Ngôn ngữ bình luận trong báo in tiếng việt hiện nay

  • Số trang: 178 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 62 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI HUỲNH THỊ CHUYÊN NGÔN NGỮ BÌNH LUẬN TRONG BÁO IN TIẾNG VIỆT HIỆN NAY Chuyên ngành: Ngôn ngữ học Mã số : 62220240 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN HÀ NỘI – 2014 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI HUỲNH THỊ CHUYÊN NGÔN NGỮ BÌNH LUẬN TRONG BÁO IN TIẾNG VIỆT HIỆN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. Hoàng Anh HÀ NỘI – 2014 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU..................................................................................................................1 1. Lí do chọn đề tài...................................................................................................1 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu...........................................................................3 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án.......................................................................7 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu........................................................................8 5. Phương pháp nghiên cứu......................................................................................8 6. Đóng góp của luận án...........................................................................................9 7. Kết cấu của luận án...............................................................................................9 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN.............................................................................11 1.1. Một số quan điểm cơ bản của ngữ pháp chức năng – hệ thống.......................11 1.1.1. Về ngôn ngư.................................................................................................. 1.1.2. Về ngư cảnh.................................................................................................. 1.1.3. Về văn bản.................................................................................................... 1.1.4. Quan hệ giưa ngư cảnh và văn bản.............................................................. 1.1.5. Các thành tố chức năng trong hệ thống ngư nghĩa...................................... 1.2. Phân tích diễn ngôn và phân tích diễn ngôn phê phán....................................16 1.2.1. Phân tích diễn ngôn...................................................................................... 1.2.2. Phân tích diễn ngôn phê phán (Critical Discourse Analysis - CDA)........... 1.3. Diễn ngôn báo chí, ngôn ngữ báo chí và ngôn ngữ bình luận.........................33 1.3.1. Giao tiếp trong báo chí và diễn ngôn báo chí.............................................. 1.3.2. Đặc điểm của ngôn ngư báo chí................................................................... 1.3.3. Bình luận và ngôn ngư bình luận trên báo chí............................................. 1.4. Tiểu kết............................................................................................................39 CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG CÁC........41 VĂN BẢN BÌNH LUẬN ĐỂ THỰC HIỆN CHỨC NĂNG TƯ TƯỞNG 2.1. Các phương thức thể hiện chức năng tư tưởng kinh nghiệm trong văn bản bình luận.........................................................................................................................41 2.1.1. Chuyển tác – nguồn gốc của sự diễn giải kinh nghiệm................................ 2.1.2. Các quá trình chuyển tác - phương thức thể hiện chức năng....................... tư tưởng kinh nghiệm của câu trong văn bản bình luận......................................... 2.1.3. Danh hoá trong văn bản bình luận............................................................... 2.1.4. Mở rộng các cụm danh tư............................................................................. 2.1.5. Chu cảnh và chuyển tác chu cảnh trong văn bản bình luận báo in tiếng Việt................................................................................................................. 2.2. Các phương thức thể hiện chức năng tư tưởng lôgíc trong văn bản bình luận báo in tiếng Việt......................................................................................................65 2.2.1. Các quan hệ đẳng kết................................................................................... 2.2.2. Các quan hệ phụ thuộc................................................................................. 