Nghiên cứu hàm long sơn chí- tác giả và tác phẩm

  • Số trang: 162 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 36 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ------------------------ NGUYỄN HÀ (THÍCH HOẰNG TRÍ) NGHIÊN CỨU HÀM LONG SƠN CHÍTÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN HÀ NỘI - 2014 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGUYỄN HÀ (THÍCH HOẰNG TRÍ) NGHIÊN CỨU HÀM LONG SƠN CHÍTÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM Chuyên ngành Mã số : HÁN NÔM : 62.22.40.01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1. PGS. TS. Nguyễn Tá Nhí 2. PGS. TS. Lã Minh Hằng HÀ NỘI - 2014 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Kết quả và số liệu nêu trong luận án là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác. Tác giả luận án NGUYỄN HÀ (THÍCH HOẰNG TRÍ) QUY ƯỚC VIẾT TẮT ĐHSC Đỉnh Hồ sơn chí PĐTSL Phổ Đà sơn chí HLSC Hàm Long sơn chí BQTSL Báo Quốc tự sự lục LXSC Lưỡng Xuân sơn chí BAVH Bulletin des Amis du Vieux Hué 30a4 Tờ 30, trang a, dòng 4 Tp Thành phố UBKHXHVN Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam T5 Tập 5 MỤC LỤC MỤC LỤC...........................................................................................................................................1 PHẦN MỞ ĐẦU..................................................................................................................................3 1. Tính cấp thiết của đề tài...............................................................................................................3 2. Phương pháp nghiên cứu..............................................................................................................4 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu...............................................................................................4 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu..............................................................................................5 5. Đóng góp mới của luận án...........................................................................................................5 6. Kết cấu luận án..............................................................................................................................5 PHẦN NỘI DUNG..............................................................................................................................7 Chương 1. TỔNG QUAN VỀ HÀM LONG SƠN CHÍ VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN................................................................................................................................7 1.1. Giới thuyết về Hàm Long sơn chí............................................................................................7 1.1.1.Tên chùa, tên núi và tên gọi “Hàm Long”..................................................................................7 1.1.2. Hàm Long sơn chí mang loại hình văn học chức năng trong nền văn học trung đại Việt Nam....11 1.2. Các nghiên cứu về tác giả- nhà sưu tầm và biên soạn tác phẩm Hàm Long sơn chí......12 1.2.1. Về Trần Viết Thọ (1836-1899)................................................................................................12 1.2.2. Về Nguyễn Phúc Hồng Vịnh (1851-?).....................................................................................16 1.2.3. Về tác phẩm Hàm Long sơn chí...............................................................................................18 * Tiểu kết chương 1.........................................................................................................................19 Chương 2. THÂN THẾ, SỰ NGHIỆP CỦA TRẦN VIẾT THỌ VÀ NGUYỄN PHÚC HỒNG VỊNH. 21 2.1. Bối cảnh lịch sử - xã hội và khuynh hướng văn học từ nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.....21 2.1.1. Bối cảnh lịch sử- xã hội nửa cuối thế kỷ XIX- đầu thế kỷ XX................................................21 2.1.2. Các khuynh hướng văn học trong văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX- đầu thế kỷ XX. .25 2.2. Tác giả Hàm Long sơn chí: Trần Viết Thọ và Nguyễn Phúc Hồng Vịnh.........................26 2.2.1. Trần Viết Thọ, hiệu Điềm Tịnh cư sĩ.......................................................................................27 2.2.2. Nguyễn Phúc Hồng Vịnh, hiệu Như Như đạo nhân................................................................35 2.3. Những tình tiết mở rộng khi nghiên cứu cuộc đời Như Như đạo nhân và Điềm Tịnh cư sĩ...41 1 2.3.1.Mấy câu hỏi đáng suy nghĩ về tư tưởng của hai tác giả............................................................41 