Phân tích tài chính tại Công ty Cổ phần vật liệu xây dựng Quốc gia

  • Số trang: 74 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 24 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 27701 tài liệu

Mô tả:

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.1. Tổng quan về phân tích tài chính của doanh nghiệp 1.1.1. Khái niệm tài chính doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp xét về bản chất là những quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với nhà nước và với các chủ thể kinh tế - xã hội ở trong nước và ngoài nước, còn xét về hình thức là quan hệ tài chính – tiền tệ trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ cho hoạt động của doanh nghiệp phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm góp phần đạt tới các mục tiêu của doanh nghiệp. Doanh nghiệp muốn đứng vững trong môi trường kinh tế liên tục biến động thì phải luôn tính toán tới sự vận động của đồng tiền trong quá trình kinh doanh, thông qua hàng loạt mối quan hệ kinh tế và tài chính giữa doanh nghiệp với các đối tác khác như nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ, người lao động trong doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, nhà nước. Quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà nước: là mối quan hệ được phát sinh khi doanh nghiệp được nhà nước cấp vốn hoạt động (đối với doanh nghiệp nhà nước) và doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ tài chính với nhà nước như: nộp các khoản thuế, lệ phí…vào ngân sách nhà nước. Quan hệ giữa doanh nghiệp với các chủ thể khác: là quan hệ về mặt thanh toán trong việc cho vay vốn, đầu tư vốn, mua bán tài sản, hàng hóa, dịch vụ… Quan hệ giữa nội bộ doanh nghiệp: thể hiện qua việc doanh nghiệp thanh toán tiền lương, tiền thưởng do công nhân viên, quan hệ thanh toán giữa các bộ phận trong doanh nghiệp. 1.1.2. Chức năng, vai trò của tài chính doanh nghiệp 1.1.2.1. Chức năng của tài chính doanh nghiệp Tổ chức vốn và luân chuyển vốn: Doanh nghiệp muốn hoạt động thường xuyên và liên tục thì điều kiện cần và đủ là doanh nghiệp phải có đủ vốn để thỏa mãn cho mọi vấn đề liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh. Quá trình hoạt động của doanh nghiệp luôn nảy sinh các nhu cầu về vốn ngắn hạn và dài hạn cho hoạt động kinh doanh thường xuyên cũng như cho đầu tư phát triển. Vì vậy chức năng này sẽ giúp doanh nghiệp xác định được nhu cầu vốn cần thiết cho từng thời kì. Bên cạnh đó, nó còn giúp cho nhà quản lí nắm bắt được tình hình tài chính để tổ chức nguồn vốn, nhằm đầu tư đúng hướng và kịp thời nhu cầu vốn khi cần thiết. Qua đó cho thấy chức 1 năng tổ chức và luân chuyển vốn là chức năng quan trọng của tài chính doanh nghiệp bởi nó có tác động trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Phân phối thu nhập bằng tiền: Phân phối là một chức năng quan trọng của tài chính doanh nghiệp. Sau mỗi chu kì kinh doanh, sản phẩm, hàng hóa được tiêu thụ, doanh nghiệp sẽ có thu nhập bằng tiền. Để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục, cần thiết phải phân phối số thu nhập này, phân phối tích lũy tiền tệ đạt được thông qua sự vận động và sử dụng các quỹ tiền tệ ở doanh nghiệp. Kiểm tra: Đây là chức năng có tính chất khách quan, phản ánh trình độ sử dụng vốn trong hoạt động kinh doanh. Tổ chức vốn, phân phối thu nhập và tích lũy tiền tệ đòi hỏi phải có sự kiểm tra và tích lũy kiểm tra. Việc kiểm tra toàn diện, thường xuyên và có hiệu quả cao không những giúp doanh nghiệp hiểu rõ tiến trình hoạt động của doanh nghiệp mà còn giúp doanh nghiệp thấy rõ hiệu quả kinh tế do những hoạt động đó mang lại. Ba chức năng quản lý vốn, phân phối và kiểm tra không thể tách rời nhau. Quá trình kiểm tra tiến hành tốt thì quá trình tổ chức phân phối vốn mới được thực hiện tốt. Ngược lại việc tổ chức vốn và phân phối tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chức năng kiểm tra. 1.1.2.2. Vai trò của tài chính doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp có vai trò rất trong trọng trong nền kinh tế nói chung và mỗi doanh nghiệp nói riêng. Tài chính doanh nghiệp có 3 vai trò chính sau: Đảm bảo về vốn: Tài chính doanh nghiệp đảm bảo huy động đầy đủ và kịp thời vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp thường xuyên nảy sinh các nhu cầu về vốn ngắn hạn và dài hạn để đầu tư. Khi đó vai trò trước tiên của tài chính doanh nghiệp là phải xác định đúng đắn các nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp trong từng thời kỳ, tiếp đó là lựa chọn các phương pháp và hình thức thích hợp để huy động vốn từ bên trong và bên ngoài, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn. Sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả: Việc tổ chức sử dụng vốn của doanh nghiệp có tác động mạnh mẽ đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhận biết và huy động kịp thời các nguồn vốn sẽ giúp doanh nghiệp tránh được các rủi ro, và nắm bắt được các cơ hội kinh doanh. Huy động tối đa nguồn vốn hiện có sẽ giúp doanh nghiệp tránh được các thiệt hại do ứ đọng vốn gây ra, đồng thời làm giảm nhu cầu vốn vay và lãi suất. Kiểm soát: Tài chính doanh nghiệp là công cụ quan trọng để kiểm soát chỉ đạo hoạt động kinh doanh. Thông qua tình hình thu chi tiền hàng ngày, nắm bắt được các tình hình tài chính và các chỉ tiêu tài chính, doanh nghiệp có thể kiểm soát được tình 2 Thang Long University Library hình sản xuất kinh doanh, phát hiện kịp thời những tồn tại, từ đó đưa ra các quyết định thích hợp 1.1.3. Khái niệm về phân tích tài chính doanh nghiệp “Phân tích TCDN là quá trình đi sâu nghiên cứu nội dung, kết cấu và mối ảnh hưởng qua lại của các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính để có thể đánh giá tình hình TCDN thông qua việc so sánh với các mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra hoặc so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành nghề, từ đó đưa ra quyết định và các giải pháp quản lí phù hợp” (Nguồn: trang 4 sách Phân tích tài chính doanh nghiệp – ThS. Ngô Kim Phượng, NXB Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh). Ngoài ra, phân tích tình hình TCDN là việc xem xét, đánh giá kết quả của việc quản lý và điều hành tài chính của doanh nghiệp thông qua các số liệu trên báo cáo tài chính. Phân tích những gì đã làm được, chưa làm được và dự đoán những gì đã xảy ra, đồng thời tìm ra nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến kết quả kinh doanh, từ đó đưa ra các biện pháp để tận dụng những điểm mạnh và khắc phục những điểm yếu, nâng cao chất lượng quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là việc ứng dụng các công cụ và kỹ thuật phân tích đối với các báo cáo tài chính tổng hợp và mối liên hệ giữa các dữ liệu để đưa ra các dự báo và kết luận hữu ích trong phân tích hoạt động kinh doanh, sử dụng các báo cáo tài chính để phân tích năng lực và vị thế tài chính của một công ty, đánh giá năng lực tài chính trong tương lai 1.1.4. Ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp Hoạt động tài chính có mối liên hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì vậy cần phải thường xuyên theo dõi, đánh giá, kiểm tra tình hình tài chính của doanh nghiệp. Vì thế công tác phân tích tình hình tài chính giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa sau: Đối với nhà quản trị doanh nghiệp: phân tích tài chính cung cấp các thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp mình, qua đó sẽ giúp nhà quản trị đưa ra các dự báo tài chính, các quyết định đầu tư, tài trợ, phân phối lợi nhuận. Đối với nhà đầu tư: Các nhà đầu tư sẽ quan tâm đến lợi tức nhận được hàng năm và giá trị thị trường của cổ phiếu. Qua phân tích tài chính, họ sẽ biết được khả năng sinh lời, mức độ rủi ro, khả năng hoàn trả và tiềm năng phát triển của doanh nghiệp để đưa ra quyết định đầu tư. Đối với các tổ chức tín dụng: họ sẽ dựa vào phân tích tài chính để đưa ra các quyết định cho vay, tài trợ vốn một cách phù hợp. 3 Đối với cơ quan Nhà nước: phân tích tài chính giúp nhà nước nắm được tình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó đề ra các chính sách vĩ mô đúng đắn nhằm tạo hành lang pháp lý cho doanh nghiệp hoạt động. Đối với công ty kiểm toán: phân tích tài chính giúp cho các công ty kiểm toán kiểm tra được tính trung thực của các số liệu, phát hiện ra sai sót và gian lận của doanh nghiệp về mặt tài chính Phân tích tài chính giúp người sử dụng có thể xem xét từ nhiều góc độ khác nhau, đánh giá, tổng hợp, xem xét một cách chi tiết hoạt động TCDN để từ đó nhận biết, phán đoán và đưa ra các quyết định đầu tư phù hợp nhất, giúp doanh nghiệp củng cố tốt hơn hoạt động kinh doanh của mình 1.1.5. Mục tiêu của việc phân tích tài chính doanh nghiệp Phân tích tài chính được sử dụng như là công cụ khảo sát cơ bản trong lựa chọn quyết định đầu tư, đự đoán các điều kiện và kết quả tài chính trong tương lai. Hoạt động TCDN liên quan đến nhiều đối tượng nên mục tiêu phân tích của mỗi đối tượng sẽ khác nhau. Phân tích TCDN cần đạt những mục tiêu cơ bản sau: Đánh giá, dự tính các rủi ro cũng như tiềm năng, khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong tương lai nhằm phục vụ cho việc ra quyết định một cách thích hợp. Cung cấp đầy đủ, kịp thời và trung thực các thông tin kinh tế tài chính cho chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư, và các đối tượng có liên quan để họ có những quyết định đúng trong kinh doanh. Cung cấp thông tin về các nguồn lực kinh tế, vốn chủ sở hữu, các khoản nợ, và các tác động kinh tế, qua đó chủ doanh nghiệp sẽ dự đoán chính xác quá trình phát triển doanh nghiệp trong tương lai. Nhằm đưa ra một cơ sở hợp lý cho việc dự đoán tương lai, thể hiện rằng những quyết định đưa ra là có căn cứ chứ không phải quyết định theo cảm tính. Là công cụ để kiểm soát hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trên cơ sở kiểm tra, phân tích các chỉ tiêu đạt được, giúp doanh nghiệp có được những quyết định, giải pháp đúng đắn, đảm bảo việc kinh doanh đạt hiệu quả cao. Mục tiêu này đặc biệt quan trọng với các nhà quản trị doanh nghiệp. Tóm lại, mục tiêu phân tích TCDN phụ thuộc vào quyền lợi của cá nhân, tổ cức có liên quan đến doanh nghiệp. Vì thế việc phân tích TCDN ảnh hưởng đến nhiều nội dung khác nhau và bao trùm phạm vi rất rộng với các nhà quản trị doanh nghiệp. 1.2. Phƣơng pháp phân tích tài chính doanh nghiệp Phương pháp phân tích tài chính gồm một hệ thống các công cụ, biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bên trong và bên ngoài, 4 Thang Long University Library các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết nhằm đánh giá tình hình TCDN. Về lí thuyết có nhiều phương pháp phân tích tài chính, nhưng trên thực tế người ta thường sử dụng phương pháp so sánh, phương pháp tỉ lệ, và phương pháp dupont. 1.2.1. Phương pháp so sánh Đây là phương pháp được sử dụng rất phổ biến trong phân tích kinh tế nói chung và phân tích tài chính nói riêng, dùng để đánh giá kết quả, xác định vị trí và xu hướng biến động của các chỉ tiêu tài chính. Để có thể áp dụng phương pháp này cần phải đảm bảo các điều kiện: phải có sự thống nhất về thời gian, không gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính toán. Các chỉ tiêu phải được tính trên cùng một khoảng thời gian hạch toán, phải cùng phản ánh một nội dung kinh tế, phải cùng một phương pháp tính toán, cùng đơn vị đo lường và các chỉ tiêu cần phải quy đổi về cùng một quy mô, điều kiện kinh doanh tương đương nhau.  Tiêu chuẩn so sánh: là chỉ tiêu của một kì được lựa chọn làm gốc so sánh. Gốc so sánh được xác định tùy vào mục đích phân tích. Gốc so sánh có thể là về mặt thời gian, không gian, lựa chọn chu kì báo cáo hoặc kì hoạch… Khi tiến hành so sánh cần có 2 đại lượng trở lên và các đại lượng phải đảm bảo tính chất so sánh được.  Điều kiện so sánh:  So sánh theo thời gian: là sự thống nhất về nội dung, phương pháp tính toán, thống nhất về thời gian và đơn vị đo lường.  So sánh theo không gian: là so sánh giữa các số liệu trong ngành, các chỉ tiêu cần được quy đổi cùng quy mô và điều kiện tương tự nhau.  Kĩ thuật so sánh:  So sánh tuyệt đối: là kết quả của phép trừ giữa trị số của chu kỳ phân tích với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế. Kết quả đó phản ánh sự biến động về quy mô hoặc khối lượng của các chỉ tiêu phân tích.  