2.2.3. Lập luận trong bài bình luận báo in tiếng Việt............................................ 2.3. Tiểu kết............................................................................................................86 CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG CÁC........88 VĂN BẢN BÌNH LUẬN ĐỂ THỰC HIỆN CHỨC NĂNG LIÊN NHÂN 3.1. Dẫn nhập..........................................................................................................88 3.2. Tình thái trong văn bản bình luận....................................................................89 3.2.1. Tình thái trong ngôn ngư.............................................................................. 3.2.2. Tình thái trong tiếng Việt.............................................................................. 3.2.3. Tình thái trong văn bản bình luận báo in tiếng Việt..................................... 3.2.4. Yếu tố bình luận trong văn bản bình luận báo in tiếng Việt....................... 3.2.5. Các biểu thức quy chiếu biểu hiện nghĩa liên nhân.................................... 3.3. Tiểu kết..........................................................................................................114 CHƯƠNG 4: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG CÁC......115 VĂN BẢN BÌNH LUẬN ĐỂ THỰC HIỆN CHỨC NĂNG VĂN BẢN 4.1. Về cấu trúc vĩ mô và cấu trúc vi mô..............................................................115 4.2. Cấu trúc vĩ mô của văn bản bình luận...........................................................116 4.2.1. Cấu trúc văn bản........................................................................................ 4.2.2. Cấu trúc vĩ mô của văn bản bình luận........................................................ 4.2.3. Đoạn văn trong văn bản bình luận............................................................. 4.3. Cấu trúc vi mô của văn bản bình luận...........................................................132 4.3.1. Đề – Thuyết trong văn bản bình luận......................................................... 4.3.2. Các phương tiện liên kết trong văn bản bình luận..................................... 4.4. Tiểu kết..........................................................................................................143 KẾT LUẬN..........................................................................................................144 1. Về lí luận...........................................................................................................144 2. Về thực tiễn......................................................................................................146 3. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu....................................................146 DANH MỤC NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN .....148 LUẬN ÁN TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................149 PHỤ LỤC.............................................................................................................158 1 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Từ khi ra đời, các phương tiện truyền thông, mà đặc biệt là báo chí, đã có vai trò hết sức to lớn trong đời sống xã hội. Nhờ khả năng tạo dư luận xã hội sâu rộng, chúng có ảnh hưởng lan tỏa tới mọi lĩnh vực, tác động mạnh mẽ đến nhận thức của con người, trên cơ sở đó, thay đổi hành vi và tư tưởng của họ. Ở mỗi quốc gia, báo chí – truyền thông không chỉ là kênh giao tiếp quan trọng hàng đầu, là nhân tố kích thích sự phát triển, mà còn là phương tiện quản lí, giám sát, là công cụ thực hiện các dịch vụ xã hội. Hiện nay, do sự phát triển như vũ bão của khoa học – công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, báo chí – truyền thông đã có những bước tiến vượt bậc, đạt tới mức bùng nổ về mọi phương diện: các loại hình truyền thông được đa dạng hóa, báo mạng điện tử tuy mới xuất hiện nhưng với các tiện ích đặc biệt của mình, có sức lan tỏa mạnh mẽ và ngày càng khẳng định vị thế vững chắc trong môi trường truyền thông; số lượng các cơ quan báo chí – truyền thông, số đầu báo, tạp chí, đài phát thanh, truyền hình, nhà xuất bản, nhà in sách báo, ấn phẩm, chương trình và cùng với đó là đội ngũ các nhà truyền thông tăng nhanh; chất lượng nội dung, hình thức, công nghệ in ấn, truyền tải thông tin không ngừng được cải thiện. Chính nhờ sự bùng nổ ấy, báo chí – truyền thông đang góp phần xóa đi các rào cản về địa lí giữa các quốc gia, mang đến cho thế giới một diện mạo mới. Giờ đây, với các phương tiện truyền thông hiện đại, người ta có thể theo dõi các sự kiện, cập nhật thông tin, thưởng thức và tiếp thu các thành tựu văn hoá ở mọi nơi trên thế giới một cách nhanh chóng và thuận tiện. Điều này sẽ thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của mọi lĩnh vực, nhất là kinh tế, khoa học – kĩ thuật và văn hoá của mỗi quốc gia. Và đây cũng chính là điều kiện hết sức thuận lợi thúc đẩy chính báo chí – truyền thông phát triển lên tầm cao mới trên cơ sở học hỏi, giao lưu, mở rộng hợp tác quốc tế. Trong sự