Khóa luận tốt nghiệp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty tnhh tin học trần minh

  • Số trang: 64 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 21 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 27372 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG ---o0o--- KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI: NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH TẠI CÔNG TY TNHH TIN HỌC TRẦN MINH SINH VIÊN THỰC HIỆN : TRẦN DIỄM VÂN MÃ SINH VIÊN : A17076 CHUYÊN NGÀNH : TÀI CHÍNH HÀ NỘI - 2014 LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ngày nay, công nghệ thông tin đã và đang phát triển mạnh mẽ và đã trở thành một phần không thể thiếu trong xã hội hiện đại và mang lại nhiều tiện ích cho con người trong mọi mặt của đời sống, kinh tế và xã hội. Đặc biệt là trong lĩnh vực kinh doanh, CNTT có thể giúp doanh nghiệp tăng lợi thế cạnh tranh và vị thế của mình trên thị trường. Việt Nam là tuy chưa có sự phát triển mạnh về CNTT, tuy nhiên từ sau khi gia nhập các tổ chức thương mại quốc tế các doanh nghiệp trong nước đã ý thức hơn về tầm quan trọng của vấn đề này và dần chuyển sang áp dụng CNTT vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tăng hiệu quả sản xuất . Việc ứng dụng có chất lượng và hiệu quả CNTT vào các lĩnh vực thu thập, xử lý, lưu trữ và truyền đạt thông tin kinh tế - xã hội sẽ nâng cao nhanh chóng khả năng tiếp cận và cập nhật thông tin trên thị trường quốc tế, giúp cho các nhà quản trị ra quyết định kinh doanh đúng đắn, kịp thời. Hơn nữa khi cuộc sống con người ngày càng phát triển thì nhu cầu khám phá thế giới xung quanh dường như đã trở thành điều không thể thiếu và khoảng cánh địa lý không còn là khoảng cách khi áp dụng CNTT vào quá trình tìm kiếm, kết nối, học tập,… Ngành CNTT phát triển mạnh mẽ kéo theo đó là những dịch vụ đi kèm như bán linh kiện, bảo hành,… cũng có nhiều khởi sắc. Tuy nhiên trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa thì ngành kinh doanh hấp dẫn này vẫn tồn tại nhiều thách thức. Mỗi một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này đều cần có bản sắc để thu hút khách hàng, nâng cao lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Chính sách mở cửa trong nền kinh tế thị trường đã đặt các ngành CNTT nói chung đứng trước một sự cạnh tranh gay gắt, chịu sức ép từ các doanh nghiệp trong nước và quốc tế. Nhất là với tốc độ gia tăng, cải tiến về CNTT thì việc nâng cao hiệu quả kinh doanh trở thành thách thức đối với mỗi doanh ngiệp. Nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, tận dụng hợp lý và hiệu quả nguồn nhân lực của doanh nghiệp để đạt mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, do vậy, trong quá trình nghiên cứu thực tiễn tại Công ty TNHH Tin học Trần Minh và kết hợp với những kiến thức đã học, em đã chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Công ty TNHH Tin học Trần Minh” làm khóa luận tốt nghiệp cho mình. 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. - Phạm vi nghiên cứu: Phân tích hiệu quả kinh doanh của công ty TNHH Tin học Trần Minh giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2013 nhằm tìm kiếm những giải pháp 1 Thang Long University Library khắc phục hạn chế và nâng cao hiệu quả tài chính của công ty thông qua các chỉ tiêu trên cơ sở lý luận và số liệu dựa trên báo cáo tài chính. 3. Mục đích nghiên cứu - Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả hoạt động kinh doanh của - doanh nghiệp. Phân tích, đánh giá thực trạng lợi nhuận của Công ty TNHH Tin học Trần Minh. - Đề quyết giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Công ty TNHH Tin học Trần Minh. 4. Phương pháp phân tích Phương pháp phân tích chủ yếu của khóa luận là phương pháp tỷ số, phương pháp so sánh và mô hình Dupont. 5. Kết cấu khóa luận Khóa luận tốt nghiệp bao gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận chung về hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng hiệu quả kinh doanh tại công ty TNHH Tin học Trần Minh. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty TNHH Tin học Trần Minh. 2 PHẦN 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Khái quát chung về hiệu quả kinh doanh 1.1.1 Khái niệm về hiệu quả kinh doanh Kinh doanh là việc thực hiện một số hoặc tất cả của quá trình đầu tư sản xuất đến tiêu thụ hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời. Sản xuất kinh doanh có hiệu quả giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Trên cơ sở đó, có thể hiểu hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân tài, vật lực, nguồn vốn,…) của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất để đạt được mục tiêu kinh doanh cao nhất. Hiệu quả kinh doanh của các doanh ngiệp hiện nay được đánh giá dựa trên hai phương diện là hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp phản ánh sự đóng góp của doanh nghiệp vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của nền kinh tế quốc dân. Hiệu quả xã hội của doanh nghiệp được biểu hiện thông qua hoạt động góp phần nâng cao trình độ văn hóa xã hội và lĩnh vực thỏa mãn nhu cầu hàng hóa – dịch vụ, góp phần nâng cao văn minh xã hội… Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì quá trình hoạt động kinh doanh phải đem lại hiệu quả. Điều mà các doanh nghiệp quan tâm nhất là hiệu quả kinh tế bởi có hiệu quả kinh tế thì doanh nghiệp mới tồn tại và phát triển được. Trong khóa luận này khi nhắc đến hiệu quả kinh doanh chỉ xét trên phương diện hiệu quả kinh tế. Chỉ tiêu phản ánh tổng quát nhất hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được xác định bằng công thức: Kết quả đầu ra Hiệu quả kinh doanh = Chi phí đầu vào Chỉ tiêu này phản ánh để tạo ra một đồng chi phí đầu vào trong