So sánh tương đối: là kết quả của phép chia giữa trị số của chu kỳ phân tích với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế. Kết quả đó phản ánh kết cấu, mối quan hệ, tốc độ phát triển và mức độ phổ biến của các chỉ tiêu phân tích  So sánh bình quân: biểu hiện đặc trưng về mặt số lượng, phản ánh đặc điểm tình hình của bộ phận hay tổng thể có cùng tính chất. Qua so sánh bình quân, đánh giá tình hình biến động chung về mặt số lượng, chất lượng, và phương hướng phát triển của doanh nghiệp. 5  Hình thức so sánh:  So sánh theo chiều dọc: để thấy được tỷ trọng của từng tổng số ở mỗi bản báo cáo và qua đó chỉ ra ý nghĩa tương đối của các loại các mục, tạo điều kiện thuận lợi cho việc so sánh.  So sánh theo chiều ngang: để thấy được sự biến động cả về số tuyệt đối và số tương đối của một khoản mục nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp. 1.2.2. Phương pháp tỷ lệ Phương pháp tỷ lệ hay còn gọi là phương pháp tỷ số, là một trong những phương pháp được áp dụng phổ biến trong phân tích báo cáo tài chính. Phương pháp này giúp cho việc khai thác, sử dụng số liệu được hiệu quả hơn thông qua việc phân tích một cách có hệ thống các tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặc gián đoạn. Phương pháp tỷ lệ dựa trên các ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính. Về nguyên tắc, phương pháp này yêu cầu phải xác định được các ngưỡng, các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu. Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện được áp dụng ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn. Vì:  Nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải tiến và cung cấp đầy đủ hơn, là cơ sở để hình thành những tham chiếu tin cậy nhằm đánh giá một tỷ lệ của một doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp.  Việc áp dụng tin học cho phép tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy nhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỷ lệ. 1.2.3. Phương pháp Dupont Là phương pháp nghiên cứu tác động liên hoàn các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. Đây là một công cụ đơn giản những vô cùng hiệu quả, cho phép nhà phân tích có thể nhìn khái quát được toàn bộ các vấn đề cơ bản của doanh nghiệp từ đó đưa ra các quyết định đúng đắn. Khi áp dụng phương pháp Dupont vào phân tích, các nhà phân tích nên tiến hành so sánh chỉ tiêu ROE của doanh nghiệp qua các năm. Sau đó phân tích xem sự tăng trưởng hoặc tụt giảm của chỉ số nay qua các năm bắt nguồn từ đâu, rồi đưa ra nhận định và dự đoán xu hướng của ROE trong các năm. Phân tích tài chính doanh nghiệp bằng phương pháp Dupont có ý nghĩa lớn với quản trị doanh nghiệp, bởi nó có thể đánh giá đầy đủ và khách quan các nhân tố ảnh hưởng, tác động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, từ đó doanh tiến hành công tác cải tiến tổ chức quản lý doanh nghiệp. 6 Thang Long University Library 1.3. Quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp 1.3.1. Thông tin sử dụng phân tích tài chính doanh nghiệp Thông tin sử dụng phân tích tài chính doanh nghiệp bao gồm thông tin bên ngoài doanh nghiệp và thông tin bên trong doanh nghiệp. 1.3.1.1. Thông tin bên ngoài doanh nghiệp Sử dụng để phân tích các nguyên nhân, các yếu tố ảnh hưởng của môi trường kinh doanh cũng như các chính sách của doanh nghiệp tác động đến tình hình TCDN như thế nào. Các thông tin liên quan đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như các thông tin chung về kinh tế, tiền tệ, thuế khóa, các thông tin về ngành kinh tế của doanh nghiệp, các thông tin về pháp lý, về kinh tế… Những thông tin về tình hình kinh tế chính trị, môi trường pháp lý, kinh tế có liên quan đến cơ hội kinh tế, cơ hội đầu tư, cơ hội về kỹ thuật công nghệ… Sự suy thoái hoặc tăng trưởng của nền kinh tế có tác động mạnh mẽ đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Những thông tin về các cuộc thăm dò thị trường, triển vọng phát triển trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ thương mại... ảnh hưởng lớn đến chiến lược và sách lược kinh doanh trong từng thời kì … 1.3.1.2. Thông tin bên trong doanh nghiệp Để đánh giá một cách cơ bản tình hình tài chính của doanh nghiệp, có thể sử dụng các thông tin kế toán trong nội bộ doanh nghiệp như là một nguồn thông tin quan trọng bậc nhất. Mặt khác, các doanh nghiệp có nghĩa vụ cung cấp những thông tin kế toán cho các đối tác bên trong và ngoài doanh nghiệp. Thông tin kế toán được phản ánh khá đầy đủ trong các báo cáo kế toán. Phân tích tài chính được thực hiện trên cơ sở các báo cáo kế toán chủ yếu là: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ. a. Bảng cân đối kế toán: BCĐKT là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành nên tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định. Kết cấu của BCĐKT gồm 2 phần: Phần tài sản và phần nguồn vốn: Phần tài sản: bao gồm tài sản lưu động và tài sản cố định  Về mặt pháp lý: các chỉ tiêu ở phần tài sản phản ánh số tài sản hiện có của doanh nghiệp ở thời điểm lập báo.  Về mặt kinh tế: các chỉ tiêu ở phần tài sản phản ánh số tài sản hiện có của doanh nghiệp ở thời điểm lập báo cáo Phần nguồn vốn: bao gồm nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu, phản ánh các nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp. 7  Về mặt pháp lý: các chỉ tiêu phản ánh trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với các đối tượng đầu tư vốn (nhà nước, ngân hàng, cổ đông) cũng như với khách hàng thông qua nợ phải trả.  Về mặt kinh tế: các chỉ tiêu thuộc phần nguồn vốn phản ánh các nguồn hình thành nên các tài sản của doanh nghiệp. Khi nhìn vào bảng cân đối kế toán, ta có thể nhận biết được loại hình doanh nghiệp, quy mô, mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp, thấy được sự biến động của các loại tài sản trong doanh nghiệp, cũng như cơ cấu vốn và phân bổ nguồn vốn trong doanh nghiệp. b. Báo cáo kết quả kinh doanh BCKQKD là báo cáo tài chính phản ảnh toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định và những nghĩa vụ mà doanh nghiệp phải thực hiện với nhà nước. BCKQKD cho biết tình hình doanh thu, chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán. Dựa vào số liệu trên BCKQKD, người sử dụng thông tin có thể kiểm tra, phân tích và đánh giá kết quả HĐSXKD của doanh nghiệp trong kỳ, so sánh với các kỳ trước và với các doanh nghiệp khác trong cùng ngành để nhận biết khái quát về tình hình công ty cũng như xu hướng vận động, nhằm đưa ra các quyết định quản lý, quyết định đầu tư phù hợp. c. