Tóm lược lý thuyết về mối quan hệ giữa bội chi ngân sách nhà nước và tăng trưởng kinh tế

  • Số trang: 18 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 21 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH KHOA KẾ TOÁN- KIỂM TOÁN TIỂU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ TÓM LƯỢC LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ GVHD: TRƯƠNG MINH TUẤN SV THỰC HIỆN: NHÓM 34 1. VÕ THANH BÌNH 2. PHẠM THỊ DUYÊN 3. PHẠM THỊ MỸ HÀ 4. NGUYỄN Y NỮ 5. DƯƠNG BÁ PHÚC TP.HỒ CHÍ MINH – THÁNG 10/2012 Mở đầu Trong những năm gần đây, vấn đề bội chi ngân sách ngày càng được dư luận quan tâm, và luôn là chủ đề được bàn cãi trong các kỳ họp quốc hội. Chúng ta luôn cho rằng: Bội chi ngân sách nhà nước là “một căn bệnh” làm cản trở sự phát triển nền kinh tế, gây nên lạm phát, mất cân đối tài chính quốc gia, tuy nhiên bội chi ngân sách ở một mức độ nhất định, sẽ là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Có thể ví bội chi ngân sách như con dao hai lưỡi, quan trọng là “người cầm dao” sử dụng nó như thế nào? Nếu bội chi ngân sách hợp lí sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển, đáp ứng được sự thiếu hụt nguồn vốn đối với các dự án quan trọng. nhưng nếu không thực hiện tốt, điều tiết kịp thời thì bội chi ngân sách là một trong những nguyên nhân chính gây khủng hoảng nền kinh tế, gây lên lạm phát, nợ quốc gia. Tuy nhiên mức độ thâm hụt ngân sách ở nước ta đang có xu hướng gia tăng và ngày càng tác động tiêu cực đến đời sống nhân dân cũng như toàn bộ nền kinh tế. Nói cách khác, đây chính là một trong những nguy cơ làm khủng hoảng nền kinh tế, gây khó khăn cho chính phủ trong việc thực hiện các chính sách tài khóa và tiền tệ. Vậy thâm hụt ngân sách là gì? Thực trạng vấn đề thâm hụt ngân sách ở Việt Nam thế nào? Giải pháp để hạn chế và khắc phục tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước ra sao? Nhóm chúng tôi sẽ cùng các bạn giải đáp trong bài thảo luận về đề tài: ‘Trình bày các biện pháp mà chính phủ việt nam đã sử dụng để bù đắp thâm hụt ngân sách. Lấy số liệu thực tế làm vd minh họa trong 5 năm trở lại đây’’ I. Khái niệm a. Bội chi ngân sách nhà nước: Thâm hụt ngân sách nhà nước, hay còn gọi là bội chi ngân sách nhà nước, là tình trạng khi tổng chi tiêu của ngân sách nhà nước vượt quá các khoản thu "không mang tính hoàn trả" của ngân sách nhà nước. Để phản ánh mức độ thâm hụt ngân sách người ta thường sử dụng chỉ tiêu tỉ lệ thâm hụt so với GDP hoặc so với tổng số thu trong ngân sách nhà nước. Thâm hụt ngân sách nhà nước có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến nền kinh tế một nước tùy theo tỉ lệ thâm hụt và thời gianthâm hụt. Nói chung nếu tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước với tỷ lệ cao và trong thời gian dài sẽ gây ra lạm phát, ảnh hưởng tiêu cực Các dạng thâm hụt NSNN Tài chính công hiện đại phân loại thâm hụt ngân sách thành hai loại: thâm hụt cơ cấu và thâm hụt chu kỳ. Thâm hụt cơ cấu là các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính sách tùy biến của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hay quy mô chi tiêu cho giáo dục, quốc phòng,... Thâm hụt chu kỳ là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kỳ kinh tế, nghĩa là bởi mức độ cao hay thấp của sản lượng và thu nhập quốc dân. Ví dụ khi nền kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng sẽ dẫn đến thu ngân sách từ thuế giảm xuống trong khi chi ngân sách cho cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên. Giá trị tính ra tiền của thâm hụt cơ cấu và thâm hụt chu kỳ được tính toán như sau: Ngân sách thực có: liệt kê các khoản thu, chi và thâm hụt tính bằng tiền trong một giai đoạn nhất định (thường là một quý hoặc một năm). Ngân sách cơ cấu: tính toán thu, chi và thâm hụt của chính phủ sẽ là bao nhiêu nếu nền kinh tế đạt mức sản lượng tiềm năng. Ngân sách chu kỳ: là chênh lệch giữa ngân sách thực có và ngân sách cơ cấu. Việc phân biệt giữa ngân sách cơ cấu và ngân sách chu kỳ phản ánh sự khác nhau giữa chính sách tài chính: chính sách ổn định tùy biến và chính sách ổn định tự động. Việc phân biệt hai loại thâm hụt trên đây có tác dụng quan trọng trong việc đánh giá ảnh hưởng thực sự của chính sách tài chính khi thực hiện chính sách tài chính mở rộng hay thắt chặt sẽ ảnh hưởng đến thâm hụt ngân sách như thế nào giúp cho chính phủ có những biện pháp điều chỉnh chính sách hợp lý trong từng giai đoạn của chu kỳ kinh tế b. Tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định. Đo lường tăng trưởng kinh tế Để đo lường tăng trưởng kinh tế có thể dùng mức tăng trưởng tuyệt đối, tốc độ tăng trưởng kinh tế hoặc tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong một giai đoạn. Mức tăng trưởng tuyệt đối là mức chênh lệch quy mô kinh tế giữa hai kỳ cần so sánh. Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy mô kinh tế kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô kinh tế kỳ trước. Tốc độ tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng đơn vị %. Biểu diễn bằng toán học, sẽ có công thức: y = dY/Y × 100(%), trong đó Y là qui mô của nền kinh tế, và y là tốc độ tăng trưởng. Nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP (hay GNP) danh nghĩa, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (hoặc GNP) danh nghĩa. Còn nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP (hay GNP) thực tế, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (hay GNP) thực tế. Thông thường, tăng trưởng kinh tế dùng chỉ tiêu thực tế hơn là các chỉ tiêu danh nghĩa. Các nhân tố của tăng trưởng kinh tế Sau khi nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế của các nước phát triển lẫn các nước đang phát triển, những nhà kinh tế học đã phát hiện ra rằng động lực của phát triển kinh tế phải được đi cùng trên bốn bánh xe, hay bốn nhân tố của tăng trưởng kinh tế là nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, tư bản và công nghệ. Bốn nhân tố này khác nhau ở mỗi quốc gia và cách phối hợp giữa chúng cũng khác nhau đưa đến kết quả tương ứng.    Nguồn nhân lực: chất lượng đầu vào của lao động tức là kỹ năng, kiến thức và kỷ luật của đội ngũ lao động là yếu tố quan trọng nhất của tăng trưởng kinh tế. Hầu hết các yếu tố khác như tư bản, nguyên vật liệu, công nghệ đều có thể mua hoặc vay mượn được nhưng nguồn nhân lực thì khó có thể làm điều tương tự. Các yếu tố như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu hay công nghệ sản xuất chỉ có thể phát huy được tối đa hiệu quả bởi đội ngũ lao động có trình độ văn hóa, có sức khỏe và kỷ luật lao động tốt. Thực tế nghiên cứu các nền kinh tế bị tàn phá sau Chiến tranh thế giới lần thứ II cho thấy mặc dù hầu hết tư bản bị phá hủy nhưng những nước có nguồn nhân lực chất lượng cao vẫn có thể phục hồi và phát triển kinh tế một cách ngoạn mục. Một ví dụ là nước Đức, "một lượng lớn tư bản của nước Đức bị tàn phá trong Đại chiến thế giới lần thứ hai, tuy nhiên vốn nhân lực của lực lượng lao động nước Đức vẫn tồn tại. Với những kỹ năng này, nước Đức đã phục hồi nhanh chóng sau năm 1945. Nếu không có số vốn nhân lực này thì sẽ không bao giờ có sự thần kỳ của nước Đức thời hậu chiến."[1] Nguồn tài nguyên thiên nhiên: là một trong những yếu tố sản xuất cổ điển, những tài nguyên quan trọng nhất là đất đai, khoáng sản, đặc biệt là dầu mỏ, rừng và nguồn nước. Tài nguyên thiên nhiên có vai trò quan trọng để phát triển kinh tế, có những nước được thiên nhiên ưu đãi một trữ lượng dầu mỏ lớn có thể đạt được mức thu nhập cao gần như hoàn toàn dựa vào đó như Ả rập Xê út. Tuy nhiên, các nước sản xuất dầu mỏ là ngoại lệ chứ không phải quy luật, việc sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú không quyết định một quốc gia có thu nhập cao. Nhật Bản là một nước gần như không có tài nguyên thiên nhiên nhưng nhờ tập trung sản xuất các sản phẩm có hàm lượng lao động, tư bản, công nghệ cao nên vẫn có nền kinh tế đứng thứ hai trên thế giới về quy mô. Tư bản: là một trong những nhân tố sản xuất, tùy theo mức độ tư bản mà người lao động được sử dụng những máy móc, thiết bị...nhiều hay ít (tỷ lệ tư bản trên mỗi lao động) và tạo ra sản lượng cao hay thấp. Để có được tư bản, phải thực hiện đầu tư nghĩa là hy sinh tiêu dùng cho tương lai. Điều này đặc biệt quan trọng trong sự phát triển dài hạn, những quốc gia có tỷ lệ đầu tư tính trên GDP cao thường có được sự tăng trưởng cao và bền vững. Tuy nhiên, tư bản không chỉ là máy móc, thiết bị do tư nhân dầu tư cho sản xuất nó còn là tư bản cố định xã hội,  những thứ tạo tiền đề cho sản xuất và thương mại phát triển. Tư bản cố định xã hội thường là những dự án quy mô lớn, gần như không thể chia nhỏ được và nhiều khi có lợi suất tăng dần theo quy mô nên phải do chính phủ thực hiện. Ví