Quan hệ liên bang nga - cộng hòa nhân dân trung hoa 1992-2008 (la)

  • Số trang: 342 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 9 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Từ sau Chiến tranh lạnh đến nay, trục vận động chính của quan hệ quốc tế là xoay quanh việc hình thành của một trật tự thế giới mới, trong đó các nước lớn có vai trò là "diễn viên chính" trên sân khấu chính trị thế giới. Trong số các nước lớn, Mỹ muốn đơn cực hoá thế giới, còn các nước lớn hoặc các nhóm nước khác như Nga, Trung Quốc, Tây Âu…lại muốn đưa thế giới phát triển theo hướng đa cực. Chính những mâu thuẫn về mục tiêu chiến lược này đã dẫn đến sự cạnh tranh quyết liệt giữa các cường quốc, nhưng cũng đồng thời đặt ra yêu cầu cho các nước là phải đẩy mạnh hợp tác, tạo môi trường thuận lợi cho quan hệ Nga - Trung phát triển. Với vị trí là cường quốc mạnh nhất sau sự tan rã của Liên Xô, một mặt Mỹ tăng cường khuyếch trương cả sức mạnh cứng và sức mạnh mềm để chi phối thế giới trên mọi lĩnh vực, một mặt Mỹ tranh thủ tăng cường hợp tác với các nước đồng minh để có thêm sức mạnh, mặt khác, Mỹ ra sức kiềm chế, ngăn chặn sự phát triển của các nước lớn khác, trong đó Mỹ chú trọng hơn cả đến Nga và Trung Quốc, vì Trung Quốc là một "đối thủ tiềm tàng" còn Nga vẫn là một ẩn số vì trong lòng quốc gia này vẫn chứa đựng những sức mạnh buộc Mỹ phải hết sức thận trọng. Nhân tố Mỹ đã tạo nên một động lực quan trọng, đẩy Nga và Trung Quốc xích lại gần nhau, thiết lập quan hệ đối tác chiến lược. Trong Chiến tranh lạnh, Liên Xô/ Nga và Trung Quốc đã từng là đồng minh chiến lược, đã từng mâu thuẫn, xung đột, nhưng khi Chiến tranh lạnh qua đi, dư âm của sự đối đầu hai cực không còn nữa, tư duy mới trong quan hệ quốc tế và xu thế toàn cầu hoá ngày càng phát triển sâu rộng, nhu cầu hoà bình, hợp tác để phát triển được đặt lên trên hết cũng là lúc quan hệ giữa Nga và Trung Quốc được thúc đẩy bằng những yếu tố ràng buộc tự nhiên của năng lượng, vũ khí… Với đầy đủ cơ sở khách quan và chủ quan thuận lợi, Nga và Trung Quốc đã gặp nhau ở tư duy chiến lược cũng như mục đích hành động. Những nhân tố thuận lợi này đã thúc đẩy quan hệ Nga - Trung từ 1992 đến 2008 không ngừng phát triển cả về bề rộng và chiều sâu: từ quan hệ "Đối tác xây dựng" đến quan hệ "Đối tác chiến lược". 2 Quan hệ Nga - Trung từ sau Chiến tranh lạnh đến nay là một mối quan hệ đặc biệt. Tính chất đặc biệt của nó không chỉ ở hình thức hợp tác giữa hai cường quốc láng giềng có sự khác biệt về ý thức hệ , mà nó được quyết định bởi vai trò và tác động của mối quan hệ này với quá trình vận động và hình thành của trật tự thế giới mới. Vì vậy, mối quan hệ đối tác chiến lược Nga - Trung đã được xác lập và phát triển như thế nào, liệu nó có khẳng định được vai trò của mình - là những diễn viên chính - trên sân khấu chính trị thế giới hay không đang trở thành tâm điểm chú ý của các nhà nghiên cứu trên thế giới. Đối với Việt Nam, những biến động của quan hệ Xô - Trung trong lịch sử đã từng có những ảnh hưởng sâu sắc đến cách mạng Việt Nam. Ngày nay, cả Nga và Trung Quốc đều là những đối tác quan trọng của nước ta, vì vậy việc nghiên cứu về quan hệ Nga - Trung trong giai đoạn hiện nay đang được đặt ra như một nhu cầu cấp thiết đối với các nhà nghiên cứu Việt Nam bởi nó có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Từ những ý nghĩa nêu trên, chúng tôi đã quyết định chọn “Quan hệ Liên bang Nga - Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (1992 - 2008)" làm đề tài nghiên cứu luận án của mình với hy vọng góp phần giải đáp những vấn đề đang đặt ra cho các nhà nghiên cứu. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Quan hệ Nga - Trung đã từng trải qua một chặng đường dài với đầy những thăng trầm thiên biến. Trong Chiến tranh lạnh, Liên Xô đã là đối trọng của Mỹ, luôn giữ được thế cân bằng của thế giới lưỡng cực. Chiến tranh lạnh qua đi, Liên Xô/ Nga tuy có trải qua những biến cố lịch sử nhưng nước Nga mới cũng đã nhanh chóng phát triển vươn lên và dẫu chưa lấy lại được vị trí cân bằng với Mỹ, song nước Nga vẫn chứa đựng trong lòng nó những sức mạnh tiềm ẩn của một cường quốc. Về phía, Trung Quốc - một quốc gia có diện tích bằng 1/4 châu Á và dân số chiếm 1/4 thế giới - từ thập kỷ 90 của thế kỷ XX, đã phát triển mạnh mẽ với những bước tiến ngoạn mục của một "người khổng lồ thức dậy". Vị thế mới của Nga và Trung Quốc vốn đã làm cho Mỹ quan ngại, nay tiềm năng hợp tác của Nga và Trung Quốc vì một thế giới đa cực càng thực sự trở thành thách thức với khát vọng 3 đơn cực hoá thế giới của Mỹ. Chính vì vậy, sự phát triển của mối quan hệ đối tác chiến lược Nga - Trung trong những năm qua đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu, các cơ quan nghiên cứu chiến lược của thế giới. Việc nghiên cứu của các học giả nước ngoài Ở Nga: các nhà nghiên cứu Nga luôn coi vấn đề quan hệ với các nước lớn nói chung và với Trung Quốc nói riêng là một nội dung nghiên cứu mang tính thời sự. Các nhà nghiên cứu của Trung tâm phân tích thông tin thuộc trường Đại học Quốc gia Matxcơva (Moscow state University) đã khẳng định rằng mối quan hệ giữa Nga và Trung Quốc từ năm 1992 đến nay đã phát triển qua 3 nấc thang "từ bình thường hoá quan hệ hai nước đến xây dựng mối quan hệ hợp tác tin cậy đến quan hệ đối tác chiến lược"[308,95]. Họ khẳng định rằng quan hệ Nga - Trung là một mối quan hệ song phương kiểu mới. Các nhà lãnh đạo cấp cao của Nga từ B.Yeltsin, V.Putin đến Medvedev đều khẳng định quan hệ Nga - Trung là quan hệ đối tác chiến lược và tin tưởng vào