phát triển mạnh mẽ, đa dạng của các thể loại báo chí, bình luận là một trong những thể loại quan trọng và tiêu biểu. Nếu như các thể loại: tin tức, 2 phóng sự, bút kí, ghi chép, v.v. chủ yếu là nêu sự kiện, phản ánh thông tin từ thực tế hiện trường của vụ việc thì bình luận báo chí lại thể hiện thái độ rõ ràng trong nội dung thông tin, bày tỏ chính kiến, quan điểm tư tưởng chính trị của người viết đối với những vấn đề thời sự thiết yếu. Từ đó, bình luận báo chí góp phần giải thích, phân tích, tổng hợp để đem đến cho người đọc, người nghe, người xem một nhận thức đúng đắn về vấn đề họ đang quan tâm. Bình luận, xét về số lượng, chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ trong một tờ báo nhưng lại được coi là “linh hồn” của tờ báo, và ở một mức độ nào đó có thể tạo nên bản sắc của cả một tờ báo, ví dụ chuyên mục “Bình luận”, “Câu chuyện quốc tế” của báo Quân đội nhân dân; “Sự kiện và Bình luận” của báo Lao Động; “Cùng suy ngẫm”, “Bình luận” của báo Nhân dân; “Sự kiện và Bình luận” báo Nhân dân cuối tuần, “Thời sự và suy nghĩ” của báo Tuổi trẻ TP. Hồ Chí Minh v.v.. Văn bản bình luận xuất hiện khá nhiều, có mặt ở tất cả loại hình báo chí: phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử và báo in. Tuy nhiên, do đặc điểm của báo in là người đọc có thể chủ động về thời gian cũng như phương pháp đọc, nên độc giả có thể vừa đọc, vừa nghiền ngẫm về những vấn đề được nêu ra, cũng như những suy nghĩ, thái độ, lập trường, quan điểm của tác giả; từ đó có thể tìm được tiếng nói chung, dễ dàng tiếp nhận những thông điệp mà tác giả muốn chuyển tải. Thông tin trên báo in có chiều sâu, tính phổ cập cao, đảm bảo tính chính xác mà các loại hình khác khó có thể thay thế được. Báo in giúp người đọc biết và hiểu rất rõ sự kiện. Báo in có thể làm tăng khả năng ghi nhớ, thấu hiểu vấn đề một cách sâu sắc thông qua các phân tích, lập luận trên nhiều bình diện. Vì vậy, có thể nói bình luận thực sự phát huy được hiệu quả trên báo in. Từ góc nhìn của ngôn ngữ học thì bình luận là thể loại diễn ngôn có những đặc thù riêng, cần nghiên cứu một cách thấu đáo. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình chuyên sâu nào nghiên cứu diễn ngôn bình luận từ góc độ ngôn ngữ học. Vì vậy, nghiên cứu ngôn ngữ bình luận, theo chúng tôi, là việc làm cần thiết có ý nghĩa đáng kể về cả mặt lí luận và thực tiễn. Vì những lí do nêu trên, chúng tôi mạnh dạn chọn Ngôn ngữ bình luận trong báo in tiếng Việt hiện nay làm đề tài nghiên cứu cho luận án này. Luận án áp dụng quan niệm ngữ pháp chức năng của Halliday mà cụ thể đi theo ba siêu chức năng 3 ngôn ngữ văn bản, đó là siêu chức năng tư tưởng, siêu chức năng liên nhân và siêu chức năng tạo văn bản. 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu 2.1. Trên thế giới Từ những năm 50 và 60 ở thế kỉ XX, trên thế giới đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về ngữ pháp văn bản. Đó là những công trình đặt nền móng cho bộ môn ngôn ngữ học văn bản (textual linguistcs). Đặc biệt là việc nghiên cứu ngôn ngữ các văn bản chuyên ngành (như văn bản luật, báo chí,...) đã được nhiều tác giả chú trọng, tiêu biểu như: Bhata, V.K [101], [102]; Gustaffsson, M [111]; Hager J.W [112]; Swales.J.M & Bhatia [124]; Wright, P. [127]. Tuy nhiên, các nghiên cứu về ngôn ngữ thời kì này chỉ là những nghiên cứu chung, chưa đi vào nghiên cứu chức năng ngôn ngữ của thể loại văn bản cụ thể. Từ đầu những năm 1980 trở lại đây, các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ báo chí đã tập trung đi vào nghiên cứu một cách chuyên sâu, cụ thể hơn. Đặc biệt các tác giả như Fairclough [107], [108], Wodak & Mayer [126], Peter Teo [125] đã nghiên cứu về bản chất của ngôn ngữ báo chí trong mối quan hệ với quyền – thế, hệ tư tưởng và các mối quan hệ xã hội khác. Điều đó cho thấy, áp dụng việc phân tích ngôn ngữ văn bản báo chí vào thực tiễn đời sống ngày càng lớn. 2.2. Ở Việt Nam Ở Việt Nam, nhờ có sự tiếp cận với hướng lí thuyết mới nên các nhà Việt ngữ học đã bắt nhịp được với xu hướng phân tích diễn ngôn trên thế giới. Có thể khái quát quá trình nghiên cứu diễn ngôn ở Việt Nam như sau: Giai đoạn đầu tiên, phân tích diễn ngôn chủ yếu tập trung vào “phân tích ngữ pháp văn bản” mà chủ yếu phân tích “liên kết, mạch lạc, cấu trúc” như Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt của Trần Ngọc Thêm [90]. Công trình này là cái mốc đánh dấu sự ra đời của ngôn ngữ học văn bản ở Việt Nam. Tiếp đến là cuốn Hệ thống liên kết lời nói tiếng Việt của Nguyễn Thị Việt Thanh [82], và các công trình: Văn bản và liên kết trong tiếng Việt (1998); Giao tiếp, văn bản, mạch lạc, liên kết, đoạn văn (2002); Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo của văn bản (2009) của Diệp Quang Ban [4], [5], [10]. Trên cơ sở của ngôn ngữ học chức năng, tác giả 4 Diệp Quang Ban đã coi mạch lạc là một vấn đề cốt