2.3.2. Con đường đưa Điềm Tịnh cư sĩ và Như Như đạo nhân đến với đạo Phật.............................44 * Tiểu kết chương 2.........................................................................................................................48 Chương 3. NGHIÊN CỨU TÁC PHẨM HÀM LONG SƠN CHÍ.....................................................50 3.1. Tiền đề cho việc viết Hàm Long sơn chí..............................................................................50 3.1.1. Núi Hàm Long và chùa Báo Quốc...........................................................................................50 3.1.2. Nhân duyên và niên đại ra đời của tác phẩm...........................................................................52 3.1.3. Ý nghĩa của việc biên soạn tác phẩm Hàm Long sơn chí........................................................58 3.2. Đôi nét về văn bản và nội dung tác phẩm Hàm Long sơn chí............................................60 3.3. Khảo cứu văn bản Hàm Long sơn chí...................................................................................63 3.3.1. Tập Hàm Long sơn chí tổng mục.............................................................................................63 3.3.2. Tập Lãm sơn tự........................................................................................................................68 3.3.3. Tập Hàm Long sơn chí quyển tam chi nhất.............................................................................74 3.3.4. Tập Tường Vân tự sự lục.........................................................................................................77 3.3.5. Tập Thiên hoa cửu biện đồ......................................................................................................79 3.3.6. Tập Giới kỳ khánh liên.............................................................................................................82 * Tiểu kết chương 3.........................................................................................................................87 Chương 4. GIÁ TRỊ NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT CỦA HÀM LONG SƠN CHÍ......................89 4.1. Giá trị nội dung của Hàm Long sơn chí................................................................................89 4.1.1. Giá trị lịch sử của Hàm Long sơn chí......................................................................................89 4.1.2. Những giá trị tư tưởng hàm chứa trong Hàm Long sơn chí...................................................104 4.2. Giá trị nghệ thuật của Hàm Long sơn chí...........................................................................112 4.2.1. Văn học nghệ thuật................................................................................................................113 4.2.2. Văn học chức năng.................................................................................................................128 * Tiểu kết chương 4.......................................................................................................................134 PHẦN KẾT LUẬN..........................................................................................................................135 TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................................................139 PHẦN PHỤ LỤC.............................................................................................................................145  2 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Văn học triều Nguyễn chiếm khối lượng tác phẩm và số lượng tác gia lớn nhất trong lịch sử văn học trung đại Việt Nam. Các tác gia, tác phẩm đó đã tạo nên diện mạo của văn học giai đoạn này: đa dạng về thể loại, phong phú về nội dung. Trong số các tác gia giai đoạn này, thì những người xuất thân từ hoàng tộc chiếm đa số. Có thể kể tên các tác gia tiêu biểu như Tùng Thiện vương, Tuy Lý vương, Tương An quận vương, Công chúa Mai Am.v.v. Ngay cả các vị hoàng đế Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức cũng có biệt tài văn hay chữ tốt, sáng tác với số lượng tác phẩm thơ văn lên đến trên dưới mười ngàn bài. Trong số các tác gia hoàng tộc triều Nguyễn, nổi bật là Nguyễn Phúc Hồng Vịnh 阮阮阮阮 hiệu Như Như đạo nhân 阮阮阮阮 với tác phẩm Hàm Long sơn chí (HLSC) 阮 阮 阮 阮 được soạn chung với Phó bảng Trần Viết Thọ 阮阮阮 , hiệu Điềm Tịnh cư sĩ 阮阮阮阮 . Việc sưu tầm, dịch chú, giới thiệu tác phẩm này sẽ góp phần tạo dựng nên diện mạo chung cho văn học Hán Nôm trên đất cố đô thời Nguyễn. Thật may mắn cho chúng tôi, trong quá trình tìm tòi tư liệu, sách vở ở các thư viện công