Tóm lượt lý thuyết về mối quan hệ giữa nợ công và sự tăng trưởng kinh tế

  • Số trang: 22 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 17 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

GVHD: TRƯƠNG MINH TUẤN NHÓM 5 BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH KHOA KẾ TOÁN --------------------------------- BÀI TIỂU LUẬN MÔN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ ĐỀ TÀI 5: TÓM LƯỢT LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA NỢ CÔNG VÀ SỰ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ GVHD : Trương Minh Tuấn LỚP : VB2K15KT02 NHÓM TH : NHÓM 5 Tp. Hồ Chí Minh - 11/2012 LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ 1 GVHD: TRƯƠNG MINH TUẤN NHÓM 5 I. LÝ THUYẾT VỀ NỢ CÔNG 1. ĐỊNH NGHĨA NỢ CÔNG Nợ chính phủ, còn gọi là Nợ công hoặc Nợ quốc gia, là tổng giá trị các khoản tiền mà chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay. a) Theo Luật quản lý nợ công số 29/2009/QH12 ngày 17/06/2009 thì nợ công bao gồm:  Nợ Chính phủ: là khoản nợ được kí kết phát hành nhân danh nhà nước hoặc chính phủ, các khoản nợ do Bộ tài chính kí kết, phát hành hoặc uỷ quyền phát hành, không bao gồm các khoản nợ do ngân hàng nhà nước Việt Nam phát hành nhẳm thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời kì.  Nợ chính phủ bảo lãnh: là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được chính phủ bảo lãnh.  Nợ chính quyền địa phương: là khoản nợ do UBND tỉnh-tp trực thuộc TW kí kết hoặc uỷ quyền phát hành. Như vậy, các khoản vay như vay vốn ODA , phát hành trái phiếu chính phủ (trong cũng như ngoài nước), trái phiếu công trình đô thị hay một tập đoàn kinh tế vay nợ nước ngoài được chính phủ bảo lãnh đều được xem là nợ công. Việc đi vay này là nhằm tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách nên nói cách khác, nợ chính phủ là thâm hụt ngân sách luỹ kế đến một thời điểm nào đó. Để dễ hình dung quy mô của nợ chính phủ, người ta thường đo xem khoản nợ này bằng bao nhiêu phần trăm so với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP). b) Theo Ngân hàng thế giới (World Bank - WB) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (Inte rnational Monetary Fund - IMF) thì nợ công: LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ 2 GVHD: TRƯƠNG MINH TUẤN NHÓM 5  Theo nghĩa rộng là nghĩa vụ nợ của khu vực công, bao gồm: các nghĩa vụ nợ của Chính phủ trung ương, các cấp chính quyền địa phương, ngân hàng trung ương và các tổ chức độc lập (nguồn vốn hoạt động do ngân sách nhà nước quyết định hay trên 50% vốn thuộc sở hữu nhà nước, và trong trường hợp vỡ nợ nhà nước phải trả nợ thay).  Theo nghĩa hẹp, nợ công bao gồm: nghĩa vụ nợ của Chính phủ trung ương, các cấp chính quyền địa phương và nợ của các tổ chức độc lập được chính phủ bảo lãnh thanh toán. Nợ công xuất phát từ nhu cầu chi tiêu của Chính phủ, khi chi tiêu của Chính phủ lớn hơn số thuế, phí, lệ phí thu được thì Chính phủ phải đi vay trong hoặc ngoài nước với các phương thức khác nhau để trang trải cho các khoản thâm hụt ngân sách. Các khoản vay này sẽ phải hoàn trả gốc và lãi khi đến hạn, Chính phủ sẽ phải thu thuế tăng lên để bù đắp hoặc đi vay thêm một khoản khác để trả các khoản nợ đáo hạn này. Ngoài ra, Chính phủ còn thực hiện việc đầu tư của mình để có thể bù đắp lại phần nào các khoản thâm hụt ngân sách, thông qua các doanh nghiệp quốc doanh. 