ý nghĩa và vai trò của báo cáo lưu chuyển tiền tệ trong các doanh nghiệp việt nam

  • Số trang: 29 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 6 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

Luận văn Ý nghĩa và vai trò của báo cáo lưu chuyển tiền tệ trong các doanh nghiệp Việt Nam 1 mở đầu Những năm gần đây, trước xu hướng hội nhập toàn cầu nền kinh tế thế giới và những yêu cầu của kinh tế thị trường, Việt Nam đang cố gắng vươn lên trong mọi lĩnh vực. Hội nhập kinh tế nói chung và hội nhập về dịch vụ kế toán, kiểm toán nói riêng là xu thế tất yếu, là yêu cầu khách quan trong bối cảnh phát triển kinh tế hiện nay. Việt Nam không thể đứng ngoài xu thế này. Trong xu thế hội nhập ấy, kể toán là một công cụ quan trọng của hệ công cụ quản lý kinh tế nói chung và quản lý doanh nghiệp nói riêng. Hệ thống công cụ quan trọng bậc nhất này cũng phải được đổi mới cho phù hợp. Chế độ kết toán được ban hành theo quyết định 1141TC/QĐ/CĐKT ngày 1.11.1995 cho tới nay về cơ bản là phù hợp với cơ chể quản lý mới. Tuy nhiên, hệ thống kế toán này vẫn còn nhiều tồn tại, các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán chưa được quy định rõ ràng. Do đó, yêu cầu cấp bách đặt ra cho chế độ kế toán Việt Nam hiện nay là phải điều chỉnh một mặt phù hợp với cơ chế kinh tế trong nước, mặt khác ngày càng phải tiến gần tới các chuẩn mực kế toán quốc tế. Chuẩn mực về kế toán số 7 (IAS7) (Báo cáo lưu chuyển tiền tệ) là một trong những báo cáo tài chính không thể thiếu đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, việc lập BCLCTT chưa được quy định bắt buộc trong hệ thống kế toán Việt Nam. Cùng với quá trình hoàn thiện dần hệ thống kế toán cho phù hợp với các thông lệ kế toán chung trên thế giới, chúng ta cũng quan tâm nhiều hơn đến báo cáo tài chính quan trọng này. Tuy nhiên trong thực tế có rất ít doanh nghiệp quan tâm đến nó hoặc do sự khó lập hay chưa nhận thức được tầm quan trọng của nó trong hệ thống báo cáo tài chính nói chung và cụ thể là trong công tác quản lý doanh nghiệp. Vì vậy, trong chuyên đề 2 cuối khoá của mình em đã mạnh dạn chọn đề tài: “ý nghĩa và vai trò của báo cáo lưu chuyển tiền tệ trong các doanh nghiệp việt nam”. BCLCTT là một vấn đề đã được nhiều tác giả để cập đến. Tuy nhiên, em muốn đưa ra những dẫn chứng quan trọng về vai trò của BCLCTT và sự cần thiết phải lập BCLCTT trong các doanh nghiệp Việt Nam. Nghiên cứu gồm ba phần: I- Nội dung của BCLCTT II- Yêu cầu phải lập BCLCTT trong các doanh nghiệp Việt Nam. III- Một số hướng suy nghĩ để đưa BCLCTT áp dụng trong các doanh nghiệp Việt Nam nội dung I. Nội dung của bclctt 1.Giới thiệu về BCLCTT BCLCTT là một báo cáo tài chính phản ánh các khoản thu và chi tiền trong kỳ của doanh nghiệp theo từng hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính. Mục đích của BCLCTT nhằm trình bày cho người sử dụng biết luồng tiền của doanh nghiệp được sinh ra bằng cách nào và doanh nghiệp đã sử dụng chúng ra sao trong kỳ báo cáo. Mặt khác, đây cũng là công cụ hữu ích trong việc kiểm 3 tra lại tính chính xác của đánh giá trước kia về các luồng tiền trong tương lai và trong việc kiểm tra mối quan hệ giữa khả năng sinh lời của doanh nghiệp với các ảnh hưởng của thay đổi giá cả dựa trên các chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh mà doanh ngiệp đặt ra. Điều này luôn cần thiết cho mọi loại hình doanh ngiệp. 