Giải pháp tăng lợi nhuận tại Công ty TNHH Sơn Hoàng Gia

  • Số trang: 63 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 26 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 27558 tài liệu

Mô tả:

CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN CỦA DOANH NGHIỆP: 1.1.1 KHÁI NIỆM VỀ DOANH NGHIỆP: Doanh nghiệp là một trong nhũng chủ thể kinh doanh chủ yếu của xã hội: “Doanh nghiệp là một đơn vị kinh doanh được thành lập để thực hiện hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lời”. Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh theo qui định của pháp luật nhằm thực hiện ổn định các hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp là một tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân. Đây là điều kiện cơ bản quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân, nó do Nhà Nước khẳng định và xác định. Việc khẳng định tư cách pháp nhân của doanh nghiệp với tư cách là một thực thể kinh tế, một mặt nó được Nhà Nước bảo hộ với các hoạt động sản xuất kinh doanh, mặt khác nó phải có trách nhiệm đối với người tiêu dùng, nghĩa vụ đóng góp với nhà nước, trách nhiệm đối với xã hội. Đòi hỏi doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ tài chính trong việc thanh toán những khoản công nợ khi phá sản hay giải thể. Doanh nghiệp là một tổ chức sống vì lẽ nó có quá trình hình thành từ một ý chí và bản lĩnh của người sáng lập (tư nhân, tập thể hay Nhà nước); quá trình phát triển thậm chí có khi tiêu vong, phá sản hoặc bị một doanh nghiệp khác thôn tính. Vì vậy cuộc sống của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào chất lượng quản lý của những người tạo ra nó. 1.1.2 PHÂN LOẠI DOANH NGHIỆP: 1.1.2.1 Doanh nghiệp tư nhân: Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. Trang 1 Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Doanh nghiệp tư nhân được đăng ký kinh doanh hoạt động theo đúng quy định của pháp, do một cá nhân làm chủ, có trụ sở giao dịch, tài sản, có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của công ty. Chủ Doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo Pháp luật của doanh nghiệp, Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân như các loại hình doanh nghiệp khác, chủ doanh nghiệp có thể tự mình hoặc thuê người khác điều hành, quản lý mọi hoạt động của doanh nghiệp. Ưu điểm và nhược điểm của loại hình doanh nghiệp này. 1.1.2.2 Công ty TNHH Một thành viên: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyền phát hành cổ phần. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là chủ sở hữu công ty có toàn quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến hoạt động của công ty. Chủ sở hữu công ty có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác, chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Tùy thuộc vào ngành, nghề kinh doanh, cơ cấu tổ chức quản lý nội bộ của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên bao gồm: Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Chủ tịch công ty và Giám đốc. công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyền phát hành cổ phiếu. 1.1.2.3 Công ty TNHH Hai Thành viên trở lên: Công ty trách nhiệm hữu hạn là doanh nghiệp, trong đó:  Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá năm mươi; Trang 2 Thang Long University Library  Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp;  Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại các điều 43, 44 và 45 của Luật này. Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phần. Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên là công ty trong đó thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty. Thành viên của công ty có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng thành viên tối thiểu là hai và tối đa không vượt quá năm mươi người. Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phiếu để huy động vốn. Những ưu và nhược điểm của loại hình Công ty TNHH hai thành viên trở lên. 1.1.2.4 Công ty Cổ Phần: Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:  Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;  Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa;  Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;  Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của Luật này. Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn. Trang 3 Công ty cổ phần là loại hình công ty, trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần được thành lập và tồn tại độc lập. Công ty cổ phần phải có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc (Tổng giám đốc), đối với công ty cổ phần có trên mười một cổ đông phải có Ban kiểm soát. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty, có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa. Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra ngoài theo quy định của pháp luật về chứng khoán. Những ưu và nhược điểm của Công ty cổ phần. 1.1.2.5 Công ty Hợp danh: Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó:  Phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh); ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn;  Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty;  Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. Công ty hợp danh là công ty trong đó phải có ít nhất hai thành viên hợp danh là chủ sở hữu chung của công ty, ngoài các thành viên công ty hợp danh có thể có thành viên góp vốn. Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. công ty hợp danh có tư cách pháp nhân, các thành viên có quyền quản lý công ty và tiến hành các hoạt động kinh doanh thay công ty, cùng nhau chịu trách nhiệm và nghĩa vụ của công ty. Thành viên góp vốn được chia lợi nhuận theo tỷ lệ tại quy định điều lệ công ty, các thành viên hợp danh có quyền lợi ngang nhau khi quyết định các vấn đề quản lý công ty. Những ưu điểm và nhược điểm của công ty hợp danh. Trang 4 Thang Long University Library 1.2 Tầm quan trọng của lợi nhuận trong doanh nghiệp 1.2.1 Khái niệm về lợi nhuận Dù là loại hình doanh nghiệp nào trong nền kinh tế thị trường cũng đều phải quy định cho mình những mục tiêu hoạt động và lấy đó làm đích để hướng tới. Trong đó mục tiêu thiết thực nhất, tổng quát nhất là mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận vì mục tiêu này đã xem xét dánh giá hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp dưới góc độ thời gian, rủi ro và nhiều yếu tố khác. Về lý luận cũng như thực tiễn của các doanh nghiệp luôn quan tâm tới nhân tố lợi nhuận và tìm mọi biện pháp để gia tăng lợi nhuận, đây là nhân tố hàng đầu. Vậy lợi nhuận là gì? Tại sao nó lại được các doanh nghiệp quan tâm đến vậy? Các quan điểm của các nhà kinh tế học dưới đây sẽ giúp chúng ta trả lời câu hỏi trên. Kế thừa những gì tinh túy nhất của những nhà kinh tế học cổ điển kết hợp với việc nghiên cứu sâu sắc nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, đặc biệt là nhờ có lý luận vô giá về giá trị thặng dư được quan niệm là con đẻ của toàn bộ tư bản ứng ra hình thái biến tướng là lợi nhuận. Từ xa xưa, kinh tế học cổ điển trước Mác đều nhìn nhận:”lợi nhuận là cái phần trội lên trong giá bán so với chi phí sản xuất”. Theo phái trọng thương, họ cho rằng:”Lợi nhuận được tạo ra trong lĩnh vực lưu thông, lợi nhuận chỉ ra đời cùng với sự ra đời của tiền tệ”. Phái cổ điển, tiêu biểu như Adam Smith lại cho rằng:”Lợi nhuận là khoản khấu trừ vào giá trị sản phẩm người lao động tạo ra”, còn David Ricado lại nhận định:”Phần giá trị thừa ra ngoài tiền công, giá trị hàng hóa do người lao động tạo ra luôn lớn hơn số tiền công học được trả, phần chênh lệch đó chính là lợi nhuân”. Theo C.Mác thì “Giá trị thặng dư hay cái phần trội lên trong toàn bộ giá trị của hàng hóa, trong đó lao động thặng dư hay lao động không được trả công của công nhân đã được vật hóa thì gọi là lợi nhuận”. Còn theo các nhà kinh tế học hiện đại như P.A Samuelson và Nordhaus lại quan niệm “Lợi nhuận là khoản thu nhập dôi ra, bằng tổng doanh thu trừ đi tổng chi phí” hay cụ thể hơn “Lợi nhuận được định nghĩa là khoản chênh lệch giữa doanh Trang 5 thu và chi phí của doanh nghiệp”. Theo David Begg, Stanley Fisher và Busch thì “Lợi nhuận là lượng dôi ra của doanh thu so với chi phí”. Tóm lại: Lợi nhuận là số thu dôi ra của doanh thu so với chi phí bỏ ra; Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính, hoạt động khác mang lại; là chỉ tiêu chất lượng để đánh giá hiệu quả kinh tế các hoạt động của doanh nghiệp. Như vậy để xác định lợi nhuận thu được trong một kỳ nhất định phải căn cứ vào hai yếu tố sau:  Doanh thu phát sinh trong một kỳ nhất định.  