2. NỢ CÔNG TRÊN GDP ? CON SỐ BIẾT NÓI ? Để dễ hình dung quy mô của nợ chính phủ, người ta thường đo xem khoản nợ này bằng bao nhiêu phần trăm so với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Vậy nợ công chưa đụng trần thì chưa cần lo ? Chưa hẳn, vì tuy các con số về tỷ lệ nợ công trên GDP dù khác nhau nhưng vẫn chỉ là một chỉ số về quy mô của nợ công chứ không phải là một thước đo tốt về mức độ an toàn hay rủi ro của nợ công. Bởi vì, nợ công khoảng 100% GDP đủ để Hy Lạp rơi vào tình trạng phá sản, trong khi nợ công lên tới 200% GDP của Nhật Bản vẫn được coi là an toàn. Nếu dùng con số 50% GDP để coi là mức trần ở nước này thì ở nước khác người ta có thể sử dụng con số 80%. Như vậy, mức độ an toàn hay nguy hiểm của nợ công không chỉ phụ thuộc vào tỷ lệ nợ LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ 3 GVHD: TRƯƠNG MINH TUẤN NHÓM 5 trên GDP, mà quan trọng hơn là vào một số chỉ số khác như xu hướng của tỷ lệ này, hiệu quả sử dụng nợ, hay rộng hơn là tình trạng sức khỏe của nền kinh tế. 3. THỰC TRẠNG NỢ CÔNG TẠI VIỆT NAM Theo Luật Quản lý nợ công thì nợ công bao gồm nợ của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và vay nợ của chính quyền địa phương. Trong 10 năm qua, tỷ lệ nợ công của Việt Nam so với GDP ngày càng có xu hướng gia tăng. Tổng số dư nợ công tính đến năm 2011 bằng 54,6% GDP. Trong cơ cấu nợ công thì nợ Chính phủ chiếm tỷ trọng lớn nhất, tiếp đến là nợ được Chính phủ bảo lãnh. Quy mô nợ của chính quyền địa phương chiếm tỷ trọng tương đối thấp, dưới 1% GDP. Như vậy, các hệ số an toàn của nợ công Việt Nam tuy vẫn còn trong giới hạn nhưng đã tiệm cận ở mức cao. Nợ của Chính phủ Việt Nam đang chiếm tỷ trọng lớn và có xu hướng mở rộng đáng kể trong những năm gần đây. Năm 2011, dư nợ Chính phủ bằng khoảng 43,6% GDP, giảm so với con số 45,7% của năm 2010 nhưng chủ yếu là do GDP danh nghĩa của năm 2011 tăng cao so với năm 2010 nên các hệ số nợ khi so với GDP danh nghĩa năm 2011 có xu hướng giảm nhẹ. Mặc dù vẫn trong giới hạn cho phép và tỷ trọng của dư nợ chính phủ so với tổng mức nợ công có xu hướng giảm dần, nhưng tỷ trọng của nợ chính phủ so với GDP lại có xu hướng tăng trong suốt thập niên 2000. Trong dư nợ nước ngoài của Chính phủ, khoản vay ODA là lớn nhất. Tuy nhiên, cần hiểu rằng khi Việt Nam đã trở thành nước có mức thu nhập trung bình thì các điều kiện cho vay sẽ trở nên kém ưu đãi hơn và chi phí trả lãi vay hằng năm sẽ ngày càng tăng. Việc duy trì chi đầu tư từ ngân sách nhà nước ở mức cao trong giai đoạn vừa qua đã làm gia tăng bội chi ngân sách. Bội chi ngân sách ở Việt Nam tăng ở mức trung bình 4,0% GDP giai đoạn 1996 - 2000 lên 4,9% giai đoạn 2001 - 2005 LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ 4 GVHD: TRƯƠNG MINH TUẤN NHÓM 5 và 5,5% giai đoạn 2006 - 2011. Năm 2011, bội chi đã giảm xuống mức thấp nhất trong 3 năm qua là nhờ kết quả của việc thực hiện Nghị quyết 11 về những giải pháp chủ yếu ổn định kinh tế vĩ mô. Bội chi ngân sách kéo theo hệ quả trực tiếp là dư nợ công tăng và làm tăng chi phí vay nợ của Chính phủ. Thêm vào đó, nguồn trái phiếu chính phủ huy động để đầu tư cho các công trình kết cấu hạ tầng và dự án phát triển cũng đã góp phần làm tăng nợ công. Do nằm ngoài dự toán, nên số nợ chính phủ thực tế gia tăng trong thời gian qua luôn lớn hơn số cần có để bù đắp cho thâm hụt ngân sách. Đây cũng là lý do về việc số bội chi ngân sách của Việt Nam khác so với tính toán của các tổ chức tài chính quốc tế. Nợ của Chính phủ bảo lãnh cho các tập đoàn, tổng công ty nhà nước trong việc thực hiện các dự án phát triển (đầu tư công) chiếm một tỷ trọng khá lớn trong tổng vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước vừa qua và có xu hướng tăng lên, từ 4% tổng dư nợ công năm 2001 lên 10% năm 2005 và đến nay là 18,6% năm, tương đương 11,6% GDP. Nợ chính quyền địa phương chủ yếu là vay nợ để đầu tư xây dựng cơ bản theo Luật Ngân sách nhà nước 2002. Mức dư nợ phát hành trái phiếu của chính quyền địa phương hiện nay vẫn ở mức thấp, hiện khoảng 0,6% GDP. Mức dư nợ của chính quyền địa phương hiện nằm trong giới hạn quy định của Luật Ngân sách nhà nước, không quá 30% tổng chi đầu