Tóm lược lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát và bội chi ngân sách nhà nước

  • Số trang: 31 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 14 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

Tiểu luận Tóm lược lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát và bội chi ngân sách Nhà nước 1 MỤC LỤC Mở đầu .......................................................................................... Trang 1 Nội dung ........................................................................................ Trang 2 I. Khái niệm và bản chất của lạm phát ............................................Trang 2 1. Các quan điểm về lạm phát .............................................................Trang 2 2. Các loại lạm phát và nguyên nhân của lạm phát .................................Trang 5 2.1 Các loại lạm phát .........................................................................Trang 5 2.2. Nguyên nhân của lạm phát ...........................................................Trang 6 II. Bội chi ngân sách Nhà nước ........................................................ Trang 8 1. Khái niệm Bội chi Ngân sách Nhà nước...........................................Trang 8 2. Nguyên nhân bội chi ngân sách Nhà nước...................................... Trang 11 2.1 Tác động của chính sách cơ cấu thu chi của Nhà nước .................... Trang 11 2.2 Tác động của chu kỳ kinh doanh .................................................. Trang 13 3. Định hướng xử lý bội chi ngân sách Nhà nước................................. Trang 13 3.1 Phát hành tiền để bù đắp bội chi ngân sách .................................... Trang 13 3.2 Vay để bù đắp thâm hụt ngân sách Nhà nước................................ Trang 13 3.3 Bù đắp sự thiếu hụt ngân sách bằng biện pháp tăng thuế.................. Trang 15 3.4 Cắt giảm chi tiêu nhằm làm giảm thâm hụt ngân sách Nhà nước....... Trang 16 III. Mối quan hệ giữa lạm phát và Bội chi ngân sách Nhà nước....... Trang 17 1. Bội chi ngân sách Nhà nước với lạm phát (Phân tích mối quan hệ này qua tình hình thực tiễn nước ta từ trước đổi mới đến nay) .......................... Trang 17 2. Một số giải pháp kiểm soát bội chi ngân sách Nhà nước và kiềm chế lạm phát trong thời gian tới ..................................................................... Trang 26 Kết luận ....................................................................................... Trang 28 Tài liệu tham khảo........................................................................ Trang 30 2 LỜI MỞ ĐẦU Trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam, bội chi ngân sách nhà nước và lạm phát là những vấn đề mà các quốc gia đều gặp phải. Nghiên cứu lạm phát, kiềm chế và chống lạm phát được thực hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới. Càng ngày cùng với sự phát triển đa dạng và phong phú của nền kinh tế, nguyên nhân của lạm phát cũng theo đó càng trở nên phức tạp. Trong sự nghiệp phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta có sự điều tiết của nhà nước, việc nghiên cứu về lạm phát, tìm hiểu nguyên nhân và các biện pháp chống lạm phát có vai trò to lớn góp phần vào sự nghiệp phát triển của đất nước. Bên cạnh đó, bội chi ngân sách nhà nước hay còn gọi là thâm hụt ngân sách cũng là một trong những vấn đề đáng lo ngại cho ngân sách nhà nước, cho sự phát triển kinh tế mỗi quốc gia. Bội chi ngân sách nhà nước có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến nền kinh tế một nước, tùy theo tỉ lệ thâm hụt và thời gian thâm hụt. Nếu tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước với tỷ lệ cao và trong thời gian dài sẽ gây ra lạm phát, ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế. Bội chi ngân sách nhà nước và lạm phát là hai vấn đề không phải xa lạ trong nền kinh tế vĩ mô. Chúng có mối quan hệ nhân quả với nhau. Chính sự bội chi ngân sách nhà nước là một trong những nguyên nhân gây ra lạm phát cao cho nền kinh tế. Do vậy việc xác định mối quan hệ giữa bội chi ngân sách nhà nước và lạm phát là một vấn đề cấp thiết trong tình hình hiện nay. Vậy lạm phát và bội chi ngân sách Nhà nước có mối quan hệ như thế nào? Cái nào là nguyên nhân của cái nào? Giải pháp xử lý như thế nào? Trong bài tiểu luận này chúng ta sẽ làm rõ những vấn đề trên. 3 NỘI DUNG I. Khái niệm và bản chất của lạm phát 1. Các quan điểm về lạm phát Lạm phát là một phạm trù kinh tế khách quan phát sinh từ chế độ lưu thông tiền giấy. Có nhiều nhà kinh tế đã đi tìm một định nghĩa đúng cho thuật ngữ lạm phát nhưng nói chung chưa có một sự thống nhất hoàn toàn. Trong kinh tế học, thuật ngữ “lạm phát” dùng để chỉ sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế. Theo nghĩa này thì người ta hiểu là lạm phát của đơn vị tiền tệ trong phạm vi nền kinh tế của một quốc gia Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền. Theo nghĩa thứ hai này thì người ta hiểu là lạm phát của một loại tiền tệ trong phạm vi thị trường toàn cầu. Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác. Theo L.V.chandeler, D.C cliner với trường phái lạm phát giá cả thì khẳng định: lạm phát là sự tăng giá hàng bất kể dài hạn hay ngắn hạn, chu kỳ hay đột xuất. G.G. Mtrukhin lại cho rằng: có thể xem sự mất giá của đồng tiền là lạm phát. Trong đời sống, tổng mức giá cả tăng trước hết thông qua việc tăng giá không đồng đều ở từng nhóm hàng hoá và rút cuộc dẫn tới việc tăng giá cả nói chung. Ông cũng chỉ rõ: lạm phát, đó là hình thức tràn trề tư bản một cách tiềm tàng (tự phát hoặc có dụng ý) là sự phân phối lại sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân thông qua giá cả giữa các khu vực của quá trình tái sản xuất xã hội, các ngành kinh tế và các giai cấp, các nhóm dân cư xã hội. 4 Ở mức bao quát hơn P.A.Samuelson và W.D.Nordhaus trong cuốn “Kinh tế học” đã được dịch ra tiếng việt, xuất bản năm 1989 cho rằng: lạm phát xảy ra khi mức chung của giá cả chi phí tăng lên. Với luận thuyết “Lạm phát lưu thông tiền tệ” J.Bondin và M. Friendman lại cho rằng: lạm phát là đưa nhiều tiền thừa vào lưu thông làm cho giá cả tăng lên. M.Friedman lại nói rằng: “Lạm phát ở mọi lúc mọi nơi đều là hiện tượng của lưu thông tiền tệ. Lạm phát xuất hiện và chỉ có thể xuất hiện khi nào số lượng tiền trong lưu thông tăng lên nhanh hơn so với sản xuất”. C .Mác lại cho rằng: khi khối lượng tiền giấy do nhà nước phát hành và lưu thông vượt quá mức giới hạn số lượng vàng hoặc bạc mà nó đại diện thì giá trị của tiền giấy sẽ giảm xuống và tình trạng lạm phát xuất hiện. Theo quan điểm của Keynes thì: “Chỉ khi nào có toàn dụng, sử dụng hết nhân công và năng lực sản xuất, mới tạo nên cầu dư thừa và giá cả hàng hoá tăng lên từ cầu cá biệt làm thay đổi cầu tổng quát và mức giá chung từ đó gây ra lạm phát”. Đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về lạm phát và mỗi quan điểm đều có sự chắc chắn về luận điểm và những lý luận của mình. Những luận thuyết, những quan điểm về lạm phát đã nêu trên đều đưa ra những biểu hiện ở một mặt nào đó của lạm phát Theo quan điểm cổ điển thì: Lạm phát xảy ra khi số tiền lưu hành vượt quá dự trữ vàng làm đảm bảo của ngân hàng phát hành. Cụ thể người ta dựa vào tỷ lệ đảm bảo của tiền tệ để xem xét có lạm phát hay không. Quan điểm này coi trọng cơ sở đảm bảo của tiền. Trong thực tế, có những trường hợp tỷ lệ đảm bảo pháp định vẫn được tôn trọng nhưng giá cả của hàng hóa đều lên cao. Có quan điểm khác cho rằng: Lạm phát là sự mất cân đối giữa tiền và hàng trong nền kinh tế. Có thể tóm tắt trong phương trình Fisher: M.V=P.Y. Nếu tổng khối lượng tiền lưu hành (M) tăng thêm trong khi tổng lượng hàng hóa – dịch vụ 5 được trao đổi (Y) giữ vững, tất nhiên mức giá trung bình (P) phải tăng. Và nếu thêm vào đó tốc độ lưu thông tiền tệ (V) tăng thì P lại tăng rất nhanh. Quan điểm tĩnh về lạm phát nêu trên tuy giúp ta hiểu rõ về lạm phát, nhưng không cho biết nguyên nhân của lạm phát và khiến cho ta lầm tưởng lạm phát cao là kết quả của việc tăng trưởng mức cung tiền tệ cao. Lại có quan điểm cho rằng lạm phát là sự tăng giá của các loại hàng hóa (tư liệu tiêu dùng, tư liệu sản xuất và hàng hóa sức lao động). Lạm phát xảy ra khi mức chung của giá cả và chi phí tăng. Theo quan điểm này thì giá cả tăng lên cho dù bất kỳ nguyên nhân nào đều là lạm phát. Ngoài những quan điểm nêu trên, từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đã xuất hiện nhiều lý thuyết khác nhau về lạm phát. Trong các số đó có các lý thuyết chủ yếu là: + Lý thuyết cầu: do nhà kinh tế Anh nổi tiếng John Keynes đề xướng. Ông đã quy nguyên nhân cơ bản của lạm phát về sự biến động cung cầu. Khi mức cung đã đạt đến tột đỉnh vượt quá mức cầu, dẫn đến đình đốn sản suất, thì nhà nước cần phải tung thêm tiền vào lưu thông, tăng các khoản chi nhà nước, tăng tín dụng, nghĩa là tăng cầu để đạt tới mức cân bằng với cung và vượt cung. Khi đó đã xuất hiện lạm phát, và lạm phát ở đây có tác dụng thúc đẩy sản xuất phát triển. + Lý thuyết chi phí cho rằng: Lạm phát nảy sinh do mức tăng các chi phí sản xuất, kinh doanh đã nhanh hơn mức tăng năng