Chi phí phát sinh nhằm đem lại thu nhập trong thời kỳ đó. Nói cách khác chi những chi phí phân bổ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh đã được thực hiện trong kỳ. Công thức chung để xác định lợi nhuận: Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí Từ khái niệm trên ta thây, lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh doanh, là chỉ tiêu chất lượng đánh giá hiệu quả kinh tế các hoạt động của doanh nghiệp. Do vậy, để đứng vững trên thương trường và có thể mở rộng quy mô hoạt động, nâng cao lợi nhuận luôn là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp. 1.2.2 Sự cần thiết của lợi nhuận. Lợi nhuận có vai trò rất lớn đối với hoạt động của doanh nghiệp vì nó tác động đến mọi hoạt động của doanh nghiệp cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. Việc phấn đấu thực hiện chỉ tiêu lợi nhuận là điều kiện quan trọng đảm bảo tình hình tài chính doanh nghiệp ổn định và vững chắc. Vì vậy lợi nhuận được coi là đòn bẩy kinh tế quan trọng, đồng thời cũng là chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hơn nữa lợi nhuận còn nguồn tích lũy cơ bản để tái mở rộng sản xuất bù đắp thiệt hại rủi ro cho doanh nghiệp, là nguồn vốn quan trọng để đầu tư phát triển doanh nghiệp. Trang 6 Thang Long University Library Đối với Nhà nước lợi nhuận là nguồn thu quan trọng cho Ngân sách Nhà nước thông qua thu thuế, phí, lệ phí…, trên cơ sở đó đảm bảo nguồn lực tài chính nền kinh tế quốc dân, củng cố tăng cường tiềm lực quốc phòng, duy trì bộ máy quản lý hành chính Nhà Nước. Đặc biệt lợi nhuận là đòn bẩy kinh tế quan trộng có tác dụng khuyến khích người lao động và doanh nghiệp ra sức phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trên cơ sở của chính sách phân phối lợi nhuận đúng đắn và hợp lý. 1.2.2.1 Sự cần thiết của lợi nhuận đối với doanh nghiệp Lợi nhuận có vai trò quan trọng trong hoạt động SXKD của doanh nghiệp, nó vừa là mục tiêu vừa là động lực cũng vừa là điều kiện tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường ở mỗi giai đoạn có thể có những mục tiêu và nhiệm vụ khác nhau. Song cuối cùng các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể mà doanh nghiệp đề ra trong từng thời kỳ cũng chỉ để phục vụ cho mục đích cuối cùng của mình đó là tạo ra lợi nhuận cao nhất. Kinh tế thị trường tự do kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật quy định, tự hoạch toán lấy thu bù chi, lỗ chịu lãi hưởng. Vì vậy, lợi nhuận như đã nói ở trên, đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực và là điều kiện tồn tại của doanh nghiệp. Không có lợi nhuận, doanh nghiệp sẽ không có vốn để tổ chức hoạt động kinh doanh hay bất cứ một hoạt động nào khác nhằm mục đích thu lợi cũng như thực hiện tối đa hóa lợi nhuận. Cũng chính vì lợi nhuận mà các doanh nghiệp không ngừng mở rộng và tăng cường hoạt động SXKD của mình nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường, dành thắng lợi trong cạnh tranh. Chỉ khi hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận thì doanh nghiệp mới có tiền đề vật chất để bảo toàn và phát triển hoạt động kinh doanh, mở rộng quy mô kinh doanh hay nói cách khác để tồn tại và phát triển doanh nghiệp buộc phải làm ăn có lãi. Lợi nhuận là chỉ tiêu kinh tế cơ bản đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Lợi nhuận là chỉ tiêu đánh giá kinh tế tổng hợp phản ánh toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh, là khoản chênh lệch giữa doanh thu mà doanh nghiệp thu được với các khoản chi phí bỏ ra để thu được các khoản doanh thu đó. Khi hiệu số giữa hai chỉ tiêu này càng lớn thì có nghĩa là doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, Trang 7 làm ăn có lãi. Điều đó phản ánh rằng hoạt động của doanh nghiệp đã đáp ứng được yêu cầu tự hạch toán lấy thu nhập bù chi phí. Ngược lại, chỉ tiêu lợi nhuận càng nhỏ và có khuynh hướng âm chứng tỏ doanh nghiệp đang trong tình trạng hoạt động kém hiệu quả, thu không đủ bù chi, hàng hóa không tiêu thụ hết và còn ứ đọng nhiều trong kho. Tình trạng này cho thấy doanh nghiệp không đáp ứng được nhu cầu đặt ra của người tiêu dùng về hàng hóa và dịch vụ. Chính vì vậy khi xem xét lợi nhuận ở góc độ là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh hiệu quả của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đòi hỏi doanh nghiệp khi lập kế hoạch sản xuất kinh doanh phải đề ra được những biện pháp cụ thể, khả quan nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng, tăng doanh thu và có những biện pháp thực tế để có thể hạ thấp chi phí sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận là nguồn tích lũy quan trọng giúp doanh nghiệp đầu tư chiều sâu, mở rộng sản xuất kinh doanh, là điều kiện để củng cố thêm sức mạnh và uy tín của doanh nghiệp trên thương trường. Thật vậy, lợi nhuận của doanh nghiệp sau khi đã thực hiện các nghĩa vụ nộp Ngân sách Nhà Nước và chia cho các chủ thể tham gia liên doanh,… thì phần còn lại doanh nghiệp phân phối vào các quỹ như: quỹ đầu tư và phát triển kinh doanh, quỹ dự phòng tài chính,.. các quỹ này dùng để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, thay đổi trang thiết bị máy móc, nghiên cứu trang thiết bị công nghệ mới, hợp lý hóa sản xuất với nhu cầu của thị trường,… Nhờ vậy mà doanh nghiệp có thể tự chủ hơn về mặt tài chính, dễ dàng đầu tư chiều sâu, nâng cao năng suất lao động tạo tiền đề cho việc nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp.  