và các tủ sách tư nhân để đề xuất đề tài luận án tiến sĩ, chúng tôi nhờ duyên hàn mặc, đã thủ đắc tác phẩm HLSC. HLSC đã ghi lại những biến cố xã hội của vùng đất Thuận Quảng, khi Thuận Quảng còn là một bộ phận của Đàng Trong dưới sự trị vì của các chúa Nguyễn - đối lập với Đàng Ngoài dưới sự trị vì của triều đình Lê-Trịnh; là vùng đất của một nước quân chủ dưới thời nhà Nguyễn; là vùng đất của một nước thuộc địa - nửa phong kiến, một vùng đất của cái gọi là Nam triều. Đặt tác phẩm này trong những không gian Nam- Bắc phân chia suốt bốn thế kỷ (từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX) để nhận ra rằng, nó nằm trong thiết chế văn hoá - tư tưởng “Nho Thích song hành” hay “cư Nho mộ Thích” của Đàng Trong, của triều Nguyễn, Nam triều. HLSC đã thể hiện được một khuynh hướng văn học của văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX. HLSC là một tác phẩm mang những đặc trưng của văn học trung đại: tác giả của nó là các nhà nho; được thể hiện bằng ngôn ngữ Hán - Việt, ký tự bằng chữ Hán; các thể loại trong HLSC là các thể loại của văn học trung đại; độc giả của nó là những người biết chữ Hán. Vì vậy, nghiên cứu HLSC, phải làm sáng tỏ giá trị đa chức năng về văn học, sử học và tư tưởng - triết học của nó. Với những lí do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu cho luận án tiến sĩ của mình: Nghiên cứu Hàm Long sơn chí - tác giả và tác phẩm. 3 2. Phương pháp nghiên cứu Luận án sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: 1. Phương pháp văn bản học được sử dụng để tìm ra văn bản gần nhất với bản gốc HLSC. 2. Các phương pháp luận sử học được vận dụng để khái quát hoá những hoàn cảnh chính trị, lịch sử - xã hội, văn hoá - tư tưởng làm nảy sinh các khuynh hướng văn học của văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, và trong việc xây dựng một cách chân thật tiểu sử của Trần Viết Thọ và Nguyễn Phúc Hồng Vịnh. 3. Vận dụng phương pháp nghiên cứu loại hình - so sánh để phân loại và nhận ra những khác biệt các khuynh hướng văn học tương ứng với các loại tác giả của các khuynh hướng văn học đó, giúp nhận diện một cách cụ thể tính chất phong phú, đa dạng của văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX. 4. Vận dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành theo quan điểm mở rộng hệ thống: đặt mỗi yếu tố được luận án nghiên cứu trong mỗi hệ thống càng rộng càng tốt, càng có nhiều yếu tố tương tác với nhau trong hệ thống đó càng giúp tác giả luận án, nhờ quan sát những mối quan hệ và liên hệ của chúng mà nhận ra đặc điểm, tính chất của yếu tố mình đang được tập trung phân tích, đánh giá. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu - Văn bản Hán Nôm HLSC do Hòa thượng Thích Hải Ấn - Trụ trì chùa Từ Đàm, thành phố Huế, cung cấp bản photocopy năm 2009. - Các văn bản Hán Nôm khác có ghi chép về hai tác giả Trần Viết Thọ và Nguyễn Phúc Hồng Vịnh, cùng tác phẩm HLSC được dùng làm tài liệu bổ trợ cho việc nghiên cứu về HLSC. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Luận án đặt vấn đề nghiên cứu về tác giả và tác phẩm HLSC, do vậy luận án tập trung vào các vấn đề sau: - Phân tích các văn bản Hán Nôm liên quan, tiến tới phục dựng một cách đầy đủ cuộc đời cùng những đóng góp của Trần Viết Thọ và Nguyễn Phúc Hồng Vịnh; xây dựng văn bản HLSC dưới ánh sáng của văn bản học; phân tích, đánh giá những giá trị nhiều mặt của HLSC cũng như giá trị của một khuynh hướng văn học trong nhiều khuynh hướng văn học ở giai đoạn văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. 4 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu một cách tập trung, tương đối toàn diện, hệ thống tác phẩm HLSC và tiểu sử của Trần Viết Thọ, Nguyễn Phúc Hồng Vịnh với tư cách vừa là hai nhà sưu tập văn thơ, vừa là hai tác giả trước tác văn thơ của HLSC. Với những mục đích đó, luận án của chúng tôi có nhiệm vụ: - Xây dựng tiểu sử của Trần Viết Thọ và Nguyễn Phúc Hồng Vịnh; - Tái lập một văn bản gần nhất với nguyên bản HLSC; - Lý giải những điều kiện chính trị, lịch sử - xã hội, văn hoá làm xuất hiện HLSC như một khuynh hướng văn học bên cạnh những khuynh hướng văn học khác mà các nhà nghiên cứu văn học đã phát hiện ở giai đoạn văn học nửa cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX; - Nêu bật những giá trị văn học, sử học, tư tưởng gắn liền với những giá trị về hình thức nghệ thuật của HLSC như một trước tác của văn học trung đại Việt Nam ở đó văn, sử, triết bất phân. 5. Đóng góp mới của luận án Tập trung đi sâu nghiên cứu tác phẩm, giải quyết tốt các vấn đề đặt ra ở phần Lý do chọn đề tài, luận án được thực hiện sẽ có những đóng góp chính như sau: - Góp phần làm sáng tỏ về