở với 712 lao động, phân bố tập trung ở các huyện vùng miền núi: Quan Hóa (110 cơ sở), Như Xuân (198 cơ sở),.... Sản phẩm các loại được chế biến từ luồng, tre, nứa,.... Ngoài ra còn có Măng tre nứa, vầu, măng luồng là nguồn thu đáng kể, hàng năm thu được hàng trăm nghìn tấn măng thương phẩm tiêu thụ quanh năm trên thị trường nội địa. - Trước đây Thanh Hóa có xí nghiệp măng xuất khẩu công xuất 200 tấn/năm tại Lang Chánh sản xuất được hai năm phải đóng cửa vì chưa được chuẩn bị tốt cho vùng nguyên liệu. Hiện nay Thanh hóa đã trồng thêm tre lục trúc, bát độ của Trung quốc để chuyên lấy măng đã có kết quả. Đây là nhóm ngành nghề có truyền thống và có thị trường, nhưng do thích nghi với chuyển đổi chậm nên đánh giá chung là ngành nghề này đang được khôi phục để phát triển theo hướng đa dạng về chủng loại, sản phẩm và công nghệ. tồn tại - Thiết bị và công nghệ chủ yếu sử dụng thiết bị thanh lý của doanh nghiệp nhà nước có công nghệ lạc hậu, bán cơ khí và cơ khí là chính. Một số doanh nghiệp, công ty cổ phần, công ty TNHH,... như Công ty cổ phần mía đường Lam Sơn, Việt Đài, Công ty TNHH Hoa Mai, Đại Thắng chế biến đường, thịt, tinh bột sắn, gỗ, lâm sản có công nghệ thiết bị tiên tiến, hiện đại ngang với trình độ khu vực và thế giới. - Về tỷ trọng bảo quản, chế biến công nghiệp một số nông sản chủ yếu còn thấp so với nguyên liệu hiện có của tỉnh như lương thực, rau, củ, quả, thịt... - Về chất lượng sản phẩm chưa cao, mặt hàng còn đơn điệu, tính cạnh tranh kém, giá trị thấp, giá trị xuất khẩu cũng thấp do nguyên liệu và sản phẩm chỉ qua sơ chế như lạc, thịt lợn cấp đông, thịt lợn sữa, gỗ, lâm sản, cói... - Về đa dạng hoá sản phẩm và lợi dụng tổng hợp nguyên liệu trong chế biến còn thấp, thất thoát trong, sau thu hoạch và chế biến còn lớn như lương thực còn thất thoát từ 8 - 10%. 11 - Công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản của tỉnh chủ yếu được cung cấp nguyên liệu gỗ và lâm sản của tỉnh, là một thế mạnh của Thanh Hóa Các cơ sở chế biến tư nhân tình trạng thiết bị cũ nát, công nghệ lạc hậu còn phổ biến. Các thiết bị gia công chủ yếu là dụng cụ cầm tay được cơ giới hóa như máy khoan, bào, đánh bóng... Các thiết bị sấy, sử lý, ngâm tẩm gỗ chưa được chú trọng đầu tư đây là nguyên nhân dẫn đến chất lượng sản phẩm thấp không có sức cạnh tranh. Một số cơ sở sản xuất giấy thủ công không sử lý nước thải gây ô nhiễm môi trường nước.. 4 .Ngành nghề sản xuất, sửa chữa các mặt hàng cơ khí nhỏ Nghề sản xuất, sửa chữa các mặt hàng cơ khí nhỏ thường tập trung ở các thị trấn, các trung tâm cụm xã, sau đó phát triển về các trung tâm xã. Hiện tại trên địa bàn có 1718 cơ sở, thu hút 7835 lao động. Phân bố chủ yếu ở các huyện vùng Đồng bằng (Thiệu Hóa, Yên Định,....), vùng ven biển (Hậu Lộc Hoằng Hóa, Quảng Xương,....). Những sản phẩm chính của nghề cơ khí và gia công kim loại ở Thanh Hoá gồm: một số nông cụ cầm tay, cửa sắt, khung kệ bảo vệ hàng hóa ở siêu thị, nhà sách và các dụng cụ thông thường trong gia đình. 5.Thị Dịch vụ vật tư, phân bón Việc cung ứng các loại vật tư cho sản xuất nông nghiệp theo cơ chế thị trường nhưng vẫn có sự quản lý, điều tiết của Nhà nước thông qua chính sách thuế, trợ giá và dự trữ của nhà nước. Hoạt động dịch vụ cung ứng vật tư, phân bón cho sản xuất đã có hiệu quả rất tích cực với sản xuất nông lâm nghiệp.  