2. Nội dung và phương pháp lập BCLCTT Có 2 phương pháp để lập BCLCTT: phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp. Mỗi phương pháp đều có những căn cứ, nguyên tắc, ưu điểm, nhược điểm riêng. Doanh nghiệp trình bày BCLCTT tuỳ theo cách thức nào cho phù hợp với đặc điểm kinh doanh của mình. Điều này sẽ cung cấp các thông tin cho phép những người sử dụng đánh giá được ảnh hưởng của các nội dung trong BCLCTT đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, cũng như đánh giá mối liên hệ giữa các nội dung, các hoạt động trong doanh nghiệp một cách hiệu quả nhất. Tuy nhiên, dù sử dụng phương pháp nào BCLCTT cũng phải đảm bảo 3 nội dung sau: _ Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh _ Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu tư _ Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh: Các luồng tiền từ hoạt động kinh doanh chủ yếu bắt nguồn từ các hoạt động sinh lời cơ bản của doanh nghiệp. Bởi vậy, nhìn chung luồng tiền này là kết quả của các giao dịch và sự kiện có tham gia vào việc xác định lãi hoặc lỗ ròng. Các luồng từ các hoạt động kinh doanh thường có: tiền nhận được từ việc bán hàng hay cung cấp dịch vụ; tiền nhận được từ bản quyền, phí, hoa hồng và các 4 doanh thu khác; tiền trả cho người lao động; tiền trả hay khoản hoàn thuế thu nhập (trừ trường hợp chúng có thể được xác định cụ thể là hoạt động đầu tư hay tài chính); tiền nhận hay trả từ các hợp đồng dùng cho các mục đích mua bán hay thương mai; các giao dịch mua bán máy móc hay mua bán các trái phiếu cho mục đich thương mại... cũng được xem là các luồng tiền từ hoạt động kinh doanh. Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh phản ánh toàn bộ dòng tiền thu vào và chi ra liền trực tiếp đến các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể sử dụng một trong hai phương pháp: Phương pháp gián tiếp: dựa trên sự phù hợp giữa lợi nhuận ròng với các dòng tiền mặt khác của hoạt động kinh doanh. Bắt đầu từ lợi nhuận ròng, các thay đổi trong kỳ về hàng tồn kho và các khoản phải thu, phải trả từ hoạt động kinh doanh và các khoản mục không bằng tiền như khấu hao, dự phòng, thuế dời lại, lãi hay lỗ, khoản thực hiện do chuyển đổi ngoại tệ,lợi nhuận chưa phân phối của các công ty liên kết, các khoản lợi tức cổ phần... kế tiếp đó là những tác động của điều chỉnh khoản bằng tiền mặt đối với lợi nhuận ròng được tính toán đến. Phương pháp trực tiếp: trình bày tổng các khoản tiền thu và tổng các khoản tiền chi. Dòng tiền mặt của hoạt động kinh doanh thể hiện sự khác nhau giữa các khoản thu, chi tiền mặt như là các khoản thu từ bán hàng, lợi tức nhận được và các khoản chi thanh toán lương, chi phí hàng hoá dịch vụ mua vào, lãi tiền vay và thuế. Phương pháp trực tiếp cung cấp các thông tin có thể hữu dụng trong việc dự đoán các luồng tiền trong tương lai và các thông tin này không có được từ phương pháp gián tiếp. Trong bài viết của TS. Đoàn Xuân Tiến - Giảng viên trường Đại học Tài chính kế toán Hà Nội về ''chuẩn mực Kiểm toán số 7 và 5 việc vận dụng vào Việt Nam", chuyên mục nghiên cứu trao đổi của tạp chí Kế toán có đưa ra hướng dẫn thêm về phương pháp lập BCLCTT. Đối với các luồng tiền trong doanh nghiệp có thể lập theo phương pháp trực tiếp hoặc phương pháp gián tiếp. Trong đó phương pháp trực tiếp có 2 cách lập là: _ Lập bằng cách điều chỉnh doanh thu, sự biến động của các khoản phải thu, giá vốn hàng bán, sự biến động của các khoản phải trả, hàng tồn kho và các khoản phải trả là tiền... để xác định luồng tiền vào ra. Cách lập này còn khá mới mẻ. _ Lập thep cách dựa vào các ghi chép chi tiết của kế toán thu, chu tiền mặt và tiền gửi ngân hàng. Cách này cũng tất khó thực hiện. Nhìn chung các doanh nghiệp Việt Nam được khuyến khích sử dụng phương pháp trực tiếp cho việc báo các các luồng tiền từ hoạt động kinh doanh. Vì các khoản mục trong báo cáo theo phương pháp trực tiếp được lập một cách chi tiết rõ ràng hơn so với báo cáo theo phương pháp gián tiếp, và nó phù hợp với mọi loại hình, quy mô và hình thức kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam. Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu tư: Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu tư phản ánh toàn bộ dòng tiền thu vào và chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp. Hoạt động đầu tư bao gồm hai phần: _ Đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho bản thân doanh nghiệp như hoạt động xây dựng cơ bản, mua sắm tài sản cố định. 6 _ Đầu tư vào các đơn vị khác dưới hình thức góp vốn kinh doanh, đầu tư chứng khoán, cho vay không phân biệt đầu tư ngắn hạn hay dài hạn. Tương ứng với các hoạt động đầu tư, dòng tiền lưu chuyển phản ánh từ hoạt động đầu tư gồm các khoản: _ Các khoản chi trả tiền mua nhà xưởng, máy móc, thiết bị, tài sản vô hình, các tài sản dài hạn khác liên quan đến các chi phí tăng đã được vốn hoá và các nhà xưởng máy móc thiết bị tự tạo; các khoản tiền nhận từ việc bán các nhà xưởng, máy móc thiết bị, tài sản vô hình và các tài sản dài hạn khác. _ Trả tiền để mua cổ phần hay các công cụ nợ của các doanh nghiệp khác và lợi tức trong các liên doanh; tiền thu từ việc bán lại cổ phần hay các công cụ nợ từ các doanh nghiệp khác và lợi tức trong các liên doanh. _ Tiền trả cho các hợp đồng trong tương lai, tiền thu từ các hoạt động trong tương lai, các hợp đồng có kỳ hạn... Lưu chuyển tiền tệ từ các hoạt động tài chính Nếu việc tách biệt các luồng tiền phát sinh từ các hoạt động đầu tư thể hiện phạm vi mà các chi phí đã được thực hiện cho các nguồn dự định sẽ tạo ra lợi nhuận và các luồng tiền trong tương lai, thì việc tách biệt các luồng tiền từ các hoạt động tài chính sẽ rất hữu dụng trong việc dự đoán các khoản mà những người cung cấp vốn cho doanh nghiệp đòi hỏi trong các luồng tiền tương lai. Các luồng tiền phát sinh từ các hoạt động tài chính bao gồm: tiền ròng thu được từ việc phát hành cổ phiếu hay các công cụ về vốn khác; tiền trả cho các chủ sở hữu để mua hay thanh toán các cổ phiếu của doanh nghiệp; tiền ròng thu được từ việc phát hành trái phiếu, nợ, thương phiếu, tính phiếu, thế chấp và các khoản vay ngắn hạn hay dài hạn khác; tiền trả cho các khoản đã vay... 7 Doanh nghiệp lập báo cáo riêng biệt các loại chính của tổng số tiền thu và tổng số tiền chi phát sinh từ các hoạt động đầu tư, tài chinh. Trong doanh nghiệp, ngoài các hoạt động chính phát sinh từ hoạt động kinh doanh, đầu tư hay tài chính, đôi khi các luồng tiền phát sinh liên quan đến các khoản mục bất thường, hay những trường hợp được xem là đặc biệt như các luồng tiền có nguồn gốc từ ngoại tệ, các vấn để phát sinh từ lãi vay và cổ tức, vấn đề góp vốn vào các xí nghiệp và các hoạt động mua bán cổ phần giữa các xí nghiệp, các cơ sở kinh doanh khác. Các luồng tiền liên quan đến các khoản mục này được thuyết trình riêng biệt với các khoản mục phát sinh từ các hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư hay hoạt động tài chính trong BCLCTT nhằm giúp cho người sử dụng có thể hiểu được bản chất và ảnh hưởng của chúng tới luồng tiền của các doanh nghiệp hiện tại và trong tương lai. Ngoài các thông tin trên bắt buộc phải có trong mọi BCLCTT thì các doanh nghiệp cũng nên cung cấp thêm những thông tin khác mặc dù không mang tính chất bắt buộc. Những việc bổ xung thuyết trình các thông tin này sẽ giúp cho người sử dụng báo cáo tài chính đánh giá được dễ dàng tình hình tài chính tiền tệ của doanh nghiệp, cũng như đáp ứng mục đích cần quan tâm. Ví dụ thông tin về tổng số các luồng tiền phát sinh từ việc đầu tư để gia tăng khả năng, phương tiện sản xuất kinh doanh; đầu tư để duy trì khả năng, phương tiện sản xuất kinh doanh... sẽ giúp cho những người sử dụng báo cáo biết được là doanh nghiệp đã có chính sách đầu tư để duy trì hoặc gia tăng sản xuất kinh doanh có phù hợp hay không. Từ đó biết rõ hơn mối quan hệ giữa các luồng tiền tổng thể trong doanh nghiệp và các luồng tiền của từng thành phần cấu thành trong doanh nghiệp. Nội dung được trình bày theo các biểu mẫu của chuẩn mực kế toán IAS7: 8 BCLCTT theo phương pháp trực tiếp: I. Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh (A-B) A.Tổng thu = (1)+(2)+(3) 1. Tiền thu từ việc bán hàng 2. Tiền thu từ các khoản nợ phải thu 3. Tiền thu từ các khoản khác B. Tổng chi =(1)+(2)+(3)+(4)+(5) 1,Tiền đã trả cho người bán 2.Tiền đã trả cho công nhân viên 3.Tiền đã nộp thuế và các khoản khác cho nhà nước 4.Tiền đã trả cho các khoản nợ khác 5.Tiền đã trả cho các khoản khác II. Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư (A-B) A. Tổng số tiền thu vào từ các hoạt động đầu tư (=(1)+(2)+(3)) 1. Tiền thu hồi các khoản đầu tư vào đơn vị khác 2. Tiền thu từ lãi các khoản đầu từ vào đơn vị khác (lợi tức, cổ tức v.v..) 3. Tiền thu do bán TSCĐ B. Tổng số tiền chi ra từ các hoạt động đầu tư (=(1)+(2)+(3)) 9 1.Tiền đầu tư vào các đơn vị khác 2.Tiền mua TSCĐ 3.Tiền chi cho hoạt động thanh lý nhượng bán TSCĐ III. Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính (A-B) A. Tổng số tiền thu từ hoạt động tài chính (=(1)+(2)+(3)) 1. Tiền thu do đi vay 2. Tiền thu do các chủ sở hữu đóng góp 3. Tiền thu từ lãi tiền gửi, thu từ việc phát hành cổ phiếu, thu từ các khoản vay dài hạn B. Tổng số tiền chi từ hoạt động tài chính (=(1)+(2)+(3)) 1. Tiền đã trả nợ vay 2. Tiền lãi đã trả cho các nhà đầu tư và doanh nghiệp 3. Trả nợ thuê tài chính IV.Lưu chuyển tiền thuần trong kỳ (=(I)+(II)+(III)) BCLCTT theo phương pháp gián tiếp I. Luồng tiền từ hoạt động kinh doanh A. Lợi nhuận trước thuế B. Điều chỉnh cho: 10 C. Cộng các khoản 1. Chênh lệch giữa số dư cuối kỳ lớn hơn số dư đầu kỳ của các tài khoản phản ánh dự phòng 2. Khấu hao TSCĐ 3. Lỗ do bán TSCĐ 4. Lỗ do đầu tư vào đơn vị khác 5. Lỗ do đánh giá lại tài sản và chuyển đổi tiền tệ C. Trừ các khoản 1. Chênh lệch giữa số dư cuối kỳ nhỏ hơn số dư đầu kỳ của các tài khoản phản ánh dự phòng 2. Thu lãi tiền gửi 3. Lãi do bán TSCĐ 4. Lãi do đầu tư vào đơn vị khác 5. Lãi do đánh giá lại TSCĐ D. Lợi nhuận kinh doanh trước những thay đổi của vốn lưu động (=A+B-C) E. Cộng (+) 1. Chênh lệch giữa số dư cuối kỳ nhỏ hơn đầu kỳ của các khoản phải thu 2. Chênh lệch giữa số dư cuối kỳ nhỏ hơn đầu kỳ của hàng tồn kho 3. Chênh lệch giữa số dư cuối kỳ lớn hơn đầu kỳ của các khoản phải trả 11 4. Tiền thu từ các khoản khác F. Trừ (-) 1. Chênh lệch giữa số dư cuối kỳ lớn hơn đầu kỳ của các khoản phải thu 2. Chênh lệch giữa số dư cuối kỳ lớn hơn đầu kỳ của hàng tồn kho 3. Chênh lệch giữa số dư cuối kỳ nhỏ hơn đầu kỳ của các khoản phải trả 4. Tiền chi từ các khoản khác G. Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh (=D+E+F) II. Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư (A-B) A. Tổng số tiền thu vào từ hoạt động đầu tư (=(1)+(2)+(3)) 1. Tiền thu hồi các khoản đầu tư vào đơn vị khác 2. Tiền thu từ lãi các khoản đầu tư vào đơn vị khác (lợi tức, cổ tức...) 3. Tiền thu do bán TSCĐ B. Tổng số tiền chi ra từ hoạt động đầu tư (=(1)+(2)+(3)) 1. Tiền đầu tư vào các đơn vị khác 2. Tiền mua TSCĐ 3. Tiền chi cho hoạt động thanh lý, nhượng bán TSCĐ III. Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính (A-B) A. Tổng số tiền thu từ hoạt động tài chính 12 1. Tiền thu do đi vay 2. Tiền thu do các chủ sở hữu đóng góp 3. Tiền thu từ lãi tiền gửi, thu từ việc phát hành cổ phiếu, thu từ các khoản vay dài hạn B. Tổng số tiền chi từ hoạt động tài chính (=(1)+(2)+(3)) 1. Tiền đã trả nợ vay 2. Tiền lãi đã trả cho các nhà đầu tư vào doanh nghiệp 3. Trả nợ thuê tài chính... IV. Lưu chuyển tiền thuần trong kỳ (=(I)+(II)+(III)) Có thể nói, nội dung của một BCLCTT đã nêu lên được rất nhiều vấn đề trong một doanh nghiệp, đáp ứng được khá nhiều thông tin mà những người cần quan tâm tới tình hình tài chính của doanh nghiệp có thể tìm thấy. II. yêu cầu phải lập BCLCTT trong các doanh nghiệp Việt Nam 1. ý nghĩa thực tiễn của BCLCTT Để thấy được việc lập BCLCTT là cần thiết, chúng ta phải thấy được vai trò của nó. Vai trò của BCLCTT được thể hiện trên các mặt sau: a) BCLCTT - một công cụ phân tích vốn bằng tiền 13 BCLCTT được lập ra là để phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền trong doanh nghiệp. Vì vậy BCLCTT phải được sử dụng trước hết như một công cụ để phân tích vốn bằng tiền. Vốn bằng tiền là một bộ phận tài sản rất quan trọng của doanh nghiệp. Nó tham gia vào hầu hết các hoạt động của doanh nghiệp. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn bằng tiền được sử dụng để đáp ứng nhu cầu về thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp hoặc mua sắm vật tư, hàng hoá vừa là kết quả của việc mua bán hoặc thu hồi các khoản nợ. Qua phân tích tình hình sử dụng vốn bằng tiền, chúng ta có thể biết được chất lượng hoạt động của doanh nghiệp. Và để tìm hiểu tình hình sử dụng vốn bằng tiền trong kỳ chúng ta có thể đánh giá tình hình thanh toán với người bán, thanh toán với người mua, thanh toán với ngân sách, tìm hiểu các khoản nợ quá hạn... Việc đánh giá các khoản mục liên quan đến các dòng tiền mặt sẽ giúp cho việc phân tích những gì đã xảy ra liên quan đến tình hình sử dụng vốn tiền mặt trong kỳ. BCLCTT sẽ cung cấp cho ta những thông tin đầy đủ về vấn đề này. Một cách tổng quát, sự vận động của tiền mặt bao gồm hai mặt: tăng và giảm hay nói cách khác là thu và chi. BCLCTT cung cấp những con số phản ánh sự vận động của tiền. Thông tin cơ bản nhất mà chúng ta thu được từ BCLCTT là lượng tiền tăng và giảm trong kỳ. Nhưng điều quan trọng hơn là thông qua việc phân tích mối quan hệ giữa các con số, người quản lý biết được những nguyên nhân, những biến động làm ảnh hưởng đến tình hình tăng, giảm vốn tiền mặt đó. Thực tế thì sự tăng giảm tiền mặt của doanh nghiệp có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau. Chẳng hạn như tiền mặt tăng có thể là kết quả của việc tiêu thụ sản phẩm hay việc thu được các khoản nợ hoặc cũng có thể là từ việc bán các tài sản cố định... Tương tự như vậy, tiền mặt giảm trong kỳ có thể là do chi mua hàng, chi mua sắm các tài sản cố định hay trang trải các khoản nợ... Mặt khác, việc phân chia luồng tiền trên BCLCTT theo từng lĩnh vực hoạt động cũng 14 đem lại cho chúng ta những thông tin hữu ích. Nó cho biết mức đóng góp của từng lĩnh vực hoạt động vào vốn bằng tiền của doanh nghiệp. Đối với bất cứ doanh nghiệp nào thì việc phân tích chính xác về sự hình thành và sử dụng vốn bằng tiền cũng rất quan trọng. Người quản lý cần phải nắm được luồng tiền vào, ra của doanh nghiệp đã hợp lý hay chưa để có sự điều chỉnh kịp thời, phù hợp. Thực tế, để phục vụ cho việc phân tích, người ta thường thiết lập các tỷ số tiền mặt dựa trên mối quan hệ giữa các bộ phận, các khoản mục của bản báo cáo. Chẳng hạn, chúng ta có thể thiết lập các tỷ số sau: _ Nhóm tỷ số tiền mặt thể hiện mức đóng góp của từng dòng thu trong tổng các dòng thu tiền mặt trong kỳ. Như đã nói ở