yếu của lí luận phân tích diễn ngôn. Các tác giả Đỗ Hữu Châu, Hoàng Phê, Nguyễn Đức Dân… có nghiên cứu phân tích diễn ngôn dưới góc độ dụng học. Tác giả Nguyễn Thiện Giáp, trong cuốn Dụng học Việt ngư, đã dành một chương để nói về “Diễn ngôn và phân tích diễn ngôn” [37, tr.167-203]. Tác giả đã đề cập đến nhiều vấn đề như: ngữ cảnh và ý nghĩa, cấu trúc thông tin, diễn ngôn và phân tích diễn ngôn, diễn ngôn và văn hoá, ngữ dụng học diễn ngôn, dụng học giao thoa văn hoá … Gần đây, vận dụng phân tích diễn ngôn vào phân tích thể loại văn bản báo chí, đã có một số công trình nghiên cứu. Đó là: “Nghiên cứu diễn ngôn về chính trị – xã hội trên tư liệu báo chí tiếng Anh và tiếng Việt hiện đại” của Nguyễn Hoà [51]; “Đối chiếu ngôn ngữ phóng sự trong báo in bằng tiếng Anh và tiếng Việt” của Nguyễn Thị Thanh Hương [55]. Nhìn chung, các công trình này đã đề cập phân tích diễn ngôn theo lối chuyển dịch hoặc phân tích trên bình diện đối chiếu cấu trúc và chức năng. Tác giả Nguyễn Hoà nghiên cứu về phân tích diễn ngôn trong công trình Phân tích diễn ngôn một số vấn đề lí luận và phương pháp [52]. “Đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam về vấn đề này. Tác giả đã cung cấp một khối lượng tri thức khá lớn về cả lí luận và thực tiễn” [39]. Tiếp đến, Nguyễn Hoà nghiên cứu về phân tích diễn ngôn phê phán. Theo ông, trên thế giới, phân tích diễn ngôn phê phán (Critical Discourse Analysis – CDA) đã hình thành vào những năm 70 của thế kỉ XX. Ở Việt Nam, vấn đề này đã được giới thiệu trên một số bài tạp chí [8, tr.4555], [53, tr.13-26)], và năm 2006, trong cuốn Phân tích diễn ngôn phê phán: lí luận và phương pháp của Nguyễn Hoà [54]. Công trình đã giới thiệu khá hoàn chỉnh các đường hướng và phương pháp phân tích CDA cùng với những mẫu thực thi CDA cụ thể. Tác giả cho rằng, CDA đặt mối quan tâm chủ yếu đến quan hệ quyền lực, quan hệ xã hội và sự tác động của thực tại xã hội đến ngôn ngữ. Ngôn ngữ đã được sử dụng như một phương tiện tư tưởng, điều khiển và làm thay đổi xa hội… Nguyễn Hoà cũng chỉ ra rằng CDA mà công trình đề cập khác với lí thuyết phê phán ở chỗ nó được đặt trên căn cứ ngôn ngữ học. 5 Như vậy, việc nghiên cứu về phân tích diễn ngôn trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã đi từ ngữ pháp văn bản đến phân tích diễn ngôn và nay là phân tích diễn ngôn phê phán. Trong phân tích diễn ngôn và phân tích diễn ngôn phê phán, các tác giả tiếp cận từ chất liệu, cấu trúc đến chức năng và hiệu lực của văn bản. Các phân tích diễn ngôn dần dần tập trung vào phân tích chức năng của ngôn ngữ trong việc thiết lập và duy trì các mối quan hệ xã hội; xác lập hiệu lực và sức mạnh tác động, định hướng dư luận xã hội của văn bản, đặc biệt là văn bản bình luận trên báo chí. Để thấy rõ những nội dung cần tiếp tục nghiên cứu về ngôn ngữ bình luận, chúng tôi sẽ trình bày một cách tổng quát về việc nghiên cứu ngôn ngữ báo chí nói chung ở Việt Nam. Ở Việt Nam đã có nhiều các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ báo chí. Các công trình này đề cập tới nhiều khía cạnh khác nhau, theo các hướng khác nhau, song, có thể tóm lại thành 2 nhóm nghiên cứu sau: Thứ nhất là nhóm tác giả đề cập tới báo chí một cách chung chung, khái quát trên diện rộng, lướt qua các vấn đề nhưng không đi sâu vào một vấn đề nào cụ thể (ngôn ngữ trên một dạng báo cụ thể: báo in, báo điện tử, …), như: Một số vấn đề về sử dụng ngôn tư trên báo chí [1], Ngôn ngư báo chí [44],… Chẳng hạn, trong giáo trình Ngôn ngư báo chí, tác giả Vũ Quang Hào nêu những vấn đề cơ bản nhất của ngôn ngữ báo chí gồm các nội dung như: ngôn ngữ chuẩn mực của báo chí, ngôn ngữ các phong cách báo chí, ngôn ngữ của tên riêng trên báo chí, ngôn ngữ của thuật ngữ khoa học, danh pháp khoa học, kí hiệu khoa học, … được tác giả trình bày và lí giải một cách cô đọng, khoa học. Thứ hai là nhóm tập trung nghiên cứu ngôn ngữ theo hướng chuyên sâu vào một nội dung, một khía cạnh cụ thể (ngôn ngữ tít báo, ngôn ngữ của người dẫn chương trình, thuật ngữ trên báo chí, …). Ngoài ra, cũng có thể xem xét ngôn ngữ báo chí trên các bình diện khác như: các bình diện ngôn ngữ, phong cách ngôn ngữ, cấp độ ngôn ngữ, … Xét trên bình diện ngôn ngư, báo chí được quan tâm trên mọi phương diện: ngư âm, tư vựng, ngư pháp, ngư nghĩa, ngư dụng với mức độ nhiều - ít, nông - sâu khác nhau. Tuỳ đặc trưng của mỗi thể loại báo mà người ta xem xét báo chí ở bình 6 diện ngôn ngữ này nổi trội hơn bình diện ngôn ngữ khác. Chẳng hạn, đối với thể loại báo hình, báo nói, do âm thanh (tiếng nói) quan trọng nên nó được chú ý nhiều hơn về mặt ngữ âm. Thể loại báo viết thì đã được nhiều tác giả tập trung nghiên cứu ở các bình diện ngôn ngữ. Đứng trên bình diện này để nhìn lại những nghiên cứu về ngôn ngữ báo chí thì thấy: Về mặt từ vựng, các nghiên cứu báo chí tập trung vào việc sử dụng từ ngữ trên báo chí