suất lao động. Mức tăng chi phí này chủ yếu là do tiền lương được tăng lên, giá các nguyên nhiên vật liệu tăng, công nghệ cũ kỹ không được đổi mới, thể chế quản lý lạc hậu không giảm được chi phí... Đặc biệt là trong những năm 70 do giá dầu mỏ tăng cao, đã làm cho lạm phát gia tăng ở nhiều nước. Vậy là chi phí tăng đến mức mà mức tăng năng suất lao động xã hội đã không bù đắp được mức tăng chi phí khiến cho giá cả tăng cao, lạm phát xuất hiện. Ở đây suy thoái kinh tế đã đi liền với lạm phát 6 + Lý thuyết cơ cấu được phổ biến ở nhiều nước đang phát triển. Theo lý thuyết này thì: Lạm phát nảy sinh là do sự mất cân đối sâu sắc trong chính cơ cấu cơ của nền kinh tế mất cân đối giữa tích luỹ và tiêu dùng, giữa công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ, giữa công nghiệp và nông nghiệp giữa sản xuất và dịch vụ... Chính sự mất cân đối trong cơ cấu kinh tế đã làm cho nền kinh té phát triển không có hiệu quả, khuyến khích các lĩnh vực đòi hỏi chi phí tăng cao phát triển. Còn rất nhiều lý thuyết khác về lạm phát như: lý thuyết tạo lỗ trống lạm phát, lý thuyết số lượng tiền tệ, v.v… Song dù có khác nhau về cách lý giải nhưng hầu như tất cả các lý thuyết đều thừa nhận: lạm phát chỉ xuất hiện khi mức giá cả chung tăng lên, do đó làm cho giá trỊ của đồng tiền giảm xuống. 2. Các loại lạm phát và nguyên nhân của lạm phát: 2.1 Các loại lạm phát a. Lạm phát vừa phải Lạm phát vừa phải còn gọi là lạm phát một con số, có tỉ lệ lạm phát dưới 10% một năm. Lạm phát ở mức độ này không gây ra những tác động nguy hiểm đối với nền kinh tế mà trái lại nó còn có tác dụng kích thích sản xuất thúc đẩy các hoạt động đầu tư. b. Lạm phát phi mã Lạm phát phi mã hay còn gọi là lạm phát bột phát là lạm phát xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với tỷ lệ 2 hoặc 3 con số trong một năm. Loại lạm phát này khi đã trở nên vững chắc sẽ gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng. c. Siêu lạm phát Siêu lạm phát xảy ra khi lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ cao vượt xa lạm phát phi mã. Chẳng hạn, như tại Việt Nam năm 1988 tỉ lệ lạm phát ở nước ta là 308% đứng thứ 3 sau Brazil (934%) và Peru (1722%.). Trong tình trạng đó, cuộc 7 sống nói chung trở nên đắt đỏ hơn, thu nhập thực tế giảm sút mạnh mẽ, “thuế lạm phát”' là một sắc thuế vô hình, thuế phi chính thức đánh vào những ai đang cầm giữ tiền. Đặc biệt là tình trạng trật tự kinh tế bị rối loạn, không ai dám tính toán đầu tư lâu dài, những hoạt động kinh tế ngắn hạn từng thương vụ, từng đợt, từng chuyến diễn ra phổ biến. 2.2. Nguyên nhân của lạm phát Như trên đã trình bày, lạm phát là một quá trình giá tăng liên tục, tức là mức giá chung tăng lên hoặc là quá trình đồng tiền liên tục giảm giá. Vậy nguyên nhân nào gây ra lạm phát? Thực tế cho thấy, có rất nhiều nguyên nhân gây ra lạm phát, bao gồm: - Lạm phát là do sự mất cân đối về cơ cấu kinh tế, mâu thuẫn về phân phối gây ra tăng giá. Cơ chế lan truyền đã tạo căng thẳng thêm các mâu thuẫn đó và dẫn đến lạm phát tăng lên. Lạm phát là tất yếu của nền kinh tế khi muốn tăng trưởng cao, nhưng lại tồn tại nhiều khiếm khuyết, hạn chế và yếu kém. Lạm phát do mất cân đối cơ cấu kinh tế xuất hiện khi có quan hệ không bình thường trong các cân đối lớn của nền kinh tế như công nghiệp - nông nghiệp, công nghiệp nặng - công nghiệp nhẹ, sản xuất - dịch vụ, xuất khẩu - nhập khẩu, tích luỹ - tiêu dùng. Những thay đổi cơ bản trong cơ cấu kinh tế - xã hội do tăng trưởng kinh tế thường dẫn đến giá tăng lên khi cơ cấu thị trường chưa được hoàn chỉnh, các nguồn vật lực có giới hạn, các quan hệ không được đặt trong một sự cân đối hợp lý, năng lực sản xuất không được khai thác hết, trạng thái vừa thừa vừa thiếu xuất hiện. - Lạm phát là do tăng cung tiền tệ. Giá tăng lên ít nhiều là do tăng cung tiền tệ quá mức cầu của nền kinh tế. Với quan điểm này, lạm phát xuất hiện khi có một khối lượng tiền bơm vào lưu thông lớn hơn khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông của thị trường. Điều này, được biểu hiện ở chỗ đồng tiền nội địa mất giá. Nguyên nhân khác dẫn đến lạm phát khi tăng lượng tiền vào nền kinh tế là để bù đắp các thiếu hụt của ngân sách: Đây là nguyên nhân thông thường nhất do sự thiếu hụt 8 ngân sách chi tiêu của Nhà nước (y tế, giáo dục, quốc phòng) và do nhu cầu khuếch trương nền kinh tế. Nhà nước của một quốc gia chủ trương phát hành thêm tiền vào lưu thông để bù đắp cho các chi phí nói trên đang thiếu hụt. - Lạm phát do cầu kéo hay là do sự mất cân đối giữa tổng cung và tổng cầu hàng