trên, tiền mặt có thể thu được từ 3 nguồn: từ hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính. Tỷ số tiền mặt được tính bằng luồng tiền thu được từ mỗi loại hình hoạt động trên tổng luồng tiền thu được trong kỳ. Khi trình bày các tỷ số này qua các năm chúng ta có thể nhận biết được sự thay đổi của vốn tiền mặt được tạo ra. Nếu các khoản mục tạo ra tiền chủ yếu là do các hoạt động kinh doanh đem lại, chẳng hạn như từ lợi nhuận ròng hay giảm các khoản phải thu thì đó là dấu hiệu của một cơ chế quản lý tốt và người quản lý có thể an tâm về việc sử dụng vốn tiền mặt trong kỳ đó. Khi đó tài sản của doanh nghiệp được tài trợ chính từ kết quả hoạt đông sản xuất kinh doanh-chức năng chính của doanh nghiệp. Còn nếu tiền mặt được tạo ra chủ yếu từ các hoạt động khác như từ việc bán chứng khoán đầu tư, vay mượn, từ việc phát hành trái phiếu... thì người quản lý có thể nhận được dấu hiệu không bình thường về tình hình vốn tiền mặt nói riêng và tình hình hoạt động nói chung của doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa là việc sử dụng vốn tiền mặt trong kỳ chủ yếu dựa vào bên ngoài, những nguồn mang tínhchất tạm thời hơn là từ nội lực, từ hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, việc sử dụng vốn tiền mặt trong kỳ tới cần phải được điều chỉnh. 15 _ Nhóm tỷ số tiền mặt liên quan đến việc thanh toán các khoản nợ. Mục đích của việc lập nhóm tỷ số tiền mặt này là để biết trong tổng số tiền mặt thu được trong kỳ doanh nghiệp đã thanh toán các khoản nợ là bao nhiêu, tỷ số này có thể lớn hơn hoặc bé hơn 1. Nếu lớn hơn 1 thì có nghĩa là doanh nghiệp mở rộng sử dụng các khoản nợ trong cơ cấu nguồn vốn của mình. Còn nếu bé hơn 1 thì doanh nghiệp đang giảm dần các khoản nợ. Tuỳ từng giác độ của doanh nghiệp mà đánh giá chiều hướng nào là tiêu cực hay tích cực. Chẳng han, nếu xét về giác độ tự chủ trong kinh doanh thì giá trị bé hơn 1 sẽ có lợi hơn còn xét về giác độ chiếm dụng vốn thì tình hình lại ngược lại. _ Nhóm tỷ số tiền mặt phản ánh việc chi tiền mặt mua sắm TSCĐ từ vốn bằng tiền. Tỷ số này cao hay thấp là tốt tuỳ thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp. Chẳng hạn, nếu là doanh nghiệp thì tỷ số này cao sẽ không tốt vì TSCĐ có tốc độ chu chuyển vốn chậm mà lợi nhuận của doanh nghiệp thương mại tỷ lệ thuận với vòng quay của vốn. Vì vậy, tốt hơn là doanh nghiệp dùng tiền vào mua sắm hàng hoá và tăng cường các biện pháp thúc đẩy nhanh việc tiêu thụ hàng hoá... Một vài loại tỷ số nói trên đóng vai trò quan trọng trong việc phân tích vốn bằng tiền nói riêng và trong hệ thống tài chính nói chung. Ngoài ra, chúng ta có thể lập những tỷ số rất hữu ích khác như tỷ số phản ánh dòng thu tiền mặt từ khấu hao, tỷ số liên quan đến việc chi trả cổ tức bằng tiền mặt... Các tỷ số này kết hợp với các thông tin từ các bảng báo cáo tài chính khác sẽ giúp cho người quản lý có cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về tình hình hoạt động của doanh nghiệp. Như vây, BCLCTT thực sự là một công cụ phân tích tài chính hữu ích. Nó cung cấp những thông tin quan trọng cho những người quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. Trong điều kiện hiện nay, người quan tâm đến tình hình 16 tài chính của doanh nghiệp rất đa dạng. Đó không chỉ là người quản lý doanh nghiệp, các cơ quan quản lý chức năng mà còn là những nhà đầu tư, các nhà cung cấp tín dụng, công nhân viên, các kiểm toán viên độc lập... BCLCTT có thể giúp họ có được những quyết định đúng đắn, hợp lý nhất. b) BCLCTT - cơ sở ra quyết định của những người sử dụng báo cáo. Báo cáo tài chính nói chung và BCLCTT nói riêng là nguồn thông tin