kỳ thì thu về được bao nhiêu đồng kết quả đầu ra, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng lớn. Kết quả đầu ra, có thể được tính bằng chỉ tiêu tổng tài sản, doanh thu, lợi nhuận,... Chi phí đầu vào có thể được tính bằng các chỉ tiêu: giá thành sản xuất, giá vốn hàng bán, tư liệu lao động, vốn cố định. 1.1.2 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh Nâng cao hiệu quả kinh doanh là mục tiêu của tất cả các doanh nghiệp, là vấn đề xuyên suốt được thể hiện qua công tác quản lý. Tất cả các công tác quản lý như quản lý 3 Thang Long University Library tài chính, quản lý nhân sự, marketing,... cuối cùng đều nhằm mục đích là tạo ra kết quả và hiệu quả cao nhất trong quá trình kinh doanh. Tất cả những cải tiến, những thay đổi mới về nội dung, phương pháp áp dụng trong các công tác quản lý chỉ thực sự đem lại ý nghĩa khi chúng làm tăng được hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh được doanh nghiệp xác định như vấn đề sống còn, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì trước hết đòi hỏi kinh doanh phải có hiệu quả, phải có lãi để tăng nguồn tích lũy hàng năm cho mục tiêu tái đầu tư mở rộng kinh doanh. Hiệu quả kinh doanh càng cao thì doanh nghiệp càng có điều kiện tái đầu tư nâng cấp máy móc, đổi mới công nghệ. Kinh doanh có hiệu quả là tiền đề để tăng phúc lợi cho người lao động và xã hội. Các doanh nghiệp thông qua phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh, sẽ đánh giá được trình độ sử dụng và tiết kiệm các nguồn lực đã có. Thông qua đó sẽ thúc đầy tiến bộ khoa học công nghệ, tạo cơ sở cho việc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa sản xuất kinh doanh. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm của mình, đề ra các biện pháp khai thác mọi năng lực để nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng khả năng cạnh tranh, tăng tích lũy, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động. Thông qua ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh, chúng ta thấy nâng cao hiệu quả kinh doanh là vô cùng cần thiết cho tất cả các doanh nghiệp. Trong cơ chế thị trường hiện nay, nâng cao hiệu quả kinh doanh là điều kiện cần để các doanh nghiệp kinh doanh tồn tại và phát triển. 1.1.3 Phương pháp phân tích hiệu quả kinh doanh - Phương pháp phân tích tỷ số: Dựa trên các mối quan hệ đại lượng giữa các chỉ tiêu với nhau, sự biến đổi tỷ lệ này làm biến đổi các đại lượng kinh tế khác. Sự biến đổi các tỷ lệ này, cố nhiên là sự biến đổi của các đại lượng của chỉ tiêu khác. Về nguyên tắc, phương pháp phân tích tỷ số yêu cầu cần phải xác định được các ngưỡng, các định mức chuẩn để so sánh. Trên cơ sở so sánh về tỷ lệ các chỉ tiêu kinh tế với giá trị của các tỷ lệ định mức chuẩn, có thể rút ra những kết luận về tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong phân tích hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, các tỷ lệ của những chỉ tiêu kinh tế được phân tích từ các nhóm đặc trưng phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục tiêu của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đó là các nhóm khả năng thanh toán, nhóm khả năng quản lý tài sản, nhóm quản lý nợ, nhóm khả năng sinh lời,... Trong mối nhóm tỷ lệ lại bao gồm các nhóm tỷ lệ chi tiết hay riêng lẻ, từng bộ phận, từng mặt, từng khâu, từng giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong mỗi trường hợp khác nhau, tùy theo mục tiêu phân tích có thể lựa chọn các nhóm 4 chỉ tiêu khác nhau phù hợp với mục đích phân tích cụ thể của từng doanh nghiệp, trong từng thời kỳ. - Phương pháp so sánh: So sánh là phương pháp dùng để xác định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích. Vì vậy, để tiến hàng so sánh cần xác định được số gốc để so sánh, xác định được điều kiện và mục tiêu so sánh.Vì vậy để tiến hành so sánh phải giải quyết những vấn đề cơ bản như: xác định số gốc để so sánh, điều kiện so sánh và mục tiêu so sánh. Xác định số gốc để so sánh phụ thuộc vào mục đích cụ thể của phân tích. Để đảm bảo tính chất so sánh được của chỉ tiêu thời gian, cẩn đảm bảo phải có sự thống nhất về nội dung kinh tế, phương pháp tính và đơn vị của các chỉ tiêu. Ngoài ra, cần xác định mục tiêu so sánh trong phân tích báo cáo tài chính, nhằm xác định mức biến động tuyệt đối và mức biến động tương đối cùng xu hướng biến động của chỉ tiêu phân tích. Nội dung so sánh bao gồm: + So sánh giữa số thực tế kỳ phân tích với số thực tế của kỳ kinh doanh trước nhằm xác định rõ xu hướng thay đổi về tình hình hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Đánh giá tốc độ tăng trưởng hay giảm đi của các hoạt động tài chính của doanh nghiệp. + So sánh giữa số thực tế kỳ phân tích với số kỳ kế hoạch nhằm xác định mức phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ kế hoạc trong mọi mặt của hoạt động tài chính của doanh nghiệp. + So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình tiên tiến của ngành, của doanh nghiệp khác nhằm đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tốt hay xấu, khả quan hay không khả quan. - Mô hình Dupont: Người ta vận cụng mô hình Dupont để phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính, từ đó phát hiện ra những nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích của một trình tự chặt chẽ. Mô hình Dupont thường được vận dụng trong phân tích tài chính có dạng: Tỷ suất sinh lời của tài sản Lợi nhuận thuần = Tổng tài sản Tỷ suất sinh lời của tài sản = Lợi nhuận thuần = Doanh thu thuần Tỷ suất sinh lời của doanh thu Doanh thu thuần x x Tổng tài sản Số vòng quay của tài sản 5 Thang Long University Library Từ mô hình phân tích trên cho thấy, để nâng cao khả năng sinh lời của một đống tài sản mà doanh nghiệp đang sử dụng, quản trị doanh nghiệp phải nghiên cứu biện pháp nhằm nâng cao khả năng sinh lời của doanh thu và sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Số vòng quay của tài sản càng cao, điều đó chứng tỏ rằng mức sản xuất tài sản của doanh nghiệp càng lớn. Muốn làm cho tỉ suất sinh lời của tài sản càng lớn cần nâng cao số vòng quay của tài sản, một mặt phải tăng quy mô về doanh thu thuần, mặt khác phải sử dụng tiết kiệm và hợp lý về cơ cấu tài sản. Ngoài ra, tỷ suất sinh lời cũng là một nhân tố quan trong mà phụ thuộc vào hai nhân tố cơ bản, đó là tổng lợi nhuận thuần và doanh thu thuần. Hai nhân tố có quan hệ cùng chiều, doanh thu tăng thì lợi nhuận thuần cũng tăng. Để tăng quy mô về doanh thu thuần ngoài việc phải giám sát các khoản giảm trừ doanh thu, mở rộng thị phần thì phải tăng cường kiểm soát chi phí. Phân tích Dupont giúp có thể đánh giá hiệu quả kinh doanh một cách sâu sắc và toàn diện. Đồng thời, đánh giá đầy đủ và khách quan đến những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó đưa ra biện pháp cải tiến bộ máy quản lý, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp ở các kỳ kinh doanh tiếp theo. 1.2 Nội dung phân tích hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 1.2.1 Phân tích tình hình doanh thu- chi phí- lợi nhuận Phân tích doanh thu Doanh thu của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền sẽ thu được do tiêu thụ sản phẩm, cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính cà các hoạt động khác của doanh nghiệp. Trong kinh tế học, doanh thu thường được xác định bằng giá bán nhân với sản lượng. Trong quá trình hoạt động cũng như hoạt động phân tích tài chính, mẫu báo cáo kết quả kinh doanh theo quy định của Nhà nước thường chia doanh thu thành nhiều phần khác nhau. Khi phân tích doanh thu, các nhà quản trị sẽ đánh giá mức độ quy mô của doanh thu và so sánh thình hình biến động giữa kỳ phân tích và kỳ gốc. Từ đó xác định các nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu và đánh gia tốc độ tăng trưởng doanh thu của doanh nghiệp qua từng kỳ. Tỷ lệ tăng trưởng doanh thu cho biết mức tăng trưởng doanh thu tương đối (tính theo phần trăm) qua các thời kỳ. Tỷ lệ này nhỏ hơn không đồng nghĩa với tăng trưởng âm. Trường hợp doanh thu của một trong số các kỳ trước kỳ hiện tại bằng không thì tỷ lệ tăng trưởng doanh thu là không xác định. (thường chỉ xảy ra nếu kỳ báo cáo là quý, hoặc trong năm hoạt động đầu tiên của doanh nghiệp). Doanh nghiệp có tỷ lệ tăng trưởng doanh thu cao thường đang trong giai đoạn phát triển mạnh, thị phần tăng hoặc đang mở rộng kinh doanh sang các thị trường hoặc lĩnh 6 vực mới. Tùy vào xu hướng của tỷ lệ tăng trưởng doanh thu mà mức tăng trưởng được đánh giá là bền vững, không ổn định, phi mã hay tuột dốc. Những doanh nghiệp có mức tăng trưởng doanh thu ổn định ở mức cao luôn được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm. Phân tích chi phí Chi phí là tổng hợp viếc sử dụng các yêu tố sản xuất trong chu kỳ. Biến động chi phí tăng hay giảm phản ánh trình độ điều hành, khai thác và sử dụng tổng hợp các yếu tố sản xuất kinh doanh. Khi phân tích yếu tố chi phí, dựa trên báo cáo kết quả kinh doanh mà đánh giá yêu tố tăng giảm của chi phí từ đó tìm ra nguyên nhân và có những chính sách phù hợp. Thêm vào đó so sánh hệ số thực hiện chi phí qua các kỳ kinh doanh, xem hệ số này biến động như thế nào qua các kỳ kinh doanh, tốc độ có tăng ổn định hay không. Việc tính tỷ trọng của từng bộ phận chi phí trên tổng số chi phí cũng vô cùng quan trọng, việc đánh giá như vậy giúp phát hiện được đâu là nguồn chi phí chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số chi phí, từ đó đối với từng mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra sẽ có những biện pháp cụ thể nhằm làm tăng hay giảm chi phí đi. Tỷ trọng của từng bộ phận chi Giá trị từng bộ phận chi phí phí chiếm trong tổng số chi phí = Tổng số chi phí x 100 Lợi nhuận Lợi nhuận luôn là một yếu tố mà mỗi doanh nghiệp đều muốn hướng đến. Nó là thước đo giúp doanh nghiệp thu hút các nhà đầu tư vào công ty. Đứng trên góc độ nhà đầu tư muốn đầu tư lâu dài vào công ty và muốn có cơ hội quản lý công ty thì con số lợi nhuận mà được chia hàng năm là điều mà họ xem xét tới. Còn đứng trên góc độ một người cho công ty vay vốn thì họ sẽ xem sét và đánh giá thẩm định tình hình tài chính của công ty sẽ dựa chủ yếu vào nguồn lợi nhuận được tạo ra. Lợi nhuận của công ty được tính dựa trên doanh thu trừ chi phí, nó là chỉ tiêu trung gian phản ánh giá trị doanh thu, chi phí có mối quan hệ đối ứng với nhau. Từ các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính thông qua sự biến động giữa kỳ phân tích và kỳ gốc ( cả về số tuyệt đối và số tương đối) có thể thấy được xu hướng biến động cũng như những nhân tố ảnh hưởng tới mức tăng, giảm lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp. Từ đó, tổng hợp các nhân tố để thấy được nhân tố nào có mức ảnh hưởng cao nhất. Trường hợp tốc độ tăng trưởng của doanh thu bán hàng nhanh hơn tốc độ tăng của giá vốn bán hàng chứng tỏ trình độ kiểm soát chi phí sản xuất của nhà quản trị là tốt. Trường hợp tốc độ tăng của doanh thu thấp hơn tốc độ tăng của chi phí bán hàng, nhà quản trị cần xem xét yếu tố chi phí có phù hợp với các giai đoạn của chu kỳ sản phẩm hay không. 