sao cho chuẩn, cho hay. Những vấn đề đã được nghiên cứu có thể kể đến: chơi chữ, vấn đề sử dụng từ ngữ địa phương, sử dụng thành ngữ - tục ngữ danh ngôn, từ vựng nước ngoài - gốc nước ngoài, viết tên riêng (Việt, Anh), viết tắt, tiếng lóng, thuật ngữ khoa học, danh pháp, … trên báo chí: Xung quanh vấn đề cách viết các tư nước ngoài trên sách báo tiếng Việt hiện nay (Nguyễn Văn Khang) [57], Vận dụng tục ngư, thành ngư và danh ngôn trên báo chí (Nguyễn Đức Dân) [24], Chơi chư trên báo chí (Hoàng Anh) [1], Viết tắt trên báo chí hiện nay (Nguyễn Bảo) [11], ... Về mặt ngữ pháp, có một vài công trình đi vào miêu tả cấu trúc ngôn ngữ thể hiện trên một số kênh tin tức, sự phân bố từ loại trên báo chí … Về mặt ngữ nghĩa, nội dung ngữ nghĩa thường được xen vào trong các nghiên cứu về từ vựng: chữ và nghĩa trên báo chí, ngữ nghĩa của lớp từ mới, chất liệu văn học trên báo chí: Việc sử dụng chất liệu văn học trong tác phẩm báo chí (Hoàng Anh) [1], Bước đầu xem xét đặc điểm ngư nghĩa của lớp tư mới tiếng Việt trên báo chí (Huỳnh Văn Tài) [81], Đôi nét về chư và nghĩa trên báo "Giáo dục và thời đại chủ nhật" (Ngô Gia Thi) [93], ... Về mặt ngữ dụng, xem xét ngôn ngữ báo chí trên bình diện dụng học là một hướng nghiên cứu rất thú vị và hấp dẫn, thường hướng đến các thao tác nghề nghiệp: viết làm sao cho hấp dẫn, sâu sắc, hiệu quả cao. Các nội dung nghiên cứu liên quan tới ngữ dụng có thể kể đến là: chất hài trên báo chí, cách giật tít, hiện tượng bất thường trên báo, xảo thuật ngôn từ và đánh tráo khái niệm: Hiện tượng bất thường được xem như biện pháp hấp dẫn ngôn ngư báo chí (Hoàng Trọng Phiến) [75]. 7 Các nghiên cứu ngôn ngữ báo chí đã đề cập đến: từ, ngữ, cú, câu, văn bản (diễn ngôn). Cách trích dẫn, tít báo (tiêu đề báo), chapeau (lời dẫn), cách kết thúc, cấu trúc tin, … đều đã được quan tâm nghiên cứu: Nghiên cứu diễn ngôn về chính trị - xa hội trên tư liệu báo chí tiếng Anh và tiếng Việt hiện đại (Nguyễn Hòa) [51], Đầu đề tác phẩm báo chí trên báo in Việt Nam (Trần Thu Nga) [66] ,... Ngoài ra, ngôn ngữ báo chí còn được quan tâm dưới góc độ của khoa học liên ngành như: tâm lí, xã hội, truyền thông ... Chẳng hạn như nghiên cứu Hoạt động ngôn ngư phát thanh và truyền hình tư cách nhìn của tâm lí ngôn ngư học của Nguyễn Đức Tồn [95], Kĩ năng sử dụng ngôn ngư trên truyền thông đại chúng (Hoàng Anh) [2], Đặc điểm ngôn ngư báo chí nhìn tư hoạt động báo chí ở thành phố Hồ Chí Minh [81] … Như vậy, bức tranh tổng thể nghiên cứu về ngôn ngữ báo chí rất phong phú, đa dạng. Tuy nhiên, những nghiên cứu chuyên sâu về ngôn ngữ của một thể loại cụ thể vẫn còn rất ít, đặc biệt là hướng nghiên cứu theo lí luận phân tích diễn ngôn và phân tích diễn ngôn phê phán. Với ngôn ngữ bình luận trên báo in, cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu riêng biệt, chuyên sâu nào theo đường hướng này. Đây là lần đầu tiên, vấn đề này được nghiên cứu ở phạm vi một luận án tiến sĩ. 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án 3.1. Mục đích của luận án Mục đích của luận án là: Nghiên cứu ngôn ngữ bình luận trong báo in tiếng Việt theo ngữ pháp chức năng của Halliday: ba siêu chức năng ngôn ngữ văn bản, đó là siêu chức năng tư tưởng, siêu chức năng liên nhân và siêu chức năng tạo văn bản. 3.2. Nhiệm vụ của luận án Mục đích nêu trên của luận án được thực hiện qua các nhiệm vụ cụ thể sau đây: - Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc phân tích diễn ngôn văn bản bình luận. - Khảo sát, phân tích các đặc điểm ngôn ngữ thể hiện nghĩa tư tưởng, nghĩa liên nhân và nghĩa văn bản của diễn ngôn bình luận. 8 - Rút ra những đặc điểm tiêu biểu của ngôn ngữ văn bản bình luận trong báo in tiếng Việt hiện nay. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận án là ngôn ngữ được dùng trong văn bản (diễn ngôn) bình luận. 4.2. Phạm vi ngữ liệu được nghiên cứu Bình luận là thể loại có phạm vi các vấn đề được đề cập rất rộng ở tất cả mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội như: chính trị, kinh tế, văn hoá – xã hội, thể thao, y tế, văn học v.v.. Trong luận án này, chúng tôi tập trung khảo sát các văn bản bình luận thuộc lĩnh vực chính trị – xã hội, còn bình luận ở lĩnh vực thể thao, y tế và văn học chúng tôi không đề cập. Nguồn tư liệu được sử dụng chủ yếu là các bài bình luận được lựa chọn từ các báo có uy tín như: Lao động, Nhân dân, Nhân dân cuối tuần, Quân đội nhân dân, và Tuổi trẻ TP. Hồ Chí Minh (gọi là Tuổi trẻ) và một số bài bình luận được lựa chọn in thành tuyển tập. Chúng tôi khảo sát các bài bình luận được in trên báo trong khoảng thời gian từ năm 2001 đến năm 2011. Các số liệu khảo sát được lấy từ 200 văn bản bình luận (bao gồm 4996 câu) trên các báo in đã nêu ở trên. 5. Phương pháp nghiên cứu Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: - Phương pháp miêu tả: Luận án sử dụng phương pháp miêu tả để