quan trọng không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn phục vụ chủ yếu cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp, như các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà đầu tư hiện tại và tương lai, các nhà cung cấp tín dụng, hàng hoá, nhà quản lý doanh nghiệp, công nhân viên của doanh nghiệp, kiểm toán viên độc lập... Do vậy, việc so sánh báo cáo giữa các doanh nghiệp là rất quan trọng trong việc đưa ra quyết định đối với các đối tượng sử dụng báo cáo của doanh nghiệp. _ Đối với người quản lý của doanh nghiệp, BCLCTT cung cấp những thông tin quan trọng về việc hình thành và sử dụng lượng tiền trong kỳ báo cáo, những nguy cơ cũng như triển vọng về mặt tài chính của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, người quản lý doanh nghiệp phân tích, đánh giá những tồn tại và phát hiện khả năng tiềm tàng để có các quyết định quản trị tài chính doanh nghiệp đúng đắn và có hiệu qủa nhất. Ngoài ra, người quản lý có thể sử dụng BCLCTT để thông báo cho các nhà đầu tư, các chủ nợ, các cơ quan nhà nước, công nhân viên... biết được tình hình tài chính của doanh nghiệp mình, qua đó thuyết phục các đối tượng có liên quan có các quyết định hợp lý tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong tương lai. _ Đối với các cơ quan quản lý chức năng của nhà nước, BCLCTT cung cấp thông tin cần thiết giúp cho việc thực hiện chức năng quản lý vỹ mô của nhà nước đối với nền kinh tế. Chẳng hạn, nhà nước dựa vào BCLCTT để có những chính sách phù hợp đối với từng doanh nghiệp hoặc từng khu vực kinh tế như 17 các chương trình tài trợ hay cấp vốn... Ngoài ra, nó còn là nguồn số liệu quan trọng để cơ quan thống kê tính toán các chỉ tiêu tổng hợp từng ngành, từng địa phương cũng như cả nước, giúp cho các cơ quan tài chính nhà nước thực hiện việc kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất đối với hoạt động của doanh nghiệp. _ Đối với các nhà đầu tư hiện tại và tương lai, như các đối tác tham gia liên doanh, các cổ đông thì dựa vào BCLCTT của doanh nghiệp để đánh giá khả năng tài chính của doanh nghiệp để họ đưa ra các quyết định sử dụng vốn đầu tư hợp lý trên nguyên tắc cùng có lợi như quyết định tiếp tục đầu tư hay rút vốn, quyết đình nên đầu tư vào doanh nghiệp nào nếu họ đang tìm nơi đầu tư có lợi... _ Đối với các nhà cung cấp tín dụng, hàng hoá thì thông tin trên BCLCTT là nguồn số liệu để họ phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp, từ đó họ có quyết định phương thức cho vay, phương thức thanh toán hợp lý. _ Đối với công nhân viên của doanh nghiệp, BCLCTT là cơ sở để họ đánh giá tính hợp lý của các khoản thu nhập mà họ được hưởng. _ Đối với các kiểm toán viên độc lâp, BCLCTT nằm trong hệ thống các báo cáo kế toán của doanh nghiệp là đối tượng kiểm toán của họ. Như vậy, BCLCTT là một yếu tố quan trọng đối với những người sử dụng thông tin vì nó cung cấp những thông tin quan trọng về tình hình và khả năng tài chính của doanh nghiệp, từ đó mà có được những quyết định đúng đắn. Ngoài ra, việc so sánh BCLCTT giữa các doanh nghiệp cũng giúp họ có những nhận xét xác đáng về tình hình hoạt động của các doanh nghiệp để đưa ra các quyết định hợp lý đối với từng doanh nghiệp. 