Tín dụng ngắn hạn tại chi nhánh ngân hàng nn & ptnt việt nam chi nhánh láng hạ

  • Số trang: 86 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 9 |
  • Lượt tải: 0
hoangtuavartar

Đã đăng 24838 tài liệu

Mô tả:

LỜI NÓI ĐẦU Vốn là điều kiện tiên quyết đối với bất kỳ doanh nghiệp nào trong việc đảm bảo tiến trình sản xuất kinh doanh đƣợc liên tục, hiệu quả. Không chỉ có nhu cầu vốn trung và dài hạn để đổi mới công nghệ, nhà xƣởng, máy móc, các doanh nghiệp luôn có nhu cầu vay vốn ngắn hạn để bổ xung cho nhu cầu thiếu hụt vốn tạm thời khi gặp khó khăn trong việc thanh toán với khách hàng, trả lƣơng cho công nhân, mở rộng sản xuất trong mùa vụ… Đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế nƣớc ta chƣa phát triển, các doanh nghiệp chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ - dễ gặp phải khó khăn về vốn ngắn hạn mà không có khả năng giải quyết - do đó nhu cầu vay vốn ngắn hạn, đặc biệt là nguồn vay từ ngân hàng là rất cao. Chính vì sự quan trọng của tín dụng ngắn hạn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhƣ vậy, đồng thời với chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc ta hiện nay, nhằm giúp đỡ các doanh nghiệp có quy mô nhỏ mở rộng sản xuất, kích thích tính năng động sáng tạo của chúng, các NHTM đặc biệt là các ngân hàng trên địa bàn Hà Nội đã có những biện pháp mở rộng hoạt động tín dụng ngắn hạn nhằm giúp các doanh nghiệp này. Là một chi nhánh còn khá non trẻ nhƣng NHNo&PTNT Láng Hạ đã đạt đƣợc khá nhiều thành tích đáng ghi nhận. Tuy nhiên vấn đề đặt ra cho Chi nhánh trƣớc tình hình hiện nay là tỷ trọng cho vay ngắn hạn tại Chi nhánh rất nhỏ và có xu hƣớng giảm. Trong khi đó, địa bàn Hà Nội là nơi đông dân cƣ và tập trung nhiều doanh nghiệp quy mô nhỏ với nhu cầu vốn ngắn hạn cao. Do đó, bức xúc hiện nay của Chi nhánh là làm thế nào để mở rộng hoạt động tín dụng ngắn hạn, từng bƣớc giúp các doanh nghiệp mở rộng sản xuất, từ đó góp phần phát triển kinh tế, xã hội. Nắm bắt đƣợc yêu cầu cấp thiết trên, sau thời gian thực tập tại phòng Tín dụng NHNo&PTNT Chi nhánh Láng Hạ, em đã mạnh dạn đi sâu nghiên cứu đề tài: “Giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng ngắn hạn tại NHNo&PTNT Việt Nam Chi nhánh Láng Hạ”. Trang 1 Theo đó, luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận cấu gồm 3 phần chính: Chương I: TÍN DỤNG NGẮN HẠN VÀ MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TẠI CÁC NHTM. Chương II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TẠI NHNo&PTNT VIỆT NAM CHI NHÁNH LÁNG HẠ. Chương III: GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TẠI CHI NHÁNH LÁNG HẠ. Để hoàn thành luận văn này, em xin chân thành cảm ơn thầy Hoàng Xuân Quế và các anh chị cán bộ phòng Tín dụng tại NHNo&PTNT Việt Nam Chi nhánh Láng Hạ đã tận tình quan tâm chỉ bảo, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập và làm luận văn. Hà Nội, 6 - 2003 Trang 2 CHƢƠNG I TÍN DỤNG NGẮN HẠN VÀ MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI. 1. Một số vấn đề cơ bản về ngân hàng thương mại 1.1. Khái niệm về ngân hàng thương mại. Cùng với sự phát triển của sản xuất lƣu thông hàng hoá ngân hàng thƣơng mại đã ra đời và trở thành một thứ dầu bôi trơn cho cỗ máy kinh tế hoạt động một cách nhịp nhàng thông suốt. Ngân hàng thƣơng mại đã hình thành và tồn tại nhƣ một tất yếu khách quan đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế hàng hoá. Sản xuất lƣu thông hàng hoá càng phát triển nhu cầu giao lƣu giữa các vùng càng tăng, tuy nhiên do sự khác biệt giữa các vùng về tiền tệ cũng nhƣ sự khác biệt về địa lý làm nhu cầu đổi tiền cũng nhƣ gửi tiền và thanh toán hộ của các thƣơng gia xuất hiện. Và cũng chính nhờ hoạt động nhận tiền gửi và thanh toán hộ mà những ngƣời giữ tiền đã nắm trong tay một khối lƣợng tiền lớn từ đó họ dễ dàng thực hiện hoạt động cho vay do tính vô danh của tiền tệ. Ngân hàng thƣơng mại đã ra đời từ đó cùng với những nghiệp vụ cơ bản của nó, đến nay trải qua bao thăng trầm của nền kinh tế hoạt động của Ngân hàng thƣơng mại đã mở rộng không chỉ quy mô, chất lƣợng mà số lƣợng, loại hình các dịch vụ cũng ngày càng mở rộng đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Từ đó Ngân hàng thƣơng mại đã trở thành một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế, hoạt động của Ngân hàng thƣơng mại ảnh hƣởng mạnh mẽ đến sự phát triển của nền kinh tế. Trải qua thời gian tƣơng đối dài với những biến động của nền kinh tế, rất nhiều khái niệm về Ngân hàng thƣơng mại đã đƣợc hình thành. Ta thấy rằng Ngân hàng thƣơng mại đƣợc xem xét ở rất nhiều khía cạnh khác nhƣ: ở Việt Nam theo sắc