tương lai tốt đẹp của nó. Trong bài trả lời phỏng vấn phóng viên tờ Nhân dân Nhật báo - Jiang Yaping - ngày 27/2/2009, Bộ trưởng Bộ ngoại giao Nga Igov Ivanov đã khẳng định "Trong những năm gần đây, quan hệ giữa Nga và Trung Quốc đã đạt đến một mức độ chất lượng mới của quan hệ đối tác chiến lược"[164,3]. Chủ tịch Uỷ ban về ngoại giao của Hội đồng Liên bang Nga Mikhail V. Margelov cũng đã công bố bài nghiên cứu của mình với tiêu đề "Quan hệ Nga - Trung: tầm cao mới của sự phát triển?" (Российско-китайские отношения: на высшей точке развития?) trong đó nêu rõ những cơ sở, những động lực thúc đẩy quan hệ Nga - Trung phát triển, những bước phát triển của quan hệ hai nước và khẳng định "đến nay, quan hệ Nga - Trung đã đạt đến điểm cao nhất của sự phát triển trong 40 năm qua. Có đánh giá quan hệ Nga - Trung trong tổng thể của các mối quan hệ như: quan hệ tam giác chiến lược Nga - Trung - Mỹ ; quan hệ Nga - Trung - Nhật Bản - Ấn Độ …mới thấy rõ được sự phát triển rất đặc biệt của quan hệ Nga - Trung" [255, 45]. Trung tâm nghiên cứu về quan hệ Nga - Trung Quốc thuộc Viện Viễn Đông Nga ( Институт Дальнего Востока - Russia-China Center (RCC) đã có nhiều công 4 trình nghiên cứu về quan hệ Nga - Trung trên các lĩnh vực kinh tế, quân sự, năng lượng… Những quan điểm đánh giá tổng thể về quan hệ Nga - Trung của tổ chức này được thể hiện rõ nhất trong báo cáo "Quan hệ giữa Nga và Trung Quốc: Xu hướng, động lực, triển vọng" của VV. Myasnikov (В.В.Мясников, Взаимоотношения России с Китаем: тенденции, динамика, перспективы). Theo tài liệu này thì "Quan hệ Nga - Trung đang là quan hệ của hai cường quốc thế giới tuyệt vời, do chịu ảnh hưởng trực tiếp và liên tục của xu hướng khu vực hoá, toàn cầu hoá nên đã tạo sức bật thế kỷ cho quan hệ đối tác chiến lược Nga - Trung. Quan hệ này có thể làm thay đổi mô hình thế giới"[284,4]. Viện sĩ M.L. Titarenko (Титаренко М.Л) - một chuyên gia nghiên cứu về Trung Quốc của Nga đã có nhiều công trình nghiên cứu về Trung Quốc và quan hệ Nga - Trung, nổi bật nhất trong những năm gần đây là công trình nghiên cứu mang tên "Trung Quốc - Nga 2050: Chiến lược cùng phát triển" (Китай-Россия 2050: стратегия соразвития) được xuất bản năm 2006. Với độ dày hơn 600 trang, tác phẩm này là một công trình nghiên cứu toàn diện về Trung Quốc mang tính thông sử, có một cái nhìn tổng thể về sức mạnh của Trung Quốc, trên cơ sở đó tác giả phân tích chính sách đối ngoại của Trung Quốc trong bối cảnh toàn cầu hoá. Tuy nội dung chính của công trình này không phải là sự phát triển của quan hệ Nga Trung, nhưng tác giả đã có những phần phân tích về mối quan hệ này trên lĩnh vực kinh tế và hợp tác khoa học kỹ thuật. Đặc biệt, trên nền tảng đánh giá sâu sắc về những chính sách, sự phát triển và tiềm năng phát triển của Trung Quốc, tác giả đã đưa ra những dự báo về chiến lược phát triển của Trung Quốc trong tương lai và xu thế phát triển của quan hệ giữa Trung Quốc với Nga cho tới năm 2050. Đặc biệt, năm 2009 vừa qua, nhân kỷ niệm 60 năm quan hệ Nga – Trung, Viện Viễn Đông thuộc Viện Hàn lâm khoa học Nga đã có nhiều chương trình hội thảo và nhiều công trình nghiên cứu về Nga, Trung Quốc cũng như mối quan hệ của hai nước. Hội thảo với nội dung “60 năm nước CHND Trung Hoa: Những thành quả và xu hướng” ngày 30/6/2009 tại Viện Viễn Đông Nga đã có sự tham gia của nhiều nhà khoa học đầu ngành của Nga như Viện sĩ M.L. Titarenko, GS.PTS. I.A. 5 Đubinhin (Đại học Quan hệ quốc tế Matxcơva), PTS.A.N. Kaznhep, TS. V.I. Porchiakop.... Các nhà khoa học đã có nhiều đánh giá rất cụ thể về những chuyển biến tư tưởng, vị thế của Trung Quốc và Liên bang Nga cũng như những bước thiên biến trong quan hệ Nga - Trung. TS. Vlađimia Iakôplêvich Porchiakop - Phó viện trưởng Viện Viễn Đông, Tổng biên tập tạp chí "Những vấn đề Viễn Đông" (Проблемы Дальнего Востока) đã có nhiều công trình nghiên cứu về quan hệ giữa Nga và Trung Quốc qua các giai đoạn như “Một số khía cạnh hoàn thiện quan hệ đối tác chiến lược Nga - Trung” (О некоторых аспектах совершенствования российско-китайского стратегического партнерства); “Quan hệ Nga - Trung năm 2008” (Российско-китайские отношения в 2008 году) với những đánh giá rất mới mẻ, mang tính thời sự về mối quan hệ này như "Nga và Trung Quốc khách quan là những đồng minh..."[288,7], "Nga và Trung Quốc không chỉ có sự cần thiết khách quan mà còn có những cơ sở quan trọng để tiếp tục phát triển hoàn thiện quan hệ đối tác chiến lược"[288,18]. Cũng trong bối cảnh kỷ niệm 60 năm quan hệ hai nước, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Liên bang Nga Bôrôđápkin Alêcxây Nhikôlaiêvich (Боробавкин B.A.) trong bài "Nga và Trung Quốc: con đường láng giềng thân thiện và hợp tác" (Россия и Китай: по пути добрососедства и сотрудничестве) đã khẳng định "Quan hệ Nga - Trung đang phát triển ở mức độ cao nhất trong suốt chiều dài lịch sử của nó"[219,19]. Nhìn chung, các học giả nghiên cứu Nga đều đã từng nghiên cứu toàn diện và có một cái nhìn lạc quan về sự phát triển của quan hệ Nga - Trung. Tuy nhiên, có một vấn đề mà các nhà nghiên cứu người Nga luôn đề cao trong các công trình nghiên cứu là có hay không "mối đe doạ từ Trung Quốc"? Ở Trung Quốc: Quan hệ Nga - Trung qua lăng kính của các nhà nghiên cứu Trung Quốc luôn mang một sức sống mới và đầy triển vọng. Hầu hết các công trình nghiên cứu của Trung Quốc về mối quan hệ Trung - Nga đều đi vào từng lĩnh vực hợp tác của hai nước, qua đó làm rõ xu thế hợp tác chiến lược của hai nước. Các công trình nghiên cứu của Trung Quốc như "Chương mới trong