miêu tả các đặc điểm ngôn ngữ của diễn ngôn bình luận để thực hiện chức năng tư tưởng, chức năng liên nhân và chức năng văn bản, từ đó rút ra những nét tiêu biểu của ngôn ngữ văn bản bình luận. - Ngoài ra, luận án còn sử dụng các thủ pháp nghiên cứu như: thủ pháp thống kê, đó là thống kê số lần sử dụng của các đơn vị ngôn ngữ cũng như các kiểu loại câu theo quá trình, các vị từ tình thái, … trên các ngữ liệu nghiên cứu. 6. Đóng góp của luận án 9 6.1. Về phương diện lí luận Luận án sẽ góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề thuộc lí luận phân tích diễn ngôn trong tiếng Việt: phân tích ngôn bản phải thông qua phân tích ngữ pháp; nghiên cứu ngôn ngữ không chỉ trên phương diện cấu trúc mà cả trên phương diện chức năng trong các tình huống giao tiếp, cụ thể là không chỉ đơn thuần quan tâm đến cơ chế hình hình thức của hệ thống ngôn ngữ, mà tìm hiểu về vai trò của nó trong phát ngôn nhằm đạt được một mục đích cụ thể nào đó trong giao tiếp. Hơn thế nữa, ngôn ngữ còn được nghiên cứu trên phương diện giao tiếp văn hoá, tức là cố gắng lí giải về tác động của các yếu tố văn hoá đối với quá trình sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp. Luận án góp phần vào việc hình thành một phương pháp phân tích toàn bộ một đơn vị giao tiếp hoàn chỉnh, thống nhất và có mục đích là diễn ngôn. 6.2. Về phương diện thực tiễn Luận án góp phần làm phong phú thêm phần thực hành cho chuyên ngành Ngôn ngữ báo chí, một phạm vi còn ít có sự nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ cũng như các nhà báo. Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ báo chí tiếng Việt, bao gồm việc hiểu thông tin, cảm nhận cái hay, cái chưa đạt của văn bản và nâng cao kĩ năng cho người viết báo. 7. Kết cấu của luận án Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án gồm 4 chương: Chương 1. Cơ sở lí luận Chương 2. Đặc điểm ngôn ngữ được sử dụng trong các văn bản bình luận để thực hiện chức năng tư tưởng 10 Chương 3. Đặc điểm ngôn ngữ được sử dụng trong các văn bản bình luận để thực hiện chức năng liên nhân Chương 4. Đặc điểm ngôn ngữ được sử dụng trong các văn bản bình luận để thực hiện chức năng văn bản. Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN Nhiệm vụ nghiên cứu của chương này là trình bày khái quát về ngôn ngữ báo chí, bình luận, ngôn ngữ bình luận và những cơ sở lí luận cho toàn bộ nội dung của luận án. Để tránh nặng về lí thuyết, chúng tôi chỉ đề cập ở đây những vấn đề lí luận 11 chung nhất, các vấn đề lí luận cụ thể của từng chương chúng tôi sẽ đề cập sau, nếu thấy cần thiết phục vụ cho nội dung các chương đó. 1.1. MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA NGỮ PHÁP CHỨC NĂNG – HỆ THỐNG 1.1.1. Về ngôn ngữ Định hướng lí luận chung cho luận án của chúng tôi là ngữ pháp chức năng – hệ thống do Halliday phát triển dựa trên các thành tựu của ngôn ngữ học châu Âu như Saussure, Hjelmslev, Firth và Malinowski và các nhà ngôn ngữ thuộc trường phái Praha. Lí thuyết chức năng hệ thống của Halliday khác với các trường phái khác ở những điểm sau: 1. Nó nhằm vào vai trò quan trọng của các bình diện xã hội của ngôn ngữ. 2. Nó coi ngôn ngữ là hình thức của hành động hơn là hình thức của hiểu biết. Nó phân biệt hành vi ngôn ngữ tiềm tàng với hành vi ngôn ngữ thực tại. 3. Nó giải thích một số bình diện của ngôn ngữ bằng những thuật ngữ về chuỗi những khác biệt của những hiện tượng cùng loại. 4. Nó coi hệ thống là phạm trù trung tâm của lí thuyết. Khái niệm hệ thống về cơ bản được sử dụng theo nghĩa hệ đối vị chức năng (functional paradigm) của Firth được phát triển thành cấu trúc hình thức của của một mạng lưới hệ thống (system network). Trong ngữ pháp chức năng của Halliday, “ngôn ngữ được giải thích như là một hệ thống các ý nghĩa, được kèm theo bởi các hình thức mà qua đó các ý nghĩa được hiện thực hoá” [42]. Lí thuyết chức năng hệ thống giải thích ngôn ngữ như là một mạng lưới của những sự lựa chọn được móc nối với nhau: hoặc sự lựa chọn này, hoặc sự lựa chọn kia hoặc sự lựa chọn khác. Các lựa chọn này được hình thức hoá bằng các hệ thống như số đơn đối lập với số nhiều, chủ động đối lập với bị động, khẳng định đối lập với phủ định… Halliday tập trung vào các chức năng tạo cho ngôn ngữ một hình thức như hiện có, thường được gọi là “ngôn ngữ theo cách nhìn xã hội – kí hiệu học” (language in social – semiotic perspective). 12 Halliday cho rằng, những đòi hỏi của xã hội đã giúp ngôn ngữ hình thành nên cấu trúc của nó. Ông đã làm làm sáng tỏ sự phát triển của ngôn ngữ từ quan điểm chức năng: “Ngôn ngữ đã tiến hoá để thoả mãn các nhu cầu của con người, và liên quan đến các nhu cầu này, cái phương thức mà nó được tổ chức là chức năng – nó không phải là võ đoán” [42, tr.16]. 