con người, hành trạng của Điềm Tịnh cư sĩ Trần Viết Thọ và Như Như đạo nhân Nguyễn Phúc Hồng Vịnh, bổ khuyết cho những khiếm khuyết của các nghiên cứu trước đây liên quan đến hai tác gia này. - Cung cấp một văn bản HLSC gần nhất với nguyên tác, làm cơ sở cho các công trình nghiên cứu tiếp theo. - Đưa ra những nhận xét về giá trị nội dung và nghệ thuật của HLSC như một khuynh hướng văn học bên cạnh những khuynh hướng văn học khác của văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX. 6. Kết cấu luận án Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận và Phần phụ lục, nội dung luận án chia thành bốn chương sau: PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài 2. Phương pháp nghiên cứu 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5. Đóng góp mới của luận án 5 PHẦN NỘI DUNG Chương 1. Tổng quan về Hàm Long sơn chí và tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chương 2. Thân thế, sự nghiệp của Trần Viết Thọ và Nguyễn Phúc Hồng Vịnh Chương 3. Nghiên cứu tác phẩm Hàm Long sơn chí Chương 4. Giá trị nội dung và nghệ thuật tác phẩm Hàm Long sơn chí PHẦN KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO PHẦN PHỤ LỤC  6 PHẦN NỘI DUNG Chương 1. TỔNG QUAN VỀ HÀM LONG SƠN CHÍ VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Tác phẩm Hàm Long sơn chí cùng hai tác giả Trần Viết Thọ và Nguyễn Phúc Hồng Vịnh đã được các nhà nghiên cứu quan tâm từ rất sớm. Trước khi đi vào tìm hiểu một cách tổng quan về tư liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu, tác giả luận án bước đầu tìm hiểu ý nghĩa và lược khảo một vài địa phương mang tên gọi Hàm Long, rồi sau đó lược thuật một số công trình nghiên cứu có ghi chép, khảo cứu về tác giả- soạn giả và tác phẩm HLSC trong những tác phẩm Hán văn, Pháp văn cũng như Việt văn. 1.1. Giới thuyết về Hàm Long sơn chí 1.1.1. Tên chùa, tên núi và tên gọi “Hàm Long” “Tự” (chùa) hay “tự viện” (chùa viện) là nơi an trí tượng Phật và dành cho tăng, ni cư trú tu hành Phật đạo. Còn có các tên gọi khác như tự sái, Tăng tự, đạo tràng, Phật sái, Phạm sái, lan-nhã, tùng lâm, chiên-đàn lâm, đàn lâm… Theo Pháp uyển châu lâm, quyển 39, có liệt kê các tên gọi khác của “tự”, như: Tịnh trụ xá, pháp đồng xá, xuất thế gian xá, kim cương tịnh sái, tịch diệt đạo tràng, thanh tịnh vô cực viên, viễn ly ác xứ, thân cận thiện xứ. Tương đương với “tự” hoặc “viện” còn có tên gọi tiếng Phạn là vihara, samgharama. Vihara dịch âm là Tỳ-ha-ra, dịch ý là trú xứ, du hành xứ; samgharama dịch âm là tăng-già-lam, già-lam, dịch ý là chúng viên. Ngôi chùa xuất hiện đầu tiên tại Ấn Độ lúc Phật còn tại thế là tinh xá Trúc Lâm tại thành Vương Xá và tinh xá Kỳ Viên tại thành Xá Vệ nằm ở miền Trung Ấn Độ. Theo Đại Tống tăng sử lược, quyển thượng, điều mục Sáng tạo già-lam ghi: “Tại Trung quốc, Hồng Lô tự là nơi do triều đình thiết lập để tiếp đãi tân khách bốn phương. Các khách Tăng từ Tây Vực sang Trung Hoa ban đầu đều được đón tiếp tại Hồng Lô tự rồi sau đó mới đi đến các nơi khác hành đạo và cư trú. Về sau, người Trung Quốc gọi các nơi Tăng ni cư trú là “tự”. Chùa Tăng đầu tiên của Trung Quốc là Bạch Mã tự được xây dựng vào niên hiệu Vĩnh Bình (58-75) đời Đông Hán Minh đế”. 7 Ngoài tên hiệu của chùa viện, người ta còn lấy tên núi để phụ đặt tên chùa. Do ngày xưa đa số các ngôi chùa được xây dựng trên núi cao nhằm cách ly với sự ồn ào náo nhiệt của dân chúng nên người ta gộp tên núi và tên chùa để gọi, chẳng hạn: chùa Bổ Đà trên núi Bổ Đà tỉnh Bắc Giang, chùa Hàm Long trên núi Hàm Long tỉnh Thừa Thiên Huế... Về sau, các ngôi chùa xây dựng ở đồng bằng người ta cũng lấy tên núi để gọi tên chùa, nên tên núi (sơn) trở thành tên gọi khác của chùa (tự). Xét theo thành phần xã hội xây dựng chùa viện thì những ngôi chùa do vua quan tạo lập gọi là quan tự (chùa quan); những ngôi chùa do tư nhân xây dựng gọi là tư tự (chùa tư); còn những ngôi chùa do các vị Tăng trác tích ẩn cư ở rừng sâu núi cao gọi là sơn tự (chùa núi). Người xưa quan sát hình thế núi sông bày đặt trên mặt đất mà gọi là sơn mạch, còn gọi là long mạch, bởi lẽ hình núi nhấp nhô uốn lượn giống như con rồng lớn đang di chuyển. Trí tưởng tượng phong phú giàu hình ảnh của người xưa, lại hình thành hàng loạt các địa danh như: 阮阮 Long thủ (đầu rồng), Long bàn 阮阮 hoặc 阮阮 Bàn long (rồng cuộn mình), 阮阮 Long hàm hoặc 阮阮 Hàm long (hàm rồng), 阮阮 Long vĩ (đuôi rồng), 阮阮 Thăng long (rồng bay lên), 阮阮 Hạ long (rồng giáng hạ), 阮 阮 Long động (hang rồng)… Các thư tịch cổ như Đại Nam nhất thống chí, Đồng Khánh địa dư chí lục, Bắc Ninh tỉnh chí, Hải Dương tỉnh địa dư chí… còn ghi được tên một số địa danh gọi là Long hàm (Hàm rồng), Hàm long (Rồng ngậm).v.v… Núi Hàm