7 Thang Long University Library Thông qua kết quả phân tích có cơ sở đưa ra các biện pháp kiểm soát chi phí tốt hơn và xây dựng các định mức chi phí khoa học nhằm tối thiểu hóa chi phí. 1.2.2 Phần tích tình hình tài sản - nguồn vốn Phân tích cơ cấu tài sản – nguồn vốn tức là phân tích cơ cấu và sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp như thế nào, là xem xét và đánh giá dự thay đổi các chỉ tiêu cuối kỳ so với đầu kỳ trên Bảng cân đối kế toán về nguồn vốn và cách thức sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp. Phân tích kết cấu tài sản và nguồn vốn là việc so sánh cuối kỳ và đầu kỳ về số tuyệt đối và số tương đối, ta còn so sánh, đánh giá tỷ trọng từng loại tài sản và nguồn vốn chiếm trong tổng số và xu hướng biến dộng của chúng. Phân tích tài sản Sử dụng vốn huy động hợp lý, hiệu quả không những giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí huy động vốn mà còn giúp doanh nghiệp tiết kiệm được số vốn đã huy động. Sử dụng hợp lý, hiệu quả số vốn đã huy động được thể hiện trước hết ở chỗ số vốn đã huy động được đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh hay bộ phận tài sản nào. Qua phân tích cơ cấu tài sản nhà quản lý sẽ nắm được tình hình đầu tư số vốn đã huy đông, biết được việc sử dụng vốn đã hợp lý hay chưa và có phục vụ cho mục đích kinh doanh của doanh nghiệp hay không. Phân tích cơ cấu tài sản được thực hiện bằng cách tính ra và so sánh tình hình biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc về tỷ trọng của từng bộ phận chiếm trong tổng tài sản. Tỷ trọng đó được xác định bằng công thức: Tỷ trọng của từng bộ phân tài sản Giá trị từng bộ phận tài sản chiếm trong tổng số tài sản = Tổng tài sản x100 Việc xem xét tỷ trọng từng loại tài sản chiếm trong tổng số tài sản và xu hướng biến động của chúng theo thời gian để thấy được mức độ phân bổ. Việc đánh giá được dựa trên tính chất kinh doanh và tình hình biến động của từng bộ phân. Trong điều kiện cho phép, có thể xem xét và so sánh sự biến động về tỷ trọng của từng bộ phân tài sản chiếm trong tổng số tài sản của doanh nghiệp qua nhiều năm và so với cơ cấu chung của ngành để đánh giá. Việc xem xét tình hình biến động về tỷ trọng của từng bộ phận tài sản chiếm trong tổng tài sản của kỳ phân tích so với kỳ gốc cho phép nhà quản lý đánh giá được khái quát tình hình phân bổ nguồn vốn nhưng không cho nhân tố ảnh hưởng đến sự thay đổi cơ cấu tài sản doanh nghiệp. Vì vậy các nhà phân tích còn phải kết hợp cả việc phân tích ngang, 8 tức là so sánh cả số tuyệt đối và số tương đối sự biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc trên tổng tài sản theo từng loại. Tài sản ngắn hạn: - Về tiền và các khoản tương đương tiền: Căn cứ vào nhu cầu thực tế về tiền của doanh nghiệp trong từng giai đoạn để nhận xét. Khoản mục này có thể tăng hoặc giảm không phải do ứ đọng hay thiếu tiền mà có thể là doanh nghiệp đang có kế hoạch tập trung tiền chuẩn bị đầu tư mua sắm vật tư, tài sản hay do doanh nghiệp vừa đầu tư một lĩnh vực kinh doanh nào đó. Tuy nhiên, ta cũng cần xem xét thêm tỷ trọng của tiền chiếm bao nhiêu trên tài sản, nếu chỉ tiêu này quá cao thì tiền của doanh nghiệp bị nhàn rỗi, vốn không được huy động trong quá trình sản suất kinh doanh, còn quá thấp thì không đảm bảo được quá trình hoạt động kinh doanh được diễn ra liên tục - Về đầu tư tài chính: Khi xem xét khoản đầu tư này ta cần liên hệ với chính sách đầu tư của doanh nghiệp với môi trường đầu tư trong từng thời kỳ, vì không phải doanh nghiệp nào cũng có điều kiện đầu tư tài chính. Tỷ trọng các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn trên tổng tài sản ngắn hạn phản ánh khả năng tạo ra nguồn lợi tức trong thời gian ngắn hạn cho doanh nghiệp. - Các khoản phải thu: Khoản phải thu này tăng hoặc giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau vì thế khi phân tích cần liên hệ với phương thức tiêu thụ, chính sách tín dụng bán hàng, chính sách tín dụng bán hàng, khả năng quản lý nợ,... của công ty. Từ đó, phân tích và đánh giá để đưa ra chính sách phù hợp và cụ thể. Chẳng hạn, nếu doanh nghiệp áp dụng phương thức bán lẻ là chủ yếu thì số nợ phải thu sẽ thấp vì hàng bán ra sẽ được nhận tiền ngay, ngược lại, nếu doanh nghiệp áp dụng phương thức bán buôn làm chủ yếu thì tỷ trọng nợ sẽ cao do đặc trưng của phương thức này là thanh toán chậm. Tuy nhiên, nhìn chung chỉ tiêu khoản phải thu trên tài sản càng cao, chứng tỏ các khoản phải thu càng lớn. Điều đó thể hiện vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng ngày càng nhiều, doanh nghiệp cần có biện pháp thúc đẩy quá trình thu hồi nợ. - Hàng tồn kho: Lượng hàng tồn kho được dự trữ hợp lý là lượng dự trữ vừa đáp ứng nhu cầu kinh doanh liên tục, vừa không tăng chi phí tồn kho do ứ đọng vốn.Khi xem xét lượng hàng tồn kho chiếm trong tổng số tài sản cần liên hệ với ngành nghề kinh doanh và chu kỳ sống của sản phẩm. Chẳng hạn, trong các doanh nghiệp kinh doanh thương mại, đối tượng kinh doanh là hàng hóa thường có tỷ trọng hàng tồn kho lớn hơn so với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ. Tương tự, khi sản phẩm, hàng hóa ở giai đoạn tăng trưởng, lượng dự trữa hàng hóa thường cao để đáp ứng nhu cầu chiếm lĩnh thị trường; còn khi sản phẩm, hàng hóa ở giai đoạn suy thoái, để tránh rủi ro lượng hàng tồn kho thường giảm. 9 Thang Long University Library Tài sản dài hạn: Tỷ trọng tài sản dài hạn chiếm trong tổng số tài sản trước hết phụ thuộc vào ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh. Sau nữa, còn phụ thuộc vào chính sách đầu tư, chu kỳ kinh doanh và phương pháp khấu hao được áp dụng. Tỷ trọng tài sản dài hạn của doanh nghiệp càng lớn chứng tỏ cơ sở vật chất của doanh nghiệp càng được đầu tư cao, quy mô năng lực sản xuất càng được mở rộng. Phân tích nguồn vốn Nội dung phân tích này cho ta biết trong một chu kỳ kinh doanh nguồn vốn tăng giảm bao nhiêu, tình hình sử dụng nguồn vốn như thế nào, những chi tiêu nào là phản ánh chủ yếu đến sự tăng giảm của nguồn vốn của doanh nghiệp. Từ đó, có giải pháp khai thách nguồn vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp. Toàn bộ tài sản của doanh nghiệp có thể được hình thành