1.1.2. Về ngữ cảnh Một trong những đặc điểm quan trọng của ngữ pháp chức năng – hệ thống là mối quan hệ giữa ngôn ngữ và ngữ cảnh (context). Các nhà ngôn ngữ theo trường phái này cho rằng: người ta không thể hiểu được ý nghĩa của những điều được nói ra nếu không biết gì về ngữ cảnh xung quanh chúng. Hoặc ngược lại, nếu hiểu được những gì viết hoặc nói ra thì cũng có thể hình dung ra ngữ cảnh của chúng. Như vậy, để giải thích ý nghĩa của một câu, người ta cần miêu tả bản thân câu đó và đồng thời cả ngữ cảnh mà câu đó được sử dụng. Thuật ngữ “ngữ cảnh” được hiểu là “một loại môi trường nào đó, là những gì xảy ra xung quanh mà ngôn ngữ có liên quan đến” và “môi trường phi ngôn trong đó ngôn ngữ được sử dụng” [114, tr.20]. Bên cạnh đó, Halliday và các nhà ngữ pháp chức năng – hệ thống còn phân biệt hai loại ngữ cảnh là “ngữ cảnh văn hoá” (context of culture) và “ngữ cảnh tình huống” (context of situation). Ngữ cảnh văn hoá là ngữ cảnh của ngôn ngữ như là một hệ thống, của tiềm năng về nghĩa (meaning potential), còn ngữ cảnh tình huống là ngữ cảnh của một hiện tượng ngôn ngữ, là văn bản, là những trường hợp cụ thể của ngôn ngữ. Văn hoá làm cho ngữ cảnh ngôn ngữ như là hệ thống, còn tình huống làm ngữ cảnh cho những hiện tượng của ngôn ngữ như là văn bản” [114, tr.162]. 1.1.3. Về văn bản Theo quan điểm của các nhà ngữ pháp chức năng – hệ thống thì văn bản (text) là các sản phẩm (product) của ngôn ngữ viết và nói có liên kết và mạch lạc. “Văn bản có thể là bất kì một đoạn văn nào, viết hay nói, dài hay ngắn tạo nên một tổng thể hợp nhất”. Halliday cho rằng: “Văn bản là một sản phẩm theo nghĩa nó là một đầu ra, một cái gì đó có thể ghi lại và nghiên cứu được, nó có một cấu trúc nhất định có 13 thể được thể hiện ra một cách hệ thống. Văn bản là một quá trình, theo nghĩa là một quá trình liên tục của các lựa chọn về nghĩa, một sự vận động qua các hệ thống tiềm năng về nghĩa, trong đó mỗi một chuỗi chọn lựa lại tạo ra môi trường cho chuỗi tiếp theo” [42]. Theo quan điểm này thì một văn bản thực sự được tạo nên bởi các ý nghĩa, đó là một đơn vị nghĩa (a semantic unit) được mã hoá bằng một cái gì đó nhằm mục đích thực hiện giao tiếp. Và như vậy, văn bản vừa là sản phẩm (product) lại vừa là một quá trình (a process). Ở đây không phân biệt sản phẩm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, và coi văn bản như một sản phẩm ngôn ngữ ghi nhận quá trình giao tiếp hay sự kiện giao tiếp nói và viết trong một tình huống cụ thể nào đó. 1.1.4. Quan hệ giữa ngữ cảnh và văn bản Halliday đã lí giải quan hệ giữa ngữ cảnh và văn bản như sau: “Văn bản là một hiện hữu của quá trình và sản phẩm của ý nghĩa xã hội trong một ngữ cảnh tình huống nào đó. Ngữ cảnh tình huống, ngữ cảnh mà trong đó văn bản được thể hiện lại được lồng ghép vào trong văn bản, không phải theo lối từng đoạn một hoặc cũng không phải theo bất cứ cách thức cơ giới nào mà một mặt qua mối quan hệ xã hội, mặt khác qua tổ chức chức năng của ngôn ngữ” [114, tr.11]. Ông cũng chỉ ra mối quan hệ của môi trường xã hội với tổ chức, chức năng của ngôn ngữ. Môi trường xã hội của văn bản được mô tả bằng ba khái niệm, đó là: - Trường diễn ngôn (field of discourse) nói về cái gì, là phạm vi hoạt động xã hội trong đó ngôn ngữ được sử dụng như một phương tiện để giao tiếp, như một phương tiện để hành động. - Không khí chung của diễn ngôn (ternor of discourse) thể hiện mối quan hệ giữa người nói và người nghe hay nói cách khác nó quy chiếu đến các nhân vật tham gia giao tiếp, gồm người nói (chủ thể giao tiếp) và người nghe (đối tượng giao tiếp) và các vai mà họ đóng, địa vị và quyền lực của họ cũng như toàn bộ các quan hệ về mọi mặt giữa họ. - Cách thức diễn ngôn (mode of discourse) chỉ phương tiện hoạt động ngôn ngữ (kênh mà người nói lựa chọn để giao tiếp) gồm cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. 14 Ba yếu tố nêu trên cùng xác định ngữ cảnh tình huống cho văn bản. Chúng ta xác định đặc trưng của ngữ cảnh tình huống càng rõ ràng bao nhiêu, càng dự đoán được đặc tính của văn bản trong tình huống đó cụ thể bấy nhiêu. Mỗi đặc điểm trên của ngữ cảnh được thể hiện qua một chức năng của nghĩa. Trường được thể hiện qua qua chức năng kinh nghiệm, không khí chung của diễn ngôn qua chức năng liên nhân và cách thức qua chức năng văn bản. Mối quan hệ giữa ngữ cảnh tình huống và văn bản được thể hiện bằng sơ đồ sau: Bảng 1.1 Mối quan hệ giưa ngư cảnh, tình huống và văn bản (Halliday 1985) Ngữ cảnh Chức năng Văn bản Trường Kinh nghiệm Tham thể Không khí chung Liên nhân Tình thái Cách thức Văn bản Liên kết 1.1.5. Các thành tố chức năng trong hệ thống ngữ nghĩa Halliday và Hasan [116, tr.26] cho rằng có 3 thành tố mang chức năng ngữ nghĩa chính: chức năng tư tưởng (chức năng biểu ý – ideational), chức năng liên nhân (interpersonal) và chức năng văn bản (textual). - Thành tố chức năng tư tưởng là một phần của hệ thống ngôn ngữ, nó liên quan đến việc biểu đạt “nội dung”, tức là kinh nghiệm chủ quan