dụ: hạ tầng của sản xuất (đường giao thông, mạng lưới điện quốc gia...), sức khỏe cộng đồng, thủy lợi.... Công nghệ: trong suốt lịch sử loài người, tăng trưởng kinh tế rõ ràng không phải là sự sao chép giản đơn, là việc đơn thuần chỉ tăng thêm lao động và tư bản, ngược lại, nó là quá trình không ngừng thay đổi công nghệ sản xuất. Công nghệ sản xuất cho phép cùng một lượng lao động và tư bản có thể tạo ra sản lượng cao hơn, nghĩa là quá trình sản xuất có hiệu quả hơn. Công nghệ phát triển ngày càng nhanh chóng và ngày nay công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới... có những bước tiến như vũ bão góp phần gia tăng hiệu quả của sản xuất. Tuy nhiên, thay đổi công nghệ không chỉ thuần túy là việc tìm tòi, nghiên cứu; công nghệ có phát triển và ứng dụng một cách nhanh chóng được là nhờ "phần thưởng cho sự đổi mới" - sự duy trì cơ chế cho phép những sáng chế, phát minh được bảo vệ và được trả tiền một cách xứng đáng. II. Nguyên nhân BCNSNN và ảnh hưởng a. Nguyên nhân của bội chi ngân sách nhà nước. Có hai nguyên nhân cơ bản gây ra bội chi ngân sách nhà nước. - Thứ nhất: Do tác động của chu kỳ kinh doanh, khủng hoảng lạm chi làm cho thu nhập của nhà nước co lại, nhưng nhu cầu chi lại tăng lên, để giải quyết khó khăn mới về kinh tế xã hội. Điều đó làm cho mức độ bội chi ngân sách ngân sách nhà nước tăng lên trong giai đoạn kinh tế phồn thịnh, thu của nhà nước sẽ tăng lên, trong khi chi không phải tăng tương ứng. Điều đó làm giảm mức bội chi ngân sách nhà nước. Mức bội chi do tác động của chu kỳ kinh doanh gây ra được gọi là bội chi chu kỳ. - Thứ hai: Do tác động của chính sách cơ cấu thu chi của nhà nước. Khi nhà nước thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng sẽ làm tăng mức bội chi ngân sách nhà nước. Ngược lại thực hiện chính sách giảm đầu tư và tiêu dùng của nhà nước thì mức bội chi ngân sách nhà nước sẽ giảm bớt. Các bội chi do tác động của chính sách cơ cấu thu chi gọi là bội chi cơ cấu. Trong điều kiện bình thường (không có chiến tranh, không có thiên tai lớn...), tổng hợp của bội chi chu kỳ và bội chi cơ cấu sẽ là bội chi ngân sách nhà nước. b. Ảnh hưởng của bội chi ngân sách nhà nước tới nền kinh tế Bội chi ngân sách nhà nước là một căn bệnh tác hại đến sự phát triển kinh tế nếu xử lý bội chi ngân sách nhà nước không đúng đắn, cho dù bội chi ngân sách nhà nước từ nguyên nhân nào đi chăng nữa. Bội chi ngân sách nhà nước là căn bệnh không chỉ dành riêng cho bất kỳ quốc gia nào. Nó mang tính phổ biến tồn tại khắp các quốc gia trên thế giới, từ những nước đang phát triển , chậm phát triển cho đến những nước có nền kinh tế phát triển. Đó là nhu cầu chi tiêu và thực tế của nhà nước không thể cắt giảm được mà ngày càng tăng lên, trong khi đó việc tăng thu ngân sách nhà nước từ công cụ thuế sẽ dẫn đến sự phản hồi từ phía dân cư và các tổ chức kinh tế xã hội, và hậu quả nhận được là kìm hãm tốc độ tích lũy vốn cho sản xuất, hạn chế tiêu dùng dẫn đến nguy cơ suy thoái nền kinh tế cao. Còn đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là những nước nghèo thì bội chi ngân sách nhà nước là điều không thể tránh khỏi bởi tình trạng thu nhập bình quân đầu ngươi quá thấp không cho phép chính phủ tăng tỉ lệ động viên từ GDP vào ngân sách nhà nước, trong khi đó nhu cầu chi tiêu theo chức năng của chính phủ lại tăng lên, nhất là khi nhà nước thực hiện các chương trình đầu tư nhằm cải thiện cơ cấu kinh tế và hướng dần tới sự tăng trưởng. Thực tế cho thấy, bội chi ngân sách nhà nước không có nguồn bù đắp hợp lý sẽ dẫn đến lạm phát, gây tác hại xấu tới nền kinh tế cũng như đời sống xã hội. Nếu bội chi ngân sách nhà nước được bù đắp bằng cách phát hành tiền thêm vào sẽ dẫn tới bùng nổ lạm phát. Bội chi ngân sách nhà nước cũng không hoàn toàn là tiêu cực. Nếu bội chi ngân sách ở một mức độ nhất định (dưới 5% so với tổng chi ngân sách trong năm) thì lại có tác dụng kích thích sản xuất phát triển. Vì thế ở những quốc gia có nền kinh tế phát triển, nguời ta vẫn chỉ cố gắng thu hẹp bội chi ngân sách nhà nước chứ không hề có ý loại trừ nó hoàn toàn. Nhưng cho dù bội chi ngân sách nhà nước ở mức độ nào đi chăng nữa thì nó vẫn đòi hỏi mọi chính phủ phải có biện pháp thích hợp để kiểm soát và kiềm chế bội chi ngân sách. c. Tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế là sự tăng về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Sự