hoá và dịch vụ. Khi tổng cầu hàng hoá và dịch vụ có khả năng thanh toán lớn hơn tổng cung hàng hoá và dịch vụ, đã đẩy giá tăng lên để thiết lập một sự cân bằng mới trên thị trường, trong đó tổng cung bằng tổng cầu. Lạm phát phụ thuộc vào độ co dãn của giá cung hàng hoá và dịch vụ. Cung hàng hoá và dịch vụ có thể tăng nhanh do tăng giá một chút nếu độ co dãn của giá là lớn. Một mặt, nếu các cơ sở sản xuất đang hoạt động thấp hơn công suất hiện có và còn nhiều công suất sản xuất chưa được sử dụng, cung hàng hoá sẽ tăng nhờ tác động tăng cầu hàng hóa và có thể không gây ra lạm phát. Bản chất của lạm phát cầu kéo là chi tiêu quá nhiều tiền để mua một lượng cung hạn chế về hàng hóa có thể sản xuất được trong điều kiện thị trường lao động đã đạt cân bằng. - Lạm phát (chi phí đẩy) xảy ra khi có tác động của các yếu tố bên ngoài tác động vào không gắn với tình hình tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế. Như chúng ta đều biết, ở hầu hết các nước đang phát triển thường phải nhập một lượng lớn nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất trong nước, nếu giá của những loại nguyên vật liệu này trên thị trường thế giới tăng lên làm cho chi phí sản xuất các sản phẩm sẽ tăng lên và để tồn tại, buộc các nhà sản xuất phải đưa giá bán trên thị trường trong nước tăng lên theo. Bên cạnh đó, trong điều kiện cơ chế thị trường, không có quốc gia nào lại có thể duy trì được trong một thời gian dài với công ăn việc làm đầy đủ cho mọi người, giá cả ổn định và có một thị trường hoàn toàn tự do. Trong điều kiện hiện nay, xu hướng tăng giá cả các loại hàng hoá luôn luôn diễn ra trước khi nền kinh tế đạt được một khối lượng công ăn việc làm nhất định. Điều đó có nghĩa là chi phí sản xuất đã đẩy giá cả tăng lên ngay cả trong các yếu tố sản xuất chưa được sử dụng đầy đủ, lạm phát xảy ra. 9 Chính những nguyên nhân trên đã gây ra lạm phát cao và là tiền đề tạo ra mối quan hệ giữa lạm phát và bội chi ngân sách nhà nước: II. Bội chi ngân sách Nhà nước 3. Khái niệm bội chi Ngân sách Nhà nước Một nhà nước dù tồn tại trong bất kì giai đoạn nào của lịch sử đều luôn cố gắng hoàn thành được sứ mạng lịch sử của nó. Nhà nước ta cũng như vậy, và để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao thì nhà nước cần có những công cụ riêng của mình. Một trong những công cụ đắc lực giúp Nhà nước đó chính là ngân sách Nhà nước. Trong những năm qua thì vai trò của ngân sách Nhà nước đã được thể hiện rõ trong việc giúp Nhà nước hình thành các quan hệ thị trường góp phần kiểm soát lạm phát, tỷ lệ lãi suất thích hợp để từ đó làm lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia, đảm bảo sự ổn định và phát triển của nền kinh tế. Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực thì việc sử dụng ngân sách Nhà nước chưa đúng cách, đúng lúc, tình trạng bao cấp tràn lan, sự yếu kém trong việc quản lý thu chi ngân sách đã đặt ra cho chúng ta cái nhìn sâu hơn về tình trạng thâm hụt ngân sách Nhà nước, ảnh hưởng của bội chi ngân sách Nhà nước đến các hoạt động kinh tế - xã hội là hết sức rộng lớn. Vậy thế nào là bội chi ngân sách Nhà nước? nguyên nhân nào dẫn đến bội chi? thực trạng và các biện pháp xử lí bội chi ngân sách Nhà nước ở nước ta hiện nay như thế nào?... Tất cả những vấn đề nói trên đã và đang đặt ra nhiều đòi hỏi đối với các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách để có thể tìm ra những nguyên nhân và các biện pháp xử lí tình hình bội chi ngân sách Nhà nước. Trước khi đi vào khái niệm bội chi ngân sách Nhà nước chúng ta tìm hiểu khái niệm chi ngân sách nhà nước để hiểu được quy trình vận hành của ngân sách nhà nước như thế nào? Chi ngân sách nhà nước là việc phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện chức năng của nhà nước theo những nguyên tắc nhất định. Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối lại các nguồn 10 tài chính đã được tập trung vào ngân sách nhà nước và đưa chúng đến mục đích sử dụng. Do đó, Chi ngân sách nhà nước là những việc cụ thể không chỉ dừng lại trên các định hướng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động và từng công việc thuộc chức năng của nhà nước. Quá trình của chi ngân sách nhà nước: 1. Quá trình phân phối: là quá trình cấp phát kinh phí từ ngân sách nhà nước để hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng; 2. Quá trình sử dụng: là trực tiếp chi dùng khoản tiền cấp phát từ ngân sách nhà nước mà không phải trải qua việc hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng. Bội chi ngân sách Nhà nước hay còn gọi là thâm hụt ngân sách Nhà nước trong một thời kỳ (một năm, một chu kỳ kinh tế) là tình trạng các khoản chi của ngân sách Nhà nước (ngân sách chính phủ) lớn hơn các khoản thu của thời kỳ đó, phần chênh lệch chính là thâm hụt ngân sách. Để phản ánh mức độ thâm hụt ngân sách người ta thường sử dụng chỉ tiêu tỉ lệ thâm hụt so với GDP hoặc so với tổng số thu trong ngân sách nhà nước. Tài chính công hiện đại phân loại thâm hụt ngân sách thành hai loại: thâm hụt cơ cấu và thâm hụt chu kỳ.  