từ hai nguồn là nguồn vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. Cụ thể, nhà phân tích cần tính ra và so sánh tình hình biến động giữa kỳ phân tích và kỳ gốc về tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số nguồn vốn. Tỷ trọng đó được xác định bằng công thức: Tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số tài sản Giá trị từng bộ phận nguồn vốn = x100 Tổng nguồn vốn Tuy nhiên, việc xem xét tình hình biến động của tỷ trọng này lại không cho nhà quản lý biết được những nhân tố ảnh hưởng đến sự thay đổi cơ cấu nguồn vốn mà doanh nghiệp huy động. Vì vậy để có cái nhìn tổng quan hơn, nhà quản lý còn phải kết hợp với phân tích ngang, tức là so sánh biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc (cả số thuyệt đối và số tương đối ) trên tổng số vốn cũng như theo từng loại nguồn vốn. Nợ phải trả: Vấn đề đặt ra là phải sử dụng các khoản nợ có hiệu quả để đảm bảo có khả năng thanh toán và có tích lũy để mở rộng và phát triển doanh nghiệp. Khi phân tích ta xem xét tỷ trọng nợ phải trả trên tổng nguồn vốn, nếu chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ trong tổng số vốn mà doanh nghiệp đang quản lý và sử dụng chủ yếu là do vốn vay mà có. Nếu trên thực tế là như vậy thì doanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều khó khăn về tình hình tài chính và rủi ro về tài chính sẽ tăng lên. Nguồn vốn chủ sở hữu: Đây là nguồn vốn ban đầu, quan trọng do chủ sở hữu là doanh nghiệp bỏ ra để tạo nên các loại tài sản nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh, ngoài ra VCSH còn được bổ sung thêm trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Nguồn VCSH có đặc điểm là nguồn sử dụng dài hạn và không cần cam kết thanh toán. Tỷ trọng nguồn VCSH trong tổng số nguồn vốn của doanh nghiệp càng lớn chứng tỏ 10 tình hình tài chính của doanh nhiệp là ổn định, có thể đảm bảo cho việc chủ động vốn cho mọi nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh, rủi ro tài chính sẽ giảm. Phân tích cân bằng giữa tài sản và nguồn vốn Để đảm bảo có đủ tài sản cho hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải tập hợp các biện pháp tài chính cần thiết cho việc huy động nguồn vốn. Nhu cầu vốn của doanh nghiệp tại bất cứ thời điểm nào cũng chính bằng tổng tài sản doanh nghiệp cần phải có để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Có thể phân nguồn vốn thành hai loại: - Nguồn vốn thường xuyên (nguồn vốn dài hạn): là nguồn mà doanh nghiệp được sử dụng thường xuyên, lâu dài vào hoạt động kinh doanh. Bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn vay nợ dài hạn trung hạn (trừ nợ quá hạn) - Nguồn vốn tạm thời (nguồn vốn ngắn hạn): là nguồn mà doanh nghiệp tạm thời được sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong một khoảng thời gian ngắn. Thuộc nguồn tài trợ tạm thời bao gồm các khoản vay ngắn hạn, nợ ngắn hạn, các khoản vay nợ quá hạn (kể cả vay nợ dài hạn), các khoản chiếm dụng bất hợp pháp của người mua, người bán và cán bộ công nhân viên chức. Phân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, cần tính ra và so sánh tổng nhu cầu về tài sản (TSNH, TSDH) với nguồn vốn CSH hiệu có và nguồn vốn vay nợ dài hạn. Nếu tổng số nguồn có đủ hoặc lớn hơn tổng số nhu cầu về tài sản thì doanh nghiệp cần sử dụng số thừa này hợp lý, tránh bị chiếm dụng. Nếu nguồn vốn không đáp ứng đủ nhu cầu về tài sản thì doanh nghiệp cần có biện pháp để huy động và sử dụng phù hợp, tránh bị chiếm dụng bất hợp pháp. Một trong các nguyên tắc trong quản lý tài chính là doanh nghiệp phải dùng nguồn vốn thường xuyên để hình thành tài sản dài hạn và nguồn vốn thường xuyên để đầu tư hình thành tài sản ngắn hạn, phần dư giữa tài sản và nguồn vốn được gọi là vốn lưu động ròng. Vốn lưu động ròng = Nguồn vốn dài hạn - TSDH = TSNH - Nợ ngắn hạn Kết quả tính toán xảy ra một trong ba trường hợp sau: Trường hợp 1: Vốn lưu động ròng lớn hơn 0, nguồn vốn dài hạn dư thừa đầu tư vào tài sản dài hạn, phần dư thừa đó đầu tư vào tài sản lưu động. Tài sản ngắn hạn > nguồn vốn ngắn hạn, do vậy khả năng thanh toán của doanh nghiệp tốt. Trường hợp 2: Vốn lưu động ròng bằng 0, có nghĩa là nguồn vốn dài hạn đủ tài trợ cho tài sản dài hạn và tài sản ngắn hạn, đủ cho doanh nghiệp trả các khoản nợ ngắn hạn, tình hình tài chính như vậy là lành mạnh. 11 Thang Long University Library Trường hợp 3: Vốn lưu động ròng nhỏ hơn 0, nguồn vốn dài hạn không đủ để tài trợ cho tài sản dài hạn. Doanh nghiệp phải đầu tư một phần vốn ngắn hạn vào tài sản dài hạn, tài sản ngắn hạn không đáp ứng đủ nhu cầu thanh toán nợ ngắn hạn, cán cân thanh toán của doanh nghiệp mất cân bằng, doanh nghiệp phải dùng một phần tài sản dài hạn để thanh toán nợ ngắn hạn đến hạn trả. Như vậy, vốn lưu động ròng là chỉ tiêu tổng hợp để đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, chỉ tiêu này cho biết hai điều cốt yếu: một là, doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn không; hai là, tài sản dài hạn của doanh nghiệp có được tài trợ một cách vững chắc bằng nguồn vốn hài hạn Tuy nhiên để đánh giá cân bằng tài chính trong dài hạn, ta cần phải xem xét vốn lưu động ròng trong chuỗi thời gian thì mới dự toán những khả năng triển vọng về cân bằng tài chính trong tương lai. Phân tích vốn lưu động ròng qua nhiều kỳ sẽ có những trường hợp sau: - Nếu vốn lưu động ròng giảm và âm: đánh giá mức độ an toàn và bền vững tài chính của doanh nghiệp giảm, vì doanh nghiệp phải sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho TSDH. Doanh nghiệp sẽ gặp áp lực về thanh toán ngắn hạn và có nguy có phá sản nếu không thanh toán đúng hạn và có hiệu quả kinh doanh thấp. - Nếu VLĐ ròng dương và tăng qua nhiều năm: đánh giá mức anh toàn của doanh nghiệp là tốt vì