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ BCLCTT là báo cáo tài chính tổng hợp phản ảnh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp. Nếu BCĐKT cho biết những nguồn lực, của cải và nguồn vốn hình thành của những tài sản đó, và BCKQKD cho biết thu nhập và chi phí phát sinh để tính được kết quả lãi lỗ trong một chu kỳ kinh doanh thì BCLCTT được lập ra để trả lời các vấn đề liên quan đến các luồng tiền vào, ra trong doanh nghiệp, tình hình tài trợ, đầu tư bằng tiền của doanh nghiệp trong thời kỳ. 1.3.2. Các bước thực hiện phân tích tài chính doanh nghiệp Để có được những thông tin đầy đủ và chính xác cho người sử dụng thì phân tích tài chính cần phải tổ chức thực hiện theo một quy trình hoàn thiện với nguồn thông tin đầy đủ, phương pháp và nội dung phân tích khoa học. Quy trình phân tích tài chính có thể thực hiện theo 3 bước sau: Bƣớc 1: Thu thập thông tin Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải và thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính doanh nghiệp, bao gồm những thông tin nội bộ 8 Thang Long University Library đến những thông tin bên ngoài, những thông tin về kế toán và thông tin quản lý khác. Trong đó các thông tin kế toán là những nguồn thông tin đặc biệt quan trọng, phản ánh tập trung trong các báo cáo tài chính doanh nghiệp,. Phân tích tài chính trên thực tế là phân tích các báo cáo tài chính doanh nghiệp. Bƣớc 2: Xử lí thông tin Xử lý thông tin là quá trình xắp xếp các thông tin theo những mục tiêu nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên nhân của các kết quả đã đạt được phục vụ cho quá trình dự đoán và ra quyết định. Bƣớc 3: Dự đoán và quyết định Mục tiêu của phân tích tài chính là đưa ra các quyết định tài chính. Đối với chủ doanh nghiệp, phân tích tài chính nhằm đưa ra các quyết định tăng trưởng, phát triển, tối đa hoá lợi nhuận hay tối đa hoá giá trị doanh nghiệp. Đối với người cho vay và đầu tư, đó là các quyết định về tài trợ và đầu tư. Đối với cấp trên của doanh nghiệp là các quyết định quản lý doanh nghiệp… 1.4. Nội dung phân tích tài chính tài chính doanh nghiệp 1.4.1. Phân tích bảng cân đối kế toán Phân tích qua bảng cân đối kế toán là việc rất cần thiết và có ý nghĩa quan trong trong việc đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp trong kì kinh doanh. Phân tích BCĐKT sẽ thấy được quy mô tài sản, trình độ sử dụng vốn của doanh nghiệp cũng như cơ cấu nguồn vốn. Để phân tích BCĐKT cần xem xét, xác định và nghiên cứu các vấn đề cơ bản sau: Phần tài sản: Tài sản hiện có của doanh nghiệp gồm TSNH và TSDH, do vậy khi phân tích cơ cấu tài sản phải xác định cơ cấu của từng loại tài sản trong tổng tài sản, kết hợp với quy mô sản xuất, sự biến động của tổng tài sản, từ đó xác định nguyên nhân tăng, giảm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh. Phân tích cụ thể từng khoản, mục, xem xét mức tăng, giảm tỷ trọng tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp. TSNH đảm bảo cho hoạt động SXKD được thực hiện thường xuyên và liên tục. Sự biến động của TSNH phù hợp với sự gia tăng của TSDH thể hiện trình độ tổ chức tốt, dự trữ vật tư hợp lý. Để đánh giá tính hợp lý của TSNH cần kết hợp so sánh tỷ trọng TSNH trong sự phân bổ hợp lý giữa TSNH và TSDH, kết hợp với phân tích các bộ phận cấu thành TSNH, tốc độ luân chuyển vốn lưu động. Tiền và các khoản tương đương tiền: tỷ trọng tăng lên cho thấy doanh nghiệp chủ động trong hoạt động SXKD bởi khả năng đáp ứng kịp thời các nhu cầu hoạt động SXKD, đồng thời có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn phải trả. 9 Hàng tồn kho: Đối với doanh nghiệp sản xuất, HTK phải đảm bảo đầy đủ cho quá trình sản xuất được liên tục. Còn đối với doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa thì HTK phải chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng số HTK. Nếu HTK tăng, sẽ đáp ứng nhu cầu cho sản xuất, nhưng tốc độ HTK tăng nhanh hơn tốc độ phát triển sản xuất thì lại ảnh hưởng đến tình hình vốn lưu động của doanh nghiệp. Các khoản phải thu: là giá trị tài sản của doanh nghiệp bị các đơn vị khác chiếm dụng. Các khoản phải thu giảm thì doanh nghiệp sẽ tránh được ứ đọng vốn, qua đó sử dụng vốn hiệu quả hơn. Nếu các khoản phải thu tăng lên chứng tỏ doanh nghiệp trong kỳ SXKD hoặc không thu hồi được nợ hoặc thu hồi ít nhưng vốn bị chiếm dụng nhiều hơn. Tài sản ngắn hạn khác: gồm số tiền tạm ứng cho nhân viên, các khoản kí cược, kí quỹ ngắn hạn, tài sản thiếu chờ xử lí. Tài sản dài hạn: bao gồm các khoản phải thu dài hạn, TSCĐ, các khoản đầu tư tài chính dài hạn, và tài sản dài hạn khác. Đối với doanh nghiệp thương mại, dịch vụ thì TSCĐ thường chiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng tài sản. Còn đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì TSCĐ thường chiếm tỉ trọng lớn, bởi vì chúng là tài sản được dùng để tạo ra doanh thu nhất định. Đối với nguồn hình thành tài sản, cần xem xét tỉ trọng từng loại nguồn vốn chiếm trong tổng số nguồn vốn, cũng như xu hướng biến động của chúng. Nếu NVCSH chiếm tỉ trọng cao thì doanh nghiệp có khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính, ngược lại, nếu nợ phải trả chiếm chủ yếu trong tổng nguồn vốn thì khả năng đảm bảo về mặt tài chính của doanh nghiệp sẽ thấp. Phần nguồn vốn Nguồn vốn được chia làm 2 phần: Nguồn vốn chủ sở hữu: đây là nguồn vốn cơ bản, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn của doanh nghiệp. Khi NVCSH tăng, doanh nghiệp có đủ khả năng đảm bảo về mặt tài chính và mức độ độc lập đối với chủ nợ. Ngược lại, nếu công nợ phải trả chiếm chủ yếu trong tổng số nguồn vốn thì khả năng đảm bảo về tài chính doanh nghiệp thấp Nợ phải trả: xu hướng nợ phải trả giảm về số tuyệt đối và tỷ trọng trong tổng số nguồn vốn của doanh nghiệp tăng, trường hợp này được đánh giá là tốt do nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp cao. Tuy nhiên nợ phải trả giảm do nguồn vốn, quy mô và nhiệm vụ sản xuất thu hẹp thì đánh giá là không tốt. Khi phân tích tài sản và nguồn vốn qua BCĐKT, ngoài việc phân tích sự biến động trên tổng số tài sản và nguồn vốn, người phân tích còn tính và so sánh tỉ trọng của từng loại tài sản, nguồn vốn chiếm trong tổng số, từ đó thấy được xu hướng biến động, mức độ hợp lí của việc phân bổ, và tính tự chủ của doanh nghiệp. 