Thâm hụt cơ cấu là các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính sách tùy biến của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hay quy mô chi tiêu cho giáo dục, quốc phòng,...  Thâm hụt chu kỳ là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kỳ kinh tế, nghĩa là bởi mức độ cao hay thấp của sản lượng và thu nhập quốc dân. Ví dụ khi nền kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng sẽ dẫn đến thu ngân sách từ thuế giảm xuống trong khi chi ngân sách cho cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên. 11 Giá trị tính ra tiền của thâm hụt cơ cấu và thâm hụt chu kỳ được tính toán như sau:  Ngân sách thực có: liệt kê các khoản thu, chi và thâm hụt tính bằng tiền trong một giai đoạn nhất định (thường là một quý hoặc một năm).  Ngân sách cơ cấu: tính toán thu, chi và thâm hụt của chính phủ sẽ là bao nhiêu nếu nền kinh tế đạt mức sản lượng tiềm năng.  Ngân sách chu kỳ: là chênh lệch giữa ngân sách thực có và ngân sách cơ cấu. Việc phân biệt giữa ngân sách cơ cấu và ngân sách chu kỳ phản ánh sự khác nhau giữa chính sách tài chính: chính sách ổn định tùy biến và chính sách ổn định tự động. Việc phân biệt hai loại thâm hụt trên đây có tác dụng quan trọng trong việc đánh giá ảnh hưởng thực sự của chính sách tài chính khi thực hiện chính sách tài chính mở rộng hay thắt chặt sẽ ảnh hưởng đến thâm hụt ngân sách như thế nào giúp cho chính phủ có những biện pháp điều chỉnh chính sách hợp lý trong từng giai đoạn của chu kỳ kinh tế 4. Nguyên nhân bội chi ngân sách Nhà nước Trong lịch sử phát triển nền tài chính thì bội chi ngân sách đã và đang trở thành một hiện tượng khá phổ biến ở các nước đang phát triển và các nước chậm phát triển, nếu như chúng ta không tìm ra những nguyên nhân chính xác gây ra hiện tượng trên thì khó có thể có được những biện pháp hữu hiệu để kịp thời dự báo và hạn chế tác động của nó tới nền kinh tế. Sau khi tổng hợp thì có năm nhóm nguyên nhân chính gây ra hiện tượng bội chi ngân sách Nhà nước. 2.1 Tác động của chính sách cơ cấu thu chi của Nhà nước Ngay từ khi ra đời thì Nhà nước đã mang trong mình những trọng trách nhất định. Mỗi một Nhà nước có thể chế, đường lối, chính sách khác nhau nhằm phục 12 vụ cho những đối tượng khác nhau. Nhưng mục tiêu quan trọng của Nhà nước là làm cho kinh tế của đất nước ngày càng phát triển, nâng cao vị thế của đất nước mình trên trường quốc tế. Để thực hiện được điều đó thì Nhà nước đã đề ra hàng loạt những biện pháp, chính sách quan trọng. Đất nước tiến hành công cuộc cải cách kinh tế từ một nước lạc hậu với một xuất phát điểm rất thấp, nền kinh tế còn mang nặng tính bao cấp, trì trệ, người dân chủ yếu sống bằng nghề nông, thu nhập còn rất thấp. Bên cạnh đó cơ sở vật chất, trình độ khoa học kĩ thuật, công nghệ của ta còn rất lạc hậu so với thế giới. Chính vì lẽ đó mà Nhà nước ta đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện trên tất cả các mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Việc bao cấp tràn lan, đầu tư dàn trải không có hiệu quả, thêm vào đó là năng lực quản lí quản lí ngân sách còn nhiều bất cập, chưa thực sự minh bạch và khoa học là những nguyên nhân chủ yếu gây ra tình trạng thu không đủ chi, rất nhiều công trình xây dựng xong không thể sử dụng được gây lãng phí rất nhiều tiền của Nhà nước và nhân dân. Ngoài ra, khi Nhà nước thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng sẽ làm tăng mức bội chi ngân sách Nhà nước. Mức bội chi do tác động của chính sách cơ cấu thu chi gây ra được gọi là bội chi cơ cấu. 2.2 Tác động của chu kỳ kinh doanh: Khi đất nước chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tiền tệ làm cho kinh tế bị giảm sút, tình hình đầu tư trong nước gặp khó khăn, sản xuất lâm vào khùng hoảng, nhiều doanh nghiệp bị phá sản, tổng sản phẩm xã hội bị giảm sút, nền kinh tế giảm sút nghiêm trọng... Trong tình hình đó, Nhà nước tháo gỡ bế tắc bằng cách chủ động tăng chi, kích cầu hàng hóa, sử dụng nguồn ngân sách quốc gia để chi cho đầu tư phát triển. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng đảm bảo những nhiệm vụ quan trọng của chi thường xuyên như: chi cho sự nghiệp giáo dục, y tế, khoa học công nghệ, môi trường…đây là những khoản chi rất quan trong và cần thiết đối với nền kinh tế, chúng chiếm một tỷ lệ khá lớn trong tổng chi của ngân sách Nhà nước vì 13 vậy thâm hụt ngân sách Nhà nước là điều khó tránh khỏi. Mức bội chi do tác động của chu kỳ kinh doanh gây ra được gọi là bội chi chu kỳ. 3. Định hướng xử lý bội chi ngân sách Nhà nước 3.1 Phát hành tiền để bù đắp bội chi ngân sách Phát hành tiền để bù đắp bội chi ngân sách có nhược điểm lớn là chứa đựng nguy cơ lạm phát, tác động tiêu cực đến mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội. Thực tế đã cho chúng ta những bài quý giá về việc phát hành tiền quá dễ dãi để bù đắp bội chi ngân sách gây ra lạm phát cao trong thập niên 80. Từ ngày 1/4/1990 chúng ta đã thành lập hệ thống kho bạc Nhà nước trực thuộc bộ tài chính (người chịu trách nhiệm về bội chi ngân sách Nhà nước) độc lập với ngân hàng Nhà nước (người chịu trách nhiệm về việc phát hành tiền vào trong lưu thông) được xem là một cuộc cách mạng cơ cấu nhằm tách chức năng quản lí quỹ ngân sách Nhà nước ra khỏi chức năng phát hành tiền, tránh được tình trạng” mang tiền túi nọ bỏ vào túi kia”. Cơ chế đó đã góp phần tích cực trong việc kiềm chế bội chi và lạm phát trong những năm qua. Thực tế thì trong những năm qua Nhà nước ta đã không phát hành tiền để trang trải thâm hụt ngân sách nữa mà thay vào đó là việc phát hành tín phiếu, trái phiếu kho bạc Nhà nước và vay nợ nước ngoài để bù đắp bội chi, những việc làm này cũng gốp phần tích cực trong việc kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên trong điều kiện nền kinh tế ở vào trạng thái suy thoái, mức độ lạm phát không cao, vật giá không leo thang, thì khi đó việc phát hành tiền cần phải được chủ động tiến hành nhằm mục tiêu trước mắt là có tiền để trang trải các chương trình đầu tư phát triển, có tiền để tăng lương theo đúng kế hoạch, bù đắp bội chi ngân sách. Sau nữa việc phát hành tiền ở mức độ và thời điểm hợp lí sẽ tạo ra mức lạm phát nhẹ, từ đó kích tiêu dùng, giảm gánh nặng về nghĩa vụ trả nợ của Nhà nước, thúc đẩy kinh tế phát triển. Nhất là nếu chủ động một phần (15-20%) 14 nguồn vốn phát hành cho đầu tư hạ tầng sẽ có tác dụng rất tốt đối với nền kinh tế, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế đang bị suy giảm. Như vậy thì biện pháp phát hành tiền để bù đắp bội chi ngân sách luôn có hai mặt của nó, nếu như ta biết áp dụng khéo léo, linh hoạt sao cho thật sự phù hợp trong từng tình huống cụ thể của nền kinh tế thì sẽ làm giảm bớt những ảnh hưởng của bội chi ngân sách, kích thích nền kinh tế phát triển nhanh hơn nữa. Nhưng ngược lại nếu như chúng ta quá lạm dụng vào biện pháp này để bù đắp thâm hụt ngân sách thì sẽ gây ra những hậu quả khôn lường đến sự ổn định và phát triển của nền kinh tế cũng như làm nguy hại đến những giá trị mà chúng ta đã đạt được trong những năm qua. 3.2 Vay để bù đắp thâm hụt ngân sách Nhà nước Vay để bù đắp thâm hụt ngân sách bao gồm có vay trong nước và vay nước ngoài. Để vay được tiền thì Chính phủ phải đa dạng hoá các hình thức vay (tín phiếu, trái phiếu, công trái..), đồng thời phải thực hiện nhiều biện pháp để tăng mức độ hấp dẫn người cho vay như tăng lãi suất, mở rộng ưu đãi về thuế thu nhập… Tuy nhiên tổng lượng tiền mà nhân dân có thể có để cho Chính phủ vay bị giới hạn trong tổng lượng tiền tiết kiệm của xã hội. Nếu Chính phủ huy động được nhiều thì đương nhiên phần tiền còn lại giành cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh ở ngoài khu vực quốc doanh sẽ bị giảm đi. Nếu các biện pháp thu hút tiền vay của Chính phủ và các ngân hàng càng có lãi suất hấp dẫn thì càng tạo ra luồng tiền vốn dịch chuyển từ các khu vực doanh nghiệp và dân cư sang hệ thống tài chính ngân hàng mà không chảy vào sản xuất kinh doanh. Do đó vay trong nước để bù đắp thâm hụt ngân sách luôn chứa đựng nguy cơ kìm hãm hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế. Mục tiêu chấn hưng nền kinh tế của Chính phủ thông qua con đường phát hành trái phiếu, tín phiếu bị chính giải pháp nay cản trở. Nhưng cũng phải nên thấy một điều rằng vay trong nước lại dễ triển khai tránh bị 15 ảnh hưởng hoặc o ép từ bên ngoài, do đó khi đi vay và sử dụng vốn vay là một điều khó tránh khỏi cần phải có những biện pháp khắc phục. Đối với vay nước ngoài thì lại phụ thuộc vào đối tác cho vay thường được thực hiện dưới các hình thức kể cả ODA và vay trên thị trường tài chính quốc