quan hệ đối tác chiến lược Nga - Trung" (开开开开开开开开开开开开) của Giáo sư, Tiến sỹ sử học 6 Wu EnYuan (吴吴吴); "Quan hệ Nga - Trung năm 2008" (2008 年 年 年 年 年 年) của Phó giáo sư, tiến sỹ Zhang Hongxia (吴吴吴) đều có chung cách đánh giá về quan hệ Nga Trung: Trước hết, các tác giả này đều đánh giá rất cao vai trò của Nga với Trung Quốc. Theo họ thì "Nga không chỉ là quốc gia lớn nhất thế giới mà còn là hàng xóm lớn của Trung Quốc… Từ thế kỷ XX, Nga đã có những tác động quan trọng đến sự phát triển của Trung Quốc"[356,15]. Qua phân tích quá trình hợp tác năng lượng, kinh tế, văn hoá, giải quyết vấn đề biên giới…các học giả Trung Quốc khẳng định Nga và Trung Quốc sau khi ký Hiệp ước láng giềng thân thiện năm 2001, quan hệ của họ đã thực chất là quan hệ đối tác chiến lược, thậm chí "đang đạt đến bước phát triển tốt nhất trong lịch sử"[337,5]. Cũng trên cơ sở đó, các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã khẳng định quan hệ này sẽ ngày càng phát triển, có tác động lớn đến thế giới, nỗ lực thúc đẩy sự hình thành của một trật tự thế giới mới. Nhà nghiên cứu đồng thời là nhà ngoại giao Trung Quốc Lưu Guchang - Đại sứ Trung Quốc tại Nga - đã có nhiều bài viết trên các trang Web của Bộ ngoại giao Nga và Trung Quốc trong đó Lưu Guchang khẳng định trong những năm gần đây, quan hệ đối tác chiến lược Nga và Trung Quốc đã phát triển cả bề rộng và chiều sâu. Theo ông thì quan hệ Nga - Trung có những đóng góp rất lớn cho lợi ích của nhân loại và cho hoà bình thế giới. "Quan hệ Trung - Nga trong thế kỷ mới" của Li Jingjie (开开 开开 开开开开, 开开开开开开); "Bản sắc quốc gia và sự hợp tác xây dựng quan hệ đối tác chiến lược Trung - Nga" (吴吴吴吴开 开开开开开开开开开开开开开开开) của Fly và "Triển vọng quan hệ Nga - Trung Quốc tại ngã tư của thế kỷ" của Gu Guanfu lại cùng có chung những quan điểm trong đánh giá về tương lai của quan hệ Nga - Trung. Theo các nhà nghiên cứu này thì trong suốt chặng đường vừa qua, quan hệ Nga - Trung đã không biến đổi trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cả hai nước đều thiện chí làm sâu sắc thêm quan hệ giữa họ, nên mọi vấn đề tồn tại trong lịch sử đều đã được loại bỏ, đảm bảo khả năng phát triển ổn định và lâu dài của quan hệ Nga - Trung. Vì có một nền tảng vững chắc như vậy, nên tiềm năng và triển vọng của mối quan hệ giữa Nga và Trung Quốc là rất lớn. 7 Nghiên cứu về quan hệ Trung - Nga trên một bình diện rộng hơn, Wang Guang-Zhen - Trường Đại học Sơn Đông - đã có công trình nghiên cứu "Yếu tố Mỹ trong quan hệ đối tác chiến lược Trung - Nga". Trong công trình này, quan hệ Nga Trung được phân tích và đánh giá trong một tam giác chiến lược Nga - Trung - Mỹ với những tác động nhiều chiều, phức tạp từ các phía, trong đó yếu tố Mỹ là một cơ sở quan trọng thúc đẩy sự hình thành và phát triển của quan hệ đối tác chiến lược Trung - Nga, đồng thời là một biến số đối với tương lai của quan hệ hai nước này. Ở các nước khác: Mỹ là nước quan tâm đến nghiên cứu về quan hệ Nga Trung hơn cả bởi mối quan hệ này đang là thách thức đối với Mỹ. Các nhà nghiên cứu Mỹ đặc biệt quan tâm đến mối quan hệ Nga - Trung ở hai nội dung là thực trạng và xu hướng của mối quan hệ này. Viện nghiên cứu chiến lược Mỹ (Strategic Studies Institure U.S) đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu về quan hệ Nga - Trung trong và sau Chiến tranh lạnh. Tuy nhiên, quan niệm của cơ quan này nghiêng về việc khẳng định quan hệ giữa Nga và Trung Quốc thực chất chỉ là sự ganh đua để tranh giành quyền lực ở châu Á - Thái Bình Dương. Bên cạnh đó, họ cũng nhấn mạnh hơn về sức mạnh của Trung Quốc và mục đích tạo ra một không gian địa - chính trị mới trong khu vực của nước này. Trong công trình nghiên cứu mang tên "Quan hệ an ninh Trung Quốc - Nga: chiến lược song song không có đối tác hay niềm đam mê?" (ChinaRussia security relations : strategic parallelism without partnership or passion?), Tiến sĩ Richard Weitz của Viện nghiên cứu chiến lược Mỹ đã đi sâu vào phân tích quan hệ Nga - Trung trên lĩnh vực hợp tác an ninh, qua đó tác giả khẳng định quan hệ Nga - Trung chưa phải là đối tác chiến lược mà mới chỉ là một mối quan hệ thông thường, mang tính nhất thời trên cơ sở cùng hướng về châu Á - Thái Bình Dương [187, 27]. Cũng nghiên cứu về quan hệ Nga - Trung, nhà nghiên cứu về Nga Bobo Lo đã thể hiện trong công trình nghiên cứu "Liên minh vụ lợi Moscow, Bắc Kinh và xu thế địa - chính trị mới" (Axis of convenience : Matxcơva, Beijing, and the new geopolitics) quan điểm "Sự hợp tác Nga - Trung cho phép Matxcơva lấy Bắc Kinh làm điểm tựa để củng cố vị thế của mình ở châu Á - Thái Bình Dương, 8 phục vụ cho các lợi ích và nhiệm vụ của Nga". Theo tác giả này, quan hệ giữa Nga và Trung Quốc không phải là sự ngẫu nhiên, mà do yếu tố truyền thống vì chính Liên Xô là nước đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc sau ngày 1.10.1949. Ngày nay, sự tác động tương hỗ giữa hai nước tạo ra những câu hỏi về an ninh quốc tế, đang là vấn đề cấp bách và là phương hướng chính trị trong quan hệ Nga - Trung. Tác giả này cũng khẳng định "Quan hệ giữa Nga và Trung Quốc sẽ có triển vọng chiến lược nếu phản ứng kịp thời trước những thay đổi toàn cầu, hội nhập vào những xu thế quốc tế mới trong lĩnh vực an ninh"[122]. Hội đồng chính sách đối ngoại của Mỹ cũng là một cơ quan đặc biệt quan tâm đến sự phát triển của quan hệ Nga - Trung trong những năm qua. Các quan niệm của tổ chức này trong đánh giá về quan hệ Nga - Trung thiên về xu hướng thực dụng. E Wayne Merry đã nghiên cứu về quan hệ Nga - Trung qua công trình "Nga và Trung Quốc