lệnh 018CT/LDGCQL/SL ngày 20/10/1969 của chính quyền Sài Gòn cũ cho rằng: Ngân hàng thƣơng mại là mọi xí nghiệp công hay tƣ lập, kể cả những chi nhánh hay phân cục ngân hàng ngoại quốc mà hoạt động thƣờng xuyên là thi hành cho chính mình nghiệp vụ tín dụng, chiết khấu, tài chính với tiền ký thác của tƣ nhân hay chi nhánh hay chi nhánh công quyền. Trang 3 Hay một cách tiếp cận Ngân hàng thƣơng mại dựa trên những dịch vụ mà ngân hàng mang lại nhƣ Ngân hàng thƣơng mại là loại hình tổ chức tài chính tiền tệ cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất đặc biệt là nghiệp vụ tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh tế nào trong nền kinh tế. Theo pháp lệnh ngân hàng 23/5/1990 của Hội đồng Nhà nƣớc xác định: Ngân hàng thƣơng mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu thƣờng xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phƣơng tiện thanh toán. Nhƣ vậy nhìn chung từ khái niệm ta có thể thấy rằng Ngân hàng thƣơng mại có các đặc trƣng : + Là tổ chức đƣợc phép nhận ký thác của công chúng với trách nhiệm hoàn trả. + Đƣợc phép nhận ký thác để cho vay, chiết khấu và thực hiện các nghiệp vụ tài chính khác. Nhƣ vậy ta có thể hiểu Ngân hàng thƣơng mại là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tín dụng với với mục đích thu lợi nhuận. Do sự bùng nổ về thông tin và công nghệ thông tin, công nghệ ngân hàng ngày càng đƣợc hiện đại hoá. Do đó để có thể cạnh tranh và hợp tác, hoạt động ngân hàng không chỉ bó hẹp trong phạm vi một vùng, một quốc gia mà hoà nhập trong toàn cầu. Điều đó tạo ra một cơ hội mới cho các ngân hàng trong việc phát triển sản phẩm mở rộng thị trƣờng nhƣng cũng tạo ra rất nhiều thách thức cho các ngân hàng trong sự cạnh tranh. Không những vậy, căn cứ vào tính chất sở hữu và hình thức góp vốn có rất nhiều loại Ngân hàng thƣơng mại nhƣ Ngân hàng thƣơng mại quốc doanh, ngân hàng cổ phần, liên doanh, ngân hàng nƣớc ngoài ở Việt Nam… góp phần đa dạng hoá các loại hình ngân hàng tại Việt Nam. Từ đó thúc đẩy sự tự do cạnh tranh một Trang 4 cách lành mạnh, giúp các ngân hàng từng bƣớc tự phát triển, đổi mới, mở rộng hoạt động kinh doanh. 1.2. Các nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại. Ngân hàng thƣơng mại là một đơn vị kinh doanh tiền tệ do đó các hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng đều hƣớng tới mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận. Để đạt đƣợc mục tiêu này Ngân hàng thƣơng mại trong quá trình phát triển đã không ngừng đổi mới, không chỉ nâng cao chất lƣợng sản phẩm dịch vụ sẵn có mà còn thƣờng xuyên nghiên cứu nhằm cung cấp các sản phẩm dịch vụ mới phục vụ nhu cầu của ngƣời dân. Tuy nhiên, một Ngân hàng thƣơng mại luôn luôn tiến hành 3 nghiệp vụ cơ bản : Huy động vốn Đối với hoạt động huy động vốn, đây là hoạt động “đầu vào” của ngân hàng, ngân hàng phần lớn dựa vào việc huy động tiền vốn nhàn rỗi tạm thời trong nền kinh tế. Thông thƣờng ngân hàng có các loại tiền gửi là tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm. Để thực hiện đƣợc hoạt động huy động vốn, ngân hàng cần có một lƣợng vốn nhất định là vốn tự có. Lƣợng vốn này chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng vốn sử dụng song nó rất quan trọng đối với hoạt động ngân hàng. Đây là cơ sở thu hút tiền gửi của khách hàng, là nguồn để trang trải rủi ro khi gặp phải trong kinh doanh và là chỉ tiêu để Ngân hàng Trung ƣơng quản lý Ngân hàng thƣơng mại. Hoạt động sử dụng vốn Hoạt động sử dụng vốn ở đây bao gồm: hoạt động cho vay, hoạt động ngân quỹ, hoạt động đầu tƣ chứng khoán. Hoạt động cho vay là hoạt động quan trọng nhất quyết định sự thành bại của ngân hàng bởi đây là hoạt động sinh lời chủ yếu của các ngân hàng. Chính vì vậy đây cũng là hoạt động chứa nhiều rủi ro nhất. Để tránh rủi ro tín dụng xảy ra, việc quản lý tiền vay đƣợc tiến hành một cách rất chặt chẽ, đặc biệt với món vay lớn, Trang 5 thời hạn cho vay dài. Từ đó ngân hàng phải phân chia tín dụng ra nhiều hình thức khác nhau nhằm mục đích dễ quản lý. Hoạt động ngân quỹ nhằm bảo đảm khả năng thanh toán thƣờng xuyên của ngân hàng cho khách hàng. Đây là tài sản không sinh lời hoặc sinh lời thấp nhƣng tính lỏng cao và đƣợc coi nhƣ tiền mặt. Do đó ngân hàng phải duy trì tài sản này ở mức độ hợp lý sao cho vừa đảm bảo tính thanh khoản vừa đảm bảo khả năng sinh lời. Ngoài ra ngân hàng còn sử dụng vốn vào hoạt động đầu tƣ chứng khoán trên thị trƣờng để thu lợi nhuận và một phần đảm bảo khả năng thanh toán cho ngân hàng. Hoạt động trung gian Hoạt động trung gian là việc ngân hàng cung cấp cho khách hàng một loạt các dịch vụ liên quan nhƣ chuyển tiền, thanh toán hộ khách hàng thông qua các hình thức ghi chép trên tài khoản của khách hàng, phát hành séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thƣ tín dụng, môi giới mua bán chứng khoán, quản lý hộ tài sản, tƣ vấn cho doanh nghiệp… Ngày nay trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu, hoạt động ngân hàng chịu sự cạnh tranh gay gắt từ mọi hƣớng, chính vì vậy các ngân hàng tiến tới hoạt động đa năng trên nhiều lĩnh vực, cung cấp nhiều dịch vụ khác nhau. Vì vậy các dịch vụ cung cấp cho khách hàng cũng ngày càng tăng thêm nhƣ: kinh doanh ngoại hối, bảo lãnh, tƣ vấn, kinh doanh chứng khoán, dịch vụ rút tiền tự động, bảo đảm an toàn vật có giá, nghiệp vụ thuê mua,…Tất cả các nghiệp vụ đều có quan hệ chặt chẽ hỗ trợ nhau một mặt thoả mãn nhu cầu của khách hàng một mặt mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. 2. Tín dụng ngân hàng. 2.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng. Tín dụng ngân hàng là một phạm trù kinh tế tồn tại qua các hình thức xã hội khác nhau. Tín dụng là nghiệp vụ chính cơ bản nhất của các NHTM chính vì vậy Trang 6 những về tín dụng đã đƣợc các nhà kinh tế tìm hiểu từ rất lâu. Tuỳ theo các cách tiếp cận khác nhau mà ngƣời ta đƣa ra những khái niệm khác nhau về tín dụng. Theo cách hiểu thông thƣờng, tín dụng là mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể dựa trên nguyên tắc tin tƣởng nhau. Trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hay tài sản cam kết hoàn trả theo thời gian thoả thuận. Hay nói một cách khác, tín dụng là sự chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị dƣới hình thức hiện vật hay tiền tệ từ ngƣời sở hữu sang ngƣời sử dụng, sau đó hoàn trả tại một thời điểm nhất định trong tƣơng lai với một lƣợng giá trị lớn hơn. Theo luật NHNN, tín dụng đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Cấu thành một nghiệp vụ tín dụng là bất cứ động tác nào qua đó ngƣời đƣa hay ngƣời hứa đƣa vốn cho ngƣời khác dùng, hoặc cam kết bằng chữ ký cho ngƣời này nhƣ đảm bảo, bảo chứng hay bảo lãnh có thu tiền”. 2.2. Đặc điểm tín dụng ngân hàng. Nhƣ vậy, dù cách này hay cách khác, quan điểm về tín dụng đều thể hiện các nội dung sau: - Ngƣời cho vay sẽ chuyển giao cho ngƣời đi vay một lƣợng giá trị nhất định. Lƣợng giá trị này có thể dƣới hình thái tiền tệ hay hiện vật nhƣ hàng hoá, máy móc, thiết bị, bất động sản. - Ngƣời đi vay chỉ đƣợc sử dụng tạm thời trong một khoảng thời gian nhất định sau khi hết hạn theo thoả thuận phải hoàn trả cho ngƣời cho vay. - Giá trị đƣợc hoàn trả thông thƣờng lớn hơn giá trị lúc cho vay hay nói cách khác ngƣời đi vay phải trả thêm phần lợi tức. Nhƣ vậy ở đây - tiền không đƣợc bỏ ra để thanh toán hay để bán mà là để cho vay, tiền chỉ đƣợc nhƣợng đi với điều kiện là nó sẽ quay lại điểm xuất phát sau một thời gian nhất định - đó là đặc trƣng thuộc về bản chất của ngành ngân hàng. Ngoài ra sự hoàn trả không chỉ phải bảo tồn về mặt giá trị mà còn cần có phần tăng thêm dƣới hình thái lợi tức. Lợi tức về tín dụng là thu nhập ngƣời cho vay nhận đƣợc từ khoản cho vay, nó là giá cả của hàng hoá cho vay. Trang 7 2.3. Phân loại tín dụng. Tín dụng là một trong những nghiệp vụ cơ bản nhất và cũng mang lại lợi nhuận chủ yếu cũng nhƣ rủi ro cho các ngân hàng. Chính vì vậy, các nhà ngân hàng luôn phải tìm ra các tiêu thức phân loại tín dụng để có thể dễ dàng quản lý, kiểm tra từ đó phòng tránh rủi ro tín dụng. Dựa vào các tiêu thức khác nhau ta có thể phân loại tín dụng nhƣ sau:  Căn cứ vào thời gian của khoản vay: Tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận về thời hạn cho vay theo hai loại: tín dụng ngắn hạn và tín dụng trung, dài hạn. Tín dụng ngắn hạn: Đây là hình thức tín dụng thƣờng có thời hạn dƣới một năm và mục đích thƣờng để đáp ứng nhu cầu thiếu vốn tạm thời nhƣ phục vụ cho thanh toán tiền, hàng hoá, tài trợ vốn lƣu động hay thanh toán ngoại thƣơng. Tín dụng trung, dài hạn: Tín dụng trung hạn: Đây là hình thức tín dụng có thời hạn từ một đến năm năm. Các khoản vay thƣờng với mục đích để đầu tƣ, cải tiến máy móc, trang thiết bị, đầu tƣ vào một ngành kinh doanh mới.Tuy nhiên các máy móc trang thiết bị này cần có thời hạn khấu hao không quá dài, hay dự án kinh doanh cần có kế hoạch thu hồi vốn sớm, để có thể kịp thời trả vốn cho ngân hàng. Tín dụng dài hạn: Đây là các khoản tín dụng đƣợc cấp có thời hạn từ 6o tháng trở lên và cũng thƣờng đƣợc sử dụng với mục đích xây nhà xƣởng, đầu tƣ dây chuyền sản xuất lớn, những dự án có thời hạn thu hồi vốn dài. Tuy nhiên thời gian cho vay không quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập đơn vị, pháp nhân và không quá 15 năm đỗi với các dự án đầu tƣ phục vụ đời sống.  