Thực trạng NNNT huyện Quảng Xương - Nghề thêu ren, thêu tranh màu: Có 237 hộ ở 8 xã Quảng Tân, Quảng Yên, Quảng Vinh, Quảng Minh, Quảng Giao, Quảng Hùng, Quảng Thái, Quảng Thọ với thu nhập bình quân 500.000 đ/tháng mới có cách đây 1 - 3 năm - Nghề nuôi trồng, khai thác, chế biến thuỷ sản chủ yếu ở các xã ven biển vơi thu nhập bình quân trên 1.000.000đ/tháng - Phát triển nghề nứa cuốn tại xã Quãng Đức - Ngoài ra con một số nghề sản xuất, kinh doanh phục vụ đời sống nhân nhân tại địa phương 12 - -NGuyên nhân của những tồn tại: - Hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu hiện nay là hộ gia đình, sự gắn kết giữa người sản xuất và người kinh doanh thiếu chặt chẽ, khi sản phẩm tiêu thụ tốt thì tranh mua, khi thị trường giảm sút thì người sản xuất bị ép giá, thậm chí hàng ứ đọng. - Chất lượng của sản phẩm chưa thực sự được chú trọng. Nhìn chung các cơ sở sản xuất ngành nghề nông thôn của tỉnh còn ở mức độ trung bình do các cơ sở chưa áp dụng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng sản phẩm, còn nặng về sản xuất theo số lượng (nghề chế biến bún, miến, đan lát, sản xuất vật liệu xây dựng, sinh vật cảnh…). - Vốn của đại đa số các hộ làm nghề là vốn tự có, đang trong tình trạng có đến đâu làm đến đó. Tình hình vay từ các nguồn Nhà nước còn khó khăn, đặc biệt đối với các doanh nghiệp cần huy động vốn nhanh mang tính mùa. - Phần nhiều lao động chưa qua đào tạo, chủ yếu trưởng thành từ truyền nghề. Một số chương trình đào tạo nghề còn chưa tiến hành theo chiều sâu, chưa quan tâm nhiều đến hiệu quả của công tác đào tạo. Người thợ thủ công chưa có chế độ bảo hiểm, chưa tạo sự hấp dẫn với lớp trẻ vào làm nghề. - Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế chính sách tuy nhiên chính sách hỗ trợ phát triển ngành nghề nông thôn lại rất ít, nhiều chính sách đã ban hành nhưng khó thực hiện được ngay bởi phải chờ hướng dẫn của các ngành có liên quan. Nhiều cơ sở sản xuất NNNT khó tiếp cận được với các nguồn vốn tín dụng, vốn ưu đãi do khó đáp ứng được các thủ tục theo yêu cầu của ngành ngân hàng. Mặc dù tỉnh và một số huyện đã ban hành cơ chế chính sách tuy nhiên để thực hiện được đầy đủ là rất khó do không có nguồn lực để đáp ứng được yêu cầu. - Quản lý nhà nước về lĩnh vực NNNT còn nhiều bất cập, chưa rõ ràng và thống nhất (đặc biệt giữa ngành nông nghiệp với ngành công thương): Hệ thống theo dõi, tổng hợp báo cáo từ tỉnh đến huyện do các đơn vị, phòng, ban, cá nhân khác nhau kiêm nhiệm (ở huyện có nơi giao phòng công thương, có nơi giao phòng nông nghiệp ..) thiếu sự kiểm tra nắm bắt thực tế do vậy dẫn tới việc tổng hợp báo cáo số liệu, thông tin về sản xuất, chế biến, xuất khẩu .. thường