ở châu Á: sự thay đổi lớn về vai trò quyền lực" (Russia and China in Asia : changing great power roles), trong đó nhấn mạnh những mục đích chiến lược của hai quốc gia này ở châu Á - Thái Bình Dương. Theo Wayne Merry thì Nga và Trung Quốc thực chất đang là đối thủ của nhau bởi họ cùng có chung một mục đích là làm thay đổi vị trí quyền lực ở châu Á - Thái Bình Dương. Trong khi Trung Quốc đã khẳng định được một vị thế nhất định ở khu vực này thì Nga vẫn còn đang gắng sức để thực hiện tăng cường ảnh hưởng của mình ở khu vực này, nên thực chất trong lòng mối quan hệ này sự cạnh tranh bao trùm hợp tác khiến cho mối quan hệ này không thể trở thành đối tác chiến lược[132]. Trong tác phẩm nghiên cứu mang tên "Mối quan hệ quân sự giữa Trung Quốc và Nga 1995 - 2002: Vai trò của Nga trong việc phát triển tiềm năng chiến lược của Trung Quốc" (The military relationship between China and Russia 19952002 : Russia's role in the development of China's strategic potential), John J. Dziak cũng phân tích về quan hệ Nga - Trung trong lĩnh vực năng lượng nhưng tác giả này có phần công bằng với Nga hơn khi đánh giá về sức mạnh quân sự của Nga. Trên cơ sở những thành tựu hợp tác hai nước, John J. Dziak đã khẳng định Nga có vai trò quan trọng trong việc phát triển tiềm năng chiến lược của Trung Quốc. Quan 9 hệ quân sự Nga - Trung đã trở thành cơ sở thúc đẩy cho sự phát triển mạnh mẽ, sâu sắc của quan hệ Nga - Trung trong những năm qua, nhưng nội dung hợp tác này lại mang lại cho Trung Quốc nhiều lợi ích hơn so với Nga cả ở hiện tại cũng như trong tương lai. Tuy nhiên, theo John J. Dziak, cũng chính vì điều này mà Trung Quốc còn đang chiều chuộng Nga, nhưng nếu một ngày, khi Trung Quốc đã vượt lên sức mạnh hiện có về quân sự của Nga (mà điều đó là có thể) thì quan hệ Nga - Trung Quốc sẽ khác. Từ đó, tác giả này đã khẳng định về tương lai của quan hệ Nga Trung là trong một giới hạn ngắn về thời gian thì có thể phát triển, nhưng có rất nhiều lý do để tin rằng sự hợp tác giữa Nga và Trung Quốc thiếu độ bền [147]. Các công trình nghiên cứu khác của Mỹ về quan hệ Nga - Trung cũng hầu hết đánh giá về tính hai mặt của mối quan hệ này. Tác giả Sherman W.Garnett với công trình nghiên cứu "Quan hệ hữu nghị hay cạnh tranh? Quan hệ Nga - Trung trong một châu Á đang thay đổi" (Rapprochement or rivalry?: Russia-China relations in a changing Asia) đã phân tích về quan hệ Nga - Trung trên cơ sở giải quyết các giả thuyết về mối quan hệ này. Quan hệ Nga - Trung thực chất là láng giềng, hữu nghị hay chỉ là sự cạnh tranh có tính chất ganh đua mang tính chiến lược đầy mục đích của cả hai phía. Trên cơ sở đó, Sherman W Garnett cũng đã khẳng định quan hệ Nga - Trung sẽ làm thay đổi châu Á cả về cơ cấu quyền lực cũng như về môi trường chính trị và an ninh [270]. Phó Giáo sư Alexander Lukin thuộc Trung tâm nghiên cứu chính sách Đông Bắc Á tại Mỹ (Washington, D.C. : Brookings Institution Center for Northeast Asian Policy Studies) đã nghiên cứu về quan hệ Nga - Trung trên một bình diện rất mới mẻ: "Ấn tượng Nga của Trung Quốc và quan hệ Nga - Trung Quốc" (Russia's image of China and Russian-Chinese relations). Trong công trình nghiên cứu này, với 4 phần: phương pháp tiếp cận của Nga hiện nay theo hướng quan hệ với Trung Quốc; ấn tượng về Nga của Trung Quốc và triển vọng của quan hệ Nga - Trung trong thế kỷ XXI; những động lực phía sau quan hệ hữu nghị Nga - Trung Quốc và tác động từ Hoa Kỳ tới quan hệ Nga - Trung, tác giả đã làm rõ phương pháp tiếp cận của Nga đối với Trung Quốc khác biệt với các nhóm quan hệ khác, tuy nhiên 10 thái độ hướng về Trung Quốc của Nga lại phụ thuộc vào mối quan hệ của Nga với phương Tây, đặc biệt là với Hoa Kỳ. Hình ảnh Trung Quốc trong Nga là một người hàng xóm đầy tham vọng (trong vấn đề biên giới, vị thế địa - chính trị…), từ đó vẽ nên một hình ảnh Trung Quốc bành trướng đầy uy hiếp với Nga (hiện tại là vùng Viễn Đông). Chính những hình ảnh này đã cản trở quan hệ Nga - Trung, nên nếu có kỳ vọng về việc Nga phát triển quan hệ gần gũi hơn với Trung Quốc thì cũng chỉ có thể trong tương lai gần. Trong tương lai, chính sách của Mỹ với Nga và Trung Quốc sẽ ảnh hưởng quyết định đến chiều hướng của mối quan hệ này. Giáo sư ngành Khoa học chính trị Jeanne L.Wilson - trường Đại học Wheaton và giáo sư, nhà nghiên cứu châu Á - Thái Bình Dương Steven I. Levine của trường Đại học Montana lại có chung một quan điểm khi đánh giá về quan hệ Nga - Trung trong các bài báo cáo tại hội thảo của Chương Trình Á - Âu (viện Kennan) với chủ đề "Nga - Trung hợp tác chiến lược: một mối đe doạ với người Mỹ" (Sino-Russian Strategic Partnership: A Threat to American Interests?). Theo các tác giả này thì sau chiến tranh lạnh, Hoa Kỳ đã phải đối mặt với những thách thức của một tiềm năng quan hệ Trung - Nga. Các nhà nghiên cứu này khẳng định quan hệ giữa Nga và Trung Quốc là quan hệ đối tác chiến lược được xây dựng hai tầng: tầng một là quan hệ Nga - Trung nhằm tạo sức ép đối với phương Tây, còn tầng hai là quan hệ giữa Nga - Trung Quốc với Mỹ và các nước phương Tây. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu này khẳng định mối quan hệ của Nga và Trung Quốc là một mối quan hệ không cân bằng. Chính sự chênh lệch về quyền lực và của cải giữa Nga và Trung quốc đã khiến Nga phải "nuốt niềm tự hào" để sẵn sàng nhún nhường với Trung Quốc "ít nhất là tạm thời", để đạt được quan hệ đối tác chiến lược.Từ đó, theo Jeanne L. Wilson và Steven I. Levine thì "xung đột giữa Nga và Trung Quốc có thể xảy ra trong nửa thế kỷ tiếp theo"[174]. Quan niệm trên cũng được nhắc đến ở nội dung của công trình nghiên cứu "Quan hệ đối tác chiến lược Nga - Trung trong giai đoạn hậu Xô Viết" (Strategic Partners: Russian-Chinese Relations in the Post-Soviet Era). Tác giả Jeanne L. Wilson đã phân tích cụ thể và toàn diện hơn về mối quan hệ Nga - Trung cả về thời 11 gian và lĩnh vực hợp tác, qua đó ông đã chỉ ra rằng cả Nga và Trung Quốc đều hội tụ những lợi ích chung như việc duy trì ổn định, hoà bình; duy trì an ninh dọc tuyến biên giới; nhu cầu thương mại của hai nước về năng lượng, vũ khí và hy vọng có thể tạo ảnh hưởng tới hành động và chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ. Bên cạnh đó, Jeanne L. Wilson còn phân tích rõ một số ràng buộc về phát triển các chiến lược hợp tác Nga - Trung bao gồm nỗi sợ hãi của Nga trước việc "bành trướng"của Trung Quốc tới vùng Viễn Đông của Nga và sự phát triển thương mại vùng biên giới cũng như hợp tác thương mại hai nước. Cuối cùng, Jeanne L. Wilson khẳng định Nga và Trung Quốc đều coi trọng mối quan hệ của họ với Hoa Kỳ hơn là mối quan hệ của họ với nhau, nhưng họ đã cố gắng thúc đẩy quan hệ song phương phát triển nhằm tạo nên một "cái bóng khổng lồ" để đối trọng với Mỹ, hay thực chất là họ đã "bắt tay nhau để cùng hợp tác với Mỹ", vì thế tương lai của mối quan hệ này có thể sẽ rất phát triển nhưng cũng ẩn chứa nhiều hạn chế về chiều sâu [145,163]. Đánh giá triển vọng của quan hệ Nga - Trung, tác giả Dashdongdog Bayarsaikhan - Viện nghiên cứu dự án chiến lược của Mỹ - đã có công trình "Prospects of Sino-Russian relations". Tác giả này đã phân tích mối quan hệ Nga Trung trên các lĩnh vực an ninh, chính trị, hợp tác kinh tế và quan hệ quốc phòng, qua đó nhấn mạnh vấn đề lợi ích năng lượng giữa hai nước, đồng thời phân tích các chính sách của các nước này có liên quan đến Trung Á, bán đảo Triều Tiên và Đài Loan. Nội dung của quan hệ Nga - Trung dưới con mắt của nhà nghiên cứu này luôn chứa đựng mặt trái khó thể dung hoà, vì vậy khi đánh giá về triển vọng quan hệ hai nước, Dashdongdog Bayarsaikhan đã khẳng định trong thế kỷ mới mối quan hệ này sẽ không tránh khỏi những xung đột bởi nguy cơ mâu thuẫn về lợi ích kinh tế và lợi ích chính trị của hai nước này là rất lớn [125]. Các học giả châu Âu khác nói chung cũng đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về quan hệ Nga - Trung, tuy nhiên quan niệm của các nhà nghiên cứu này không nhất quán về quan điểm trong cách đánh giá về mối quan hệ mà cả thế giới đang quan tâm này. Tiến sỹ Alexander Nemets và đồng nghiệp của ông là Thomas Joseph Torda trong "Sự liên minh Nga - Trung" (The Russian-Chinese 12 alliance) đã phân tích về mối quan hệ Nga - Trung như một mối liên minh khá đặc biệt. Liên minh này được thiết lập trong điều kiện nhu cầu từ cả hai phía. Nga đã tặng cho Trung Quốc những "quà tặng" quý giá về quân sự và công nghệ quân sự, còn Nga thì được "tắm trong mưa vàng và đô la" dầu mỏ từ Trung Quốc. Từ đó, "liên minh giữa nước Nga mới và Trung Quốc mới đã được thiết lập lại". Các tác giả trên cho rằng mối liên minh Nga - Trung có cùng tính chất với mối liên minh Xô - Trung đã từng được thiết lập từ những năm 50 của thế kỷ XX, chứ chưa phải là một mối quan hệ mới [118,96]. Tác giả Mahdi Darius Nazemroaya - Trung tâm nghiên cứu toàn cầu (CRG Centre for Research on Globalization) với bài viết nghiên cứu về quan hệ Nga Trung như "Liên minh Trung - Nga: Thách thức tham vọng của Mỹ tại lục địa Á Âu" (The Sino - Russian Alliance: Challenging America's Ambitions in Eurasia) đã nhấn mạnh việc Nga và Trung Quốc ý thức được rằng họ là mục tiêu của Anh - Mỹ, nên đã mang họ đến với nhau. Theo tác giả thì sự hình thành liên minh nói chung được quyết định bởi 4 biến số: sức mạnh tổng hợp, địa lý gần nhau, sức mạnh tấn công và nhận thức về các lợi ích, trong đó liên minh Trung - Nga chủ yếu được hình thành trên cơ sở nhận thức về các lợi ích và đe doạ từ Hoa Kỳ. Phản ứng của Nga và Trung Quốc chính là sự nỗ lực để cân đối có thể không phải là quyền lực của Hoa Kỳ nhưng ít nhất là làm giảm các mối đe doạ cố hữu trong các chính sách của nó. Chính vì vậy mối quan hệ Nga - Trung thời kỳ này đã có những nét đặc biệt, đó là mối quan hệ mang tính "ái lực" [157,3]. Nhà nghiên cứu, tiến sỹ Ariel Cohen - Viện nghiên cứu chiến lược quốc tế tại Luân Đôn nghiên cứu về quan hệ Nga - Trung bắt đầu bằng sự kiện hai nước ký Hiệp ước láng giềng thân thiện năm 2001. Bài viết của tác giả mang tên "Hiệp ước hợp tác láng giềng thân thiện Nga - Trung: nấc thang chiến lược ở Á - Âu?" (The Russia - China friendship and cooperation treaty: A strategic shift in Eurasia?) đã đi sâu vào phân tích sự phát triển của mối quan hệ giữa Nga và Trung Quốc theo thời gian, và qua đó tác giả đã nhấn mạnh vào phân tích những hạn chế trong mối quan hệ này. Tác giả cũng cho rằng lực lượng quân sự của Nga ở vùng Viễn Đông 13 sẽ khó có thể đương đầu với lực lượng quân sự đang lớn mạnh của Trung Quốc, tiềm lực quân sự của Trung Quốc có thể gây nên những thách thức về an ninh ở Trung Á bất chấp những mong muốn của Nga...và không còn bao lâu nữa Nga sẽ không còn duy trì mối quan hệ hợp tác cân bằng với Trung Quốc. Từ đó, tác giả đánh giá không cao về tương lai của mối quan hệ Nga - Trung vì song song với sự phát triển thì hai nước này vẫn không ngừng giám sát nhau, vì thế định hướng chống Mỹ của mối liên minh này sẽ khó thành hiện thực. Nhìn chung, các học giả Mỹ và châu Âu có phần hoài nghi với mối quan hệ này hơn là tin tưởng vào sự phát triển của nó. Trọng tâm trong các công