Căn cứ theo hình thức bảo đảm: Tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản: trong trƣờng hợp này ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng mà không cần có tài sản thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh mà dựa vào uy tín của khách hàng. Những khách hàng đƣợc cấp tín dụng loại này Trang 8 thƣờng là những khách hàng quen, đã có uy tín với ngân hàng về việc trả đúng và đầy đủ các khoản nợ của mình từ trƣớc tới nay. Tín dụng có bảo đảm bằng tài sản: ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng dựa trên cơ sở có tài sản thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh. Tài sản dùng để thế chấp cầm cố có thể là nhà xƣởng, xe cộ, các khoản phải thu, các trang thiết bị hay các tài sản hình thành từ vốn vay, vật có giá hay giấy tờ có giá. Ngoài ra, để đảm bảo cho khoản vay có thể đƣợc thực hiện bằng sự bảo lãnh của bên thứ ba đƣợc ngân hàng chấp nhận.  Căn cứ vào mục đích sử dụng: Cho vay sản xuất kinh doanh: các khoản vay này thƣờng đƣợc sử dụng để tài trợ vốn lƣu động của doanh nghiệp hay tài trợ cho việc xây dựng nhà xƣởng, mua sắm máy móc, thiết bị, mua nguyên vật liệu Cho vay tiêu dùng: chủ yếu phục vụ cho nhu cầu mua sắm tiêu dùng của các hộ gia đình và cá nhân nhƣ mua nhà cửa, xe máy, ô tô và các phƣơng tiện cần thiết khác.  Căn cứ vào phương thức cho vay: Cho vay theo hạn mức tín dụng: theo hình thức này ngân hàng và khách hàng thoả thuận và ký kết một hợp đồng hạn mức tín dụng duy trì theo thời hạn nhất định hoặc theo chu kì sản xuất kinh doanh. Cho vay từng lần: đây là hình thức tín dụng mà ngân hàng và khách hàng thoả thuận và ký kết hợp đồng riêng với mỗi khoản vay khi khách hàng có nhu cầu. Mỗi lần khách hàng có nhu cầu vay vốn thì việc ký kết hợp đồng sẽ đƣợc thực hiện lại từ đầu. Cho vay từng dự án đầu tƣ: tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tƣ, phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tƣ phục vụ đời sống. Cho vay hợp vốn: đối với những khoản vay lớn, một ngân hàng không đủ khả năng hay không đƣợc phép cho vay đòi hỏi một nhóm các TCTD cùng cho vay. Trang 9 Trong đó có một tổ chức tín dụng đứng ra làm đầu mối dàn xếp, phối hợp các TCTD khác để cho vay. Cho vay trả góp: khi vay vốn ngân hàng và khách hàng xác định và thoả thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với nợ gốc đƣợc chia ra để trả nợ thành nhiều kỳ trong hợp đồng vay. Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: ngân hàng cam kết bảo đảm cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định. Tuy nhiên nhiều trƣờng hợp khách hàng cần một lƣợng vốn lớn hơn, do đó ngân hàng và khách hàng thƣờng thoả thuận một hạn mức tín dụng dự phòng lớn hơn. Đồng thời khách hàng và ngân hàng thƣờng phải quy định về thời hạn hiệu lực và mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng. Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: ngân hàng chấp thuận cho khách hàng đựơc sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hay điểm ứng tiền mặt là đại lý của ngân hàng. Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà TCTD thoả thuận bằng văn bản pháp luật chấp thuận cho khách hàng chi vƣợt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng.  Căn cứ vào phương thức trả nợ: Trả nợ một lần: khách hàng và ngân hàng thoả thuận sẽ trả cả lãi và gốc một lần duy nhất. Trả nợ làm nhiều lần: ngân hàng tính toán chia khoản nợ ra thành nhiều kỳ để khách hàng có thể dễ dàng trả nợ. Ngoài ra ngân hàng còn sử dụng nhiều phƣơng thức để phân loại khác nhƣ dựa vào hình thái tiền tệ hay dựa vào đối tƣợng vay... từ đó để ngân hàng có thể dễ dàng trong việc quản lý tránh nguy cơ xảy ra rủi ro tín dụng. Trang 10 2.4. Vai trò của hoạt động tín dụng ngân hàng.  Điều hoà vốn, thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng trong nền kinh tế. Ngân hàng là chiếc cầu nối giữa những ngƣời có vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế với những ngƣời cần vốn để mở rộng kinh doanh, tiêu dùng…. Trên cơ sở huy động nguồn vốn trong dân cƣ hay đi vay các tổ chức kinh tế khác ngân hàng tiến hành cho vay với các cá nhân, tổ chức kinh tế đang cần vốn để phục vụ sản xuất kinh doanh. Các doanh nghiệp không thể tiến hành sản xuất kinh doanh nếu thiếu vốn. Nhờ nguồn vốn mà ngân hàng cho vay doanh nghiệp không những đảm bảo quá trình sản xuất mà còn mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ hiện đại để hạ giá thành sản phẩm, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trƣờng. Từ đó các doanh nghiệp sẽ thúc đẩy sản xuất lƣu thông hàng hoá đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng. Nhƣ vậy, tín dụng ngân hàng đã biến các phƣơng tiện hoạt động có hiệu quả, thu hút nhanh chóng các vật tƣ lao động, những tiềm năng sẵn có khác vào sản xuất.  