không đáp ứng đầy đủ, kịp thời và thiếu chính xác. 13 - Do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới, sự biến động về giá cả trong nước, những thách thức của cơ chế thị trường sau khi Việt Nam gia nhập WTO đã làm gia tăng áp lực cạnh tranh, yêu cầu sản xuất các sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn cao, cạnh tranh về giá, có chất lượng ở cả thị trường trong nước và quốc tế. Trong khi đó, quy mô, kỹ năng và kiến thức chuyên sâu về quản lý của doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam rất khó khăn trong việc thích ứng với môi trường cạnh tranh quốc tế. IV.TÌNH HÌNH KHÔI PHỤC NGÀNH NGHỀ,LÀNG NGHỀ TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP TRUYỀN THỐNG TỈNH THANH HOÁ 1.Ngành nghề,làng nghề TTCN a.Số ngành nghề truyền thống - Nghề truyền thống: là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền. Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt 03 tiêu chí sau:  Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận;mây tre đan,nghề mộc..  Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc;như nghề dệt,dẹt gồm,dẹt chiếu,dệt tơ lụa,vải... +Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề,như nghề mộc,nghề gốm,nghề đá, chế biến lương thực thực phẩm.... xét theo tiêu chí đó thanh hoá có một số làng nghề tiêu biểu như: b.Số làng nghề truyền thống: - Làng nghề truyền thống: là làng nghề có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời. Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống theo quy định tại Thông tư 116/2006/TT – BNN. : Theo số liệu điều tra, đến năm 2010 Thanh Hoá có tới 472 làng có nghề thu hút 25.480 hộ tham gia (Nuôi trồng chế biến thuỷ hải sản 98 làng; chế biến nông sản 60 làng; mây tre đan 33 làng; thủ công mỹ nghệ 27 làng; xây dựng, vận tải 56 làng; mộc gia dụng 8 14 làng; chiếu cói 86 làng; dịch vụ 21 làng; dệt thổ cẩm 81 làng; gây trồng và kinh doanh sinh vật cảnh 2 làng). Trong đó 103 làng nghề được xem là truyền thống (67 làng còn hoạt động). So với các địa phương khác trong cả nước, số lượng làng nghề trong tỉnh tuy nhiều nhưng chưa xây dựng và duy trì được thương hiệu, quy mô nhỏ và phân tán. Khi chuyển sang cơ chế thị trường hầu hết các làng nghề đều bị thu hẹp sản xuất, nhiều làng nghề hiện đã bị mai một. Lao động thủ công là chính, phần lớn không qua đào tạo, chủ yếu dựa và “cha truyền, con nối”. Hình thức tổ chức sản xuất phần lớn là hộ cá thể, chỉ có số ít làng làm hàng thủ công mỹ nghệ, chế biến nông sản, lâm sản, mây giang xiên, làm đèn lồng, chiếu cói do một số chủ cơ sở, hợp tác xã đứng ra tiêu thụ, xuất khẩu qua các khâu trung gian; sự gắn kết giữa sản xuất với kinh doanh và cung ứng nguyên liệu chưa chặt chẽ, còn xảy ra tình trạng tranh mua, tranh bán, ép giá ở nhiều nơi. Ô nhiễm môi trường đang đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết. .1.1.1. Nhóm làng nghề chiếu cói - Lịch sử hình thành và phát triển:. Đây là nghề truyền thống của huyện Nga Sơn, có từ lâu đời, có gần 5.000 cơ sở chế biến cói, chiếm trên 70% cơ sở sản xuất công nghiệp – TTCN trên địa bàn huyện, tạo ra việc làm cho khoảng 20 nghìn lao động, chiếm trên 30% lao động toàn huyện, 25 – 30% giá trị sản xuất hàng năm của huyện, xuất khẩu đạt trên 5 triệu USD/năm. Một số xã có tỷ lệ lao động chiếm tới 80-90% . Hiện đã nhân cấy và tuyền nghề được một số huyện thị trong tỉnh. Phát triển ở các huyện: Nga Sơn, Quảng Xương, Hoằng Hóa, Hậu Lộc và một số xã ở huyện Nông Cống,.... Lúc này, Nga Sơn vẫn là trung tâm chiếu cói lớn nhất cả nước: Với 20 nghìn tấn cói, hàng triệu lá chiếu được sản xuất mỗi năm, 2.412 máy xe lõi, 600 máy xe đay, 5.500 go dệt và hàng vạn lao động sống bằng nghề chiếu cói... Đến cuối năm 2007, cây cói đã chiếm tới 80% giá trị TTCN và khoảng 30% giá trị kinh tế toàn huyện Nga Sơn. Cũng như các giai đoạn trước, cuối năm 2007 cây cói nơi đây vẫn giữ vị trí là cây trồng mũi nhọn, là nguồn sống duy nhất của người dân ngót mười xã vùng biển Nga Sơn. Ngoài ra còn là nguồn thu nhập của nhân dân các xã vùng màu, chiêm trũng có nghề thủ công dệt chiếu cói và sản 15 xuất những sản phẩm từ cói. Chính lúc này, khi mà đồng cói phát triển vượt bậc, được mùa bội thu thì Nga Sơn lại đang đối mặt với khó khăn khôn lường, đó là giá cói xuống và không có đầu ra. Việc chuyển đất trồng cói sang trồng lúa chỉ là giải pháp tình thế, điều đáng mừng là bước đầu Nga Sơn đã có hướng đi cho cây cói. Đó là việc tích cực chủ động khơi thông thị trường tiêu thụ sản phẩm xuất khẩu, đồng thời ổn định thị trường tiêu thụ nội địa và kiên trì khắc phục khó khăn của người trồng cói đã bao đời gắn bó với nghề truyền thống của quê hương. - Sản phẩm chính: Sản phẩm chính của các làng nghề tương đối phong phú: Các loại chiếu, các sản phẩm từ cói như làn, rọ,...... - Lao động làm nghề và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh: Nghề đã giải quyết việc làm và đem lại thu nhập ổn định cho trên 50% số lượng lao động của làng. Thu nhập bình quân của các lao động làm nghề cao hơn hẳn so với mức bình quân chung, đặc biệt là so với nhóm lao động thuần nông. Thu nhập của người lao động đạt 570.000 đồng 1.650.000 đồng/tháng. - Thị trường tiêu thụ sản phẩm của làng nghề: Do sản phẩm của làng nghề (nhất là chiếu Nga Sơn) đã có tiếng nên thuận tiện trong quá trình tiêu thụ, chủ yếu là các thị trường lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, các các thành phố lân cận, phục vụ các hộ gia đình, trường học.... - Môi trường làng nghề: Mặc dù môi trường các làng nghề gỗ chưa bị ô nhiễm nhiều, tuy nhiên ô nhiễm về tiếng ồn, bụi, chất thải rắn xuất hiện ở tất cả các làng nghề do hạn chế về thiết bị và công nghệ chế biến cũng như ý thức của người sản xuất. - Khó khăn hiện tại của làng nghề: Khó khăn của làng nghề được tiếp cận ở hai góc độ, trước hết là các khó khăn mà các cơ sở nhận thức được căn cứ trên cơ sở các sản phẩm và thị trường hiện tại như thiếu vốn đầu tư mua sắm máy móc, nguyên liệu để mở rộng quy mô sản xuất, thị trường đầu ra . Nhóm