tư xây dựng cơ bản trong nước của các địa phương. Như vậy, nhìn chung nợ công của Việt Nam đang tăng nhanh trong bối cảnh thâm hụt ngân sách. Về nguyên tắc, nợ công của ngày hôm nay phải được trả bằng thặng dư ngân sách của ngày mai. Do đó, dường như Việt Nam đang vi phạm nguyên tắc quản lý nợ công bền vững. LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ 5 GVHD: TRƯƠNG MINH TUẤN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ NHÓM 5 6 GVHD: TRƯƠNG MINH TUẤN NHÓM 5 II. ẢNH HƯỞNG CỦA NỢ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ  Thứ nhất, nợ công là một nguồn rất cần thiết thuộc cấu trúc vốn tài chính của các quốc gia, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển, góp phần vào sự phát triển kinh tế đất nước trong ngắn hạn, nhưng trong dài hạn có nguy cơ gây tổn hại cho nền kinh tế bởi những yêu cầu thanh toán cả vốn gốc và lãi của nó. 1. Quan điểm: Theo quan điểm của Folorunso S. Ayadi và Felix O. Ayadi (2008) + Nợ là một trong những nguồn thuộc cấu trúc vốn tài chính của bất kỳ một nền kinh tế nào, đặc biệt, đối với những đất nước đang phát triển thuộc Châu Phi, Châu Á, Châu Mỹ La Tinh, đặc trưng bởi một cấu trúc vốn nội bộ không thỏa đáng, do đó, luôn gặp phải vòng luẩn quẩn của năng suất thấp do thiếu nguồn v ốn đầu tư nâng cấp và xây dựng cơ sở hạ tầng, cập nhật công nghệ kỹ thuật, rồi dẫn đến thu nhập thấp, kéo theo là t iết kiệm cũng thấp v à tiếp tục quay lại với cấu trúc vốn nội bộ th iếu thốn. V́ vậy, lúc này, những kiến thức thuộc về chuyên môn, bộ máy quản lư tài chính quốc gia và sự hỗ trợ tài chính từ những nước Phương Tây để khắc phục sự khó khăn về nguồn lực là điều trở nên rất cần thiết. + Mặt khác, nợ nước ngoài như là một sự ràng buộc chính yếu đến cấu trúc vốn của những quốc gia đang phát triển. Trong hầu hết các trường hợp, nợ dồn tích lại bởi vì những yêu cầu thanh toán cả vốn gốc và lãi của nó, do đó, nợ dần trở nên không góp phần một cách đáng kể cho sự phát triển kinh tế tại những đất nước đang phát triển trong dài hạn. Phát triển những ý tưởng trên: Theo Elmendorf và Mankiw (1999) , nợ công có ảnh hưởng quan trọng đến nền kinh tế cả trong ngắn và dài hạn. Các khoản nợ (phản ánh tài trợ thâm LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ 7 GVHD: TRƯƠNG MINH TUẤN NHÓM 5 hụt) có thể kích thích tổng cầu và sản lượng trong ngắn hạn do lượng vốn cung cấp cho nền kinh tế tăng cao, đáp ứng nhu cầu huy động vốn của những cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế, nhưng chèn lấn vốn đầu tư và làm giảm sản lượng trong dài hạn. Nợ công cao có thể ảnh hưởng bất lợi đến tích lũy vốn và tăng trưởng thông qua lãi suất dài hạn cao hơn, bóp méo hệ thống thuế trong tương lai cao hơn, lạm phát và sự không chắc chắn cao hơn về các triển vọng và chính sách. 2. Kết luận: Trong ngắn hạn, nợ công tác động tích cực lên tăng trưởng kinh tế bởi cung cấp một lượng vốn thiết yếu đối với chi tiêu cho đầu tư phát triển của quốc gia, nâng cao năng suất nhưng kèm theo đó là những nghĩa vụ nợ phải thực hiện trong tương lai, dẫn đến những ảnh hưởng bất lợi đến tích lũy vốn và tăng trưởng kinh tế dài hạn nếu không có một chính sách quản lý nợ công phù hợp và hữu hiệu.  Thứ hai, đối với những quốc gia phát triển và những nền kinh tế thị trường mới nổi, mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế biểu hiện rõ nhất khi nợ vượt mức 90-100% GDP; lúc này, nợ càng tăng, tăng trưởng kinh tế giảm đáng kể. 1. Quan điểm: Theo M. Reinhart và S. Rogoff , hai nhà kinh tế học nổi tiếng về nghiên cứu lĩnh vực nợ công, đã xem xét mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế với các mức độ khác nhau của nợ công ở những nền kinh tế tiên tiến và mới nổi, dựa trên chuỗi số liệu quá khứ dài hạn và mô tả thực nghiệm đã