Rồng ở tỉnh Thanh Hóa. Sách Đồng Khánh địa dư chí lục cho biết ở huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa có núi Long Hàm, thường gọi là Hàm Rồng. Chùa Hàm Long trên núi Lãm Sơn tỉnh Bắc Ninh. Sách Đồng Khánh địa dư chí lục cho biết ở địa phận xã Lãm Sơn Dương, tổng Lãm Sơn Nam, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh có chùa Hàm Long, còn gọi là chùa Long Hàm. Chùa nằm ở khu vực núi Lãm Sơn, còn gọi là núi Dạm. Dãy núi Lãm Sơn gồm 23 ngọn san sát liền kề. Chân núi bắt đầu từ xã Nghi Vệ, tổng Nội Viên, huyện Tiên Du, chạy ngược lên đến xã Lãm Sơn. Chùa Hàm Long được dựng trên núi Lãm Sơn, huyện Quế Võ. Thần phả ở chùa cho biết, chùa do thiền sư Dương Không Lộ xây dựng từ đời nhà Lý. Đến đời Lê, thiền sư Thích Trừng Trừng từng tu tập ở đây. Thiền sư là người họ Trịnh, vốn là con trai thứ 13 của Tấn Quang vương Trịnh Bính. Ông được cho đất Hoàng Mai làm thực ấp. Một lần đào ao thấy có tượng Phật bằng đá quý, ông liền nuôi chí xuất gia, cải đổi gia thất làm chùa, gọi là chùa Liên Tông, sau đổi thành Liên Phái. Ông theo học hòa thượng Chân Nguyên ở chùa Long Động, sau được cử về trông coi chùa Hàm Long ở Quế Võ. 8 Khi viên tịch, các môn đệ cho xây tòa tháp đá năm tầng rất uy nghi, gọi là tháp Cứu Sinh. Ngay ở thành phố Hà Nội cũng tồn tại một ngôi chùa Hàm Long. Hơn thế nữa, con phố có ngôi chùa này cũng gọi luôn là phố Hàm Long. Chùa được xây dựng ở phường Phục Cổ, tổng Tá Túc, huyện Thọ Xương, phủ Phụng Thiên. Phường Phục Cổ là khu đất cao giữa vùng dày đặc đầm nước của tổng Tiền Túc như thôn Bến Đá, thôn Chợ Bến Đá, thôn Vạn Hà, phường Thủy Cơ Đông Trạch, phường Thủy Cơ Biện Dương, phường Thủy Cơ Lãng Hồ… Chùa vốn có từ cổ, đến cuối thế kỷ XVII đã bị hư hỏng. Đầu đời Vĩnh Thịnh (1705-1719) nhà Lê, bà Thái phi họ Trương, vợ của Tấn Quang vương Trịnh Bính bỏ tiền của ra giúp dân xây dựng lại. Công việc hoàn tất liền nhờ Thám hoa Nguyễn Quý Đức (16481720) soạn bia ghi lại sự việc. Sau đó lại nhờ Tiến sĩ Đặng Đình Tướng (16491735) soạn thêm một bia nữa. Cả hai văn bia này đều được soạn năm Vĩnh Thịnh thứ 10 (1714), đều có kích cỡ lớn, cũng có tên là Hàm Long tự bi ký. Văn bia do Thám hoa Nguyễn Quý Đức biên soạn cho biết, chùa được xây dựng trên khu đất cao hình như con rồng nằm cuộn, ngậm viên ngọc quý nên có tên gọi là Hàm Long. Ngoài ra, ở huyện Đông Triều, trấn Hải Dương xưa (nay thuộc tỉnh Quảng Ninh) cũng có ngôi chùa tên là Hàm Long. Chùa được xây dựng trên núi thuộc xã Bích Nham, tổng Vĩnh Đại, huyện Đông Triều. Ngọn núi này có tên là Đông Sơn, dân gian quen gọi là Non Đông, nằm trong dãy núi Yên Tử. Chùa do vị Thánh tổ Vương Quán Viên khai sơn phá thạch xây dựng từ đời Trần. Vua Trần Anh tông từng ngự giá đến lễ Phật ở chùa Non Đông, và ban hiệu cho thiền sư Vương Quán Viên là Huệ Nhẫn quốc sư. Đến năm Khai Thái thứ 2 (1325), thiền sư viên tịch, nhà vua cử quan triều thần đến điếu viếng, sau lại làm thơ tán thán công đức của ngài. Câu cuối bài thơ viết: Tự tòng Viên công khứ thế hậu, Quán Viên từ buổi quy Tây, Thiên hạ Thích tử không vô nhân. Sư tăng thiên hạ chẳng ai sánh bằng. Chùa nay đã bị hư nát, song tấm bia cổ vẫn còn giữ được. Có một ngọn núi nằm trong dãy Hoàng Liên sơn hùng vĩ được mang tên núi Hàm Rồng. Núi này nằm ngay ở trung tâm thị trấn Sapa, tỉnh Lào Cai, là một trong những điểm du lịch hấp dẫn du khách. Núi Hàm Rồng gắn liền với truyền thuyết hai anh em loài rồng trốn vua cha đi chơi ở thủy cung. Bị vua cha phát hiện gọi về, rồng anh nghe thấy đã bay về trời kịp, rồng em mải chơi chốn thủy cung nên chẳng nghe thấy. Trời sập tối, rồng em mới sực tỉnh quẫy đuôi ngoi lên thì cổng trời đã đóng chặt lại. Rồng em đành phải ở lại mãi mãi hạ giới và hóa 9 thành núi đá với tư thế đầu lúc nào cũng ngẩng lên, dõi mắt về trời, nên mọi người đặt thế núi này là núi Hàm Rồng. Ở tỉnh Thừa Thiên Huế cũng có núi Hàm Long. Đến đời Nguyễn, khu vực này xây dựng ngôi chùa nổi tiếng, đó là chùa Báo Quốc, thu hút sự quan tâm của nhiều vị vua triều Nguyễn cùng nhiều người trong hoàng tộc đến ủng hộ ngôi già-lam này. Sau các tác giả Nguyễn Phúc Hồng Vịnh và Trần Viết Thọ đã sưu tầm thơ văn, bia ký ở đây, soạn ra sách HLSC. Trong Phật giáo, nhiều kinh điển đề cập đến loài rồng như hàng hộ pháp đắc lực cho đức Phật Thích-ca Mâu-ni lúc tu hành cũng như trên bước đường hoằng hoá trong suốt cuộc đời của ngài. Do đó, loài rồng được liệt vào hàng đệ tử của đức Phật. Sức mạnh, uy đức thiêng liêng của nó không những có sự biểu hiện tương đồng với hoạt động con người mà còn siêu việt hơn cả loài người. Rồng là con vật do người biến hiện thành, vừa làm hộ pháp, ủng hộ đắc lực cho đức Phật khi gặp ma chướng ác đạo, vừa