10 Thang Long University Library 1.4.2. Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là việc phân tích tình hình doanh thu, chi phí và lợi nhuận của công ty. Khi phân tích doanh thu cần trả lời được doanh thu của công ty được hình thành từ hoạt động nào nhiều nhất trong 2 hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ, tình hình đang tăng hay giảm và mức độ tăng giảm mạnh hay nhẹ. Phân tích chi phí và lợi nhuận cũng tương tự. Từ đó đưa ra những nhận xét về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp đồng thời tìm ra phương pháp nâng cao khả năng sinh lời. 1.4.2.1. Tình hình doanh thu Đây là thu nhập mà doanh nghiệp nhận được qua hoạt động sản xuất kinh doanh. Doanh thu thuần là phần doanh thu còn lại sau khi loại bỏ các khoản giảm trừ doanh thu. Chỉ tiêu này rất quan trọng đối với tình hình của một doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là doanh thu về bán sản phẩm, hàng hóa thuộc những hoạt động sản xuất kinh doanh chính và doanh thu về cung cấp dịch vụ cho khách hàng theo chức năng kinh doanh của doanh nghiệp. Thường thì chỉ tiêu này chiếm tỷ trọng lớn và nó phản ánh toàn bộ quá trình tái sản xuất và trình độ tổ chức chỉ đạo sản xuất kinh doanh. Doanh thu phụ thuộc vào khá nhiều yếu tố nên muốn tăng doanh thu thì cần thực hiện phân tích thường xuyên BCKQHĐKD. Phân tích tình hình doanh thu giúp nhà quản trị thấy được ưu, nhược điểm trong quá trình tạo ra doanh thu, để biết yếu tố nào làm tăng và giảm doanh thu. Từ đó hạn chế và loại bỏ các yếu tố tiêu cực, đẩy mạnh yếu tố tích cực, phát huy điểm mạnh của doanh nghiệp nhằm nâng cao lợi nhuận. 1.4.2.2. Tình hình chi phí Tất cả các khoản chi phí đều là dòng tiền ra của doanh nghiệp. Giá vốn hàng bán (GVHB) thường là khoản chi phí lớn nhất đối với mỗi doanh nghiệp thương mại, nó phản ánh tổng giá trị mua hàng hóa, giá thành sản phẩm và dịch vụ. Nó có ý nghĩa đối với doanh nghiệp vì doanh nghiệp tìm được nhà cung cấp tốt là khi thương lượng được mức giá vốn thấp nhất có thể để bán ra với mức giá cạnh tranh hoặc đưa ra các chương trình xúc tiến thương mại, tức là GVHB làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, tăng hiệu quả SXKD. Ngoài ra, chi phí lãi vay cũng rất cần chú trọng phân tích vì nó phản ánh tình hình nợ của công ty. Nếu chi phí bỏ ra quá lớn hoặc tốc độ tăng nhanh hơn doanh thu thì chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực chưa hiệu quả. 1.4.2.3. Tình hình lợi nhuận Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp thể hiện kết quả của quá trình SXKD, tuy nhiên để thấy rõ hơn hiệu quả thực sự của hoạt động SXKD, nhà quản lý phải phân tích mối 11 quan hệ giữa tổng doanh thu, chi phí, lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được. Mục đích lớn nhất mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng mong muốn là đạt được mức lợi nhuận cao nhất có thể, mang lại nhiều giá trị cho chủ sở hữu, lợi nhuận càng cao cho thấy doanh nghiệp càng có khả năng sinh lời, ít rủi ro và ngược lại. 1.4.3. Phân tích các chỉ tiêu tài chính 1.4.3.1. Các chỉ số về khả năng thanh toán Năng lực thanh toán của doanh nghiệp là năng lực trả được nợ đáo hạn của các loại tiền nợ của doanh nghiệp, là một tiêu chí quan trọng phản ánh tình hình tài chính và năng lực kinh doanh của doanh nghiệp, đánh giá hiệu quả tài chính của doanh nghiệp, thông qua việc đánh giá và phân tích về mặt này có thể thấy rõ những rủi ro tài chính của doanh nghiệp. Để thấy rõ tình hình tài chính của doanh nghiệp ở hiện tại và tương lại, cần đi sâu phân tích nhu cầu và khả năng thanh toán. Khả năng thanh toán của doanh nghiệp biểu hiện ở số tiền và tài sản mà doanh nghiệp hiện có, có thể dùng để trang trải các khoản công nợ của doanh nghiệp. Để đánh giá và phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp, ta cần tính đến các hệ số khả năng thanh toán sau: a. Khả năng thanh toán tức thời Tiền và các khoản tƣơng đƣơng tiền Khả năng thanh = toán tức thời Tổng nợ ngắn hạn Khả năng thanh toán tức thời phản án khả năng thanh toán chung của doanh nghiệp, cho biết với toàn bộ giá trị tài sản hiện có, doanh nghiệp có đảm bảo thanh toán các khoản nợ phải trả của doanh nghiệp hay không. Vì vậy muốn biết khả năng thanh toán tức thời của công ty tại thời điểm nghiên cứu, ta phải dùng đến chỉ tiêu này để biết khả năng thanh toán ngay tức thì của công ty bằng tiền và các chứng khoán ngắn hạn có tính thanh khoản cao, không bị chi phối bởi thời gian chuyển đổi hàng tồn kho và các khoản phải thu. Hệ số này càng lớn cho thấy khả năng thanh toán của doanh nghiệp càng cao, và ngược lại. b. Khả năng thanh toán hiện hành (The current ratio - Rc) Rc = Tài sản ngắn hạn Nợ ngắn hạn Khả năng thanh toán hiện hành là thước đo khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp, cho biết mức độ các khoản nợ của các chủ nợ ngắn hạn được trang trải bằng các tài sản có thể chuyển đổi thành tiền trong một giai đoạn tương đương với thời hạn của các khoản nợ đó. 12 Thang Long University Library Khi giá trị của tỷ số này giảm có nghĩa là khả năng trả nợ của doanh nghiệp giảm và cũng là dấu hiệu báo trước những khó khăn tài chính tiềm tàng. Ngược lại, khi giá trị của tỷ số này cao hơn, có nghĩa là khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp tăng, là dấu hiệu đáng mừng, tuy nhiên, khi giá trị của tỷ số này quá cao thì có nghĩa là doanh nghiệp đã đầu tư quá nhiều vào tài sản lưu động. Điều này có thể