đưa ra kết quả tác động phi tuyến của nợ công đối với tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu gần đây (2010) được thực hiện bởi hai tác giả này, thông qua thống kê tương quan LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ 8 GVHD: TRƯƠNG MINH TUẤN NHÓM 5 đơn giản về những mức khác nhau của nợ công và tốc độ tăng trưởng GDP thực dài hạn trong mẫu 20 quốc gia phát triển4 trải dài khoảng hai thế kỷ (1790 – 2009), và mẫu 24 nền kinh tế thị trường mới nổi 5 giai đoạn 1946-2009 nhận thấy rằng: (i) mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng dài hạn thì yếu đối với tỷ số nợ/GDP dưới ngưỡng 90% GDP; (ii) trên 90%, khi nợ tăng, tốc độ tăng trưởng giảm đáng kể. 2. Bằng chứng: a) Nhóm nước phát triển Reinhart và Rogoff (2010) đã tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu về mối quan hệ giữa tỷ lệ tăng trưởng GDP và các mức nợ khác nhau của 20 nước phát triển trong khoảng thời gian 1946-2009. Nhóm này gồm Úc, Áo, Bỉ, Canada, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Đức, Hy Lạp, Ireland, Ý, Nhật Bản, Hà Lan, New Zealand, Na Uy, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Anh và Mỹ. Quan sát hàng năm được gộp thành 4 nhóm, dựa theo tỷ lệ nợ trên GDP trong suốt phạm vi quan sát, cụ thể như: những năm khi nợ/GDP dưới 30% (nợ thấp), những năm mà Nợ công/GDP từ 30% đến 60% (nợ trung bình), 60-90% (nợ cao), và trên 90% (rất cao). Có tổng cộng 1180 quan sát với 443 quan sát cho Nợ công/GDP dưới 30%, 442 cho Nợ công/GDP từ 30-60%, 199 cho Nợ công/GDP từ 6090%, và 96 cho Nợ công/GDP trên 90% (những quan sát này thuộc về Bỉ, Hy Lạp, Ý và Nhật Bản). LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ 9 GVHD: TRƯƠNG MINH TUẤN NHÓM 5 Các cột trên hình cho thấy tăng trưởng GDP trung bình và trung vị cho mỗi trong 4 nhóm kể trên. Từ hình này, chúng ta thấy rằng không có sự kết nối rõ ràng nào giữa nợ và tăng trưởng cho đến khi nợ công chạm đến ngưỡng 90%. Những quan sát Nợ/GDP trên 90% có tăng trưởng trung vị thấp hơn gần 1% so với nhóm nợ cao, đạt mức dưới 4,5% và mức tăng trưởng bình quân thấp hơn gần 4% so với nhóm nợ cao, đạt giá trị âm. Như vậy, đối với nhóm quốc gia phát triển, ngưỡng nợ 90% GDP đã hạn chế tăng trưởng kinh tế trung bình của các nước. Vậy thì đối với nhóm nước đang phát triển, liệu ngưỡng nợ này có chi phối tăng trưởng kinh tế các nước này không, hay một tỷ lệ nợ nào khác. b) Nhóm nước mới nổi LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ 10 GVHD: TRƯƠNG MINH TUẤN NHÓM 5 Chúng tôi xem xét tỷ lệ nợ của 24 nền kinh tế mới nổi trong giai đoạn 1946-2009 và phân loại nhóm nợ như khi ta tiến hành đối với những nền kinh tế phát triển. 24 nước trong mẫu là A rgentina, Bolivia, Brazil, Chile, Trung Quốc, Colombia, Ai Cập, Ấn Độ, Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia, Mexico, Nigeria, Peru, Philippines, Nam Phi, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Uruguay, and Venezuela. Có tổng số 1142 quan sát hàng năm, cụ thể là: 502 quan sát cho Nợ/GDP dưới 30%, 385 cho Nợ/GDP từ 30-60%, 145 cho Nợ/GDP từ 60-90%, và 110 cho Nợ/GDP trên 90%.12 Đáng ngạc nhiên là mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng thì tương tự nhau một cách đáng chú ý ở cả những thị trường mới nổi lẫn những nền kinh tế phát triển. Trong giai đoạn 1946-2009, tốc độ tăng trưởng trung vị và bình quân xấp xỉ khoảng 4-4,5% cho tất cả những mức độ nợ khoảng 90% GDP. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng GDP trung vị giảm mạnh còn 2,9% đối với tỉ lệ nợ trên 90%, sự sụt giảm này còn lớn hơn khi xét đến tốc độ tăng trưởng bình quân, giảm chỉ còn 1%. Như vậy, đối với những nước mới nổi, tỷ lệ nợ có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế nhiều nhất cũng được tìm thấy là mức 90% GDP. Do đó, có thể nói, mức nợ 90% GDP là mức nợ đe dọa chung đến tăng trưởng kinh tế của tất cả các nhóm nước. 3. Kết luận: • Nợ công, tính trung bình, là có hại cho tăng trưởng kinh tế đối với mẫu đã thu thập, sự thay đổi hàng năm trong tỷ lệ nợ công/GDP có quan hệ nghịch biến với tăng trưởng bình quân đầu người. • Và sự tác động này liên quan đến một điểm ngoặt hay còn gọi là ngưỡng nợ ở mức xấp xỉ 90-100% GDP tính trung bình cho cả mẫu. Như vậy, chúng ta đều biết mức nợ kìm hãm tăng trưởng kinh tế cho hầu hết các nước trên thế giới đều ở ngưỡng 90 – 100% GDP. Vậy khi đặt ngưỡng nợ trong LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ 11 GVHD: TRƯƠNG MINH TUẤN NHÓM 5 vấn đề quản lý nợ công thì liệu các quốc gia sẽ quản lý nợ dựa trên ngưỡng nợ này để đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế tối ưu? Phương pháp quản lý nợ này là tốt nhất cho các quốc gia.  Thứ ba, có thể xem xét sự tác động của nợ công lên tăng trưởng kinh tế thông qua dữ liệu nợ nước ngoài cùng với những rủi ro và hệ lụy mà nó đưa lại: sự không khuyến khích đầu tư, giới hạn sự tham gia của các quốc gia đang phát triển với nền kinh tế toàn cầu, sự trống rỗng trong dự trữ ngoại hối quốc gia, cứng nhắc trong chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa. 1. Quan điểm: Một số nghiên cứu của Krugman (1988) và Sachs (1989) đã xem xét tác động của nợ công lên tăng trưởng kinh tế thông qua sự tác động của một yếu tố đóng vai trò quan trọng: đó là nợ nước ngoài, lên tăng trưởng kinh tế ở những nền kinh tế đang phát triển. Hầu hết động cơ của các nghiên cứu này là giả thuyết "số dư nợ quá mức" – một tình huống trong đó, gánh nặng nghĩa vụ nợ của một quốc gia là quá nặng đến nỗi một phần sản lượng lớn phải tích lũy cho các chủ nợ nước ngoài và do đó gây nên sự không khuyến khích đầu tư. Cũng 6 theo đánh giá của Ayadi (1999) và Ayadi et. al. (2003) , gánh nặng nợ nước ngoài đã giới hạn sự tham gia của những quốc gia đang phát triển với nền kinh tế toàn cầu và kèm theo đó là những nghĩa vụ nợ đã gây trở ngại đến tăng trưởng và phát triển kinh tế. Khi vay nợ của một quốc gia tăng lên và càng cao, những e ngại về vấn đề mất khả năng chi trả được đặt nặng, các quốc gia khác tiến hành thẩm định môi trường đầu tư kỹ càng hơn và từ đó, đưa ra những điều khoản khắt khe hơn gây ảnh hưởng đến hội nhập kinh tế của nền kinh tế chính quốc. Hơn thế nữa, gánh nặng nợ quốc gia gây cản trở chi tiêu công cho đầu tư phát triển, hạn chế việc tích lũy nguồn vốn (sự trống rỗng trong dự trữ) và có khuynh hướng cản trở áp dụng những chính sách tiền tệ linh hoạt để củng cố những LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ 12 GVHD: TRƯƠNG MINH TUẤN NHÓM 5 doanh nghiệp vừa và nhỏ do nguồn thu được phải đáp ứng phần lớn nghĩa vụ nợ cả gốc và lãi. Điều này đã ảnh hưởng một cách gián tiếp đến việc làm, học vấn và sự bần cùng, nghèo khó của người dân trong một quốc gia. 2. Bằng chứng: a) Nợ nước ngoài và tiết kiệm trong nước có mối quan hệ ngược chiều giai đoạn 1990-2009 “Nợ nước ngoài và tiết kiệm trong nước có mối quan hệ ngược chiều và tác động đến tăng trưởng kinh tế. Vốn được huy động từ nguồn nợ nước ngoài được sử dụng hiệu quả vào phát triển kinh tế đất nước.” Nghiên cứu về sự tác động của nợ nước ngoài đến tiết kiệm trong nước và tăng trưởng kinh tế, với bộ dữ liệu thu thập tại Việt Nam qua 20 năm 1990-2009 Hình : LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ 13 GVHD: TRƯƠNG MINH TUẤN NHÓM 5 cho ta một cái nhìn tổng quát về xu hướng biến động của các yếu tố: nợ nước ngoài, tăng trưởng kinh tế và tiết kiệm trong nước. Năm 1990 là năm kết thúc chương trình đổi mới kinh tế giai đoạn 1986-1990 và tăng trưởng kinh tế đã có những chuyển biến