tăng trưởng được so sánh theo các thời điểm gốc sẽ phản ánh tốc độ tăng trưởng. Đó là sự gia tăng sản lượng kinh tế nhanh hay chậm so với thời điểm gốc. Hiện nay, mức gia tăng tổng giá trị của cải Xã Hội được tính bằng các đại lượng tổng sản phẩm quốc dân (GNP) hoặc tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Vì vậy, tăng trưởng kinh tế là mức gia tăng GDP hay GNP năm sau so với năm trước. Các nhân tố tăng trưởng kinh tế: - Vốn là toàn bộ của cải vật chất do con người tạo ra được tích lũy lại và tài nguyên thiên nhiên như đất đai, khoáng sản … Vốn được thể hiện dưới hình thức hiện vật và tiền tệ. Đó là yếu tố đầu vào của sản xuất, có vai trò rất quan trọng để tăng trưởng kinh tế. Mối quan hệ giữa tăng GDP với tăng vốn đầu tư gọi là hiệu suất sử dụng vốn sản phẩm gia tăng. Đó là tỷ lệ tăng đầu tư chia cho tỷ lệ tăng của GDP. Những nền kinh tế thành công thường khởi đầu quá trình phát triển với chỉ số này thấp, thường là tăng 3% vốn để tăng 1% GDP. - Con người là nhân tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế bền vững. Con người có sức khỏe, trí tuệ, kỹ năng cao, có ý chí, nhiệt tình lao động và được tổ chức hợp lý. Tài năng, trí tuệ của con người là vô hạn và là nhân tố quyết định trong nền kinh tế tri thức, còn vốn là tài nguyên hữu hạn. Con người sáng tạo ra kỹ thuật, công nghệ và sử dụng nó và vốn để sản xuất. Nếu không có con người thì các yếu tố này không thể tự phát huy tác dụng. Vì vậy, cần phát triển giáo dục, đào tạo, y tế … để phát huy nhân tố con người. Đó chính là sự đầu tư cho tăng trưởng kinh tế. - Cơ cấu kinh tế gồm cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế và cả cơ cấu ngành kinh tế. cơ cấu hợp lý thể hiện ở chỗ xác định đúng tỷ trọng, vai trò, thế mạnh của từng ngành, từng vùng, từng thành phần kinh tế. nếu kết hợp tốt các nguồn lực của nền kinh tế để tăng năng suất lao động, nâng cao hiểu quả của nền kinh tế, là yếu tố quan trọng của sự tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. - Thể chế chính trị và quản lý nhà nước: Thể chế chính trị tiến bộ có khả năng định hướng sự tăng trưởng kinh tế vào những mục tiêu mong muốn, khắc phục những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường, phân hóa giàu nghèo sâu sắc. Hệ thống chính trị mà đại diện là Nhà nước có vai trò hoạch định đường lối, chiến lược phát triển KT- XH, cùng hệ thống chính sách đúng đắn sẽ hạn chế được những tiêu cực của kinh tế thị trường, làm cho nền kinh tế phát triển nhanh và đúng hướng. III. Quan điểm về mối liên hệ giữa bội chi ngân sách và tăng trưởng kinh tế: Năm quan điểm về tác động của bội chi ngân sách đến tăng trưởng kinh tế: Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 diễn ra đưa đến những hậu quả rất nặng nề cho nền kinh tế thế giới, theo đó, nhiều vấn đề về quản trị tài chính quốc gia được lật lại nhưng nổi trội hơn hẳn là vấn đề Bội chi ngân sách. Những câu hỏi liên tục được đặt ra: Sức mạnh của bộ chi ngân sách và ảnh hưởng của nó đến tăng trưởng kinh tế là gì? Chính Phủ cần phải lưu ý những vấn đề gì trong chính sách quản lý Bội chi ngân sách nói riêng và tài chính công nói chung? Với mục tiêu trọng tâm hướng về chính sách quản lý Bội chi ngân sách của các quốc gia trên thế giới và từ đó đưa ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, phần đầu tiên trong bài nghiên cứu, chúng tôi sẽ trình bày mối quan hệ giữa Bội chi ngân sách và tăng trưởng kinh tế - nguyên nhân giúp Chính Phủ nhận thấy cần phải có một chính sách quản lý Bội chi ngân sách phù hợp để đảm bảo tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Qua nghiên cứu và tìm hiểu những quan điểm của các nhà kinh tế học trên thế giới, chúng tôi tìm ra được năm quan điểm như sau: Thứ nhất, Bội chi ngân sách là một nguồn rất cần thiết thuộc cấu trúc vốn tài chính của các quốc gia, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển, góp phần vào sự phát triển kinh tế đất nước trong ngắn hạn, nhưng trong dài hạn có nguy cơ gây tổn hại cho nền kinh tế bởi những yêu cầu thanh toán cả vốn gốc và lãi của nó. 1 Theo quan điểm của Folorunso S. Ayadi và Felix O. Ayadi (2008) , nợ là một trong những nguồn thuộc cấu trúc vốn tài chính của bất kỳ một nền kinh tế nào, đặc biệt, đối với những đất nước đang phát triển thuộc Châu Phi, Châu Á, Châu Mỹ La Tinh, đặc trưng bởi một cấu trúc vốn nội bộ không thỏa đáng, do đó, luôn gặp phải vòng luẩn quẩn của năng suất thấp do thiếu nguồn vốn đầu tư nâng cấp và xây dựng cơ sở hạ tầng, cập nhật công nghệ kỹ thuật, rồi dẫn đến thu nhập thấp, kéo theo là tiết kiệm cũng thấp và tiếp tục quay lại với cấu trúc vốn nội bộ thiếu thốn. Vì vậy, lúc này, những kiến thức thuộc về chuyên môn, bộ máy quản lý tài chính quốc gia và sự hỗ trợ tài chính từ những nước Phương Tây để khắc phục sự khó khăn về nguồn lực là điều trở nên rất cần thiết. Mặt khác, nợ nước ngoài như là một sự ràng buộc chính yếu đến cấu trúc vốn của những quốc gia đang phát triển. Trong hầu hết các trường hợp, nợ dồn tích lại bởi vì những yêu cầu thanh toán cả vốn gốc và lãi của nó, do đó, nợ dần trở nên không góp phần một cách đáng kể cho sự phát triển kinh tế tại những đất nước đang phát triển trong dài hạn. Phát triển những ý tưởng trên, theo Elmendorf và Mankiw (1999)2 , Bội chi ngân sách có ảnh hưởng quan trọng đến nền kinh tế cả trong ngắn và dài hạn. Các khoản nợ (phản ánh tài trợ thâm hụt) có thể kích thích tổng cầu và sản lượng trong ngắn hạn do lượng vốn cung cấp cho nền kinh tế tăng cao, đáp ứng nhu cầu huy động vốn của những cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế, nhưng chèn lấn vốn đầu tư và làm giảm sản lượng trong dài hạn. Bội chi ngân sách cao có thể ảnh hưởng bất lợi đến tích lũy vốn và tăng trưởng thông qua lãi suất dài hạn cao hơn, bóp méo hệ thống thuế trong tương lai cao hơn, lạm phát và sự không chắc chắn cao hơn về các triển vọng và chính sách. Có thể nói rằng: trong ngắn hạn, Bội chi ngân sách tác động tích cực lên tăng trưởng kinh tế bởi cung cấp một lượng vốn thiết yếu đối với chi tiêu cho đầu tư phát triển của quốc gia, nâng cao năng suất nhưng kèm theo đó là những nghĩa vụ nợ phải thực hiện trong tương lai, dẫn đến những ảnh hưởng bất lợi đến tích lũy vốn và tăng trưởng kinh tế dài hạn nếu không có một chính sách quản lý Bội chi ngân sách phù hợp và hữu hiệu. Thứ hai, đối với những quốc gia phát triển và những nền kinh tế thị trường mới nổi, mối quan hệ giữa Bội chi ngân sách và tăng trưởng kinh tế biểu hiện rõ nhất khi nợ vượt mức 90-100% GDP; lúc này, nợ càng tăng, tăng trưởng kinh tế giảm đáng kể. Theo M. Reinhart và S. Rogoff 3 , hai nhà kinh tế học nổi tiếng về nghiên cứu lĩnh vực nợ công, đã xem xét mối quan hệ giữa Bội chi ngân sách và tăng trưởng kinh tế với các mức độ khác nhau của Bội chi ngân sách ở những nền kinh tế tiên tiến và mới nổi, dựa trên chuỗi số liệu quá khứ dài hạn và mô tả thực nghiệm đã đưa ra kết quả tác động phi tuyến của Bội chi ngân sách đối với tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu gần đây (2010) được thực hiện bởi hai tác giả này, thông qua thống kê tương quan đơn giản về những mức khác nhau của Bội chi ngân sách và tốc độ tăng trưởng GDP thực dài hạn trong mẫu 20 quốc gia phát 4 triển trải dài khoảng hai thế kỷ (1790 – 2009), và mẫu 24 nền kinh tế thị trường 5 mới nổi giai đoạn 1946-2009 nhận thấy rằng: (i) mối quan hệ giữa Bội chi ngân sách và tăng trưởng dài hạn thì yếu đối với tỷ số nợ/GDP dưới ngưỡng 90% GDP; (ii) trên 90%, khi nợ tăng, tốc độ tăng trưởng giảm đáng kể. Điều này sẽ được trình bày rõ hơn ở phần bằng chứng thực nghiệm tiếp theo và bảng thống kê về nợ và tăng trưởng kinh tế của một số quốc gia chọn lọc trong phần phụ lục A1. Như vậy, đây chính là điểm mấu chốt trong việc đề ra những chính sách quản lý Bội chi ngân sách và trần Bội chi ngân sách phù hợp cho mỗi quốc gia dựa vào ngưỡng nợ cảnh báo, từ đó, tránh vay mượn quá đà, rơi vào trạng thái mất khả năng chi trả và ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế. Thứ ba, có thể xem xét sự tác động của Bội chi ngân sách lên tăng trưởng kinh tế thông qua dữ liệu nợ nước ngoài cùng với những rủi ro và hệ lụy mà nó đưa lại: sự không khuyến khích đầu tư, giới hạn sự tham gia của các quốc gia đang phát triển với nền kinh tế toàn cầu, sự trống rỗng trong dự trữ ngoại hối quốc gia, cứng nhắc trong chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa. 6 Một số nghiên cứu của Krugman (1988) và Sachs (1989) đã xem xét tác động của Bội chi ngân sách lên tăng trưởng kinh tế thông qua sự tác động của một yếu tố đóng vai trò quan trọng: đó là nợ nước ngoài, lên tăng trưởng kinh tế ở những nền kinh tế đang phát triển. Hầu hết động cơ của các nghiên cứu này là giả thuyết "số dư nợ quá mức" – một tình huống trong đó, gánh nặng nghĩa vụ nợ của một quốc gia là quá nặng đến nỗi một phần sản lượng lớn phải tích lũy cho các chủ nợ nước ngoài và do đó gây nên sự không khuyến khích đầu tư. 7 Cũng theo đánh giá của Ayadi (1999) và Ayadi et. al. (2003) , gánh nặng nợ nước ngoài đã giới hạn sự tham gia của những quốc gia đang phát triển với nền kinh tế toàn cầu và kèm theo đó là những nghĩa vụ nợ đã gây trở ngại đến tăng trưởng và phát triển kinh tế. Khi vay nợ của một quốc gia tăng lên và càng cao, những e ngại về vấn đề mất khả năng chi trả được đặt nặng, các quốc gia khác tiến hành thẩm định môi trường đầu tư kỹ càng hơn và từ đó, đưa ra những điều khoản khắt khe hơn gây ảnh hưởng đến hội nhập kinh tế của nền kinh tế chính quốc. Hơn thế nữa, gánh nặng nợ quốc gia gây cản trở chi tiêu công cho đầu tư phát triển, hạn chế việc tích lũy nguồn vốn (sự trống rỗng trong dự trữ) và có khuynh hướng cản trở áp dụng những chính sách tiền tệ linh hoạt để củng cố những doanh nghiệp vừa và nhỏ do nguồn thu được phải đáp ứng phần lớn nghĩa vụ nợ cả gốc và lãi. Điều này đã ảnh hưởng một cách gián tiếp đến việc làm, học vấn và sự bần cùng, nghèo khó của người dân trong một quốc gia. Thứ tư, tăng trưởng kinh tế, tiết kiệm và đầu tư có mối quan hệ với nhau, khi vốn nội địa không đủ để tài trợ cho chi tiêu đầu tư trong nước thì vay nợ là tất yếu để phục vụ phát triển kinh tế. Tuy nhiên, vay nợ luôn kèm theo những rủi ro do lãi suất, thời hạn, cơ cấu vay mượn, gây ảnh hưởng tiêu cực lên tăng trưởng kinh tế, do đó vấn đề quản lý nợ hiệu quả đang trở nên cấp thiết. 8 Theo Hunt (2007) , sự tăng lên trong tiết kiệm và đầu tư của nền kinh tế dẫn đến tăng trưởng kinh tế. Sachs (2002) tranh luận rằng sự tăng trưởng sẽ không tăng cho đến khi tổng lượng vốn tăng đạt đến một ngưỡng nhất định. Khi lượng vốn tăng, đầu tư và sản lượng đầu ra tăng, trong vòng xoắn tiến lên, tiết kiệm sẽ tiếp tục tăng. Sau khi đạt được một mức độ, sự tăng lên trong cả vốn và tiết kiệm sẽ kích thích sự tăng lên trong tăng trưởng một cách tự lực. Lý thuyết “dual-gap” nói rằng đầu tư là một hàm của tiết kiệm, và trong những quốc gia đang phát triển, mức độ tiết kiệm nội địa không đủ để tài trợ cho đầu tư cần thiết để đảm bảo phát triển kinh tế, vì vậy, thật hợp lý khi tìm kiếm sử dụng những sản phẩm và dịch vụ từ bên ngoài. Colaco (1985) đã giải thích tính chất nhạy cảm của việc thanh toán nợ đối với những nước đang phát triển thông qua sử dụng ba kịch bản: (i) quy mô khoản nợ nước ngoài đạt đến một mức độ mà lớn hơn so với vốn tự có, dẫn đến sự không cân bằng giữa nợ và vốn tự có; (ii) tỷ lệ nợ với lãi suất thả nổi tăng đột ngột, vì vậy những người vay mượn phải đối mặt trực tiếp với việc lãi suất tăng cao; (iii) thời hạn vay rút ngắn đáng kể, một phần bởi vì sự giảm đi của những nguồn chính thức. Bên cạnh đó, Mehran (1986) cho rằng quản lý nợ tương xứng là thiết yếu trong môi trường tài chính ngày càng phức tạp. Mehran cũng xác định môi trường quản lý nợ là sự kết hợp về chính sách, môi trường kiểm soát, kế toán, phân tích thống kê và những yếu tố khác như chính sách minh bạch và chống tham nhũng, sự cải tiến của cấu trúc quản lý nợ và quá trình đưa ra quyết định. Vấn đề tiếp theo trong việc nhận và quản lý nợ là quyết định quy mô nợ thực tế. Vay mượn nước ngoài trong thực tế được đo lường bởi những tỷ số riêng, ví dụ như nợ trên xuất khẩu, thanh toán nợ trên xuất khẩu, nợ trên GDP (hoặc GNP), và nợ nước ngoài so với tổng thu nhập quốc dân (GNI). Tuy nhiên, quyết định mức phù hợp của những chỉ số này khó xác định và việc hữu ích bây giờ là giảm thiểu nguy cơ bùng nổ trong tăng trưởng nợ nước ngoài. Ví dụ, nếu nợ nước ngoài tăng cao, thanh toán gánh nặng nợ cao hơn so với khả năng chịu đựng gánh nặng nợ của quốc gia, việc nhận nợ sẽ trở nên rắc rối và tình huống này phải được đảo ngược thông qua mở rộng xuất khẩu; nếu xuất khẩu không được mở rộng, vay mượn nhiều hơn sẽ cần thiết cho thanh toán nợ, và nợ nước ngoài sẽ chồng chất vượt quá khả năng chịu đựng của một quốc gia. Do đó, điều cần tham khảo ở đây chính là xác định đúng những yếu tố thuộc môi trường quản lý Bội chi ngân sách của mỗi quốc gia, đặc trưng vốn có của chúng để có thể đề ra được chính sách quản lý phù hợp: môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán Bội chi ngân sách, vấn đề thực hiện minh bạch và