do sự quản trị tài sản lưu động còn chưa hiệu quả nên còn quá nhiều tiền mặt nhàn rỗi hoặc do quá nhìều nợ phải đòi v.v…làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Nói chung, tỷ số thanh toán hiện hành trong khoảng 1 – 2 là vừa, nhưng trong thực tế khi phân tích tỷ số này cần kết hợp với đặc điểm ngành nghề khác nhau và các yếu tố khác như: cơ cấu tài sản lưu động của doanh nghiệp, năng lực biến động thực tế của tài sản lưu động. c. Khả năng thanh toán nhanh (The quick ratio - Rq) Rq = Tài sản lƣu động – Hàng tồn kho Các khoản nợ ngắn hạn Trong đó: tài sản lưu động trừ đi hàng tồn kho còn được gọi là tài sản vòng quay nhanh. Do hàng tồn kho là các tài sản có tính thanh khoản thấp nhất trong tổng tài sản lưu động, mất nhiều thời gian và dễ bị lỗ nhất khi bán nên không được tính vào khả năng thanh toán nhanh. Khả năng thanh toán nhanh cho biết khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn không phụ thuộc vào việc bán tài sản dự trữ (tồn kho). Do đó, có thể thấy tỷ số thanh toán nhanh phản ánh chính xác hơn, chân thực hơn về khả năng thanh toán ngắn hạn. Tỷ số thanh toán nhanh thấp hơn năm trước có nghĩa là những thay đổi về chính sách tín dụng và cơ cấu tài trợ đã làm khả năng thanh toán của doanh nghiệp yếu đi, và ngược lại. Tuy nhiên, tỷ số này cũng cần tuỳ theo sự cần thiết của ngành: các ngành nghề khác nhau thì yêu cầu đối với tỷ số thanh toán nhanh cũng khác nhau. Ngoài ra, vì các khoản nợ của doanh nghiệp không thể tập trung thanh toán vào cùng một thời kỳ, nên khả năng thanh toán nhanh nhỏ hơn 1 không có nghĩa là không an toàn mà chỉ cần lượng tài sản lưu động nhanh lớn hơn những khoản nợ cần phải trả ngay trong kỳ gần nhất là có thể chứng tỏ rằng tính an toàn được đảm bảo. 1.4.3.2. Các chỉ số về cơ cấu tài chính a. Tỷ số nợ Tỷ số nợ là tỷ số giữa tổng số nợ trên tổng nguồn vốn của doanh nghiệp Tỷ số nợ = Tổng nợ Tổng tài sản Tổng số nợ ở đây bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn phải trả. Chủ nợ thường ưa thích doanh nghiệp có tỷ số nợ vừa phải, tỷ số nợ càng thấp thì món nợ của họ càng 13 được đảm bảo thanh toán trong trường hợp doanh nghiệp thua lỗ hoặc phá sản. Ngược lại, cổ đông muốn có tỷ số nợ cao vì như vậy làm gia tăng khả năng sinh lợi cho cổ đông. Tuy nhiên muốn biết tỷ số này cao hay thấp cần phải so sánh với tỷ số nợ của bình quân ngành. Tỷ số nợ phụ thuộc rất nhiều yếu tố: loại hình doanh nghiệp, quy mô của doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động, mục đích vay. Tuy nhiên thông thường, ở mức 60/40 là chấp nhận được. Có nghĩa hệ số nợ là 60% (Tổng tài sản có 100 thì vốn vay là 60). b. Khả năng thanh toán lãi vay Số lần thu nhập đạt đƣợc trên lãi vay = EBIT Lãi vay EBIT là thu nhập trước thuế và lãi vay, phản ánh số tiền doanh nghiệp có thể sử dụng để trả lãi vay. Hệ số này cho biết một công ty có khả năng đáp ứng được nghĩa vụ trả nợ lãi của nó đến mức nào. Hệ số thu nhập trả lãi định kỳ càng cao thì khả năng thanh toán lãi của công ty cho các chủ nợ của mình càng lớn. Tỷ lệ trả lãi thấp cho thấy một tình trạng nguy hiểm, suy giảm trong hoạt động kinh tế có thể làm giảm EBIT xuống dưới mức nợ lãi mà công ty phải trả, do đó dẫn tới mất khả năng thanh toán và vỡ nợ. Tỷ số trên nếu lớn hơn 1 thì công ty hoàn toàn có khả năng trả lãi vay. Nếu nhỏ hơn 1 thì chứng tỏ hoặc công ty đã vay quá nhiều so với khả năng của mình, hoặc công ty kinh doanh kém đến mức lợi nhuận thu được không đủ trả lãi vay. 1.4.3.3. Các chỉ số về hoạt động Các chỉ số này dùng để đo lường hiệu quả sử dụng vốn, tài sản của doanh nghiệp bằng cách so sánh doanh thu với việc bỏ vốn vào kinh doanh dưới các loại tài sản khác nhau. a. Vòng quay hàng tồn kho (hệ số lưu kho): Là tiêu chuẩn đánh giá doanh nghiệp sử dụng hàng tồn kho của mình hiệu quả như thế nào Doanh thu thuần Vòng quay hàng tồn kho = Hàng tồn kho bình quân Hệ số vòng quay hàng tồn kho thường được so sánh giữa các năm để đánh giá năng lực quản trị hàng tồn kho là tốt hay xấu qua từng năm. Số vòng quay hàng tồn kho cao hay thấp phụ thuộc vào đặc điểm ngành kinh doanh, tác động đến dòng tiền, ảnh hưởng đến vòng quay TSNH, TSDH, và ảnh hưởng đến lợi nhuận cũng như các chỉ tiêu tăng trưởng của doanh nghiệp. Hệ số vòng quay hàng tồn kho càng cao càng cho thấy doanh nghiệp bán hàng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều, có 14 Thang Long University Library nghĩa là doanh nghiệp sẽ ít rủi ro hơn nếu khoản mục hàng tồn kho trong báo cáo tài chính có giá trị giảm qua các năm. Tuy nhiên, hệ số này quá cao cũng không tốt, vì như vậy có nghĩa là lượng hàng dự trữ trong kho không nhiều, nếu nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì rất có khả năng doanh nghiệp bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần. Hơn nữa, dự trữ nguyên liệu vật liệu đầu vào cho các khâu sản xuất không đủ có thể khiến dây chuyền sản xuất bị ngưng trệ. Vì vậy, hệ số vòng quay hàng tồn kho cần phải đủ lớn để đảm bảo mức độ sản xuất và đáp ứng được nhu cầu khách hàng. Để có thể đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, việc xem xét chỉ tiêu hàng tồn kho cần được đánh giá bên cạnh các chỉ tiêu khác như lợi nhuận, doanh thu, vòng quay của dòng tiền…, cũng như nên được đặt trong điều kiện kinh tế vĩ mô, điều kiện thực tế của từng doanh nghiệp. Thời gian luân chuyển HTK trung bình Thời gian luân chuyển = 365 hàng tồn kho trung bình Hệ số lƣu kho Chỉ tiêu này cho biết thời gian cần thiết để tiêu thụ số hàng tồn kho bình quân trong kì của DN. Thời gian của kì phân tích một tháng là 30 ngày, một quý là 90 ngày, một năm là 360 ngày hoặc 365 ngày. Nếu thời gian lưu kho hàng ngắn, hay gọi là tốc độ luân chuyển hàng tồn kho nhanh sẽ đẩy nhanh tốc độ thu hồi vốn, do đó làm tăng khả năng thanh toán cho DN. b. Vòng quay các khoản phải thu (Hệ số thu nợ) Các khoản phải thu là những hóa đơn bán hàng chưa thu được tiền về, do doanh nghiệp thực hiện chính sách bán chịu và các khoản tạm ứng chưa thanh toán, khoản trả trước cho người bán… Dùng để đo lường tính thanh khoản ngắn hạn cũng như hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, cho