Tín dụng ngân hàng giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tín dụng ngân hàng là một trong những công cụ hữu hiệu để thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Nếu muốn khuyến khích ngành nghề hay thành phần kinh tế nào phát triển, ngân hàng sẽ thực hiện ƣu đãi tín dụng với ngành nghề hay khu vực đó. Từ đó ngân hàng sẽ tạo điều kiện để các doanh nghiệp đó dễ dàng tiếp cận đƣợc vốn vay ngân hàng, trở thành đòn bẩy để giúp ngành nghề đó phát triển. Để thực hiện đƣợc việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo mục đích đã định, các nhà ngân hàng cần phải nghiên cứu và thực thi chính sách tín dụng phù hợp để có thể tác động vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Điều này đang là một vấn đề hết sức quan trọng ở nƣớc ta, trong tình trạng cơ cấu kinh tế hiện nay còn nhiều bất hợp lý. Đặc biệt trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế,chuyển từ nền kinh tế tự cung tự cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần chúng ta cần phải có những biện pháp để thúc đẩy sự tăng trƣởng của các ngành công nghiệp, dịch vụ, thƣơng mại, du lịch…bởi ở nƣớc ta tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm quá lớn trong khi tỷ trọng các ngành khác còn quá thấp so với các nƣớc trên thế giới. Để làm đƣợc điều Trang 11 này chính sách tín dụng đóng một vai trò hết sức quan trọng, chú trọng vào công tác tín dụng nhƣ vậy sẽ là một biện pháp để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nƣớc.  Kích thích tính năng động linh hoạt cuả các doanh nghiệp. Trong thời đại ngày nay, khi thông tin và công nghệ thông tin thay đổi liên tục và phát triển một cách rất nhanh chóng, các doanh nghiệp luôn luôn đứng trƣớc yêu cầu cần phải thay đổi cho phù hợp nhu cầu của thời đại. Để thực hiện đƣợc điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải thƣờng xuyên thay đổi máy móc, kỹ thuật thay nâng cấp nhà xƣởng, đổi mới sản phẩm…và ngân hàng chính là nơi cung cấp vốn trung và dài hạn tốt nhất cho các doanh nghiệp. Qua đó, ngân hàng sẽ mang đến cho doanh nghiệp cơ hội để đổi mới kích thích tính năng động của doanh nghiệp. Không chỉ vậy, tín dụng ngân hàng còn thƣờng xuyên bổ xung vốn lƣu động cho doanh nghiệp trong quá trình hoạt động giúp doanh nghiệp nắm bắt đƣợc các cơ hội đầu tƣ.  Tín dụng ngân hàng giúp tăng nhanh vòng quay của vốn, giảm lượng tiền mặt trong lưu thông. Qua đó tín dụng ngân hàng giúp Nhà nƣớc tăng cƣờng quản lý vĩ mô nền kinh tế. Thông qua tín dụng, ngân hàng huy động đƣợc một lƣợng lớn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế, thực hiện cho vay, đầu tƣ vào sản xuất kinh doanh mà không cần phát hành thêm tiền mặt. Qua đó, ngân hàng còn thực hiện đƣợc nhiệm vụ điều hoà vốn giữa các vùng các ngành, các thành phần kinh tế qua đó việc quản lý, lƣu thông tiền tệ sẽ đƣợc thực hiện tốt hơn. Hoạt động tín dụng càng mở rộng thì càng hạn chế phƣơng thức thanh tóan dùng tiền mặt do ngân hàng sử dụng phƣơng thức chuyển khoản, L/C ... từ đó giảm chi phí lƣu thông tiền mặt trong nền kinh tế.  Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy quá trình mở rộng quan hệ giao lưu kinh tế quốc tế. Trong xu thế hội nhập quốc tế, mối quan hệ giữa các nƣớc trên thế giới và trong khu vực đƣợc mở rộng và phát triển đa dạng cả về chiều rộng và chiều sâu. Đây là một trong những nhân tố quan trọng tạo điều kiện đặc biệt cho các nƣớc đang phát triển trên thế giới trong đó có nƣớc ta. Thực hiện chủ trƣơng mở rộng hợp tác kinh tế, tăng cƣờng các quan hệ đối ngoại do đó Trang 12 đầu tƣ vốn tín dụng thúc đẩy xuất khấu hàng hoá là mối quan tâm của các ngân hàng trong tình hình hiện nay. Ngân hàng với tƣ cách là tổ chức kinh doanh tiền tệ, thông qua hoạt động cho vay sẽ trở thành nền tảng, là ngƣời cung cấp vốn cho các nhà đầu tƣ kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá. Từ đó ngân hàng sẽ trở thành đòn bẩy thúc đẩy quá trình mở rộng và giao lƣu kinh tế quốc tế, là phƣơng tiện nối liền nền kinh tế các nƣớc. Qua đó ta thấy, tín dụng ngân hàng có một vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế, là phƣơng tiện, công cụ Nhà nƣớc không chỉ có thể sử dụng để quản lý, kiểm soát mà còn sử dụng để thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế, thực hiện các chủ trƣơng của Nhà nƣớc. 3. Tín dụng ngắn hạn. 3.1. Khái niệm tín dụng ngắn