chống tham nhũng, quy trình ra quyết định khi vay nợ và xét duyệt dự án. Thứ năm, nợ tích lũy theo thời gian và dòng chi trả nợ đã gây cản trở lớn đến tăng trưởng kinh tế do những trở ngại thuế khóa, bất ổn vĩ mô và sự giảm bớt chi tiêu cho đầu tư phát triển của Chính Phủ. Cohen (1993) và Clements et al. (2003) cũng làm vững thêm cho tác động đã nói ở trên của nợ, như họ quan sát thấy tác động tiêu cực của nợ lên tăng trưởng không chỉ thông qua sự tồn đọng của nợ, mà còn thông qua dòng chi trả nợ, điều mà giống như sự giảm bớt chi tiêu cho đầu tư Chính Phủ. Điều này rất quan trọng cho việc đánh giá, xem xét vì chi tiêu công được xem là yếu tố quyết định chủ yếu của các hoạt động kinh tế trong nhiều vấn đề chức năng. Nợ tích lũy làm giảm sức mạnh của nền kinh tế thông qua tác động “nợ tăng thêm” với trở ngại thuế khóa và bất ổn định vĩ mô. Trở ngại thuế khóa nghĩa là tồn nợ lớn không khuyến khích đầu tư vì những người đầu tư tiềm năng nhận thấy rằng sẽ có thuế cao hơn trên thu nhập tương lai để tạo nên khoản hoàn trả nợ. Bất ổn vĩ mô có liên quan đến việc gia tăng thiếu hụt tài chính, không chắc chắn do sự huy động vốn bất thường, sự suy giảm giá trị đồng nội tệ, mở rộng tiền tệ và lạm phát dự đoán. Tóm lại, theo phân tích của giới kinh tế học trên thế giới, Bội chi ngân sách là thành phần không thể thiếu được trong cấu trúc tài chính của mỗi quốc gia. Nó có tác động tích cực đến nền kinh tế trong ngắn hạn, nhưng cũng có thể gây nên nguy cơ tổn hại đối với nền kinh tế trong dài hạn. Đó là do sự tồn đọng nợ theo thời gian, những yêu cầu chi trả nợ cả vốn gốc và lãi, sự trở ngại thuế khóa, bất ổn vĩ mô và sự giảm bớt chi tiêu đầu tư phát triển quốc gia một cách đáng kể. Do đó, chính sách quản lý Bội chi ngân sách hiệu quả đòi hỏi phải lường trước những nguy cơ, rủi ro gặp phải, xác định mức nợ phù hợp, cân đối hợp lý mức chi trả nợ trong tương lai, góp phần tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Để minh họa cho sự tác động của Bội chi ngân sách đối với tăng trưởng kinh tế và nhấn mạnh thêm vai trò quản lý tài chính công của Chính Phủ, chúng tôi đã tiến hành thu thập thông tin và tìm hiểu về diễn biến tác động của Bội chi ngân sách đến tăng trưởng kinh tế trên thực tế của một số quốc gia, do các tác giả thuộc những tổ chức có uy tín thực hiện, dựa vào những bộ dữ liệu thu thập được trong một quá trình dài từ các nhóm quốc gia khác nhau. Đầu tiên, chúng tôi sẽ trình bày môi trường kinh tế ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa Bội chi ngân sách và tăng trưởng kinh tế như thế nào. IV. Bình luận Tình trạng bội chi ngân sách Nhà nước có những ảnh hưởng hết sức rộng lớn trên tất cả các lĩnh vực, các hoạt đông kinh tế xã hội.Thâm hụt ngân sách Nhà nước với một mức cao và triền miên sẽ làm cho Nhà nước phải tìm cách tăng các khoản thu, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của người dân, hơn nữa khi đó các nguồn vốn trong các ngân hàng sẽ trở nên khan hiếm hơn điều đó sẽ dẫn đến tình trạng lãi suất tăng cao, điều này gây ra những trở ngại trong việc vay vốn của các nhà đầu tư.Về lâu về dài thì sẽ dẫn đến tình trạng đầu tư sẽ giảm sút nghiêm trọng, sẽ có nhiều doanh nghiệp bị phá sản do không tìm được những khoản vay thích hợp, sản xuất trong nước bị thu nhỏ lại từ đó sẽ toạ điều kiện thúc đẩy quá trình nhập siêu, cán cân thương mại quốc tế mất cân bằng.Những điều này dẫn đến tình trạng thất nghiệp ngày càng gia tăng, thu nhập thực tế của người dân giảm sút và ngày càng gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống. Do đó, nhiều người vẫn nghĩ rằng bội chi ngân sách nhà nước là “một căn bệnh” làm cản trở sự phát triển nền kinh tế, gây nên lạm phát, mất cân đối tài chính quốc gia, nói chung, bội chi quá mức sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc phát triển kinh tế mà không biết rằng bội chi ngân sách ở một mức độ nhất định, sẽ là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Có thể ví bội chi ngân sách như con dao hai lưỡi, quan trọng là “người cầm dao” sử dụng nó như thế nào? Nếu bội chi ngân sách hợp lí sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển, đáp ứng được sự thiếu hụt nguồn vốn đối với các dự án quan trọng. Tuy nhiên nếu không thực hiện tốt, điều tiết kịp thời thì bội chi ngân sách là một trong những nguyên nhân chính gây khủng hoảng nền kinh tế, gây