trở thành đệ tử tuân thủ những lời giáo huấn của Phật. Từ hình tượng con rồng là hàng hộ pháp ủng hộ đức Phật trong kinh điển Phật giáo Ấn Độ đến hình tượng con rồng biến hoá theo kinh điển cổ đại Trung Quốc, các văn nhân thi sĩ Trung Hoa và Việt Nam đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa hai nguồn tư tưởng ấy để rồi cho ra đời nhiều áng văn chương bất hủ có liên hệ đến hình tượng rồng thiêng. Hình tượng con rồng được thể hiện ra tướng trạng của thế núi vểnh râu, hất hàm, nhe răng, chìa môi, nhếch miệng trong tác phẩm HLSC. Để mô tả thế núi Hàm Long, mở đầu bài tựa, tác giả đã dẫn nhiều danh sơn kỳ lâm trên toàn đất nước Đại Việt mang tên gọi động vật như cá, rùa, lân, phụng: “Vậy làm sao mà có núi cá (núi Song châu ngư), mà có núi rùa (tên núi ở Nghệ An), mà có núi Lân (núi Kì Lân ở Ninh Bình), mà có núi Phụng (núi Kim Phụng); các hiện tượng thiên nhiên như mây, mưa, sấm, sét cũng theo cách nhìn ấy mà có núi Mây (núi Thuý Vân), mà có núi Mưa (núi Vũ Sư), mà có núi Sấm (núi Lôi Kê), mà có núi Sét (Định Môn, quen gọi là núi Đình Môn)” [Hàm Long sơn chí tự]. Hình thế thiên nhiên kỳ vĩ khắp mọi miền ở nước ta đã tạo nên những biểu tượng đặc biệt của núi sông. Người xưa quán xét hình thế kì lạ do tạo hóa gây tạc ra như vậy mà đặt tên cho các ngọn núi, dòng sông, và núi Hàm Long, giếng Hàm Long tại Huế cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Vì vậy, Hàm Long sơn ở đây còn gọi là Hàm Long tự. 10 1.1.2. Hàm Long sơn chí mang loại hình văn học chức năng trong nền văn học trung đại Việt Nam Văn học trung đại là văn học tồn tại gắn liền với sự tồn tại của thể chế phong kiến. Nền văn học này mang đậm ý thức hệ phong kiến và chịu ảnh hưởng bởi thế giới quan và nhân sinh quan tôn giáo. Tuy nhiên, nó không phải là tiếng nói riêng của giai cấp phong kiến, tuyên truyền cho bộ máy phong kiến mà là tiếng nói của dân tộc Việt Nam, đại diện cho tư tưởng tình cảm và giá trị thẩm mỹ của người Việt. Văn học trung đại Việt Nam bắt đầu từ khi Ngô Quyền đánh tan quân Tống (938) thiết lập một nhà nước độc lập, tự chủ cho đến hết thế kỷ XIX- những năm đầu thế kỷ XX. Tuy hình thái xã hội Việt Nam trong quãng thời gian trên có thay đổi theo từng hình thái, chẳng hạn, từ giữa thế kỷ XIX (1858), xã hội Việt Nam đã dần chuyển từ xã hội phong kiến sang một hình thái xã hội khác: thực dân nửa phong kiến. Nhìn chung, hệ thống thể loại của văn học giai đoạn này vẫn có thứ bậc tôn ty, đậm tính chức năng, chịu ảnh hưởng thế giới quan tôn giáo và ý thức hệ phong kiến, cơ chế mỹ học có tính quy phạm, ước lệ, tượng trưng. Tác phẩm Hàm Long sơn chí ra đời trong giai đoạn này cũng không nằm ngoài những quy cách sáng tạo nghệ thuật ấy. Tác giả Như Như đạo nhân đã chọn một thể loại trong thể loại thơ văn trung đại để đặt tên cho tác phẩm của mình, đó là thể Chí. Theo Trung văn đại từ điển ghi: “Sách ghi chép gọi là chí 阮, cũng viết là chí 阮. [Chu lễ, Xuân quan, Tiểu lại]: ‘Nắm quyền hành về việc ghi chép của đất nước’. [Chú]: ‘Chí có nghĩa là ghi chép vậy”. [117, tr.5201]. Chí là một trong ba lối viết sử của thể kỉ truyện của sử gia, nhưng HLSC không thuộc loại hình lịch sử mà nghiêng về loại hình văn chương. Khi xác định được thể loại của văn bản, chúng ta cần xác định tác phẩm HLSC thuộc loại hình văn học nào: chức năng hành chính, lễ nghi hay chức năng nghệ thuật. Muốn xác định được tác phẩm này thuộc loại hình văn học nào thì chỉ cần dựa vào nội dung bài tựa Hàm Long sơn chí tự, chúng ta sẽ thấy được chức năng lễ nghi trong đó. - Thứ nhất, HLSC gắn với chức năng thực hành mà tác giả đã tự nguyện tuân thủ. Xét về cấu trúc văn bản thì đây là tác phẩm được tập hợp nhiều thể loại văn học thơ, từ, phú, truyện, đối liên, ngữ lục, biện thuyết, chiếu, biểu, sớ… để “tập thành” nên một tác phẩm chí với hệ thống ngôn từ đa dạng. Điều này có nghĩa, tác phẩm HLSC có hệ thống chung cho toàn văn bản ghi chép những dữ kiện quan trọng có liên quan đến Phật giáo Thuận Hóa thời chúa Nguyễn, vua Nguyễn, nhưng trong 11 mỗi văn bản lại có nhiều tiểu hệ thống, mà mỗi tiểu hệ thống mang một thể loại văn học trong nền văn học trung đại Việt Nam. - Thứ hai, HLSC mang tính quy tắc mà tác giả của nó đã tuân theo một cách nghiêm nhặt trong cách thức ghi chép. Chí phải có lạc khoản về thời gian ghi chép, địa điểm ghi chép, nhân vật ghi chép, như đoạn cuối bài tựa ghi: “Phật xuất thế năm 2956, năm Kỷ Hợi. Đệ tử pháp danh Trừng Khế, hiệu Như Như cung kính cúi đầu làm tựa”. - Thứ ba, khi HLSC là một tác phẩm mang chức năng lễ nghi [tôn giáo], tác giả đã đặt cho mình một mục đích mang tính chủ quan: “Khế tôi lạm cày trên ruộng phước, được hạt giống Phật, gặp phải những hạt giống vung vãi thế này, nơm nớp sợ rằng, nếu để tán thất rồi thì khó mà giữ lại được. Gặp lúc thầy tôi sai Khế viết chí về núi này thì cũng chính là gặp thời gặp tiết thu lấy hạt lúa. Khí cụ tốt để cất giữ có lẽ là ở đây chăng? Mặc dù thành trụ theo lẽ tuần hoàn ta không biết được nhưng phải thu cất hạt giống tích trữ cho ngày sau, để những người mang chủng tử Bà-lamôn có được hạt giống gieo trồng rộng khắp khiến cho chúng không bị tán thất thì việc ghi chép lại ở đây không phải là không có ích lợi vậy!”