tế. Dù vay dưới hình thức nào đi chăng nữa thì việc đi vay nước ngoài luôn phải chịu những ràng buộc, áp đặt bằng điều kiện từ nước cho vay. Hiện tại nước ta chủ yếu đang vay nước ngoài để bù đắp bội chi bằng các nguồn vay ưu đãi, lãi suất thấp, thời gian dài. Gắn vào đó là phải tuân thủ các điều kiện ràng buộc của người cho vay. Ví dụ: quỹ Miyazawa của Nhật quy định trong tổng số vốn được cho vay tài trợ thì phải có ít nhất 50% được dùng để mua hàng hoá của Nhật hoặc của các công ty Nhật Bản đóng tại nước sở tại. Ngoài ra còn kèm theo các điều kiện thủ tục không thành văn khác như phải qua ngân hàng trung gian xuất nhập khẩu Nhật Bản.Vay nước ngoài tuy còn phụ thuộc vào rất nhiều vào uy tín và khả năng trả nợ của nền kinh tế nhưng không xâm hại đến nguồn vốn trong nước giành cho đầu tư, lại thường có khối lượng đáng kể, có nhiều cơ hội đổi mới công nghệ kỹ thuật và quản lý, có thời hạn đủ dài để vốn vay phát huy hiệu quả. Do đó cũng cần quan tâm đúng mức đến biện pháp vay nước ngoài để bù đắp bội chi. Thêm vào đó càng tăng cường đi vay Chính phủ càng chất thêm gánh nặng nợ và càng làm giảm quyền lực tài chính của mình. Thật vậy nghĩa vụ nợ đến hạn bắt buộc phải trả hàng năm đương nhiên được trích từ ngân sách Nhà nước do đó mà khi đến hạn trả nợ thì vô hình chung các khoản chi trả của Chính phủ tăng lên một cách trông thấy. Như vậy một chính phủ đi vay quá nhiều cả ở trong và ngoài nước sẽ gây ra nhiều biến động bất lợi của nền kinh tế, làm giảm uy tín cũng như khả năng tự chủ về tài chính của Nhà nước đó. Do vậy chúng ta cần phải cân đối, tính toán cho thật chính xác thời điểm đi vay, vay ở đâu, và vay của những đối tượng nào là tốt nhất, đem lại hiệu quả cao nhất. 3.3 Bù đắp sự thiếu hụt ngân sách bằng biện pháp tăng thuế 16 Tăng thuế bằng biện pháp trực tiếp tăng thuế suất là giải pháp khó triển khai và tốn kém. Mặc dù Nhà nước hoàn toàn có quyền tăng thuế hoặc ban hành thêm thuế mới để tạo nguồn bù đắp bội chi ngân sách. Tuy nhiên cần tính đến tác động nhiều chiều của giải pháp này. Theo La-phe nhà kinh tế học người Mỹ, hồi thập niên 70 đã đồ thị hoá 2 tác động trái ngược nhau của việc tăng thuế tuỳ theo mức thuế suất áp dụng. Khi còn ở trong vùng có thể chịu đựng được thì tăng sẽ thuế suất sẽ làm tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, đồng thời còn kích thích các đối tượng nộp thuế phát triển kinh doanh, mở mang các hoạt động kinh tế, tăng khả năng sinh lời có một phần nộp cho ngân sách Nhà nước còn một phần làm thặng dư cho mình. Trong trường hợp này tăng thuế có tác dụng kích thích sự phát triển kinh tế, nhưng khi vượt quá giới hạn chịu đựng của nền kinh tế thì khi tăng thuế lại làm giảm nguồn thu từ ngân sách, mặt khác nó còn thúc đẩy tình trạng trốn lậu thuế, kìm hãm hoặc không kích thích được nền kinh tế phát triển. Trên thực tế, tăng thuế là giải pháp không mấy dễ áp dụng và tốn kém. Tăng thuế có khả thi hay không còn phụ thuộc vào sức chịu đựng cuả nền kinh tế, sự hiệu quả của hệ thống thu, phụ thuộc vào hiếu suất của từng sắc thuế. Trong thời kì nền kinh tế suy thoái, hoạt động kinh tế mờ nhạt thì việc tăng thuế không những không khả thi mà còn làm cản trở của hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng số lượng nợ đọng thuế của các doanh nghiệp, đẩy các doanh nghiệp lâm vào tình trạng tài chính không lành mạnh và làm giảm nguồn thu ngân sách. Nếu tăng thuế chỉ nhằm vào các giải pháp tăng thuế suất và ban hành thêm các sắc thuế mới, nhất là tăng thuế trực thu thì về mặt lý thuyết là có thể tăng thu ngay nhưng trên thực tế rất khó được áp dụng đúng đắn và khó có thể đạt được ngay kết quả. Hơn nữa nếu thuế suất quá cao còn dẫn đến tình trạng trốn lậu thuế, tác động xấu đến môi trường kinh tế. 17 Tình hình thực tiễn ở nước ta cho thấy muốn tăng thu từ thuế cho ngân sách Nhà nước, cần triển khai mạnh mẽ các giải pháp nhằm làm hợp lí hoá và nâng cao hiệu quả của hệ thống thuế, mở rộng diện thu thuế sẽ phù hợp với thực tế và có tính khả thi cao hơn các giải pháp nhằm vào tăng thuế hoặc ban hành thêm các sắc thuế mới. Những giải pháp nâng cao hiệu quả của hệ thống thuế bao gồm cải cách hành chính thuế (bộ máy, quy trình, phương thức tổ chức thu thuế và hoàn thiện các sắc thuế). 