biết bình quân mất bao nhiêu ngày để doanh nghiệp có thể thu hồi được khoản phải thu. Vòng quay khoản phải thu = Doanh thu bán chịu Khoản phải thu Vòng quay các khoản phải thu cao hay thấp phụ thuộc vào chính sách bán chịu của công ty. Nếu số vòng quay càng cao chứng tỏ tốc độ thu hồi nợ của doanh nghiệp càng nhanh, khả năng chuyển đổi các khoản nợ phải thu sang tiền mặt cao, điều này giúp cho doanh nghiệp nâng cao luồng tiền mặt, tạo ra sự chủ động trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất. Nhưng nếu số vòng quay các khoản phải thu thấp thì hiệu quả sử dụng vốn kém do chiếm dụng nhiều, lượng tiền mặt sẽ ngày càng giảm, làm giảm sự chủ động của doanh nghiệp trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong 15 sản xuất và có thể doanh nghiệp sẽ phải đi vay ngân hàng để tài trợ thêm cho nguồn vốn lưu động này. Từ chỉ số vòng quay các khoản phải thu ta tính được hệ số ngày thu tiền bình quân bằng cách lấy số ngày trong kỳ chia cho vòng quay các khoản phải thu. Ngược lại với chỉ số vòng quay các khoản phải thu, chỉ số ngày thu tiền bình quân càng nhỏ thì tốc độ thu hồi công nợ phải thu của doanh nghiệp càng nhanh Kỳ thu tiền bình quân = 365 ngày Vòng quay khoản phải thu Kỳ thu tiền bình quân cho thấy khoảng thời gian trung bình cần thiết để một công ty thu hồi các khoản nợ từ khách hàng. Xem xét xu hướng của kỳ thu tiền bình quân qua các thời kỳ của một công ty là có hiệu quả nhất. Nếu vòng quay các khoản phải thu tăng từ năm này qua năm khác cho thấy khả năng yếu kém trong việc quản lý công nợ ở một công ty. Mặc dù kỳ thu tiền bình quân quá cao thường không tốt nhưng kỳ thu tiền bình quân quá thấp cũng không phải là tốt. Kỳ thu tiền bình quân thấp có thể là biểu hiện của chính sách tín dụng quá chặt chẽ. Lúc này, khoản phải thu có thể có chất lượng nhưng doanh số có thể bị giảm mạnh và lợi nhuận có thể thấp hơn mức đáng ra phải được do chính sách tín dụng quá chặt chẽ. Trong tình huống này, có lẽ công ty nên nới lỏng các tiêu chuẩn tín dụng. c. Vòng quay các vòng khoản phải trả (Hệ số trả nợ) Giá vốn hàng bán Chi phí quản lý chung bán hàng quản lý Hệ số = trả nợ Phải trả ngƣời bán lƣơng thƣởng thuế phải trả Chỉ số vòng quay các khoản phải trả phản ánh khả năng chiếm dụng vốn của doanh nghiệp đối với nhà cung cấp. Chỉ số vòng quay các khoản phải trả quá thấp có thể ảnh hưởng không tốt đến xếp hạng tín dụng của doanh nghiệp. Nếu chỉ số vòng quay các khoản phải trả quá nhỏ (các khoản phải trả lớn), sẽ tiềm ẩn rủi ro về khả năng thanh khoản. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý việc chiếm dụng khoản vốn này có thể sẽ giúp doanh nghiệp giảm được chi phí về vốn, đồng thời thể hiện uy tín về quan hệ thanh toán đối với nhà cung cấp và chất lượng sản phẩm đối với khách hàng. Thời gian trả nợ trung bình 365 Thời gian trả nợ = trung bình Hệ số trả nợ Là chỉ số thể hiện số ngày trung bình mà công ty cần để trả tiền cho nhà cung cấp. Hệ số này thế hiện mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người bán. Hệ số này cao nghĩa là công ty có quan hệ tốt với nhà cung cấp và có khả năng kéo giãn thời gian trả 16 Thang Long University Library tiền cho người bán. Ngược lại chỉ tiêu này thấp nghĩa là công ty phải trả tiền cho người bán trong thời gian ngắn sau khi nhận hàng. Thời gian luân chuyển vốn bằng tiền trung bình Thời gian luân chuyển vốn bằng Thời gian thu nợ = + trung bình Thời gian luân chuyển kho - Thời gian trả nợ trung bình tiền trung bình trung bình Chỉ tiêu này phản ánh khả năng quản lý tiền của doanh nghiệp, thời gian càng nhỏ càng tốt. Con số này càng cao, thì lượng tiền mặt của doanh nghiệp càng khan hiếm cho hoạt động sản xuất kinh doanh và cho các hoạt động khác như đầu tư, nếu con số này nhỏ sẽ được coi là khả năng quản lý vốn lưu động tốt Quá trình sản xuất càng dài, lượng tiền mặt mà doanh nghiệp phải thuê thêm để đầu tư càng lớn. Tương tự, thời gian khách hàng thanh toán các hóa đơn càng lâu, thì giá trị của các hóa đơn càng giảm. Hay nói cách khác, tài khoản có thể thu hồi về được làm giảm vốn lưu động của doanh nghiệp. d. Vòng quay tài sản cố định (Hiệu suất sử dụng tài sản cố định) Hiệu suất sử dụng = Doanh thu thuần tài sản cố định Tổng tài sản cố định Tỷ số này cho biết hiệu quả sử dụng vốn đầu tư vào tài sản cố định của doanh nghiệp, hay nói cách khác là một đồng tài sản cố định tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu trong một năm. Tỷ số này cao chứng tỏ tình hình hoạt động của doanh nghiệp tốt đã tạo ra doanh thu thuần cao so với tài sản cố định, chứng tỏ việc đầu tư vào tài sản cố định của doanh nghiệp là xác đáng, cơ cấu hợp lý, hiệu suất sử dụng cao. Ngược lại, nếu vòng quay tài sản cố định không cao thì chứng tỏ hiệu suất sử dụng thấp, kết quả đối với sản xuất không nhiều, năng lực kinh doanh của doanh nghiệp không mạnh. Mặt khác, tỷ số còn phản ánh khả năng sử dụng hữu hiệu tài sản các loại. e. Vòng quay tài sản lưu động (Hiệu suất sử dụng tài sản lưu động) Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng = tài sản lƣu động Tổng TSLĐ Đây là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động trên mối quan hệ so sánh giữa kết quả sản xuất (doanh thu thuần) và số tài sản lưu động bình quân bỏ ra trong kỳ. Chỉ tiêu này phản ánh trong một năm tài sản lưu động của doanh nghiệp luân chuyển được bao nhiêu vòng, hay một đồng tài sản lưu động bình quân trong năm tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Số vòng quay tài sản lưu động trong kỳ càng cao càng tốt. 17 f. Vòng quay tổng tài sản (Hiệu suất sử dụng tổng tài sản) Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng = tổng tài sản Tổng tài sản Dùng để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng tài sản của công ty. Thông qua hệ số này chúng ta có thể biết được với mỗi một đồng tài sản có bao nhiêu đồng doanh thu được tạo ra. Hệ số vòng quay tổng tài sản càng cao đồng nghĩa với việc sử dụng tài sản của công ty vào các hoạt động sản xuất kinh doanh càng hiệu quả. Tuy nhiên muốn có kết luận chính xác về mức độ hiệu quả của việc sử dụng tài sản của một công ty chúng ta cần so sánh hệ số vòng quay tài sản của công ty đó với hệ số vòng quay tài sản bình quân của ngành. 