hạn. Tín dụng ngắn hạn là một hoạt động cho vay của ngân hàng thƣơng mại đƣợc phân theo thời gian của khoản vay. Đó là những khoản vay có thời hạn ngắn- dƣới 1 năm do đó khoản vay này thƣờng đƣợc dùng để đáp ứng nhu cầu thiếu vốn tạm thời nhƣ phục vụ cho thanh toán hàng hoá, tài trợ, bổ xung vốn lƣu động hay thanh toán ngoại thƣơng và phục vụ nhu cầu sinh hoạt. 3.2. Đặc điểm. - Do nguồn vốn tín dụng ngắn hạn dùng để cung cấp vốn cho chi tiêu, mua nguyên vật liệu, trả lƣơng, bổ xung vốn lƣu động nên số vốn vay thƣờng nhỏ, nguồn vốn đƣợc quay vòng nhiều. Trong khi đó đối tƣợng sử dụng vốn từ nguồn trung và dài hạn thƣờng là những tài sản cố định có thời gian sử dung lâu dài vì vậy thời gian sử dụng vốn lâu, nguồn vốn không đƣợc quay vòng nhiều. - Thời hạn thu hồi vốn nhanh: do vốn tín dụng ngắn hạn thƣờng đƣợc sử dụng để bù đắp những thiếu hụt trong ngắn hạn, để đảm bảo cân bằng ngân quỹ, giúp doanh nghiệp đối phó với những chênh lệch thu chi trong ngắn hạn... Thông thƣờng những thiếu hụt này chỉ mang tính tạm thời hay mang tính mùa vụ, sau đó khoản thiếu hụt này sẽ đƣợc bù đắp hoặc sẽ sớm thu lại dƣới hình thái tiền tệ vì vậy thời gian thu hồi vốn sẽ nhanh. Trang 13 - Rủi ro do tín dụng ngắn hạn mang lại thông thƣờng không cao. Do khoản vay chỉ cung cấp trong thời gian ngắn vì vậy ít chịu ảnh hƣởng của sự biến động không thể lƣờng trƣớc của nền kinh tế nhƣ các khoản tín dụng trung và dài hạn. Ngoài ra, các khoản vay đƣợc cung cấp cho các đơn vị sản xuất kinh doanh theo hình thức chiết khấu các giấy tờ có giá, dựa trên tài sản bảo đảm, bảo lãnh... đồng thời khoản vay thƣờng đựơc tiến hành khi có nhu cầu cấp thiết về vốn ngắn hạn và chắc chắn sẽ có khoản thu bù đắp trong tƣơng lai vì vậy rủi ro mang đến thƣờng thấp. - Lãi suất thấp: lãi suất cho vay đƣợc hiểu là khoản chi phí ngƣời đi vay trả cho nhu cầu sử dụng tiền tạm thời của ngƣơì khác. Chính vì rủi ro mang lại của khoản vay thƣờng không cao do đó lãi suất ngƣời đi vay phải trả thông thƣờng nhỏ hơn lãi suất khoản vay tín dụng trung và dài hạn tƣơng ứng. - Hình thức tín dụng phong phú: Để đáp ứng nhu cầu hết sức đa dạng của khách hàng, để góp phần phân tán rủi ro, đồng thời để tăng cƣờng sức cạnh tranh trên thị trƣờng tín dụng, các ngân hàng thƣơng mại không ngừng phát triển các hình thức cho vay trong nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn của mình. Điều đó đã làm cho các hình thức tín dụng ngắn hạn rất phong phú nhƣ: nghiệp vụ ứng trƣớc, nghiệp vụ thấu chi, nghiệp vụ chiết khấu... - Là loại hình kinh doanh chủ yếu tại các ngân hàng thƣơng mại. Xuất phát từ đặc trƣng của ngân hàng thƣơng mại: là ngân hàng kinh doanh tiền gửi, mà trong đó chủ yếu là tiền gửi ngắn hạn, nên để đảm bảo khả năng thanh khoản của mình, các ngân hàng thƣơng mại đã cho vay chủ yếu là ngắn hạn. 3.3. Các hình thức tín dụng ngắn hạn 3.3.1. Chiết khấu thƣơng phiếu Chiết khấu là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn của ngân hàng thƣơng mại, trong đó ngân hàng trao cho ngƣời có trái phiếu một số tiền bằng giá trị đáo hạn của trái phiếu trừ đi một số tiền lãi, hoa hồng và một số chi phí khác. Tiền lãi tính từ ngày chiết khấu tới ngày đáo hạn trái phiếu. Trang 14 Chứng từ chiết khấu có một số đặc trƣng là: chứng từ có giá ; đƣợc thanh toán số tiền đúng bằng mệnh giá chứng từ chiết khấu; thời hạn thanh toán là thời hạn ngắn ( 90 đến 180 ngày). Trong nghiệp vụ chiết khấu, ngân hàng đƣa cho khách hàng của mình một số tiền để sử dụng ngay và chỉ thu số tiền đó về khi trái phiếu đáo hạn. Về nguyên tắc, ngân hàng có thể nhận chiết khấu tất cả các trái phiếu nhƣng thông thƣờng ngân hàng thích nhất là hối phiếu. Khi khách hàng có nhu cầu chiết khấu, khách hàng phải nộp cho ngân hàng các loại giấy tờ sau: - Đơn xin chiết khấu - Bảng kê thƣơng phiếu kèm theo các thƣơng phiếu xin chiết khấu. Sau khi nhận đƣợc các hồ sơ, ngân hàng tiến hành thẩm định các mặt sau: - Tính hợp pháp, hợp lệ của các thƣơng phiếu - Xem xét mối quan hệ thƣơng mại của các chủ thể liên quan đến thƣơng phiếu. - Nghiên cứu khả năng trả nợ của các chủ thể có liên quan, đặc biệt là ngƣời thụ lệnh (ngƣời phải thanh toán thƣơng phiếu) và ngƣời thụ hƣởng (ngƣời xin chiết khấu). Ngân hàng chỉ chấp nhận chiết khấu những thƣơng phiếu đủ điều kiện sau: - Còn thời hạn thanh toán theo quy định của Ngân hàng Nhà nƣớc - Phải hợp lệ về mặt hình thức và nội dung - Đối với hối phiếu thì phải có chữ ký chấp nhận của ngƣời thụ tạo - Khách hàng phải chuyển nhƣợng quyền sở hữu cho ngân hàng dƣới hình thức ký hậu. Sau khi thẩm định, ngân hàng loại trừ những thƣơng phiếu không đủ điều kiện chiết khấu hay còn nghi ngờ khả năng thanh toán, rồi tính số tiền ngân hàng trả cho khách hàng theo các thƣơng phiếu nhận chiết khấu. Trang 15 Đến thời hạn thanh toán thƣơng phiếu, ngân hàng sẽ tiến hành thu nợ ở ngƣời chịu trách nhiệm thanh toán thƣơng phiếu. Nếu ngƣời này không thanh toán, ngân hàng có thể chọn một trong hai cách xử lý sau: - Ngân hàng có thể trích tài khoản tiền gửi thanh toán của ngƣời xin chiết khấu để thu hồi, sau đó trả lại thƣơng phiếu để họ tự đòi nợ. - Ngân hàng tiến hành thủ tục để truy đòi số nợ: theo luật định, ngân hàng có quyền chỉ định một trong số những ngƣời tham gia ký chuyển nhƣợng thƣơng phiếu để trả nợ cho ngân hàng. Trong trƣờng hợp này, ngân hàng thƣờng chỉ định ngƣời nào có đủ khả năng tài chính nhất. Ưu điểm và nhược điểm của nghiệp vụ chiết khấu: Chiết khấu là một nghiệp vụ tín dụng có khá nhiều ƣu điểm, đó là: - Chiết khấu là nghiệp vụ ít rủi ro, khả năng thu hồi nợ của ngân hàng là khá chắc chắn. - Đây là hình thức tín dụng khá đơn giản, ít phiền phức với ngân hàng. - Chiết khấu không làm đóng băng vốn của ngân hàng vì thời hạn chiết khấu ngắn và ngân hàng thƣơng mại có thể khá dễ dàng xin tái chiết khấu thƣơng phiếu ở Ngân hàng Nhà nƣớc. - Tiền cấp cho khách hàng khi chiết khấu thƣờng đƣợc chuyển vào tài khoản tiền gửi của khách hàng, bởi vậy nó lại tạo nguồn vốn cho ngân hàng. - Tất cả những ai kí tên vào thƣơng phiếu đều có trách nhiệm thanh toán và trong thực tế không một doanh nghiệp nào từ chối thanh toán do đó đây là hình thức cho vay ít rủi ro nhất. Tuy vậy, trong nghiệp vụ chiết khấu, ngân hàng thƣơng mại vẫn có thể gặp phải rủi ro do ba nguyên nhân cơ bản sau: - Ngân hàng nhận chiết khấu những thƣơng phiếu giả mạo. - Giấy nhận nợ luân chuyển theo dây chuyền trong đó có một khâu hỏng dẫn đến khó khăn trong thanh toán. Trang 16 - Công ty mẹ phát hành cho Công ty ty con nhƣng Công ty mẹ phá sản. 3.3.2. Nghiệp vụ tín dụng ngân quỹ Tín dụng ngân quỹ là nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn mà trong đó ngân hàng cho khách hàng vay để đảm bảo sự cân đối ngân quỹ hàng ngày của khách hàng và đƣợc thực hiện dƣới hai hình thức chủ yếu là ứng trƣớc trên tài khoản hoặc thấu chi. 3.3.2.1. Ứng trước trên tài khoản Ứng trƣớc trên tài khoản là loại tín dụng mà ngân hàng cho khách hàng vay tiền bằng cách mở và ứng cho họ một số tiền trên tài khoản của khách hàng tại ngân hàng. Từ tài khoản đó, khách hàng có thể ký phiếu lĩnh tiền tới mức tín dụng mà ngân hàng cấp cho mình. Nếu căn cứ vào tính chất đảm bảo thì tín dụng ứng trƣớc bao gồm: ứng trƣớc có đảm bảo và ứng trƣớc không đảm bảo. Ứng trƣớc có bảo đảm: khi nào khách hàng thực sự vay tiền thi phải thế - chấp hay cầm cố một tài sản hay một giá trị làm đảm bảo nhất định cho khoản tiền vay đồng thời khách hàng phải ký một lệnh phiếu trao cho ngân hàng giữ cam kết hoàn trả số tiền đã vay vào thời điểm nhất định. Trong trƣờng hợp không có tài sản bảo đảm, hay tài sản bảo đảm kém giá - trị khách hàng có thể nhờ một ngƣời có tài sản bảo lãnh số nợ đó bằng một tờ cam kết. Ngƣời bảo lãnh do khách hàng chọn nhƣng phải đƣợc sự chấp nhận của ngân hàng. Nếu căn cứ vào các thức sử dụng tiền vay thì tín dụng ứng trƣớc có hai cách sử dụng tiền vay: - Sau khi đã ký kết hợp đồng tín dụng, ngân hàng tiến hành cho vay theo mức cho vay đã thoả thuận, ngân hàng chuyển toàn bộ số tiền cho vay vào tài khoản tiền gửi thanh toán của doanh nghiệp để doanh nghiệp tuỳ ý sử dụng theo nhu cầu. Đây là cách cho vay mà các ngân hàng thƣờng áp dụng. Trang 17 - Khách hàng đƣợc sử dụng dần số tiền vay trên tài khoản vay (tài khoản ứng trƣớc). Việc sử dụng bằng cách phát hành séc để chi trả mang số hiệu tài khoản ứng trƣớc. Khi tờ séc do khách hàng phát hành quay trở về ngân hàng thì ngân hàng trích tài khoản vay để chi trả. Khách hàng có thể sử dụng tiền vay một hoặc nhiều lần. Nếu khách hàng phát hành séc để chi trả (mang số hiệu tài khoản vay) vƣợt mức cho vay đã thoả thuận thì ngân hàng áp dụng các biện pháp chế tài do phát hành séc không có tiền bảo chứng. Đây là một trong hai hình thức tín dụng ứng trƣớc mà các ngân hàng thƣơng mại có thể áp dụng song không phổ biến. Ưu, nhược điểm của loại tín dụng ứng trước Ưu điểm: - Đối với ngân hàng: vốn ngân hàng cho vay thƣờng không phải rút ngay một lúc vì nhu cầu vốn của khách hàng phát sinh dần dần và nếu khách hàng dùng tiền ứng trƣớc đó vào việc thanh toán cho khách hàng khác có tài khoản tại ngân hàng ấy thì nguồn vốn của ngân hàng không bị hao hụt. Mặt khác, với cách cho vay này thì ngân hàng đƣợc hƣởng một khoản lãi tính trên toàn bộ số tiền