3.4 Cắt giảm chi tiêu nhằm làm giảm thâm hụt ngân sách Nhà nước Cắt giảm chi tiêu với hi vọng làm giảm tổng chi nhằm giảm bội chi ngân sách là biện pháp “tiêu cực” xét dưới góc độ kinh tế học bởi vì Chính phủ sẽ cắt giảm chi tiêu thường xuyên (chi lương, chi mua sắm trang thiết bị) thậm chí sẽ trì hoãn hoặc cắt giảm chi đầu tư phát triển, như vậy sẽ thu hẹp khả năng tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ của khu vực sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp sẽ không tiêu thụ thì sản phẩm sẽ tồn đọng, kinh tế sẽ gặp khó khăn, sản xuất đình đốn. Trong thực tế cần xuất phát từ bối cảnh kinh tế - xã hội từng năm, căn cứ mục tiêu các kế hoạch tài chính ngắn hạn, trung hạn, dài hạn…cũng như căn cứ tình hình tài chính, tiền tệ, tình hình nợ nước ngoài…để xác định các giải pháp khai thác nguồn tài chính bù đắp bội chi thích hợp. Ngoài ra Nhà nước cần tích cực triển khai các chương trình cải thiện cơ sở hạ tầng, hoàn thiện mạng lưới giao thông, kích thích tiêu dùng nhằm tăng cường khả năng phát triển của nền kinh tế. Tuy nhiên cần tách bạch phạm trù kích cầu với phạm trù kích cầu với phạm trù tiết kiệm chống lãng phí. Trong điều kiện tiềm lực ngân sách Nhà nước có hạn, thì kích cầu không để xảy ra tình trạng vung tiền bừa bãi, bỏ qua các quy định, quy phạm tài chính về thực hành tiết kiệm chống lãng phí, tiến hành đầu tư có trọng điểm, cải thiện thực chất chế độ tiện lương theo hướng tăng thu nhập cho người hưởng lương nhưng không tăng biên chế để làm tăng tổng quỹ lương. 18 Tóm lại mỗi giải pháp đều có ưu nhược điểm nhất định, cần tuỳ thuộc và điều kiện hoàn cảnh cụ thể của nền kinh tế đất nước để lựa chọn những giải pháp thích hợp. Tuy nhiên nhìn một cách toàn diện thì thực hiện tốt công tác quản lí và điều hành ngân sách Nhà nước vẫn là biện pháp tốt nhất cho các quốc gia để hạn chế, khắc phục tình trạng thâm hụt ngân sách Nhà nước. III. Mối quan hệ giữa lạm phát và bội chi ngân sách Nhà nước Trang 1. Bội chi ngân sách Nhà nước với lạm phát (Phân tích mối quan hệ này qua tình hình thực tiễn nước ta từ trước đổi mới đến nay) Giai đoạn trước năm 1986, tình hình tài chính nước ta trong tình trạng yếu kém, thu không đủ chi thường xuyên, thâm hụt ngân sách Nhà nước cao quá mức, chi tiêu Chính phủ chủ yếu nhờ vào sự viện trợ của nước ngoài là chính. Đến giai đoạn từ năm 1986-1990, trước tình hình khó khăn về kinh tế và chính trị, Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu đã cắt giảm dần viện trợ của họ cho nước ta. Trước tình hình khó khăn đó, Đảng ta tiến hành đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường có định hướng XHCN. Với những bước đi chập chững ban đầu, chính sách tài chính đã có đổi mới một bước. Tuy nhiên, thu ngân sách Nhà nước càng không đủ chi và bù đắp thâm hụt ngân sách Nhà nước không chỉ phải vay trong và ngoài nước mà còn phải lấy từ nguồn tiền phát hành. Chính yếu kém về ngân sách Nhà nước nêu trên, là một yếu tố quan trọng gây nên lạm phát trong thập kỉ 80 của thế kỉ XX. Chi ngân sách Nhà nước đã tăng cao tới mức bùng nổ ở trong những năm 1985-1988, đã gây ra thâm hụt ngân sách Nhà nước trầm trọng vì không có sự tăng lên tương ứng về số thu. Giai đoạn từ năm 1986 - 1990, khi mà tỷ lệ tích luỹ nội bộ nền kinh tế rất thấp (có thể nói là không đáng kể), làm không đủ ăn thì tỷ lệ chi đầu tư phát triển như ở đồ thị 1 là quá lớn và nguồn bù đắp cho thâm hụt ngân sách Nhà nước lại chủ yếu do tiền phát hành thì lạm phát cao là điều khó tránh khỏi. 19 2500 2000 1500 1000 500 0 1986 1987 1988 1989 1990 TiÒn ph¸t hµnh ®Ò bï ®¸p béi chi NSNN Th©m hôt NSNN Đồ thị 1: Tổng bội chi ngân sách Nhà nước và việc phát hành tiền để bù đắp bội chi ngân sách Nhà nước (1985 - 1990) - Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trong thời gian 5 năm 1986 - 1990, 59,7% mức thâm hụt này được hệ thống Ngân hàng thanh toán bằng cách phát hành tiền. Năm 1984, phát hành tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách là 0,4 tỷ đồng, năm 1985: 9,3 tỷ đồng, năm 1986: 22,9 tỷ đồng, năm 1987: 89,1 tỷ đồng, năm 1988: 450 tỷ đồng, năm 1989: 1655 tỷ đồng và năm 1990 là 1200 tỷ đồng. Số còn lại được bù đắp bằng các khoản vay nợ và viện trợ của nước ngoài (so với bội chi, khoản vay và viện trợ năm 1984 là 71,3%, năm 1985 là 40,8%, năm 1986: 38,4%, năm 1987: 32,1%, năm 1988: 32,6%, năm 1989: 24,9%, năm 1990 là 46,7%) và một số nhỏ do các khoản thu từ bán công trái trong nước. Mặc dù có nhiều cố gắng đáng kể trong năm 1989, nhưng tình trạng thiếu hụt ngân sách Nhà nước vẫn trầm trọng. Tổng chi đã tăng gấp đôi so với năm 1988, một phần do lạm phát chuyển từ năm 1988 sang và đã làm tăng giá đáng kể một số mặt hàng và dịch vụ thiết yếu do Nhà nước cung cấp. Tất cả những phân tích ở trên cho thấy, có nhiều nguyên nhân gây ra lạm phát cao trong giai đoạn từ 20
- Xem thêm -