1.4.3.4. Các chỉ số về khả năng sinh lời Đối với doanh nghiệp, mục tiêu cuối cùng của họ là lợi nhuận. Lợi nhuận là chỉ tiêu tài chính tổng hợp, phản ánh hiệu quả của việc đầu tư, sản xuất, tiêu thụ. Các chỉ số sinh lời được các nhà quản trị đặc biệt quan tâm vì chúng là cơ sở để đánh giá kết quả HĐKD trong một kỳ nhất định. Bên cạnh đó, các chỉ số này còn là cơ sở quan trọng để các nhà hoạch định đưa ra các quyết định tài chính trong tương lai. a. Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS) ROS = Lợi nhuận sau thuế Doanh thu thuần ROS cho biết có bao nhiêu đồng lợi nhuận được sinh ra từ một đồng doanh thu. Từ đó, nhà phân tích đánh giá được hiệu quả hoạt động kinh doanh của một công ty. ROS cũng có thể được dùng để so sánh hiệu quả của công ty qua thời gian, hoặc so sánh giữa các công ty trong ngành. ROS tăng cho biết hiệu quả kinh doanh của công ty đang được cải thiện, ngược lại khi ROS giảm, công ty đang làm ăn kém đi. b. Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) ROA = Lợi nhuận sau thuế Tổng tài sản Là tỷ suất sinh lợi trên tài sản, nghĩa là đo lường hiệu quả hoạt động của công ty mà không quan tâm đến cấu trúc tài chính. Chỉ số này cho biết doanh nghiệp tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế từ một đồng tài sản, thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản chung của doanh nghiệp. Thông thường để đánh giá, ta thường so sánh với chỉ số này của năm trước đó hoặc với các công ty có cùng quy mô trên thị trường. Chỉ số này phụ thuộc từng ngành cụ thể. 18 Thang Long University Library c. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) Lợi nhuận sau thuế ROE = Vốn chủ sở hữu Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu cho biết cứ 1 đồng vốn chủ sở hữu thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận, thể hiện hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp. Tỷ số này phụ thuộc vào thời vụ kinh doanh, ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào quy mô và mức độ rủi ro của doanh nghiệp. Để so sánh chính xác, cần so sánh tỷ số này của một công ty cổ phần với tỷ số bình quân của toàn ngành, hoặc với tỷ số của công ty tương đương trong cùng ngành. d. Phân tích Dupont đối với ROA và ROE Mô hình Dupont là kỹ thuật được sử dụng để phân tích khả năng sinh lời của một doanh nghiệp bằng các công cụ quản lý hiệu quả truyền thống. Việc sử dụng phương pháp phân tích Dupont không những có thể tìm hiểu được tình trạng chung của TCDN cùng các quan hệ cơ cấu giữa chỉ tiêu tài chính, mà còn làm rõ các nhân tố ảnh hưởng, làm biến động tăng giảm của các chỉ tiêu tài chính chủ yếu. Dưới góc độ của nhà đầu tư, một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất là tỷ suất lợi nhuận trên VCSH (ROE). Vì VCSH là một phần của tổng nguồn vốn, nên ROE sẽ phụ thuộc vào hệ số lợi nhuận trên tổng tài sản Mối quan hệ này được thể hiện bằng mô hình Dupont sau: Lợi nhuận sau thuế Vốn chủ = Lợi nhuận sau thuế Tổng tài sản x Tổng tài sản sở hữu Hay: ROE = ROA x Đòn bẩy tài chính. Mô hình Dupont được triển trai thành: ROE = Lợi nhuận sau thuế Vốn chủ sở hữu Hay: ROE = Lợi nhuận sau thuế Doanh thu thuần Lợi nhuận r ng biên x Vốn chủ sở hữu x Doanh thu thuần Tổng tài sản x Tổng tài sản Vốn chủ sở hữu ng quay tài sản x Đ n b y tài chính Như vậy qua khai triển chỉ tiêu ROE chúng ta có thể thấy chỉ tiêu này được cấu thành bởi ba yếu tố chính là lợi nhuận ròng biên, vòng quay tài sản và đòn bẩy tài chính có nghĩa là để tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh (tức là gia tăng ROE) doanh nghiệp có 3 sự lựa chọn cơ bản là tăng một trong ba yếu tố trên hoặc kết hợp giữa chúng. Doanh nghiệp có thể gia tăng khả năng cạnh tranh nhằm nâng cao doanh thu và đồng thời giảm chi phí nhằm gia tăng lợi nhuận ròng biên. 19 Doanh nghiệp có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách sử dụng tốt hơn các tài sản sẵn có của mình nhằm nâng cao vòng quay tài sản. Hay nói một cách sử dụng tốt hơn các tài sản sẵn có của mình nhằm nâng cao vòng quay tài sản. Hay nói một cách dễ hiểu hơn là doanh nghiệp cần tạo ra nhiều doanh thu hơn từ những tài sản sẵn có. Doanh nghiệp có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách nâng cao đòn bẩy tài chính hay nói cách khác là vay nợ thêm vốn để đầu tư. Nếu mức lợi nhuận trên tổng tài sản của doanh nghiệp cao hơn mức lãi suất cho vay thì việc vay tiền để đầu tư của doanh nghiệp là hiệu quả 1.4.4. Phân tích tình hình sử dụng đòn bẩy tài chính tại doanh nghiệp Trong doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính sẽ rất lớn khi tỷ trọng nợ phải trả cao hơn tỷ trọng của vốn chủ sở hữu. Ngược lại, nếu doanh nghiệp có tỷ trọng nợ phải trả thấp hơn tỷ trọng của vốn chủ sở hữu thì đòn bẩy tài chính sẽ thấp. Những doanh nghiệp mà không mắc nợ thì đòn bẩy tài chính bằng không hay là không có đòn bẩy tài chính. Các doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính khi nhu cầu vốn cao nhưng vốn chủ sở hữu thấp không đủ để tài trợ cho hoạt động kinh doanh, tuy nhiên chỉ nên vay khi chắc chắn được rằng tỷ suất sinh lời trên tài sản cao hơn lãi suất vay nợ. Sử dụng đòn bẩy ở các doanh nghiệp tăng trưởng cao và ổn định với chi phí đi vay thấp sẽ mang lại hiệu quả đáng kể. Tuy nhiên, nguy cơ vỡ nợ sẽ rất cao và có thể dẫn đến phá sản nếu doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy lớn, nhưng lợi nhuận thu về lại không đủ để trả nợ và lãi vay. Công thức xác định mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính: Tổng nợ Tổng nợ Hoặc Tổng tài sản VCSH Mức độ tác động của đòn bẩy tài chính (DFL): DFLEBIT = EBIT(1-t) EBIT(1-t) - PD Trong trường hợp doanh nghiệp không tài trợ bằng cổ phiếu ưu đã thì PD = 0 Ta có: EBIT DFLEBIT = EBIT -I Trong đó: I là chi phí lãi vay Giá trị DFL cho ta biết khi EBIT thay đổi 1% thì thu nhập trên mỗi cố phần sẽ thay đổi DFL%. Đòn bẩy tài chính có những tác động đến chi phí sử dụng vốn, giá cổ phần, lợi nhuận và rủi ro 20 Thang Long University Library
- Xem thêm -