không chỉ TSDH mà cả TSNH được tài trợ bằng nguồn vốn thường xuyên. Tuy nhiên để phân tích kỹ lưỡng cần phải xem xét các bộ phận cấu thành nguồn vốn thường xuyên. Để đạt được mức an toàn như thế thì doanh nghiệp phải tăng vốn chủ sở hữu hay tăng nợ dài hạn. Nếu tăng vốn chủ sở hữu thì tính độc lập về tài chính của doanh nghiệp sẽ tăng nhưng giảm đi hiệu ứng đòn bẩy nợ. Ngược lại, tăng nợ dài hạn thì hiệu ứng đòn bẩy tài chính sẽ phát huy tác dụng nhưng phải chịu rủi ro về sử dụng nợ. Còn nếu vốn lưu động ròng dương và tăng liên tục do thanh lý tài sản dài hạn, làm giảm quy mô tài sản dài hạn thì chưa thể kết luận tính an toàn về tài chính có thể doanh nghiệp đang trong thời kỳ suy thoái, phải thanh lý TSDH. - Nếu vốn lưu động ròng có tính ổn định: Nghĩa là không tăng, không giảm hoặc có tăng, có giảm nhưng không đáng kể qua nhiều năm điều đó thể hiện các hoạt động của doanh nghiệp đang trong trạng thái ổn định. 1.2.3 Phân tích lưu chuyển tiền thuần trong doanh nghiệp Báo cáo lưu chuyển tiền là một báo cáo tài chính tổng hợp phản ảnh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh sau kỳ hoạt động của doanh nghiệp.Thông qua phân tích Báo cáo lưu chuyển tiền, các đối tượng quan tâm sẽ biết được doanh nghiệp tạo tiền bằng 12 cách nào, hoạt động nào là hoạt động chủ yếu để tạo ra tiền, doanh nghiệp đã chi tiền vào mục đích gì và việc sử dụng nó có hợp lý hay không? Quá trình lưu chuyển tiền ở doanh nghiệp chia thành ba hoạt động là hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư vào hoạt động tài chính. Xét tổng thể trên toàn doanh nghiệp sẽ thấy dòng tiền được điều hòa như thế nào giữa ba hoạt động đó. Lưu chuyển tiên thuần từ hoạt động kinh doanh âm (thu < chi) thể hiện quy mô đầu tư của doanh nghiệp mở rộng, vì đây là kết quả của số tiền chi ra để mua nguyên vật liệu dự trữ hàng tồn kho, chi thường xuyên,... Nếu lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh dương thì ngược lại. Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư âm (thu < chi) thể hiện quy mô đầu tư của doanh nghiệp mở rộng, đây là kết quả của số tiền chi ra để đầu tư tài sản cố định, góp vốn liên doanh... Nếu lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư dương thì ngược lại. Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính âm (thu < chi) thể hiện quy mô đầu tư ra bên ngoài của doanh nghiệp được mở rộng, vì đây là số tiền chi ra để mua cổ phiếu, chi trả nợ gốc,... Nếu lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính dương thì ngược lại. Từ đó, so sánh bằng số tuyệt đối và số tương đối giữa kỳ này và kỳ trước của từng khoản mục, từng chỉ tiêu để cho thấy sự biến động về khả năng tạo ra tiền của từng hoạt động, sự biến động của từng khoản thu, chi. Trước hết cần so sánh lưu chuyển tiền thuần của hoạt động kinh doanh chủ yếu với hoạt động khác, để biết được tiền tạo ra từ hoạt động nào là nhiều nhất. Khi đó ta biết được khả năng tạo tiền, cũng như sức mạnh tài chính của doanh nghiệp. Việc phân tích được dựa trên cơ sở xác định tỷ trọng doanh tiền thu của từng hoạt động. Nếu tỷ trọng dòng tiền thu từ hoạt động kinh doanh cao thể hiện tiền tạo ra chủ yếu từ hoạt động bán hàng, thu từ khách hàng. Nếu tỷ trọng dòng tiền thu từ hoạt động đầu tư cao chứng tỏ doanh nghiệp đã thu hồi các khoản đầu tư từ chứng khoán, lãi từ hoạt động đầu tư, bán tài sản cố định. Việc phân tích các nghiệp vụ thu, chi tiền mặt của từng hoạt động cho thấy dòng tiền thu vào trong kỳ của doanh nghiệp không phải bởi hoạt động kinh doanh thì đó là điều không bình thường, do đó cần xác định nguyên nhân ảnh hưởng đến dòng tiền tiêu thụ trong kỳ. Phân tích dòng tiền thu vào và chi ra theo từng hoạt động giúp cho các đối tượng quan tâm có cái nhìn sâu hơn về các doanh tiền thu vào và chi ra mà từ đó xác định được nguyên nhân ảnh hưởng tác động đến tình hình tăng, giảm tiền trong doanh nghiệp. 13 Thang Long University Library 1.2.4 Phân tích các nhóm chỉ tiêu tài chính Nhóm khả năng thanh toán Tính thanh khoản của tài sản phụ thuộc mức độ dễ dàng chuyển đổi tài sản thành tiền mặt mà không phát sinh thua lỗ lớn. Việc xác định khả năng thanh toán là quan trọng, quyết định đến nghĩa vụ nợ của công ty, do vậy sử dụng hệ số thanh toán được xem là cách thử nghiệm tính thanh toán của công ty. Hệ số khả năng thanh toán hiện hành : cho biết mỗi đồng nợ ngắn hạn được bù đắp bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn, vì vậy đây là chỉ tiêu phản ánh tổng quát nhất khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền để thanh toán nợ ngắn hạn cho DN. Tài sản ngắn hạn Hệ số khả năng thanh toán hiện hành = Nợ ngắn hạn Hệ số này càng cao thì khả năng trả nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng hơn. Nếu hệ số nhỏ hơn 1 thì doanh nghiệp không hoàn thành được nghĩa vụ trả nợ của mình. Mặc dù với tỷ lệ nhỏ hơn 1, có khả năng không đạt được tình hình tài chính tốt nhưng điều đó không có nghĩa là công ty sẽ bị phá sản vì có rất nhiều cách để huy động thêm vốn Khả năng thanh toán nhanh: phản ánh cứ một đồng nợ được đảm bảo bới bao nhiêu đồng tài sản có tính thanh khoản cao. Tài sản ngắn hạn- hàng tồn kho Hệ số khả năng thanh toán nhanh = Nợ ngắn hạn Hệ số đánh giá khả năng thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn bằng việc chuyển hóa TSNH thành tiền mà không cần phải bán đi hàng tồn kho. Lý do hàng tồn kho không được tính vào công thức vì nó khó có thể chuyển đổi thành tiền mặt một cách dễ dàng hay khó thu hồi nhanh được. Nếu khả năng thanh toán nhỏ hơn 1 thì doanh nghiệp không thể đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn nếu không sử dụng đến một phần dự trữ. Tuy nhiên, nếu hệ số lớn hơn 1 thì cũng chưa thể nói khả năng thanh toán nhanh