tốt, các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và tập thể được thừa nhận và được tạo điều kiện hoạt động, nền kinh tế được định hình theo hướng kinh tế thị trường, đây cũng là mốc thời gian đánh dấu về sự phát triển LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ 14 GVHD: TRƯƠNG MINH TUẤN NHÓM 5 xuất khẩu của Việt Nam về lương thực, thực phẩm và dầu thô. Nền kinh tế Việt Nam dần trở nên năng động, việc vay nợ của Chính Phủ và tư nhân trong nước tăng cao đột biến, hưởng ứng công cuộc cải cách kinh tế và thực hiện chuỗi Ba chương trình kinh tế lớn: hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu và lương thực – thực phẩm. Lúc này, những năm 1990-1996, nợ nước ngoài luôn cao trên 100% GDP và được đầu tư để xây dựng cơ sở hạ tầng, ổn định cuộc sống cho người dân và để mở rộng kinh tế sau giai đoạn đóng cửa nền kinh tế lâu dài, đặc biệt năm 1990, nợ nước ngoài lên tới 450% GDP. Nợ nước ngoài giai đoạn này rất cao và tiết kiệm trong nước lại ở mức thấp, điều này là hoàn toàn hợp lý khi lượng vốn vay mượn và lượng vốn từ trong nước được đầu tư gần như hoàn toàn vào nền kinh tế, sử dụng hiệu quả dòng vốn và tạo nên sự tăng trưởng kinh tế đầy ngưỡng mộ trong giai đoạn 1992-1997, đặc biệt là 9,5% trong năm 1995. Từ đó trở đi đến 2009, nợ nước ngoài liên tục giảm và đi vào ổn định ở mức khoảng 30-40% GDP giai đoạn 2000 đến nay. Tiết kiệm trong nước cũng tăng dần lên do tâm lý, truyền thống và cách sống của người dân Á Đông, hướng về chăm lo cho cuộc sống trong tương lai và lo sợ rủi ro khi nền kinh tế dần hòa nhập với quỹ đạo kinh tế thế giới và ngày càng năng động hơn, kéo theo đó là rủi ro cũng tăng dần lên. Giai đoạn 2000-2007, tăng trưởng kinh tế cũng đi vào ổn định khoảng 7%-8,5% do môi trường kinh tế Việt Nam ngày càng được thế giới nhìn nhận và lựa chọn là địa điểm tốt để đầu tư phát triển. Khủng hoảng tiền tệ Thái Lan 1997 và khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2008 đã tạo ra cú sốc tài chính lớn cho nền kinh tế làm tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam giảm chỉ còn 4,8% vào năm 1998-1999 và 5,3% vào năm 2009, nhưng đến nay đã hồi phục dần đến 6,78% vào năm 2010. b) Nợ nước ngoài và thuế có mối quan hệ ngược chiều – giai đoạn 1990- 2009 LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ 15 GVHD: TRƯƠNG MINH TUẤN NHÓM 5 “Nợ nước ngoài và thuế có mối quan hệ ngược chiều, còn thuế và tăng trưởng kinh tế lại có xu hướng biến động cùng chiều. Có thể nói, chính sách quản lý nợ công và vận dụng công cụ thuế trong chính sách tài khóa hiệu quả có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế.” Xu hướng biến động của thuế gần như tương đồng với xu hướng biến động của tốc độ tăng trưởng GDP, tăng dần theo thời gian và ngược lại với biến động của nợ nước ngoài, khác với những nhận định của các nhà kinh tế học như đã phân tích ở trên. Với phân tích của những nhà kinh tế học, thuế tác động ngược chiều đến tăng trưởng kinh tế với lý do thuế ở đây chỉ dùng để chi trả cho gánh nặng nợ công được sử dụng không hiệu quả, nhưng đối với Việt Nam vấn đề này lại khác. mô tả lại thực tiễn và giải thích LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ 16 GVHD: TRƯƠNG MINH TUẤN NHÓM 5 Ta thấy rằng, khi tốc độ tăng trưởng GDP tăng cao thì thuế được tính bằng % GDP cũng tăng, nhưng tăng ở một mức độ lớn hơn và khi tốc độ tăng trưởng GDP giảm thì thuế cũng giảm và giảm ở mức độ cũng nhiều hơn, do đó, nhìn vào đồ thị, biến động của thuế diễn ra sâu hơn so với biến động tăng trưởng kinh tế dù xu hướng biến động là như nhau. 29 Thuế được coi là một trong những chính sách tài khoá để điều hành nền kinh tế của Chính Phủ các nước. Khi nợ nước ngoài giảm dần một cách đáng kể (tính theo % GNI) thì một câu hỏi được đặt ra là nguồn vốn trong nước