làng nghề mây tre đan - Lịch sử hình thành và phát triển: Nghề đan lát ở Thanh Hoá phát triển rất sớm (từ thời nhà Nguyễn) và thu hút được một số đông lao động tham gia sản xuất, sản phẩm 16 không chỉ phục vụ cho nhu cầu cuộc sống hàng ngày của người dân địa phương mà còn cung cấp cho các vùng khác trong tỉnh. - Phân bố: Chủ yếu tại xã Hoằng Thịnh (Hoằng Hóa); Quảng Phong (Quảng Xương); trước đây, nghề này phát triển ở các huyện miền núi và một số huyện đồng bằng, ven biển như: Quảng Xương, Hoằng Hóa, Yên Định,... - Sản phẩm chính: là các loại sản phẩm phục vụ cho các doanh nghiệp xuất khẩu, ngoài ra còn có một số hộ đan các sản phẩm dùng trong sinh hoạt của nhà nông như thúng, nong, nia, ... Nhìn chung chất lượng các sản phẩm được thị trường trong nước chấp nhận. Thu nhập của lao động đạt từ 400.000-1.500.000 đồng/tháng. - Môi trường làng nghề: Hiện nghề đan lát không ảnh hưởng lớn đến môi trường, nguyên liệu phế thải của nghề đan lát được đưa vào làm chất đốt phục vụ đời sống hàng ngày. Tuy nhiên, đối với mặt hàng nứa chắp sơn mài xuất khẩu sử dụng các loại hóa chất, cần phải có sự quy hoạch sớm để giảm mức độ ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt của người dân địa phương. - Khó khăn hiện tại của làng nghề: Không có nhiều khó khăn đối với các làng nghề đan lát hiện tại do thị trường tiêu thụ phụ thuộc vào thị trường nước ngoài, giá nguyên liệu đầu luôn tăng cao, thu nhập người lao động thấp nên việc duy trì sản xuất gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, cần tiếp tục hỗ trợ các làng nghề trong việc cơ giới hóa quá trình sơ chế nguyên liệu để đạt được năng suất sản xuất cao hơn - Nghề mây tre đan: có 316 Hộ thuộc 4 xã Quảng Long, Quảng Tâm, Quảng Hùng nhiều nhất ở Quảng Phong với thu nhập bình quân 500.000đ/ tháng. Chủ yếu tận dụng thời gian nông nhàn tại địa phương và đã tồn tại cách đây trên 50 năm. - .  Làng nghề đúc đồng: - Làng nghề truyền thống đúc đồng Trà Đông (Thiệu Trung - Thiệu Hoá - Thanh Hoá) được coi là nơi "khai sinh" trống đồng Đông Sơn hơn 2000 năm về trước. Trước đây có hàng trăm hộ gia đình trong làng làm nghề đúc đồng, sản phẩm chủ yếu của làng trước đây là đồ gia dụng làm bằng phương pháp thủ công. Khi đời sống người dân 17 ngày càng phát triển thì không còn ưa dùng các sản phẩm đó nữa nên hiện nay cả làng chỉ còn lại 22 hộ gia đình vẫn còn làm nghề. Để khôi phục và phát huy truyền thống làng nghề đúc đồng UBND tỉnh Thanh Hoá đã phê duyệt Dự án đầu tư xây dựng hạ tầng cụm làng nghề đúc đồng thôn Trà Đông (Quyết định số 1633/QĐ-UBND ngày 04/06/2007). Thực hiện dự án sẽ vừa tạo điều kiện thuận lợi về mặt bằng sản xuất phát triển nghề truyền thống vừa giải quyết được một vấn đề nan giải mà các làng nghề truyền thống của Thanh Hoá nói riêng và cả nước nói chung đó lõ: ô nhiễm môi trường, môi sinh đối với người dân sinh sống tại làng nghề. Không những thế, mục tiêu của dự án còn hướng tới việc xây dựng cụm làng nghề thành một điể .1.1.2. tích cực của làng nghề - Phát