lên lạm phát, nợ quốc gia. Qua phân tích những nét cơ bản về nhiệm vụ thu chi ngân sách thì rõ ràng chi ngân sách là vấn đề quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hôi đất nước. Nhưng thực tế việc cân đối cán cân thu chi ngân sách của nhà nước là là một công việc khó khăn và phức tạp. Nếu không có tính toán bước đi phù hợp gây hậu quả nghiêm trọng đến tình hình kinh tế xã hội đất nước. có thể thấy như bội chi ngân sách nhà nước đang là một vấn đề kinh tế xã hội nhiều nước đang quan tâm và gặp phải, trong đó có cả Việt Nam. Tăng trưởng là điều kiện cần để chúng ta hoàn thành các mục đích kinh tế của xă hội. Mà mục đích kinh tế của xă hội là làm sao cho mức sống người dân tăng lên và sự công bằng xă hội sẽ đến với những cá nhân là như nhau. Vấn đề thiếu hụt ngân sách thường làm các nhà chính trị gia đau đầu giữa một bên là phát triển bền vững, duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế với một bên là nguồn lực có hạn. Đòi hỏi các chính trị gia phải lựa chọn để phù hợp với yêu cầu phát triển thực tế và sự phát triển trong tương lai.Từ sự lựa chọn đó họ đưa ra mức bội chi hợp lý, bảo đảm nhu cầu tài trợ cho tiêu cũng như đầu tư phát triển kinh tế, đồng thời bảo đảm cho nợ quốc gia ở mức hợp lý. Bội chi ngân sách nhà nước được hiểu một cách chung nhất là là sự vượt trội về chi tiêu so với tiền thu được trong năm tài khóa hoặc thâm hụt ngân sách do sự cố ý của chính phủ tạo ra nhằm thực hiên chính sách kinh tế vĩ mô. Có nhiều cách để chính phủ bù đắp thiếu hụt ngân sách như tăng thu từ thuế, phí, lệ phí ; giảm chi ngân sách; vay nợ trong nước ,vay nợ nước ngoài ;phát hành thêm tiền để phù đắp chi tiêu ;…Sử dụng phương pháp nào ,nguồn nào tùy thuộc vào điều kiện kinh tế và chính sách kinh tế tài chính trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia . Để có được điều này chính phủ cần tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cũng như đổi mới công nghệ nhằm đáp ứng nhu cầu tăng trưởng bền vững của đất nước. Tuy nhiên, chi như thế nào thì cần phải có sự quản lý chặt chẻ của nhà nước. chính vì vậy mà cần Tăng cường vai trò quản lý của nhà nước Tăng cường vai trò quản lý của nhà nước nhằm bình ổn giá cả, ổn định chính sách kinh tế vĩ mô và nâng cao hiệu quả hoạt động trong các khâu của nền kinh tế. Để thực hiện vai trò của mình, nhà nước sư dụng một hệ thống chính sách và công cụ quản lý vĩ mô để điều khiển, tác động vào đời sống kinh tế -xã hội, nhằm giải quyêt các mối quan hệ trong nền kinh tế cũng như đời sống xã hội, nhất là mối quan hệ tăng trưởng và công bằng xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với giữ gìn mội trường v.v…Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, khi lạm phát là một vấn nạn của các nước trên thế giới, vấn đề tăng cường vai trò quản lý của các nước trên thế giới, vấn đề tăng cường vai trò vai trò quản lý của nhà nước đối với quản lý ngân sách nhà nước nói chung và xử lý bội chi ngân sách nói riêng có ý nghĩa vô cùng cấp thiết. Tăng trưởng kinh tế có tác động hai mặt đến việc thực hiện các chính sách xã hội. Một mặt, nó làm biến đổi cơ cấu ngành kinh tế, hình thành nhiều ngành mới, tạo ra nhiều việc làm. Mặt khác, do ứng dụng công nghệ tiên tiến, tăng nhu cầu về nhân lực chất lượng cao, nếu giáo dục đào tạo không đáp ứng kịp sẽ dẫn đến tình trạng dư thừa nhiều lao động giản đơn, tăng thất nghiệp nhưng lại thiếu lao động lành nghề. Hoặc là, tăng trưởng kinh tế theo cơ chế thị trường, diễn ra cạnh tranh gay gắt, vừa thúc đẩy sản xuất, vừa dẫn đến phân hóa hai cực: những người chiến thắng thu lợi nhuận cao sẽ giàu lên, những người thua cuộc sẽ nghèo đi, thậm chí bị phá sản, nảy sinh khoảng chênh lệch lớn về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, đòi hỏi nhà nước phải có sự điều tiết thu nhập để giảm bớt bất bình đẳng xã hội. Phát triển bền vững đòi hỏi phải tăng trưởng theo chiều sâu, chủ yếu dựa vào các nhân tố tăng sức sản xuất của lao động xã hội, như nâng cao trình độ của người lao động, ứng dụng khoa học và công nghệ tiên tiến, cải tiến tổ chức và quản lý sản xuất, tăng hiệu suất của tư liệu lao động và tận dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên gắn với bảo vệ môi trường. Nhờ đó tăng năng suất lao động xã hội tăng nhanh giá trị gia tăng, nên có nhiều sản phẩm và dịch vụ để nâng cao mức sống của nhân dân.
- Xem thêm -