được lấy từ đâu để trang trải cho chi đầu tư và tiêu dùng cả khu vực công và tư, nhìn hình vẽ trên ta thấy, xu hướng thuế (% GDP) tăng dần lên theo thời gian và lúc đó, nợ nước ngoài (% GNI) giảm dần. Như vậy, khi nền kinh tế bắt đầu đi vào tăng trưởng ổn định, giai đoạn 1992-1996, nợ nước ngoài được Chính Phủ cân nhắc giảm dần do những rủi ro tài chính và cả chính trị mà nó đem lại. Đồng thời, giai đoạn 1990-1995 cũng là giai đoạn mà vay nợ ưu đãi (lãi suất, thời hạn ưu đãi) của Việt Nam giảm đáng kể. Cùng lúc đó, nhu cầu phát triển kinh tế, đẩy mạnh mở rộng phát triển xuất khẩu, đầu tư cơ sở hạ tầng vẫn đang là vấn đề được chú trọng, do đó, mức thuế được tăng lên theo thời gian, gia tăng thu Ngân sách cho Chính Phủ, đồng thời, khuyến khích sự đầu tư kinh doanh và quản lý hiệu quả để thu được phần lợi nhuận sau thuế xứng đáng. Thuế gia tăng không chỉ vì sự gia tăng trong thuế suất mà còn là sự gia tăng do mở rộng đối tượng chịu thuế và ban hành một số luật thuế mới. Đầu những năm 1990, hệ thống chính sách thuế cho nền kinh tế thị trường đã được ban hành và áp dụng thống nhất đối với mọi thành phần kinh tế đảm bảo yêu cầu chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường, tạo môi trường pháp lý công bằng, bình đẳng về nghĩa vụ thuế giữa các khu vực và thành phần kinh tế. Cuối những năm 1990 đến đầu những năm 2000 với việc ban hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật thuế giá trị gia tăng thay thế Luật thuế lợi tức và Luật thuế doanh thu; sửa đổi, bổ sung Luật thuế LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ 17 GVHD: TRƯƠNG MINH TUẤN NHÓM 5 tiêu thụ đặc biệt, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và một số các chính sách thuế khác để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại trong giai đoạn mới, tạo nên nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước, môi trường kinh doanh bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế, điều chỉnh vĩ mô các hoạt động sản xuất và tiêu dùng cũng như thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước. Xu hướng thuế gia tăng hầu như bao trùm hết toàn bộ giai đoạn mà chúng tôi nghiên cứu (1990-2009), tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tiền tệ Thái Lan 1997 và khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2008 đã phá vỡ đôi chút xu hướng tăng lên của thuế trên GDP. Khi khủng hoảng xảy ra, chính sách tài khóa trở nên cần thiết, những gói kích cầu, những chiến dịch kêu gọi tiêu dùng hàng nội địa và cả việc giảm thuế để khuyến khích đầu tư. Do đó, khi nền kinh tế đang lâm vào thời kỳ suy thoái, tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức thấp, thuế cũng giảm sâu hơn để góp phần gia tăng thu nhập hữu dụng trong xã hội, khích lệ chi tiêu và vực dậy nền kinh tế. Lúc đó, nợ nước ngoài có tăng lên nhưng ở một mức độ nhỏ và vẫn trong phạm vi kiểm soát được. 3. Kết luận: Như vậy, nợ nước ngoài và tiết kiệm trong nước có mối quan hệ ngược chiều nhau và tác động đến tăng trưởng kinh tế. Khi nguồn vốn trong nước không đủ để tài trợ cho phát triển kinh tế, nợ nước ngoài tăng cao và tiết kiệm trong nước giảm ở mức thấp để huy động nguồn vốn vào quỹ đạo tài chính trong nước và từ đó tác động tăng trưởng kinh tế. Sự tác động này là tác động dương do nguồn vốn được sử dụng hiệu quả vào đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất, gia tăng sản lượng đầu ra. Ở Việt Nam, chúng tôi nhận thấy, tác động của nợ công đến tăng trưởng kinh tế không theo dạng tác động tích cực ngay trong ngắn hạn và tiêu cực trong dài hạn, mà sự tác động này đều tốt đối với tăng trưởng kinh tế theo thời gian. LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ 18 GVHD: TRƯƠNG MINH TUẤN NHÓM 5 Điều này được minh chứng rõ ràng bằng việc