trình nghiên cứu về quan hệ Nga - Trung của các nhà nghiên cứu Mỹ và châu Âu là hình thức và nội dung của mối quan hệ này có thực chất đe doạ đến địa vị của Mỹ hay không? triển vọng của mối quan hệ này sẽ như thế nào?. Tuy nhiên khi đánh giá về tương lai của quan hệ Nga - Trung, hầu hết các quan niệm của các nhà nghiên cứu này đều đánh giá tương đối bi quan. Bên cạnh các quan điểm nghiên cứu của Mỹ và các nước châu Âu, các nhà nghiên cứu Nhật Bản cũng hết sức quan tâm đến quan hệ giữa Nga và Trung Quốc. Mặc dù Nhật Bản có nhiều gắn bó với Mỹ, nhưng các quan điểm của nước này trong việc đánh giá về mối quan hệ Nga - Trung lại hoàn toàn khác Mỹ và các nước châu Âu. Giáo sư Iwashita Akihiro - chuyên viên nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Nga và quan hệ Nga - Trung tại Trung tâm nghiên cứu Slav, Trường đại học Hokkaido, Nhật Bản - đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về quan hệ Nga Trung như: "Nga - Trung đối tác chiến lược và đàm phán biên giới: trước mắt và lâu dài" (The Russo - Chinese "Strategic partnership" and border negotiations: then and now) và "Tiến trình phân định 4.000 km đường biên giới Trung - Nga" (A 4.000 kilometer journey along the Sino - Russian border)… Trong hai công trình nghiên cứu trên, Iwashita Akihiro đã đi từ phân tích việc giải quyết vấn đề biên giới hai nước- vốn là một vấn đề căng thẳng, tưởng như không có hồi kết - thì từ sau chiến tranh lạnh đã được giải quyết trên cơ sở gạt bỏ mọi trở ngại, khó khăn để đạt hiệu quả cao. Từ đó, Iwashita Akihiro khẳng định ông "không còn nghi ngờ gì về mối 14 quan hệ đối tác chiến lược Nga - Trung", trong tiến trình phân định biên giới, hai nước đã đạt được những vấn đề "xa hơn vấn đề biên giới" đó là thiết lập nên một khuôn mẫu cho một mô hình hợp tác mới trong xu thế toàn cầu hoá của thế giới[142,178]. Như vậy, nghiên cứu về mối quan hệ Nga - Trung từ sau Chiến tranh lạnh đến nay đã được các học giả và giới chuyên môn ở nhiều nước trên thế giới quan tâm và đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về vấn đề này, với sự đa dạng về cách nhìn nhận, thậm chí hoàn toàn mâu thuẫn với nhau về quan điểm đánh giá. Việc nghiên cứu ở Việt Nam Mối quan hệ của các nước lớn nói chung và quan hệ Nga - Trung Quốc nói riêng trong thế giới đầy biến động hiện nay cũng là vấn đề lớn được các nhà nghiên cứu trong nước quan tâm. Trung tâm nghiên cứu SNG và Đông Âu, (hiện nay là Viện Nghiên cứu châu Âu) đã có nhiều chuyên đề nghiên cứu về Liên bang Nga và những mối quan hệ của nước này với các nước lớn trong đó có Trung Quốc, như: "Liên bang Nga và Đông Âu trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI" (tháng 3/1994); Kỷ yếu hội thảo khoa học "Liên bang Nga trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương thời kỳ hậu chiến tranh lạnh"(tháng 10/1995)... Trong những tài liệu này, các nhà nghiên cứu đã có nhiều bài viết đánh giá về chính sách đối ngoại của Liên bang Nga thời hậu xô viết, trong đó nổi bật lên thiên hướng châu Á - Thái Bình Dương và Trung Quốc láng giềng. Những năm gần đây, trong các số của tạp chí Nghiên cứu châu Âu, có nhiều tác giả và bài viết về mối quan hệ Nga - Trung Quốc trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị… Tất cả đều khẳng định mối quan hệ "đối tác chiến lược" Nga - Trung Quốc đang có tác động rất lớn đến môi trường quốc tế hiện nay. PGS.TS. Nguyễn Quang Thuấn với công trình "Liên bang Nga: Quan hệ kinh tế đối ngoại trong những năm cải cách thị trường" (năm 1999) đã nghiên cứu về những chuyển biến trong chính sách đối ngoại của Liên bang Nga và quan hệ kinh tế của Nga với các nước trên thế giới, trong đó có Trung Quốc. Luận án Tiến sỹ - của Nguyễn Văn Rân "Sự chuyển hướng chính sách đối ngoại của Liên bang Nga ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương nguyên nhân và tác 15 động " là một công trình nghiên cứu sâu sắc về chính sách đối ngoại của Liên bang Nga với châu Á - Thái Bình Dương từ sau Chiến tranh lạnh đến năm 1998. Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc đã có nhiều cuộc hội thảo về sự phát triển của Trung Quốc như: "CHND Trung Hoa Trung Hoa 55 năm xây dựng và phát triển" năm 2004; "Trung Quốc 25 năm cải cách mở cửa" năm 2003..., trong đó các bài viết của các nhà nghiên cứu ngoài việc đi sâu vào phân tích con đường cải cách và những thành tựu kinh tế, chính trị, xã hội…của Trung Quốc, còn có nhiều phân tích, đánh giá về chính sách đối ngoại của Trung Quốc của các thế hệ lãnh đạo thứ 3, thứ 4 và mối quan hệ của Trung Quốc với các nước lớn trong đó có Liên bang Nga. Tạp chí kiến thức Quốc phòng hiện đại - tài liệu của Tổng cục tình báo quân đội (Tổng cục II) - cũng thường xuyên có những bài viết, bài dịch xoay quanh những mối quan hệ nước lớn trên bàn cờ thế giới đương đại, trong đó mối quan hệ Nga - Trung Quốc cũng được đề cập trong một số bài viết, dịch theo tài liệu nước ngoài. Ngoài ra, một số tạp chí nghiên cứu như Tạp chí quốc tế, Tạp chí cộng sản, Tạp chí Những vấn đề kinh tế chính trị thế giới; Tạp chí Kinh tế châu Á - châu Á - Thái Bình Dương, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á…cũng có những bài viết đề cập đến quan hệ của các nước lớn, trong đó có quan hệ Nga - Trung Quốc trong hoàn cảnh mới. Tuy các cơ quan, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã nghiên cứu nhiều về quan hệ Nga - Trung từ sau Chiến tranh lạnh đến nay, song mới chỉ dừng lại ở các bài viết đăng trên các tạp chí, với các lĩnh vực rời rạc và ở những giai đoạn nhất định. Chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu về quan hệ Nga - Trung một cách tổng thể từ 1992 đến 2008, cũng như phân tích, đánh giá mối quan hệ này dưới góc độ lịch sử. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu "Quan hệ Liên bang Nga - CHND Trung Hoa (1992 - 2008)" với mong muốn lấp khoảng trống đó và góp thêm một cái nhìn của Việt Nam về vấn đề này. 3. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quan hệ giữa Liên bang Nga và CHND Trung Hoa trong giai đoạn 1992 - 2008. 4. Phạm vi nghiên cứu 16 Về tên gọi, tên đề tài là "Quan hệ Liên bang Nga và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa", nhưng để tiện sử dụng, trong nội dung đề tài sẽ sử dụng tên gọi chung là "quan hệ Nga - Trung" và "Liên Xô - Trung Quốc" sẽ được gọi là "Xô - Trung". Về nội dung, đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề trong phạm vi sau: Về cơ sở của mối quan hệ Nga - Trung: Có nhiều cơ sở tác động đến quan hệ Nga - Trung, nhưng đề tài chỉ phân tích những nhân tố chính như trong nhân tố chủ quan có nhân tố Nga và nhân tố Trung Quốc, nhân tố khách quan có hoàn cảnh quốc tế và nhân tố Mỹ. Về nội dung của quan hệ Nga - Trung: Hiện nay, Nga và Trung Quốc đã thiết lập quan hệ mang tính toàn diện trên các lĩnh vực: quan hệ chính trị - ngoại giao; quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại và năng lượng; hợp tác an ninh - quân sự; hợp tác văn hóa và khoa học kỹ thuật... nhưng đề tài chỉ tập trung nghiên cứu quan hệ giữa Nga và Trung Quốc trên các mặt: quan hệ chính trị - ngoại giao; quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại và năng lượng; hợp tác an ninh - quân sự. Trong đánh giá những tác động từ mối quan hệ Nga - Trung: Mặc dù mối quan hệ này cho đến nay đã có tác động ở nhiều mức độ đến các châu lục (châu Á, châu Âu, châu Phi và các nước Mỹ La tinh) đồng thời tác động nhiều mặt, đa chiều tới quan hệ quốc tế, nhưng đề tài chỉ tập trung nhìn nhận tác động của quan hệ này tới bản thân hai quốc gia này, tới châu Á và tới sự vận động của hình thái trật tự thế giới mới. Về thời gian, đề tài lấy mốc thời gian từ năm 1992 đến năm 2008. Thứ nhất, năm 1992 là mốc đánh dấu sự thay đổi căn bản của bối cảnh quốc tế. Sau sự sụp đổ của trật tự hai cực Ianta, cục diện thế giới mới và tư duy chính trị mới được hình thành. Những nhân tố này đã chi phối đường lối đối ngoại của tất cả các nước, trong đó có Nga và Trung Quốc. Thứ hai, đối với Nga, năm 1992 là năm khởi đầu cho sự phát triển của Liên bang Nga sau sự tan rã của Liên Xô và năm 2008 là mốc kết thúc của nhiệm kỳ của Tổng thống V.Putin. đối với Trung Quốc, Đại hội XIV Đảng Cộng sản năm 1992 đã mở ra một bước ngoặt mới cho sự phát triển của CHND Trung Hoa, đặc biệt nó đánh dấu sự điều chỉnh về chính sách đối ngoại (từ chính sách "độc lập hòa bình" chuyển sang chính sách "ngoại giao nước lớn") và 17 năm 2008 được đánh giá là thời điểm chính sách ngoại giao nước lớn của Trung Quốc đã đạt được những thành công căn bản, đặt nền tảng cho nước này thực hiện sự điều chỉnh mới trong chính sách đối ngoại thông qua Đại hội XVII (2007) với trọng tâm là khẳng định chức năng mới của một “cường quốc có trách nhiệm”. Đối với mối quan hệ hai nước, năm 1992 là năm khởi đầu cho sự phát triển của mối quan hệ giữa nước Nga mới với Trung Quốc sau sự kiện ngày 27/12/1991. Trải qua 16 năm phát triển, đến năm 2008, những tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới; sự thay đổi nhiệm kỳ Tổng thống của Liên bang Nga; nghị quyết Đại hội XVII với vị thế mới của Trung Quốc đã là sự khởi đầu cho một giai đoạn phát triển mới trong quan hệ Nga - Trung. Tuy nhiên, lịch sử luôn là sự phát triển tiếp nối, để hiểu sâu sắc và hệ thống hơn về mối quan hệ Nga - Trung, ở một mức độ nhất định, đề tài sẽ đề cập đến một số sự kiện trước năm 1992 và sau năm 2008. 5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu * Mục đích nghiên cứu Sau năm 1991, cả Nga và Trung Quốc cùng có nhu cầu phát triển quan hệ giữa hai nước lên tầm "quan hệ đối tác chiến lược". Tuy nhiên, ẩn chứa bên trong nhu cầu hợp tác ngày càng cao của hai nước là sự ganh đua, kiềm chế lẫn nhau ngày càng quyết liệt, tạo nên không ít cản trở đối với sự phát triển của mối quan hệ Nga - Trung, vậy đâu là nguyên nhân của thực trạng này? Mục đích của đề tài là nghiên cứu sự phát triển, những thành tựu và hạn chế của quan hệ Nga - Trung (1992 - 2008), qua đó làm rõ tác động của mối quan hệ này đối với khu vực, thế giới và Việt Nam. * Nhiệm vụ nghiên cứu - Trước hết đề tài nghiên cứu mối quan hệ Liên Xô - Trung Quốc trong hơn 40 năm thăng trầm (1949 - 1991) để rút ra những đánh giá làm nền tảng cho quá trình nghiên cứu về mối quan hệ Nga - Trung sau chiến tranh lạnh. - Tiếp đó, trên cơ sở nghiên cứu những tác động của hoàn cảnh thế giới, khu vực và trong nước của Nga và Trung Quốc, đề tài sẽ làm rõ sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Nga và Trung Quốc từ năm 1992 đến nay và tập trung phân tích 18 quan hệ hai nước trên các mặt quan hệ chính trị - ngoại giao; quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại và năng lượng; hợp tác an ninh - quân sự. - Dựa trên nền tảng đó, đề tài đi sâu vào nghiên cứu tính chất của mối quan hệ Nga - Trung để rút ra những đặc điểm trong quan hệ hai nước, phân tích sâu sắc những tác động của mối quan hệ đối tác chiến lược Nga - Trung tới bản thân hai nước Nga và Trung Quốc, tới khu vực châu Á - Thái Bình Dương và tới sự hình thành trật tự thế giới mới. Qua đó, đề tài sẽ đánh giá về xu hướng vận động của mối quan hệ Nga - Trung trong tương lai. 6. Nguồn tài liệu - Tư liệu gốc: Luận án lấy các tư liệu gốc làm cơ sở nghiên cứu và đánh giá đề tài, bao gồm các văn bản về chủ trương, chính sách đối ngoại của nhà nước Nga và Trung Quốc. Những hiệp ước, những tuyên bố chung của hai nước và nội dung trao đổi trong các cuộc gặp gỡ cấp cao của Nga và Trung Quốc trong giai đoạn từ 1949 đến nay. Những văn kiện của các kỳ Đại hội của Trung Quốc và những thông điệp của các Tổng thống Liên bang Nga. - Các nguồn tài liệu tham khảo khác + Luận án tham khảo các tài liệu nước ngoài, chủ yếu với 3 nguồn là: Tài liệu của các nhà nghiên cứu Nga, tài liệu của các nhà nghiên cứu Trung Quốc, và tài liệu của các nhà nghiên cứu trên thế giới nhằm có được sự nhìn nhận đa chiều về quan hệ Nga - Trung, từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá. + Tham khảo các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước, đặc biệt là các công trình nghiên cứu của Viện nghiên cứu châu Âu, Viện nghiên cứu Trung Quốc thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Học viện Ngoại giao, Bộ ngoại giao Việt Nam và các tài liệu của các chuyên gia nghiên cứu về Nga và Trung Quốc hiện nay. + Tham khảo có chọn lọc và xử lí các nguồn tư liệu cập nhật thường xuyên trong các tuần báo quan hệ quốc tế và hệ thống thông tin trên mạng Internet. 7. Phương pháp nghiên cứu Luận án được nghiên cứu dựa trên quan điểm của Đảng về chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế, xem đó là phương pháp luận khi thực hiện đề tài. 19 Phương pháp lịch sử và phương pháp logic là những phương pháp cơ bản để trình bày, phân tích và lý giải các vấn đề trong luận án. Phương pháp nghiên cứu quốc tế cũng được đặc biệt chú trọng. Các sự kiện, các biến cố lịch sử của mối quan hệ hai nước luôn được đặt trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể, trong bối cảnh quốc tế để phân tích, đánh giá. Bên cạnh đó, các phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh, đối chiếu, phương pháp dự báo cũng được sử dụng nhằm giải quyết những vấn đề xảy ra. 8. Dự kiến đóng góp của đề tài - Trên cơ sở khái quát toàn bộ lịch sử quan hệ Xô - Trung trước năm 1991, luận án khôi phục lại bức tranh toàn cảnh về quá trình hình thành, phát triển của mối quan hệ Nga - Trung Quốc trên các mặt chính trị - ngoại giao, kinh tế - thương mại, an ninh - quân sự từ năm 1992 đến năm 2008. - Làm rõ mối quan hệ Nga - Trung trong bối cảnh quốc tế và tình hình của hai nước, luận án chỉ ra sự tác động của mối quan hệ này tới khu vực và thế giới, bước đầu đưa ra nhận định về sự vận động của mối quan hệ Nga - Trung trong thời gian tới. - Luận án sẽ là tài liệu tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy về quan hệ quốc tế, lịch sử Nga và Trung Quốc thời hiện đại, đồng thời có thể phục vụ công tác đối ngoại của nước ta. 9. Bố cục của đề tài Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được kết cấu làm 3 chương: Chương 1. Khái quát mối quan hệ Liên Xô - Trung Quốc thời kỳ 1949 - 1991 và những nhân tố tác động đến quan hệ Liên bang Nga - Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (1992 - 2008) Chương 2. Quá trình phát triển và một số thành tựu chủ yếu của quan hệ Liên bang Nga - CHND Trung Hoa (1992 - 2008) Chương 3. Nhận xét về quan hệ Liên bang Nga - CHND Trung Hoa 20 Chương 1 KHÁI QUÁT MỐI QUAN HỆ LIÊN XÔ - TRUNG QUỐC THỜI KỲ 1949 – 1991 VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ LIÊN BANG NGA - CỘNG HOÀ NHÂN DÂN TRUNG HOA (1992 - 2008) 1.1. KHÁI QUÁT VỀ QUAN HỆ LIÊN XÔ - TRUNG QUỐC (1949 - 1991) 1.1.1. Quan hệ đồng minh Xô - Trung (1949 - 1959) Sau Chiến tranh thế giới thứ II, mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội (CNXH) với chủ nghĩa tư bản (CNTB) trở thành trục chính trong quan hệ quốc tế, tạo nên sự đối đầu giữa hai cực Xô - Mỹ, hai khối Đông - Tây. Để ngăn chặn rồi tiến tới xóa bỏ các nước XHCN, Mỹ đã ra sức thiết lập các mối quan hệ đồng minh với các nước TBCN. Trong hoàn cảnh đó, Liên Xô và các nước XHCN cũng tất yếu phải liên kết lại vì lợi ích an ninh của chính mình và để bảo vệ các nhà nước XHCN. Chính bối cảnh đó đã đưa đến sự ra đời của mối quan hệ "đồng minh chiến lược" Xô - Trung. Ngay sau khi cách mạng Trung Quốc thành công, cùng với việc thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc ngày 2/10/1949 [53,47], Liên Xô đã đặt ngay vấn đề loại Tưởng Giới Thạch và khôi phục lại địa vị hợp pháp của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tại Liên Hợp Quốc. Việc làm này của Liên Xô nhằm tạo đồng minh cho mình trong Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc và cũng tạo cú hích thúc đẩy mối quan hệ hai nước tiếp tục phát triển hơn trên cơ sở cùng chung lợi ích, cùng chung chiến tuyến. Trong hoàn cảnh đó, Trung Quốc thực hiện chính sách đối ngoại "nhất biên đảo"[14,27], ngả hẳn về phía Liên Xô để chống chủ nghĩa đế quốc, nhanh chóng khẳng định thiện chí cùng Liên Xô xây dựng quan hệ đồng minh. Chuyến viếng thăm đầu tiên của nhà nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa với nước ngoài là tới Liên Xô. Ngày 16/12/1949 phái đoàn Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa do Chủ tịch Mao Trạch Đông dẫn đầu đã đến Liên Xô. Trong chuyến viếng thăm lịch sử này, hai bên đã chính thức khẳng định việc thiết lập mối quan hệ "đồng minh chiến lược", đặt nền tảng cho việc ký Hiệp ước hữu nghị, liên minh, tương trợ Xô - Trung ngày 14/2/1950. Trong Hiệp ước, hai nước đã cùng thoả thuận những nội dung quan trọng như: cương quyết ngăn chặn sự phục
- Xem thêm -