. Việc xác định loại hình văn học chức năng như trên để nghiên cứu HLSC cũng nhằm mục đích làm sáng tỏ giá trị nghệ thuật trong tác phẩm và thẩm định giá trị thẩm mĩ trong nền văn học trung đại Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. 1.2. Các nghiên cứu về tác giả- nhà sưu tầm và biên soạn tác phẩm Hàm Long sơn chí 1.2.1. Về Trần Viết Thọ (1836-1899) Xung quanh cuộc đời của Trần Viết Thọ, các ghi chép trong sách Hán Nôm và các khảo cứu của các học giả hiện nay, cũng đã ghi lại những mốc thời gian đáng nhớ trong quãng đời của ông. - Quốc triều khoa bảng lục do Long Cương tàng bản, Cao Xuân Dục đã cung cấp các thông tin ngắn gọn về tên tuổi, quê quán, năm sinh, năm đỗ cử nhân, năm đỗ Phó bảng: “ 阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮 ” [102,VHv.640] (Trần Viết Thọ, quê quán xã Thâm Triều, huyện Đăng Xương, tỉnh Quảng Trị. Sinh năm Bính Thân, đỗ Cử nhân năm 36 tuổi. Làm Đốc học. Nghỉ hưu), nhưng thời điểm ông ra làm Đốc học và năm tháng về hưu thì lại không ghi rõ. - Cao Xuân Dục trong Quốc triều Hương khoa lục lại không cho biết thông tin về năm sinh và năm mất của ông mà chỉ ghi rất ngắn gọn: “Trần Viết Thọ, người 12 xã Thâm Triều huyện Đăng Xương. Thi đậu Phó bảng khoa Tân Mùi (1871). Hiện là Đốc học” [12, tr. 373]. - Phạm Đức Thành Dũng và Vĩnh Cao trong công trình khảo cứu về Khoa cử và các nhà khoa bảng của triều Nguyễn đã cung cấp các thông tin khá đầy đủ về các mốc thời gian quan trọng trong cuộc đời của Trần Viết Thọ, tuy nhiên cũng chưa đưa ra được thời điểm cụ thể ông nhậm chức Đốc học cũng như năm ông cáo bệnh nghỉ hưu: “Trần Viết Thọ, người xã Thâm Triều, huyện Đăng Xương, nay thuộc huyện Triệu Hải, tỉnh Quảng Trị. Sinh năm Bính Thân (1836), Cử nhân khoa Đinh Mão (1867); đỗ Phó bảng khoa Tân Mùi (1871), năm 36 tuổi. Từng giữ chức Đốc học, sau cáo bệnh về nghỉ hưu” [15, tr. 595]. - Ngô Đức Thọ trong Các nhà khoa bảng Việt Nam đã cung cấp các thông tin liên quan đến tiểu sử (năm sinh, năm thi đỗ, ra làm quan cũng như quê quán) của Trần Viết Thọ như sau: “Trần Viết Thọ (1836 - ?), người xã Thâm Triều, huyện Đăng Xương, tỉnh Quảng Trị - Nay là xã Triệu Thuận, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Sinh năm Bính Thân. Cử nhân khoa Đinh Mão (1867). 36 tuổi đỗ Phó bảng khoa Tân Mùi, niên hiệu Tự Đức 24 (1871). Đốc học” [61, tr. 754]. - Đại Nam thực lục là bộ chính sử, ghi chép khá đầy đủ các thông tin của triều Nguyễn. Việc Trần Viết Thọ thi đậu Phó bảng cùng với các nhà Phó bảng khác như các khảo cứu nêu trên cũng có ghi lại trong bộ sách sử này: “Cho bọn Nguyễn Khuyến ba người đỗ Tiến sĩ và Đồng tiến sĩ xuất thân có thứ bậc. Lại lấy năm người đỗ Phó bảng (Tiến sĩ Nguyễn Khuyến ba lần đỗ đầu. Đồng Tiến sĩ: Nguyễn Kham, Nguyễn Xuân Ôn. Phó bảng: Trần Khánh Tiến, Nguyễn Xuân, Nguyễn Đức, Lê Doãn Nhạ, Trần Viết Thọ)” [80, tr.103]. Có thể nói, hầu hết các ghi chép, các khảo cứu nêu trên mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu một cách hết sức khái quát về tên tuổi, năm sinh, năm mất (thậm chí có khảo cứu lại không cho biết ông mất năm nào), quê quán, năm thi đậu của Trần Viết Thọ. Còn rất nhiều thông tin quan trọng liên quan đến hành trạng của một vị quan Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ này, thì lại chưa được các khảo cứu nêu trên đề cập đến. Lý giải nguyên nhân dẫn đến sự nghèo nàn thông tin liên quan đến Trần Viết Thọ, chúng tôi cho rằng sự nghiệp trước tác của ông chỉ gắn liền với những năm tháng sống cuộc đời đạm bạc chốn Thiền môn tại Huế cũng như lúc hạ thủ công phu ở quê nhà Quảng Trị nên những tư liệu nói về ông còn hạn chế. Đây là thời gian ông treo ấn từ quan, lui về nuôi dưỡng cha già và tự mình nỗ lực tu hành, bỏ ngoài thân 13 những danh lợi hão huyền của thế sự, nên ít ai biết đến cuộc sống riêng tư của ông trong thời gian này. Thật may mắn, những ghi chép về tổ đình Báo Quốc đã cung cấp những thông tin về quãng đời của ông sau khi treo ấn từ quan. Trong một khảo cứu đăng trên Tạp chí Bulletin des Amis du Vieux Hué, Laborde đã ghi thêm một đoạn ngắn về cuộc đời của Trần Viết Thọ để tưởng nhớ người Phật tử có công trong việc ghi lại lịch sử ngôi