Lợi nhuận quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Trong hoàn cảnh hiện nay lợi nhuận không những là mục tiêu thiết thực mà còn là động lực tác động trực tiếp giúp doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh. Nếu doanh nghiệp hoạt động mà không có lợi nhuận thì sẽ không thể tiến hành mở rộng sản xuất kinh doanh, sắm thêm các trang thiết bị, máy móc tiên tiến…, khi đó các sản phẩm của doanh nghiệp sẽ trở nên lỗi thời, không đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Và nếu tình trạng này kéo dài thì doanh nghiệp khó có thể tiếp tục được mà buộc phải đóng cửa. Trang 8 Thang Long University Library  Lợi nhuận là mục tiêu cũng như là động lực của sản xuất kinh doanh Về cơ bản các doanh nghiệp đều giống nhau ở chỗ là hoạt động của chúng đều hướng đến mục tiêu lợi nhuận và tối đa hóa lợi nhuận. Ngày nay cạnh tranh lại càng trở nên gay gắt hơn, do vậy để tồn tại và phát triển buộc doanh nghiệp phải linh hoạt trong kinh doanh cũng như đổi mới phương pháp quản lý. 1.2.2.2 Sự cần thiết của lợi nhuận đối với người lao động Lợi nhuận là yếu tố khuyến khích người lao động sản xuất. Thật vậy, nếu người lao động có cuộc sống tinh thần và vật chất ổn định thì sẽ trở nên yêu nghề hơn, như vậy quá trình sản xuất sẽ diễn ra liên tục và ổn định hơn. Nếu không họ sẽ làm việc một cách qua loa không có trách nhiệm và cũng có thể tìm kiếm một chỗ làm khác. Nhưng để đáp ứng được điều đó thì đòi hỏi doanh nghiệp phải có lợi nhuận. Khi đó lợi nhuận sau thuế sẽ được trích lập các quỹ trong đó có quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm, quỹ khen thưởng, phúc lợi. Lợi nhuận sau thuế càng nhiều, các quỹ này càng lớn, điều đó cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp tạo ra điều kiện sống về vật chất và từ đó kích thích tinh thần hăng say lao động và tạo được môi trường làm việc ổn định cho người lao động. 1.2.2.3 Sự cần thiết của lợi nhuận đối với xã hội. Một xã hội muốn có nền kinh tế phát triển, ổn định và bền vững thì đòi hỏi những thành phần cấu thành nên nó phải phát triển trước tiên. Mà doanh nghiệp lại là một đơn vị kinh tế cấu thành của xã hội. Do vậy kết quả của tất cả doanh nghiệp sẽ là kết quả của toàn bộ nền kinh tế. Trong đó chỉ tiêu lợi nhuận lại thể hiện khá rõ ràng về điều này. Lợi nhuận là nguồn tích lũy cơ bản để mở rộng tái sản xuất xã hội bởi sự tham gia của các doanh nghiệp vào ngân sách nhà nước để quản lý và phát triển xã hội thông qua thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp. Lợi nhuận góp phần làm tăng nguồn thu Ngân sách cho Nhà nước, nâng cao phúc lợi xã hội. Đối với Nhà nước thì các doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế sẽ có những đóng góp đáng kể vào nguồn thu Ngân sách Nhà Trang 9 nước như: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu,… Thông qua việc thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Ngân sách Nhà nước, Nhà nước có thể thực hiện công bằng xã hội, điều tiết hợp lý giữa các thành phần kinh tế quốc dân, thực hiện công bằng xã hội, điều tiết hợp lý giữa các thành phần kinh tế, kết hợp hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước và người lao động. Xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân, xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng các công trình phúc lợi xã hội, mở rộng cơ sở sản xuất kinh doanh, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, nâng cao dân trí, xây dựng xã hội công bằng văn minh hiện đại. Lợi nhuận là một trong những thước đo phản ánh tính hiệu quả của các chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chính sách vĩ mô của Nhà nước đúng đắn và thông thoáng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phát triển tốt hơn, do đó sẽ cho phép doanh nghiệp nâng cao được lợi nhuận hoạt động của mình. Ngược lại nếu chính sách vĩ mô không phù hợp, tác động tiêu cực tới hoạt động của doanh nghiệp thì sẽ kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp và ảnh hưởng xấu tới lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được. Hơn nữa lợi nhuận còn tạo điều kiện để các doanh nghiệp thực hiện các hoạt động từ thiện, nhân đạo. Lợi nhuận có vai trò