và khách quan của con người. Chức năng này chia thành hai mặt: kinh nghiệm và lôgíc. Mặt kinh nghiệm là các thông tin về hoàn cảnh, mối quan hệ giữa các đối tượng tham gia, chẳng hạn: tác thể, quá trình… Mặt lôgic là các thông tin quan hệ sắp xếp giữa các câu nói theo các quan hệ như: quan hệ bình đẳng, nhân quả, điều kiện … - Thành tố chức năng liên nhân liên quan đến các chức năng xã hội, tức dùng ngôn ngữ biểu đạt các mối quan hệ xã hội và cá nhân, bao gồm hình thức lời nói trong tình huống ngôn ngữ. Về mặt câu chữ, chức năng liên nhân thể hiện ở ngữ khí và tình thái. Ngữ khí quyết định xem người nói vào vai gì (người ra lệnh hoặc người hỏi) và ngược lại người nghe vào vai gì (người nhận lệnh hoặc người trả lời). Tình thái biểu thị phán đoán và dự kiến của người nói. Tình thái theo Halliday bao gồm các phó từ và phương thức biểu đạt mang tính phán đoán. Ví dụ: certainly, perhaps, probably, it is posible … 15 - Thành tố chức năng tạo văn bản là chức năng làm thế nào để các bộ phận tạo thành ngôn ngữ có mối quan hệ với nhau, tức là làm cho một văn bản có cấu trúc nội tại, làm cho ngôn ngữ sống khác với các câu minh họa trong từ điển. Hay nói cách khác, thành tố mang chức năng văn bản bao gồm những nguồn gốc mà từ đó ngôn ngữ có thể tạo nên văn bản. Trong cùng một ý nghĩa đó, thuật ngữ “văn bản” được dùng cho khái niệm có chức năng tương đương, sự mạch lạc trong bản thân văn bản và với ngữ cảnh tình huống. Bảng 1.2 Các thành tố biểu hiện chức năng của hệ thống ngư nghĩa [115, tr.29] TƯ TƯỞNG Kinh nghiệm Lôgíc (Experiential) (Logical) Theo cấp độ: Cú:chuyển tác Động ngữ: thì Danh ngữ: tính ngữ Trạng ngữ: chu tố Mọi cấp độ Các quan hệ đẳng kết và phụ thuộc (điều kiện, bổ sung, thuật lại) LIÊN NHÂN V ĂN BẢN Thuộc văn bản (structural) Theo cấp độ : Cú: thức, tình thái Động ngữ: ngôi Danh ngữ: thái độ Trạng ngữ: bình luận Theo cấp độ Cú: đề ngữ Động ngữ: thái Danh ngữ: chỉ tố Trạng ngữ: liên tư Giữa các cấp độ: Đơn vị thông tin: Sự phân bố thông tin, tiêu điểm thông tin Không thuộc văn bản (Nonstructural) Liên kết: Quy chiếu Thay thế Tỉnh lược Nối Liên kết tư vựng Trong một chừng mực nào đó một thành tố mang chức năng văn bản hoạt động như hai thành tố kia, thông qua các hệ thống có liên quan ở các cấp độ khác nhau trong ngữ pháp. Chẳng hạn, mỗi câu có sự lựa chọn trong hệ thống của đề ngữ, sự lựa chọn truyền đạt tổ chức của từng câu với tư cách như một thông điệp và được thể hiện thông qua cấu trúc của câu. Tuy nhiên, một thành tố mang chức năng văn bản cũng bao gồm các mô hình nghĩa, chúng được nhận diện bên ngoài và sắp xếp theo thứ bậc của hệ thống. Một trong những khuôn mẫu ý nghĩa đó là cấu trúc thông tin, cái mà theo trình tự của ngôn bản, trên cơ sở của sự phân biệt cái cu (given), cái mà người nói cho là thông tin được khôi phục đối với người nghe và cái mới (new). 16 Phần còn lại của thành tố mang chức năng văn bản là yếu tố liên quan đến liên kết. Liên kết có quan hệ mật thiết đến cấu trúc thông tin. Cấu trúc thông tin là cấu trúc trong đó một ngôn bản hoàn chỉnh được phân chia thành các chi tiết có chức năng cụ thể trong cấu hình toàn bộ. Mọi yếu tố trong văn bản đều có một vị thế nào đó trong mô hình cái cũ – cái mới (given – new). Liên kết là một yếu tố tạo nên văn bản trong hệ thống ngôn ngữ. Nếu không có liên kết, phần còn lại của hệ thống ngữ nghĩa hoàn toàn không thể hoạt động được một cách có hiệu quả. 1.2. PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN VÀ PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN PHÊ PHÁN 1.2.1. Phân tích diễn ngôn Phân tích diễn ngôn là nghiên cứu sự sử dụng ngôn ngữ ở cấp độ trên câu. Thực tế, các nhà ngôn ngữ học đã xem xét, phân tích diễn ngôn trên một số bình diện sau: Thứ nhất, bình diện lí thuyết, các nhà nghiên cứu về phân tích diễn ngôn có thể được xếp thành hai nhóm đối lập. Một nhóm nghiên cứu được coi là phân nhánh của ngữ pháp hình thức với trọng tâm là mặt hình thức hoặc chức năng của việc sử dụng ngôn ngữ gồm cả ngữ nghĩa học và ngữ dụng học. Ở nhóm kia, các nghiên cứu phân tích diễn ngôn tập trung vào sự sử dụng mang tính chế ước hoá (institutinalised) của ngôn ngữ trong bối cảnh văn hoá – xã hội khác nhau, trong đó sự giao tiếp bằng ngôn ngữ được coi là một hoạt động xã hội (communication as social action). Thứ hai, xem xét tư bình diện chung – chuyên ngành: là nghiên cứu phân tích diễn ngôn của các hội thoại hàng ngày, các thể loại văn bản viết như mô tả, trần thuật, chính luận và ở hướng chuyên ngành là các nghiên cứu phân tích diễn ngôn các thể loại văn bản chuyên ngành như bài báo khoa học, văn bản pháp luật, các giao thoại bác sĩ – bệnh nhân, luật sư – khách hàng … Thứ ba, xem xét bình diện ứng dụng: là những nghiên cứu phân tích diễn ngôn xuất phát từ các mục tiêu ứng dụng khác nhau như dạy học, học tiếng và dịch thuật …
- Xem thêm -