Tổ đình Báo Quốc trên núi Hàm Long: “Ajoutons quelques lignes en mémoire de M. Trần Viết Thọ, le mandarin auquel on doit un exposé historique de la pagoda. Il fut, de son vivant, Đốc Học, Directeur de l’école provinciale de Quảng Trị. Il avait 59 ans lorsque, malgre les supplications des hauts mandarins, de ses élèves et de sa famille, il demanda sa mise à la retraite et embrassa la vie monastique; sa ferveur religieusa fut telle, qu’après s’ètre soumis pendant plusieurs années à un ascétisme des plus rigoureux, il annonca un beau jour à sa femme et à ses enfants qu’il appartenait désormais au Bouddha et qu’il était prèt à lui faire le sacrifice de son corps; il mit alors lui-mème le feu à la petite paillotte dans laquelle il s’était retiré, s’assit avec sérénité au milieu du brasier, attisa tranquillement le foyer, et, un livre bouddhique en main, il se laissa stoiquement dévorer, peu à peu, par les flammes. Ceci n’est pas une légende; la fin mystique de Trần-Viết-Thọ fut connue de tous; les plus hautes personnalités de Hué, en tête desquelles furent LL. EE. les Ministres Trương-Quang-Đản, Nguyễn-Thuật, Cao-Xuân-Dục et Hoàng-Cao-Khải, honorèrent le mort de leur visite [94, tr. 241]. (Chúng ta nên thêm vài dòng để tưởng nhớ ông Trần Viết Thọ- vị quan mà nhờ ông người ta mới có một bài viết về lịch sử ngôi chùa. Lúc còn sống, ông là Đốc học, Hiệu trưởng trường tỉnh ở Quảng Trị. Năm ông 59 tuổi, mặc dù có lời thỉnh cầu khẩn thiết của nhiều thượng quan, của các học trò và gia đình, ông vẫn xin về hưu và vào tu trong chùa. Đạo tâm của ông chí thành đến độ, sau nhiều năm tu khổ hạnh nghiêm ngặt, một hôm ông tuyên bố với vợ con rằng, từ đây ông thuộc về Phật và sẵn sàng hiến dâng hình hài cho Phật; thế rồi ông tự châm lửa đốt túp lều tranh nơi ông ẩn cư, bình tĩnh ngồi giữa đám lửa, thản nhiên khêu lửa, và tay cầm cuốn kinh, điềm tĩnh để cho lửa ngọn lửa thiêu huỷ thân thể mình. Đây không phải là một huyền thoại, sự kết thúc [sự sống] thần bí của ông Trần Viết Thọ đã được mọi người biết đến. Các nhân vật cao cấp nhất ở Huế, đứng 14 đầu là các vị Thượng thư Trương Quang Đản, Nguyễn Thuật, Cao Xuân Dục và Hoàng Cao Khải đã thân hành đến viếng để tỏ sự tôn kính người quá cố). Qua bài báo của Laborde, chúng ta có thêm các thông tin quan trọng về Trần Viết Thọ: ông từng làm Đốc học trường tỉnh ở Quảng Trị trước khi hồi hưu; ông chính thức cáo quan về tu ở chùa Báo Quốc vào năm 59 tuổi; nhờ ông soạn cuốn Báo Quốc tự sự lục (BQTSL) mà mọi người sau này mới biết rõ về ngôi Tổ đình Báo Quốc, đồng thời cũng hiểu thêm về hạnh nguyện cao cả của ông. - Sách Đại Nam thực lục ghi: “Tháng 12,… Tuần Phủ Quảng Trị, Quảng Bình là Nguyễn Văn Thi dâng tập tâu trình bày: ‘Bọn nguyên Thị giảng học sĩ, sung Toản tu Quốc sử quán, đã hưu dưỡng là Vũ Tử Văn; nguyên Thị độc lĩnh Án sát Phú Yên, sung Thương tá tỉnh ấy là Nguyễn Chất; Trước tác lĩnh Đốc học tỉnh ấy là Trần Viết Thọ; về Hàm Nghi năm đầu [1885], bọn giặc sấn vào tỉnh thành cướp lấy ấn quan phòng và khí giới, thế rất hoành hành, các viên ấy nghe biến, biết thân đến hiểu dụ, nghiêm sắc mặt trách mắng bọn ấy giao trả ấn quan phòng, ra khỏi thành giải tán; bọn ấy đã không chịu nhục với giặc, lại biết đuổi giặc, nghĩ nên khen thưởng để khuyến khích’. Chuẩn cho đều thăng 1 trật” [90, tr. 446]. - Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm trong Lịch sử Phật giáo xứ Huế, có ghi: “Điềm Tịnh cư sĩ: tên thật của ông là Trần Viết Thọ, quán xã Thâm Triều tổng Bích La huyện Thuận Xương phủ Triệu Phong- Quảng Trị. Sinh vào năm Minh Mệnh thứ 17, Bính Thân (1836). Ông vốn là một nhà Nho khoa bảng, có tự là Sơn Phủ, hiệu là Điềm Tịnh cư sĩ. Ông thi đậu Phó bảng vào năm Tự Đức thứ 24, Tân Mùi (1871), ông đã xuất chính, trải qua các chức Tri huyện, Tri phủ. […] Điềm Tịnh cư sĩ đã cùng với hòa thượng Tăng Cang chùa Diệu Đế soạn quyển Báo Quốc sự lục, cùng các trước tác khác và đặt tên sách là Hàm Long sơn chí; lúc ấy làm được hai cuốn” [4, tr. 377]. - Nguyễn Phước Tương trong Phó bảng Trần Viết Thọ - con người khẳng khái, ung dung, mở đầu bài nghiên cứu đã viết: “Phó bảng Trần Viết Thọ sinh ngày rằm tháng 9 năm Bính Thân, tức ngày 24 tháng 10 năm 1806, dưới thời vua Gia Long (1802-1820) tại làng Thâm triều, huyện Đăng Xương, tỉnh Quảng Trị nay là xã Triệu Tài huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị trong một gia đình nho học. Ông có húy là Thanh Phúc, tự là Chu Toàn, hiệu là Điềm Tịnh. Ông cũng có tên tu hành là Cư sĩ Đại Sư” [82, tr.81]. Qua bài viết, Nguyễn Phước Tương đã nhầm lẫn hai chỗ: Thứ nhất, năm Bính Thân (1836) thuộc niên hiệu vua Minh Mệnh chứ không phải niên hiệu Gia 15
- Xem thêm -