Chính Phủ sử dụng hiệu quả khoản vay nợ vào những dự án hữu ích để phát triển kinh tế, tạo nên tăng trưởng kinh tế cải thiện qua các năm. Và đến khi tăng trưởng kinh tế dần ổn định, nguồn vốn sẵn trong nước đã ở mức cao, tiết kiệm trong nước tăng cao dần và nợ nước ngoài giảm dần đi. Như vậy, một nhận định chúng tôi đưa ra khi nghiên cứu trường hợp của Việt Nam là: khi vay nợ nước ngoài tăng cao, công cụ thuế được sử dụng để tạo nguồn thu trả nợ trong tương lai vẫn có thể tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, nếu nguồn vốn từ vay nợ được sử dụng hiệu quả và thuế suất đưa ra trong tương lai dưới ngưỡng chịu đựng thuế của đối tượng chịu thuế. Lúc đó, việc sử dụng công cụ thuế trong cân đối ngân sách tài chính quốc gia sẽ trở nên cần thiết và hữu hiệu. Đây là điểm lưu ý trong việc đưa ra những chính sách quản lý tài chính công phù hợp của Chính Phủ các quốc gia.  Thứ tư, tăng trưởng kinh tế, tiết kiệm và đầu tư có mối quan hệ với nhau, khi vốn nội địa không đủ để tài trợ cho chi tiêu đầu tư trong nước thì vay nợ là tất yếu để phục vụ phát triển kinh tế. Tuy nhiên, vay nợ luôn kèm theo những rủi ro do lãi suất, thời hạn, cơ cấu vay mượn, gây ảnh hưởng tiêu cực lên tăng trưởng kinh tế, do đó vấn đề quản lý nợ hiệu quả đang trở nên cấp thiết. Quan điểm: Theo Hunt (2007) , sự tăng lên trong tiết kiệm và đầu tư của nền kinh tế dẫn đến tăng trưởng kinh tế. Sachs (2002) tranh luận rằng sự tăng trưởng sẽ không tăng cho đến khi tổng lượng vốn tăng đạt đến một ngưỡng nhất định. Khi lượng vốn tăng, đầu tư và sản lượng đầu ra tăng, trong vòng xoắn tiến lên, tiết kiệm sẽ tiếp tục tăng. Sau khi đạt được một mức độ, sự tăng lên trong cả vốn và tiết kiệm sẽ kích thích LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ 19 GVHD: TRƯƠNG MINH TUẤN NHÓM 5 sự tăng lên trong tăng trưởng một cách tự lực. Lý thuyết “dual-gap” nói rằng đầu tư là một hàm của tiết kiệm, và trong những quốc gia đang phát triển, mức độ tiết kiệm nội địa không đủ để tài trợ cho đầu tư cần thiết để đảm bảo phát triển kinh tế, vì vậy, thật hợp lý khi tìm kiếm sử dụng những sản phẩm và dịch vụ từ bên ngoài. Colaco (1985) đã giải thích tính chất nhạy cảm của việc thanh toán nợ đối với những nước đang phát triển thông qua sử dụng ba kịch bản: (i) quy mô khoản nợ nước ngoài đạt đến một mức độ mà lớn hơn so với vốn tự có, dẫn đến sự không cân bằng giữa nợ và vốn tự có; (ii) tỷ lệ nợ với lãi suất thả nổi tăng đột ngột, vì vậy những người vay mượn phải đối mặt trực tiếp với việc lãi suất tăng cao; (iii) thời hạn vay rút ngắn đáng kể, một phần bởi vì sự giảm đi của những nguồn chính thức. Bên cạnh đó, Mehran (1986) cho rằng quản lý nợ tương xứng là thiết yếu trong môi trường tài chính ngày càng phức tạp. Mehran cũng xác định môi trường quản lý nợ là sự kết hợp về chính sách, môi trường kiểm soát, kế toán, phân tích thống kê và những yếu tố khác như chính sách minh bạch và chống tham nhũng, sự cải tiến của cấu trúc quản lý nợ và quá trình đưa ra quyết định. Vấn đề tiếp theo trong việc nhận và quản lý nợ là quyết định quy mô nợ thực tế. Vay mượn nước ngoài trong thực tế được đo lường bởi những tỷ số riêng, ví dụ như nợ trên xuất khẩu, thanh toán nợ trên xuất khẩu, nợ trên GDP (hoặc GNP), và nợ nước ngoài so với tổng thu nhập quốc dân (GNI). Tuy nhiên, quyết định mức phù hợp của những chỉ số này khó xác định và việc hữu ích bây giờ là giảm thiểu nguy cơ bùng nổ trong tăng trưởng nợ nước ngoài. Ví dụ, nếu nợ nước ngoài tăng cao, thanh toán gánh nặng nợ cao hơn so với khả năng chịu đựng gánh nặng nợ của quốc gia, việc nhận nợ sẽ trở nên rắc rối và tình huống này phải được đảo ngược thông qua mở rộng xuất khẩu; nếu xuất khẩu không được LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ 20
- Xem thêm -