là tốt vì trong TSNN chỉ có tiền là loại tài sản đáng tin cậy nhất còn các khoản phải thu khác thì có thể không thu được do nhiều nguyên nhân khác nhau. Khả năng thanh toán tức thời: Tiền và các khoản tương đương tiền Hệ số khả năng thanh toán tức thời = 14 Nợ ngắn hạn Tỷ số khả năng thanh toán tức thời cho biết khả năng thanh toán nợ ngắn hạn một các nhanh nhất của doanh nghiệp. Tỷ số này lớn hơn 1, tức là tiền và các khoản tương đương tiền lớn hơn nợ ngắn hạn hiện thời của doanh nghiệp, thì khả năng đáp ứng các khoản nợ này là cao. Tuy nhiên, nếu tiền và các khoản tương đương tiền quá lớn cũng không tốt, cho thấy doanh nghiệp sử dụng tài sản kém hiệu quả, tích trữ quá nhiều tài sản kém hoặc không sinh lời. Nếu tỷ số này nhỏ hơn 1, doanh nghiệp buộc phải sử dụng đến các tài sản khác của mình để thanh toán các khoản nợ đến hạn. Nhóm khả năng quản lý tài sản: Khả năng quản lý tài sản của doanh nghiệp thể hiện qua tỷ số quản lý tài sản, các tỷ số này ra đời nhằm mục đích đo lường mức hiệu quả của doanh nghiệp trong việc quản lý tài sản của mình. Nếu công ty có quá nhiều tài sản thì chi phí sẽ cao, lợi nhuận giảm. Mặt khác, nếu tài sản quá thấp thì hoạt động không hiệu quả. Hệ số quay vòng hàng tồn kho: Hệ số quay vòng hàng tồn kho = Doanh thu thuần Trị giá hàng tồn kho Chỉ tiêu này phản ánh nếu doanh nghiệp rút ngắn được chu kỳ sản xuất kinh doanh, sản xuất hoặc thu mua sản phẩm hàng hóa đến đâu, bán hết đến đó, hàng tồn kho giảm. Do đó, sẽ làm cho hệ số vòng quay hàng tồn kho tăng và như vậy, sẽ làm cho rủi ro về tài chính của công ty sẽ giảm và ngược lại. Đồng thời, khi hệ số quay vòng hàng tồn kho tăng lên, thời hạn sản phẩm hàng hóa nằm trong kho ngắn lại sẽ làm giảm chi phí bảo quản, giảm được hao hụt. Do đó, làm tăng hiệu quả sử dụng (vốn) ngắn hạn của doanh nghiệp. Chỉ tiêu thời hạn hàng tồn khi bình quân của doanh nghiệp được xác định bằng công thức sau: 360 Thời gian hàng tồn kho bình quân (ngày)= Hệ số quay vòng hàng tồn kho Chỉ tiêu cho biết một vòng quay của hàng tồn kho mất bao nhiêu ngày, chỉ tiêu càng thấp chứng to hàng tồn kho vận động càng nhanh, đó là nhân tố góp phần tăng doanh thu và lợi nhuận. Hệ số thu nợ: phản ánh tốc độ biến đổi các khoản phải thu thành tiền mặt. Hệ số này là một th,ước đo quan trọng đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, được tính bằng cách lấy doanh thu trong kỳ chia cho số dư bình quân các khoản phải thu trong kỳ. Doanh thu Hệ số thu nợ = Phải thu khách hàng 15 Thang Long University Library Hệ số thu nợ càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi nợ của doanh nghiệp càng nhanh, khả năng chuyển đổi các khoản nợ phải thu sang tiền mặt cao, điều này giúp cho doanh nghiệp nâng cao lượng tiền mặt, tạo sự chủ động trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất. Ngược lại, nếu hệ số này càng thấp thì số tiền doanh nghiệp bị chiếm dụng càng nhiều, lượng tiền mặt sẽ giảm làm giảm sự chủ động của doanh nghiệp trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất và doanh nghiệp có thể sẽ phải vay thêm ngân hàng để tài trợ thêm cho nguồn vốn lưu động của mình. Thời gian thu hồi nợ bình quân: Thời gian thu hồi nợ trung bình (ngày) = 360 Hệ số thu hồi nợ Nếu chỉ tiêu thời gian thu hồi nợ của công ty càng ngắn thì rủi ro về tài chính của công ty càng giảm và ngược lại. Điều đó chứng tỏ các khoản phải thu của công ty là rất nhỏ, không ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của công ty. Hệ số trả nợ: Chỉ số vòng quay các khoản phải trả phản ánh khả năng chiếm dụng vốn của doanh nghiệp đối với nhà cung cấp. Chỉ số này quá thấp có thể ảnh hưởng không tốt đến việc xếp hàng tín dụng của doanh nghiệp. Chỉ số vòng quay các khoản phải trả năm nay nhỏ hơn năm trước chứng tỏ doanh nghiệp chiếm dụng vốn và thanh toán năm nay chậm hơn năm trước và ngược lại. Giá vốn hàng bán + Chi phí bán hàng, quản lý chung Hệ số trả nợ = Phải trả người bán + Lương, thưởng, thuế phải trả Thời gian trả nợ trung bình: Chỉ số này cho biết số ngày trung bình mà doanh nghiệp trả nợ cho nhà cung cấp. Thời gian trả nợ càng dài thì doanh nghiệp càng có nhiều thời gian chiếm dụng vốn để đầu tư vào các lĩnh vực khác và ngược lại. Thời gian trả nợ trung bình (ngày) = 360 Hệ số trả nợ Thời gian quay vòng tiền: con số này cho chúng ta biết được khoảng thời gian ròng kể từ khi chi thực tế đến khi thu được tiền. Thời gian quay vòng tiền = Thời gian quay vòng hàng tồn kho + Thời gian thu nợ trung bình - Thời gian trả nợ trung bình. Con số này càng cao thì lượng tiền mặt của doanh nghiệp càng khan hiếm cho hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động đầu tư khác. Chu kỳ tiền mặt được tính từ khi trả cho các nguyên liệu thô tới khi nhận được tiền mặt trong bán hàng. Nếu con số này nhỏ sẽ được coi là khả năng quản lý vốn lưu động tốt. Ngược lại, con số này cớn có thể được giải 16 thích là doanh nghiệp phải thuê thêm vốn trong khi phải chờ khách hàng trả nợ tiền hàng cho mình. Hiệu suất sử dụng tổng tài sản: Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng tổng tài sản = Tổng tài sản Chỉ tiêu này phản ánh một đồng tài sản được hình thành từ bao nhiêu đồng doanh thu. Nhìn vào chỉ tiêu này, các đối tượng quan tâm có thể nhìn thấy tổng quát về năng lực hoạt động của doanh nghiệp, từ đó hỗ trợ đưa ra quyết định. Chỉ tiêu này càng cao hiệu quả sử dụng tổng tài sản càng tăng, nếu sức sản xuất của tổng tài sản càng nhỏ, hiệu quả sử dụng tổng tài sản giảm. Hiệu suất sử dụng tổng tài sản càng cao chứng tỏ các tài sản của doanh nghiệp có chất lượng cao, không bị nhàn rỗi. Hiệu suất sử dụng tổng tài sản là cơ sở tốt cho lợi nhuận cao. Hiệu suất sử dụng tổng tài sản thấp là do yếu kém trong quản lý tài sản cố định, quản lý tiền mặt, quản lý khoản phải thu, chính sách bán chịu, quản lý vật tư, quản lý bán hàng, quản lý sản xuất. Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn: Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn = Tài sản ngắn hạn Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn cho biết một đồng tài sản ngắn hạn góp phần tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu. Tỷ lệ cao chứng tỏ tài sản ngắn hạn có chất lượng tốt, tận dụng đầy đủ, không bị nhàn rỗi. Chỉ tiêu này thể hiện sự vận động của tài sản ngắn hạn trong kỳ, chỉ tiêu càng cao chứng tỏ tài sản ngắn hạn vận động càng nhanh. Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn: Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn = Doanh thu thuần Tài sản dài hạn Chỉ số cho biết một đồng tài sản dài hạn tham gia trong quá trình kinh doanh tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Chỉ số đo lường hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn càng cao càng tốt, chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn cao. Ngược lại, chỉ tiêu thấp chứng tỏ tài sản dài hạn sử dụng chưa hiệu quả, nguyên nhân có thể là do đầu tư vào tài sản cố định quá mức so với mức tiêu thụ sản phẩm hoặc so với khả năng cung cấp nguyên vật liệu. 17 Thang Long University Library Nhóm hệ số nợ Đây là hệ số rất quan trọng, phản ánh tình trạng nợ hiện thời của công ty, có tác động đến nguồn vốn hoạt động và luồng thu nhập thông qua chi trả vốn vay và lãi suất khi đáo hạn. Các công ty vay nợ càng nhiều thì càng phải trả nhiều lãi, làm giảm tính thanh khoản của tài sản, tăng rủi ro về tài chính. Hệ số nợ trên tổng tài sản : Hệ số nợ trên tổng tài sản = Tổng số nợ Tổng tài sản Chỉ tiêu này phản ánh, trong tổng tài sản hiện có của công ty thì có bao nhiêu đồng do vay nợ mà có. Nếu hệ số này càng tăng thì rủi ro về tài chính của công ty càng lớn. Cụ thể, tỷ số này cao thể hiện sự bất lợi cho các chủ nợ nhưng lại có lợi cho chủ sở hữu nếu đồng vốn được sử dụng có khả năng sinh lời cao.Tuy nhiên, nếu tỷ số này quá cao, doanh nghiệp sẽ rơi vào tình trang mất khả năng thanh toán. Thêm vào đó, nếu chỉ số này cao cũng đồng nghĩa với việc tiền lãi vay lớn, do đó khả năng thanh toán lãi vay của doanh nghiệp đối với chủ nợ cũng gặp khó khăn. Để nhận xét đúng đắn về tỷ số tổng nợ trên tài sản cần phải kết hợp các chỉ số khác. Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu: Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu = Tổng nợ Giá trị vốn chủ sở hữu Tỷ số này cho một đồng nợ sẽ được đảm bảo bởi bao nhiều đồng vốn chủ sở hữu. Tỷ số này nhỏ chứng tỏ doanh nghiệp ít phụ thuộc vào hình thức huy động vốn bằng vay nợ, có thể hàm ý doanh nghiệp chịu độ rủi ro thấp. Tuy nhiên, nó cũng có thể chứng tỏ doanh nghiệp chưa biết cách vay nợ để kinh doanh và khai thác lợi ích của hiệu quả tiết kiệm thuế. Hệ số khả năng thanh toán lãi vay: Lợi nhuận trước thuế và chi phí lãi vay Hệ số thanh toán lãi vay = Lãi vay phải trả Chỉ tiêu phản ánh cứ một đồng lãi vay phải trả của công ty thì thu được bao nhiêu đồng lãi trước thuế từ hoạt động sản xuất kinh doanh và chi phí lãi vay. Có thể sảy ra các trường hợp sau: Hệ số thanh toán lãi vay = 1 thì công ty không có lãi. Hệ số thanh toán lãi vay > 1 và càng lớn bao nhiêu thì hoạt động sản suất kinh doanh của công ty càng hiệu quả. Công ty không những trả được lãi vay mà còn trả được 18 vốn vay. Do đó công ty dễ dàng vay vốn ngân hàng và các đối tượng khác, rủi ro tài chính của công ty càng giảm. Hệ số thanh toán lãi vay < 1 và càng nhỏ hơn bao nhiêu thì rủi ro về tài chính của công ty càng lớn bấy nhiêu, công ty cần có biện pháp khắc phụ nếu không sẽ có nguy cơ phá sản. Nhóm hệ số khả năng sinh lời Đây là nhóm chỉ tiêu phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả kinh doanh và hiệu quả năng lực quản lý của doanh nghiệp. Bất kỳ công ty nào cũng hoạt động kinh doanh với mục tiêu cuối cùng là hướng tới lợi nhuận bởi lợi nhuận chính là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của toàn bộ quá trình hoạt động kinh doanh. Công ty hoạt động càng hiệu quả thì lợi nhuận càng cao. Khi đánh giá cần phải đặt lợi nhuận trong các mối quan hệ so sánh thì mới khách quan. Những mối quan hệ ấy được tìm hiểu thông quan việc phân tích các chỉ tiêu về khả năng sinh lời của công ty. Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (Return on sales- ROS) Lợi nhuận ròng Tỷ suất sinh lời trên doanh thu = Doanh thu thuần x 100 Đây là chỉ tiêu quản ánh trong một đồng doanh thu thì thu được bào nhiêu đồng lợi nhuận ròng. Chỉ tiêu này có thể thay đổi do chi phí hoặc giá bán sản phẩm thay đổi. Không phải lúc nào giá của nó cao là tốt. Nếu nó cao do giá vốn hàng bán giảm thì tốt nhưng nếu nó cao do giảm giá hàng bán trong trường hợp cạnh tranh thì chưa phải là tốt, sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận trong tương lai. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (Return on assets – ROA) Lợi nhuận ròng Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản = Tổng tài sản x 100 Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả của công ty trong việc sử dụng tài sản để sinh lời. Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất dùng để đánh giá khả năng sinh lời của một đồng vốn đầu tư, nghĩa là một đồng tài sản bỏ ra có thể thu về được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tùy thuộc vào tình hình cụ thể của doanh nghiệp và phạm vi so sánh mà chọn lợi nhuận trước thuế, lãi và lợi nhuận sau thuế để so sánh với tổng tài sản. - Tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn Tỷ suất sinh lời của tài sản Lợi nhuận sau thuế = ngắn hạn x 100 Tài sản ngắn hạn 19 Thang Long University Library
- Xem thêm -