ứng trƣớc trong suốt thời gian cho vay dù khách hàng có sử dụng hết hay không hết số tiền đó. - Đối với khách hàng: đƣợc sử dụng vốn một cách chủ động. Có thể đáp ứng tính thời vụ về vốn của họ. Nhược điểm: - Đối với ngân hàng: loại cho vay này có rất nhiều rủi ro do ngân hàng khó kiểm soát việc sử dụng tiền vay của khách hàng. - Đối với khách hàng thì phải chịu toàn bộ lãi tính trên số tiền cho vay trong thời gian đã thoả thuận (dù thực tế họ không sử dụng hết). Trang 18 3.3.2.2. Thấu chi. Thấu chi là loại tín dụng mà qua đó ngân hàng cho phép khách hàng đƣợc sử dụng vƣợt quá số tiền mà họ đã ký thác ở ngân hàng trên tài khoản vãng lai với một số lƣợng và thời hạn nhất định. Xuất phát từ việc nếu doanh nghiệp có số dƣ trên tài khoản tiền gửi mới đƣợc quyền chi tiêu, nhƣng do một lý do nào đó mà số dƣ trên tài khoản tiền gửi không đủ đáp ứng nhu cầu chi tiêu. Trƣờng hợp đó ngân hàng có thể xem xét chấp nhận để khách hàng đƣợc quyền chi tiêu một số tiền vƣợt quá số hiện có trên tài khoản. Mục đích của ngân hàng chỉ để giúp khách hàng giải quyết khó khăn tạm thời về tài chính. Tài khoản vãng lai là tài khoản có tính chất đặc biệt, trong đó khách hàng và ngân hàng cam kết trả nợ lẫn nhau bằng phƣơng pháp bù trừ. Với những tài khoản tiền gửi khác, khách hàng chỉ đƣợc phép sử dụng trong giới hạn số dƣ có của tài khoản đó, nếu sử dụng quá số tiền trên là vi phạm vì phát hành séc không có hay thiếu tiền bảo chứng. Song đối với tài khoản vãng lai, giữa ngân hàng và khách hàng có thể thoả thuận cho phép tài khoản dƣ có hoặc dƣ nợ, số dƣ nợ đƣợc hai bên thoả thuận đến một giới hạn tối đa nào đó (hạn mức dƣ nợ), quá hạn mức này thì các tờ séc của khách hàng bị coi nhƣ thiếu hay không có bảo chứng. Nhƣ vậy, nếu tài khoản dƣ có thì số dƣ đó thể hiện tiền gửi của khách hàng ở ngân hàng và thông thƣờng ngân hàng phải trả cho khách hàng lãi tiền gửi. Nếu tài khoản dƣ nợ thì số nợ đó thể hiện tiền ngân hàng cho vay và khách hàng phải trả lãi tiền vay cho ngân hàng. Điều kiện đi vay của khách hàng: - Đơn vị có tình hình tài chính tốt. - Nhu cầu chi tiêu đó thực sự là bức bách và không quá lớn nhƣ nhu cầu trả lƣơng cho cán bộ công nhân viên. - Khách hàng cần chứng minh đƣợc là sẽ có nguồn thu để trả Qua phần trình bày trên, ta thấy tín dụng thấu chi có các đặc điểm sau: - Giữa ngân hàng và khách hàng thoả thuận một hạn mức tín dụng để khách hàng đƣợc sử dụng số dƣ nợ trên tài khoản vãng lai trong một thời hạn nhất định. Trang 19 - Khách hàng sử dụng vốn bằng cách phát hành séc mang số hiệu tài khoản vãng lai hoặc bằng các công cụ thanh toán khác. - Doanh số cho vay có thể lớn hơn hạn mức nếu trong quá trình sử dụng tiền trên tài khoản khách hàng có tiền nộp vào bên có. - Hạn mức tín dụng mà ngân hàng và khách hàng đã thoả thuận với nhau chƣa phải là tiền ngân hàng cho vay mà chỉ khi nào khách hàng sử dụng (có xuất hiện dƣ nợ của tài khoản vãng lai) mới đƣợc coi là ngân hàng cho vay và đƣợc tính tiền lãi trên số dƣ nợ đó. - Vƣợt chi tài khoản là kỹ thuật cho vay mà số dƣ nợ thƣờng xuyên biến động vì thế khó thực hiện đƣợc đảm bảo tín dụng bằng hình thức bảo đảm đối vật. Ưu nhược điểm của loại tín dụng vượt chi tài khoản Đối với khách hàng loại tín dụng vƣợt chi là khoản tạo cho khách hàng những thuận lợi đáng kể nhờ vào sự chủ động, linh hoạt khi sử dụng. Việc cho phép vƣợt chi trên tài khoản vãng lai giúp cho việc cân đối ngân quỹ mà tránh phải đi xin vay nhiều lần với thủ tục phức tạp trong một kỳ, khi mà ngay sau đó lại có những khoản thu đƣợc chuyển vào tài khoản để giảm bớt việc phải trả lãi cho ngân hàng. Do tính chủ động và linh hoạt nhƣ vậy mà tín dụng vƣợt chi tài khoản đáp ứng đƣợc yêu cầu của những doanh nghiệp mong muốn quản lý vốn có hiệu quả, do đó hầu hết các doanh nghiệp có yêu cầu sử dụng hình thức tín dụng này nhằm điều hoà thƣờng xuyên ngân quỹ của họ. Với hình thức tín dụng này, ngân hàng luôn luôn phải dự trữ vốn để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của khách hàng khi họ còn hạn mức tín dụng, nhƣng trên thực tế họ có thể không sử dụng hoặc không sử dụng hết hạn mức tín dụng đó. Trong khi ấy, ngân hàng không đƣợc tính lãi trên toàn bộ số tiền và thời hạn cho vay đã thoả thuận (để giải quyết mâu thuẫn này các ngân hàng thƣờng yêu cầu khách hàng phải trả một khoản phí cam kết theo một tỷ lệ nhất định tính trên hạn mức tín dụng, không kể đến việc hạn mức tín dụng đó đƣợc sử dụng nhƣ thế nào). Mặt khác, tiền ngân hàng cho vay không nhằm mục đích cụ thể nào theo chỉ định của ngân hàng mà thƣờng do khách hàng tuỳ ý sử dụng. Các đảm bảo nếu có Trang 20
- Xem thêm -