triển làng nghề là một tiềm năng to lớn đang được quan tâm phát triển và mở rộng, tích cực du nhập nghề, nhân cấy nghề mới từ nhiều địa phương, vùng miền trên cả nước góp phần không nhỏ vào đời sống kinh tế – xã hội của khu vực nông thôn tỉnh. Thu nhập từ làm nghề đang dần chiếm vị trí quan trọng trong thu nhập của mỗi hộ gia đình. - Bước đầu các làng nghề đã vận động để thích ứng với cơ chế thị trường, tự lựa chọn các hình thức tổ chức phù hợp, sản phẩm sản xuất ra đáp ứng với nhu cầu của thị trường - Nhiều làng nghề đã và đang sử dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ hoặc phế liệu, phế phẩm, tận dụng nguồn lao động nông thôn - Làng nghề tồn tại và phát triển được là do nghề phù hợp với thực tiến địa phương được các cấp chính quyền và nhân dân quan tâm .1.1.3. Những hạn chế, khó khăn trong phát triển làng nghề ở Thanh Hoá: - Hiện nay vẫn còn nhiều địa phương chưa quan tâm khôi phục, phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp - Điểm yếu nhất của làng nghề Thanh Hoá là chưa có người làm đầu mối tiêu thụ sản phẩm, nhất là thị trường xuất khẩu nên sản xuất chưa mở rộng được - Sản xuất trong các làng nghề mang tính tự phát, đơn độc trên thương trường, quy mô nhỏ, tính hợp tác của các làng nghề kém, mẫu mã sản phẩm chậm được cải tiến 18 - Số lượng lao động, số hộ sản xuất trong làng nghề đang chiếm tỷ lệ thấp - Cơ sở hạ tầng ở các làng nghề đang có những bất cập, chưa được đầu tư tốt Đặc tính bảo thủ cao của người sản xuất, khả năng chấp nhận vất vả để tiếp thu nghề mới thấp là những khó khăn hết sức cơ bản ảnh hưởng đáng kể đến việc 2..Tình hình khôi phục phát triển ngành nghề ,làng nghề truyền thống. Thực hiện Nghị định 66/2006/NĐ-CP, Sở Nông nghiệp và PTNT đã chủ trì phối hợp với các sở và các ban ngành có liên quan tham mưu cho UBND tỉnh xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện, đồng thời triển khai đến các huyện, thị, thành phố (Nghị định 66/2006/NĐ-CP, Thông tư 116/2006/TT-BNN, Chỉ thị 28/2007/CT-BNN, Thông tư 113/2006/TT-BTC ..). Các huyện, thị, thành phố đã triển khai ở địa phương mình, căn cứ các cơ chế chính sách của trung ương, của tỉnh, hầu hết các huyện đều đưa chương trình phát triển ngành nghề nông thôn, phát triển tiểu thủ CN vào nghị quyết và chương trình hành động của cấp uỷ, UBND để làm cơ sở chỉ đạo, triển khai thực hiện theo từng giai đoạn và hàng năm, một số huyện đã đề ra cơ chế chính sách riêng khuyến khích phát triển TTCN như: Hoằng Hoá, TP Thanh Hoá, Đông Sơn .. *Đã khôi phục phát triển được một số ngành nghề, làng nghề như nghề thêu mầu,chế tác đá, đúc đồng, nghề mộc, chế biến thuỷ hải sản.. Một số chỉ tiêu đạt được qua khôi phục ngành nghề. Đến nay có 44 cụm CN, cụm làng nghề được triển khai, tỷ lệ lấp đầy khoảng gần 40%, trong đó: 11 cụm đã hoàn thành xây dựng cơ sở hạ tầng và có các doanh nghiệp, cơ sở đang tổ chức sản xuất, kinh doanh với tổng diện tích 42 ha; 27 cụm đã hoàn tất thủ tục đang xây dựng cơ sở hạ tầng có các DN, cơ sở đang triển khai