quan trọng tới sự tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp cũng như xã hội. Hiện nay trong nền kinh tế thị trường, hoạt động của doanh nghiệp rất phong phú và đa dạng. Các doanh nghiệp không chỉ sản xuất kinh doanh đơn thuần mà còn tiến hành nhiều hoạt động khác mang tính chất không thường xuyên. Đó là hoạt động tài chính và hoạt động bất thường. Căn cứ theo từng mảng hoạt động mà doanh nghiệp xác định các chỉ tiêu doanh thu, chi phí, lợi nhuận tương ứng. Tổng lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ bằng tổng đại số của từng lợi nhuận bộ phận. Như vậy lợi nhuận của doanh nghiệp gồm ba bộ phận chính:  Lợi nhuận từ bán hàng và cung cấp dịch vụ  Lợi nhuận của hoạt động tài chính Trang 10 Thang Long University Library  Lợi nhuận khác Trên thực tế tỷ trọng của mỗi loại bộ phận trong tổng lợi nhuận có sự khác nhau giữa các doanh nghiệp do lĩnh vực kinh doanh và môi trường kinh doanh, quy mô hoạt động của từng doanh nghiệp… 1.3 Xác định lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận Do lợi nhuận tổng thể của một doanh nghiệp bao gồm: Lợi nhuận từ hoạt dộng sản xuất kinh doanh, lợi nhuận từ hoạt động tài chính và lợi nhuận khác. Nên ta sẽ nghiên cứu về từng phương pháp xác định lợi nhuận bộ phận. 1.3.1 Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh Lợi nhuận từ = Doanh thu HĐSXKD thuần - Giá vốn - Chi phí bán - Chi phí quản hàng bán hàng lý DN Trong đó:  Doanh thu thuần: Là toàn bộ số tiền bán sản phầm hàng hóa, cung ứng dịch vụ trên thị trường sau khi trừ đi các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại nếu có chứng từ hợp lệ, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu (nếu có). Doanh thu thuần = Doanh thu từ hoạt động SXKD – Các khoản giảm trừ doanh thu Các khoản giảm trừ doanh thu bao gồm: o Giảm giá hàng bán là số tiền mà doanh nghiệp chấp nhận giảm cho người mua vì những nguyên nhân thuộc về doanh nghiệp như: hàng sai quy cách, hàng kém chất lượng… hoặc số tiền thưởng do người mua mua một lần với số lượng lớn o Hàng bán bị trả lại phản ánh doanh thu của số hàng tiêu thụ bị khách hàng trả lại, do lỗi thuộc về doanh nghiệp như: vi phạm cam kết, vi phạm hợp đồng, hàng sai quy cách… o Thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế xuất khẩu là nghĩa vụ của doanh nghiệp với Nhà nước về hoạt động tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, dịch vụ chịu thuế trong kỳ. Trang 11  Giá vốn hàng bán: Là trị giá vốn của thành phẩm, hàng hóa, lao vụ, dịch vụ xuất bán trong kì.  Chi phí bán hàng: Là toàn bộ các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, lao vụ, dịch vụ như: chi phí bao gói sản phẩm, chi phí bảo quản hàng hóa, chi phí vận chuyển, tiếp thị, quảng cáo…  Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là những chi phí phục vụ cho việc quản lý kinh doanh, quản lý hành chính và phục vụ chung khác liên quan đến hoạt động của toàn doanh nghiệp. Trong các loại lợi nhuận, lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh là phần cơ bản nhất trong tổng lợi nhuận của doanh nghiệp, thường chiếm tỷ trọng lớn. Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh là lợi nhuận do tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ từ hoạt động SXKD của doanh nghiệp, là khoản chênh lệch giữa doanh thu của hoạt động kinh doanh trừ đi giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hóa dịch vụ đã tiêu thụ và thuế theo quy định pháp luật.Do đó, để đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, các nhà kinh tế chú ý đầu tiên đến lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong tổng lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp, ngoài lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh ra còn có lợi nhuận từ hoạt động tài chính và lợi nhuận hoạt động khác. 1.3.2 Lợi nhuận từ hoạt động tài chính Lợi nhuận hoạt động tài chính: Là khoản tiền chênh lệch giữa doanh thu từ hoạt động tài chính và chi phí hoạt động tài chính trong một thời ký nhất định. Đây là khoản lợi nhuận thu được từ hoạt động đầu tư tài chính và kinh doanh vốn mang lại. Lợi nhuận hoạt = Doanh thu hoạt - Chi phí hoạt động tài chính động tài chính động tài chính - Thuế gián thu (nếu có)  Doanh thu hoạt động tài chính: Thu nhập từ hoạt động tham gia góp vốn liên doanh thu về đầu tư tài chính, mua bán chứng khoán, lãi cho vay, lãi bán ngoại tệ. Trang 12 Thang Long University Library  Chi phí hoạt động tài chính: Các khoản lỗ liên quan đến hoạt động đầu tư và vốn như chi phí liên doanh, chi phí đầu tư tài chính, chi phí mua bán ngoại tệ. Doanh thu hoạt động tài chính là tổng giá trị các lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp thu được trong kì do các hoạt động tài chính mang lại. Doanh thu hoạt động tài chính bao gồm:  Tiền lãi: Lãi tiền gửi, lãi cho vay vốn, lãi do bán chuyển nhượng các công cụ tài chính, đầu tư liên doanh, liên kết, đầu tư vào công ty con…  Cổ tức và lợi tức được chia.  