2.Thực trạng việc lập BCLCTT hiện nay ở Việt Nam 18 BCLCTT với chức năng cung cấp thông tin về các vấn đề liên quan đến các luồng tiền vào, ra trong doanh nghiệp, tình hình tài trợ đầu tư bằng tiền của doanh nghiệp trong từng thời kỳ đã trở thành một trong các báo cáo quan trọng đối với các công ty nước ngoài. Tiền và các khoản có thể chuyển hoá ngay thành tiền có liên quan đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp và nhiều hoạt động khác: Nếu lượng tiền mặt trong doanh nghiệp quá lớn sẽ làm vốn doanh nghiệp bị tồn đọng không thúc đẩy quá trình quay vòng vốn làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh bị trì trệ thì việc duy trì lượng tiền tồn quá nhỏ sẽ làm doanh nghiệp bị hạn chế trong thanh toán và không nắm được các cơ hội đầu tư trong điều kiện cạnh tranh. Bởi vậy, dành cho tình hình vốn bằng tiền của doanh nghiệp một sự quan tâm nhất định là điều cần thiết. Hiện nay, một số công ty lớn của Việt Nam đã nhận thức được tầm quan trọng của BCLCTT nhưng do những nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, BCLCTT vẫn chưa được phổ biến rộng rãi. Phần lớn các công ty lập BCLCTT đều là công ty nước ngoài hoặc có sự tham gia góp vốn của nước ngoài. Các doanh nghiệp trong nước chủ yếu chú trọng vào các báo cáo bắt buộc như bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh. Họ cũng có sự lưu tâm đến vốn bằng tiền nhưng chỉ lấy thông tin từ các khoản mục về tiền trong bảng cân đối kế toán. Ta có thể thấy rõ sự quan tâm này là chưa đúng mức vì bảng cân đối kế toán chỉ cung cấp những thông tin từ các khoản mục về lượng tiền và một số tỷ suất về khả năng thanh toán mà không cho biết các luồng tiền vào ra từ hoạt động nào, do đâu mà có. Nhìn vào BCLCTT, các nhà quản trị có thể thấy được những chi tiết bất hợp lý và những hoạt động mang lại hiệu quả lớn cho doanh nghiệp. Có thể thấy, BCLCTT không có nhiều ý nghĩa trong việc cung cấp thông tin về sản xuất kinh doanh nhưng lại mang lại những chỉ dẫn rất cần thiết cho các hoạt động liên quan đến vốn tiền tệ trong tương lai. Nói cách khác, BCLCTT là sự nhìn nhận lại những hoạt động cũ để hướng tới hoạt động tương 19 lai một cách hiệu quả. Việt Nam mới bước vào nền kinh tế thị trường, sự sinh sau đẻ muộn này bên cạnh việc đem lại cho chúng ta một số thuận lợi, tránh được các thất bại và rút được nhiều kinh nghiệm từ các nước đàn anh nhưng cũng không tránh khỏi sự non kém trong công tác quản lý và phân tích kinh doanh mà BCLCTT là một ví dụ. Trong những năm tới, với sự phát triển không ngừng về kinh tế, với tính chất ngày càng khốc liệt của cạnh tranh và xu hướng gia tăng của đầu tư nước ngoài, chắc chắn các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải hoàn thiện hoạt động quản lý và phân tích tài chính của mình ngày càng gần hơn với chuẩn mực của Thế giới; và để ra được các quyết định đúng đẵn thì việc lập BCLCTT là không thể thiếu. Như vậy trong nên kinh tế thị trường phát triển ở trình độ cao, các mối quan hệ và các hoạt động kinh tế trở nên phức tạp, việc lập BCLCTT để phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp mang lại những hiệu quả rất lớn cho các hoạt động tương lai. Với tác dụng to lớn của BCLCTT, một câu hỏi đặt ra là tại soa các doanh nghiệp Việt Nam phần lớn đều không lập BCLCTT? Có rất nhiều lý do có thể đưa ra để giải thích cho câu hỏi này. Có thể là chưa thoả đáng nhưng nó cũng góp phần để từ đó đưa ra một số phương hướng nhằm đưa BCLCTT áp dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp Việt Nam để BCLCTT phát huy những mặt tích cực của nó từ đó làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng và thúc đẩy nền kinh tế nói chung, tạo điều kiện cho Việt Nam hoà nhập vói thế giới về chế độ tài chính và các hoạt động hợp tác về kinh tế. ở tầm vĩ mô, có thể nói tới nguyên nhân mang tính chất chi phối, đó là sự non trẻ của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. Bước vào nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp Việt Nam có rất ít kinh nghiệm hoạt động trong môi trường 20
- Xem thêm -