sản xuất kinh doanh hoặc triển khai dự án với tổng diện tích 926,4 ha; 6 cụm đang lập dự án hoặc đã có chủ trương đầu tư với tổng diện tích quy hoạch 187,3 ha. Ngoài ra còn có hơn 10 cụm làng nghề đã hình thành hoặc đã có chủ trương đầu tư và đang được triển khai xây dựng gắn với xây dựng nông thôn mới. \Về giá trị sản xuất: Giá trị sản xuất NNNT toàn tỉnh năm 2006 đạt 7.797,2 tỷ đồng, đến năm 2010 đạt 10.220,2 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất giai đoạn 2006-2010 đạt 10,56%/năm. Một số sản phẩm ngành nghề có tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm 19 cao như xay xát, chế biến lương thực, thực phẩm (tăng 12,55%/năm); thủ công mỹ nghệ (tăng 10,7%/năm); thêu ren (11,36%/năm); sản xuất vật liệu xây dựng (9,33%/năm); \Xuất khẩu: Giá trị xuất khẩu sản phẩm NNNT toàn tỉnh tăng trưởng bình quân 24%/năm (kim ngạch năm 2006 60,178 triệu USD, đến năm 2010 kim ngạch xuất khẩu đạt 183,573 triệu USD bằng 24,1% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh), trong đó một số loại hàng hoá, sản phẩm có giá trị xuất khẩu năm 2010 cao và tăng so với năm 2006 như: Hàng nông sản ( 54,887 triệu USD tăng 1,6 lần), hàng thuỷ sản (47,266 triệu USD tăng 1,5 lần), vật liệu xây dựng (23,966 triệu USD tăng 1,6 lần) .. V.Tình hình du nhập ,nhân cấy ,phát triển nghề tiểu thủ công nghiệp. 1. Ngành nghề được du nhập, nhân cấy. Như chúng ta đã biết vai trò quan trọng cuả tiểu thủ công nghiệp trong phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, chính vì vậy việc duy trì phát triển các làng nghề, ngành nghề truyền thống,việc đưa nghề mới về nông thôn được tỉnh ta xác định là một trong những hướng đi quan trọng nhằm tạo việc làm tại chỗ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao thu nhập cho lao động nông thôn. Những năm qua tỉnh ta đã huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị; tăng cường sự chỉ đạo của cấp uỷ Đảng, chính quyền tại các địa phương; triển khai các chính sách hỗ trợ, thúc đẩy phát triển; tập trung các nguồn lực đầu tư để phát triển ngành nghề; chú trọng công tác đào tạo, truyền nghề, khuyến khích các doanh nghiệp đầu mối đảm nhận khâu tiêu thụ sản phẩm cho các hộ sản xuất; tạo điều kiện phát triển các làng nghề trên địa bàn. Mỗi năm ngân sách tỉnh hỗ trợ trên dưới 2 tỷ đồng. Các địa phương xây dựng cụm công nghiệp làng nghề theo quy hoạch đều được hỗ trợ trên dưới 5 tỷ đồng/cụm làng nghề. Do đó những ngành nghề trước đây được nhân cấy rộng ra như mây tre đan,phát triển thêm ở một số xã ở huyện hoằng hoá, thọ xuân, thường xuân. Chế biến cói nhân rộng và phát triển những địa phương có nguyên liệu như tỉnh gia.. Cùng với việc khôi phục và phát triển những ngành nghề truyền thống, việc du nhập và nhân cấy nghề mới được triển khai trên địa bàn 20 huyện, thị xã. Các ngành nghề mới được nhân cấy như thêu móc, thêu ren, nứa cuốn, mây giang xiên, chiếu mỹ nghệ xuất khẩu... đã mang lại thu nhập khá cho nhiều hộ gia đình khu vực nông thôn. Riêng các nghề: 20
- Xem thêm -