Chênh lệch lãi do mua bán ngoại tệ, khoản lãi do chênh lệch tỷ giá hối đoái.  Chiết khấu thanh toán được hưởng.  Thu nhập khác liên quan đến hoạt động tài chính. Chi phí hoạt động tài chính gồm các chi phí có liên quan đến việc huy động vốn, đầu tư vốn và chi phí tài chính khác của doanh nghiệp trong một thời kì nhất định. Như:  Chi phí đầu tư các công cụ tài chính.  Chi phí của hoạt động cho vay vốn.  Chi phí của hoạt động mua bán ngoại tệ.  Chi phí lãi vay, chiết khấu thanh toán khi bán sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ.  Chênh lệch lỗ mua bán ngoại tệ, khoản lỗ chênh lệch tỷ giá.  Khoản trích lập dự phòng giảm giá đầu tư tài chính. 1.3.3 Lợi nhuận khác Lợi nhuân khác: Là khoản chênh lệch giữa thu nhập khác với chi phí khác, bao gồm các khoản phải trả không xác định được chủ, khoản thu hồi lại các khoản nợ khó đòi đó được phê duyệt bỏ, các khoản vật tư thừa sau khi đã bù trừ hao hụt mất mát, chênh lệch thanh lý, nhượng bán tài sản cố định. Lợi nhuận khác = Thu nhập khác – Chi phí khác Trang 13 Trong đó: Thu nhập khác là những khoản thu mà doanh nghiệp không dự tính trước hay có dự tính đến nhưng ít có khả năng xảy ra như: tài sản dôi thừa tự nhiên, nợ khó đòi đã xử lý nay đòi được, nợ vắng chủ hoặc không tìm ra chủ được co quan có thẩm quyền cho ghi vào lãi, thanh lý tài sản cố định, phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá hàng tồn kho… Những khoản lợi nhuận này có thể do chủ doanh nghiệp hay cũng có thể do khách quan đưa tới. Thu nhập khác bao gồm: thu về nhượng bán, thanh lý TSCĐ, thu tiền được vi phạm hợp đồng, thu được các nợ khó đòi đã xử lý, thu các nợ không xác định được chủ, các khoản thu nhập kinh doanh của những năm bị bỏ sót hay quên ghi sổ kế toán năm nay mới phát hiện ra… Chi phí khác là những khoản chi phí và những khoản lỗ do các sự kiện hay nghiệp vụ riêng biệt với hoạt động thông thường của doanh nghiệp gâp ra như: chi phí thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, giá trị còn lại của tài sản đem thanh lý, nhượng bán, tiền bị phạt do vi phạm hợp đồng, bị phạt thuế, truy thu thuế, các khoản chi phí do kế toán ghi nhầm hay bỏ sót không ghi vào sổ kế toán… Vậy lợi nhuận của doanh nghiệp bao gồm lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh, lợi nhuận từ hoạt động tài chính và lợi nhuận khác. Tổng các bộ phận lợi nhuận này gọi là tổng lợi nhuận trước thuế. Phần còn lại cuối cùng sau khi lấy tổng lợi nhuận trước thuế trừ đi thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp chính là lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp. (Mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp hiện nay phổ biến là 25%. Riêng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động tìm kiếm, khai thác dầu khí, tài nguyên quý hiếm tại nước ta là từ 32% – 50%. Ngoài ra cũng có một số doanh nghiệp được hưởng mức thuế ưu đãi là 10%) Trang 14 Thang Long University Library 1.3.4 Các chỉ tiêu đánh giá lợi nhuận doanh nghiệp 1.3.4.1 Tổng mức lợi nhuận (Lợi nhuận tuyệt đối) Lợi nhuận trước = thuế và lãi vay Tổng doanh thu Tổng chi phí - biến đổi - Tổng chi phí cố định Trong đó tổng chi phí cố định là không có lãi vay Lợi nhuận = trước thuế Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay Lợi nhuận trước thuế - - Lãi vay phải trả trong kì Thuế thu nhập doanh nghiệp = Lợi nhuận trước thuế X (1 - Thuế suất thuế TNDN) Lợi nhuận trước thuế và lãi vay cho thấy mức độ thu lãi trên lượng vốn bỏ ra kinh doanh nó chỉ cho thấy quy mô của lượng lợi nhuận thu được chứ chưa phản ánh được hiệu quả kinh doanh vì còn có các khoản chi phí chưa tách ra là lãi vay và thuế phải nộp. Nếu doanh nghiệp phải trả một khoản lãi vay tương dối lớn hay phải nộp nhiều thuế do mặt hàng thuộc diện tiêu thụ đặc biệt… sẽ làm giảm đi một lượng lớn lợi nhuận của doanh nghiệp, từ đó cho thấy doanh nghiệp có thể làm ăn không hiệu quả. Lợi nhuận sau thuế và lãi vay là khoản phản ánh chính xác nhất kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, độ lớn của nó cho thấy doanh nghiệp làm ăn rất hiệu quả. 1.3.5 Tỷ suất lợi nhuận Có nhiều cách xác định tỷ suất lợi nhuận, mỗi cách có nội dung kinh tế khác nhau. Dưới đây là một số cách tính tỷ suất lợi nhuận. 1.3.5.1 Tỷ suất lợi nhuận vốn (Doanh lợi vốn) Là quan hệ tỷ lệ giữa số lợi nhuận đạt được với số vốn sử dụng bình quân trong kỳ (gồm có vốn cố định và vốn lưu động hoặc vốn chủ sở hữu). Trang 15  Công thức tính: Tsv = P Vbq x 100%  Trong đó Tsv: Tỷ suất lợi nhuận vốn P: Lợi nhuận trong kỳ Vbq: Tổng số vốn sản xuất được sử dụng bình quân trong kỳ (vốn cố định và vốn lưu động hoặc vốn chủ sở hữu)  Vốn cố định là nguyên giá tài sản cố định trừ đi số khấu hao  Vốn lưu động gồm có: Vốn dự trữ sản xuất, vốn sản phẩm dở dang, bán thành phẩm tự chế, vốn thành phẩm. Chi tiêu này cho thấy cứ 100 đồng tiền vốn bỏ vào đầu tư sau một năm thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận, nếu giá trị của tỷ suất doanh lợi càng cao và tăng đều qua các năm cho thấ doanh nghiệp đó haotj động hiệu quả. Chỉ tiêu tỷ suất doanh lợi cho phép đánh giá hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp có quy mô khác nhau, được dùng để so sánh doanh nghiệp mình với các doanh nghiệp khác trong ngành. Việc sử dụng tỷ suất lợi nhuận nói lên trình độ sử dụng tài sản, vật tư, tiền vốn của doanh nghiệp, thông qua đó, kích thích sử dụng vốn đạt hiệu quả cao. Doanh nghiệp có thể tính được doanh lợi vốn chủ sở hữu, doanh lợi vốn đi vay trên cơ sở xác định được lợi nhuận hay lợi nhuận ròng do các khoản vốn đó mang lại để thấy hiệu quả sử dụng vốn doanh nghiệp và phục vụ cho việc phân tích tài chính doanh nghiệp. 1.3.5.2 Tỷ suất lợi nhuận giá thành Là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận tiêu thụ so với giá thành toàn bộ của sản phẩm hàng hóa tiêu thụ Trang 16 Thang Long University Library  Công thức: P Tsg = * 100% Zt  Trong đó: Tsg : Tỷ suất lợi nhuận giá thành P : Lợi nhuận tiêu thụ trong kỳ Zt: Giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hóa tiêu thụ trong kỳ Thông qua tỷ suất lợi nhuận giá thành có thể thấy rõ hiệu quả chi phí bỏ vào sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong kỳ. Mặc dù chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận giá thành phản ánh hiệu quả tổng hợp của hoạt động sản xuất, nhưng trong chừng mực nhất định chỉ tiêu này chưa phản ánh được đầy đủ kết quả của hoạt động trong các đơn vị hạch toán kinh tế. Bởi vì trong giá thành mới chỉ tính chi phí nguyên vật liệu sử dụng cho sản phẩm hoàn thành chứ chưa bao gồm chi phí nguyên vật liệu dự trữ, chi phí về sản xuất dở dang và bán thành phẩm. 1.3.5.3 Tỷ suất lợi nhuận doanh thu bán hàng Là một chỉ số tổng hợp phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp  Công thức: P ROS = * 100% T  Trong đó: ROS : Tỷ suất lợi nhuận doanh thu bán hàng P : Lợi nhuận tiêu thụ trong kỳ T: Doanh thu bán hàng trong kỳ Chỉ tiêu này cho thấy cứ 100 đồng doanh thu thì có bao nhiêu đồng lợi nhuận. Nếu tỷ suất này thấp hơn tỷ suất chung của toàn ngành chứng tỏ doanh nghiệp bán Trang 17 hàng với giá thấp hoặc giá thành sản phẩm của doanh nghiệp cao hơn các ngành khác. Tỷ suất lợi nhuận cao hay thấp phụ thuộc vào đặc thù của từng ngành sản xuất và phương hướng sản xuất kinh doanh của từng ngành. 1.3.5.4 Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu: ROE  Công thức: LNST ROE = * 100% VCSH Chỉ tiêu này được xác định bằng cách chia thu nhập sau thuế cho VCSH. Nó phản ánh khả năng sinh lời của VCSH và được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm khi họ quyết định bỏ vốn đầu tư và doanh nghiệp. Tăng mức chỉ tiêu này là một mục tiêu quan trọng nhất trong hoạt động quản lý tài chính doanh nghiệp. Một doanh nghiệp được gọi là ổn định nếu tỷ suất luôn tăng qua các năm và mức đạt được của nó phải ngang bằng với mức tỷ suất chung của ngành trên thị trường. Chúng ta cũng cần tìm hiểu ra những nguyên nhân làm giảm mức doanh lợi VCSH của doanh nghiệp và từ đó tìm cách khắc phục để nâng cao mức doanh lợi đó của doanh nghiệp lên. 1.3.5.5 Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản: ROA LNST ROA = * 100% TS Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất được dùng để đánh giá khả năng sinh lời của một đồng vốn đầu tư của doanh nghiệp. Tương tự như tỷ suất lợi nhuận của VCSH, tỷ suất này cho thấy mức độ hiệu quả của việc sử dụng tài sản trong doanh nghiệp, các nhà đầu tư sẽ căn cứ vào đó để xem họ có nên đầu tư vào công ty hay không, đầu tư với lượng vốn bao nhiêu thì hiệu quả. Để chỉ này luôn ở mức cao thì đòi hỏi doanh nghiệp phải sử dụng thật tốt tổng tài sản của mình và tổ chức tốt công tác tiêu thụ sản phẩm. Trang 18 Thang Long University Library 1.4 Các nhân tố ảnh hƣởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp Chúng ta đã biết, lợi nhuận của doanh nghiệp có thể thu được từ nhiều hoạt động khác nhau (hoạt động sản xuất kinh, hoạt động tài chính và hoạt động khác). Tuy nhiên trong đó hoạt động sản xuất kinh doanh là chủ yếu, quyết định sự tồn tại và tăng trưởng của doanh nghiệp. Chính vì vậy, việc tập trung nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận của hoạt động sản xuất kinh doanh là hết sức cần thiết. 1.4.1 Các nhân tố chủ quan 1.4.1.1 Quy mô doanh nghiệp Một doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ có nguồn vốn lớn. Với nguồn vốn lớn doanh nghiệp có thể nâng cao lợi nhuận vì doanh nghiệp sẽ:  Đầu tư vào máy móc, thiết bị, công nghệ hiện đại Việc đổi mới và cải tiến máy móc công nghệ hiện đại cần phải có nguồn vốn lớn vì máy móc công nghệ hiện đại mới đưa vào thị trường bao giờ giá cũng đắt, đặc biệt đối với máy móc công nghệ mới. Những công nghệ này thường chỉ bán cho số ít các doanh nghiệp lớn. Tuy nhiên việc đầu tư này là cần thiết vì trong cơ chế thị trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì sản phẩm phải có chất lượng cao và tính năng vượt trội hơn so với các sản phẩm cùng loại. Chính vì vậy yếu tố công nghệ rất là quan trọng và cần thiết và muốn được như vậy thì doanh nghiệp cần phải có nguồn vốn lớn và dồi dào. Việc đầu tư vào công nghệ mới sẽ làm tăng cao chi phí nhưng sản phẩm sản xuất sẽ hoàn toàn mới trên thị trường chưa có hoặc ít đồi thủ cạnh tranh. Vì vậy doanh nghiệp sẽ nhanh chóng tiêu thụ hàng hóa với giá cao, nhanh chóng thu hồi vốn.  Huy động vốn dễ dàng với chi phí thấp Những doanh nghiệp có quy mô lớn thường là những khách hàng lớn và có uy tín đối với các tổ chức tín dụng. Do đó các doanh nghiệp này có thể vay vốn của ngân hàng với lãi suất uy đãi và có thể không cần đảm bảo vì doanh nghiệp là khách hàng truyền thống của ngân hàng. Đồng thời doanh nghiệp có thể dễ dàng tiếp cận nguồn vốn tín dụng thương mại lớn, như vậy doanh nghiệp có thể giảm bớt được một số chi phí trong quá trình huy động vốn. Trang 19  Thu hút đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, quản lý trình độ cao, lao động lành nghề Trình độ của các cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến lợi nhuận của doanh nghiệp, đặc biệt là đối với nhũng cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật và công nhân trực tiếp sản xuất ra sản phẩm. Vì cán bộ và nhân viên có trình độ hiểu biết thì họ sẽ có phương án sản xuất sao cho tiết kiệm tối đa chi phí, tránh những lãng phí không cần thiết. Ngược lại các doanh nghiệp nhỏ thường không có những thuận lợi như các doanh nghiệp lớn vì họ khó có thể thu hút nguồn nhân lực giỏi như các doanh nghiệp lớn. 1.4.1.2 Khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ Khối lượng sản phẩm sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến khối lượng sản phẩm tiêu thụ. Sản phẩm sản xuất ra càng nhiều thì có khả năng tiêu thụ được càng nhiều, khả năng tiêu thụ lớn thì doanh nghiệp tiêu thụ càng cao, song nếu sản phẩm sản xuất vượt quá nhu cầu thịt trường thì dẫn tới cung vượt cầu, sản phẩm không tiêu thụ hết, hàng hóa bị tồn đọng gây ảnh hưởng xấu đến kết quả sản xuất kinh doanh làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Ngược lại, nếu khối lượng sản xuất ít ra hơn so với nhu cầu thị trường thì doanh thu sẽ giảm và gây ảnh hưởng xấu đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Do đó, trước khi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thì doanh nghiệp nên xác định được khối lượng sản xuất sao cho phù hợp. Đây được coi là nhân tố mang tính chủ quan thuộc về doanh nghiệp trong công tác tổ chức chức quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của mình 1.4.1.3 Chất lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ Chất lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu tiêu thụ sản phẩm. Chất lượng sản phẩm là điều kiện quyết định đến mức độ tín nhiệm của người tiêu dùng đối với doanh nghiệp, đây là một trong ba yếu tố cơ bản tạo ra lợi thế trong cạnh tranh, là điều kiện tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, là nhân tố mang tính quyết định trong việc tiêu thụ hàng hóa. Vì vậy việc nâng cao chất lượng sản phẩm là một trong những nhân tố đển sản phẩm hàng hóa được tiêu thụ dễ dàng hơn, từ đó giúp lợi nhuận doanh nghiệp tăng lên. Ngược lại nếu sản phẩm có chất lượng thấp sẽ làm mất niềm tin ở khách hàng, dẫn đến khó tiêu thụ, Trang 20 Thang Long University Library
- Xem thêm -