Tìm hiểu tình hình sử dụng vốn tại công ty trách nhiệm hữu hạn sinh thái

  • Số trang: 30 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 13 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

TIỂU LUẬN: Tìm hiểu tình hình sử dụng vốn tại công ty trách nhiệm hữu hạn Sinh Thái Lời nói đầu Đối với bất kỳ một nền kinh tế nào, muốn phát triển được thì nguồn lực không thể thiếu được đó là vốn để sản xuất kinh doanh. Vốn và hiệu quả sử dụng vốn là vấn đề sống còn đối với nền kinh tế nói chung cũng như đối với từng doanh nghiệp nói riêng, đặc biệt là trong quá trình chuyển đổi cơ chế kế hoạch tập trung sang cơ chế thị trường và đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước , vì vậy, mà vấn đề sử dụng vốn một cách hợp lý và có hiệu quả càng trở nên cấp bách và quan trọng. Đề tài sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp thống kê và phương pháp điều tra trực tiếp để nghiên cứu. Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm “tìm hiểu tình hình sử dụng vốn tại công ty trách nhiệm hữu hạn Sinh Thái”. Từ đó đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty TNHH Sinh Thái. Chương 1 Lý luận chung về vốn và hiệu quả sử dụng vốn. 1-Một số khái niệm cơ bản. 1.1. Vốn kinh doanh và vai trò của vốn kinh doanh. Trong nền kinh tế thị trường cũng như trong bất kỳ một hình thái kinh tế xã hội nào khác, các doanh nghiệp tham gia hoạt động xản suất kinh doanh đều với mục đích là sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ để trao đổi với các đơn vị kinh tế khác nhằm mục đích tối đa hoá lợi nhuận. Nhưng để tiến hành sản xuất kinh doanh thì cần phải có vốn: “Vốn kinh doanh là giá trị của các tài sản hiện có của doanh nghiệp được biểu hiện bằng tiền” Dưới giác độ vật chất mà xem xét thì vốn kinh doanh được phân làm hai loại vốn: Vốn thực (công cụ lao động, đối tượng lao động..) và vốn tài chính (tiền giấy, tiền kim loại và các giấy tờ khác có giá trị như tiền). Theo hình thái biểu hiện chia ra: Vốn hữu hình ( công cụ lao động, đối tượng lao động, tiền giấy, tiền kim loại) và vốn vô hình ( uy tín, quyền kinh doanh..), căn cứ vào phương thức luân chuyển chia ra: Vốn cố định và vốn lưu động. Nhìn chung nguồn hình thành vốn của doanh nghiệp gồm hai nguồn cơ bản: nguồn vốn tự có và nguồn vốn đi vay. Vốn tự có là vốn thuộc sở hữu của doanh nghiệp hoặc các thành viên trong công ty liên doanh hoặc cổ đông trong công ty cổ phần, nguồn vốn vay bao gồm: tín dụng ngân hàng, phát hành trái phiếu, tín dụng thương mại. Có nhiều cách phân loại vốn, song hiện tại DN thường căn cứ vào sự luân chuyển vốn thì vốn được chia làm hai loại: vốn cố định (VCĐ) và vốn lưu động (VLĐ). *VCĐ là một bộ phận của vốn đầu tư, ứng trước về tài sản cố định, mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi TSCĐ hết thời gian sử dụng. Theo quy định của nhà nước chỉ các tư liệu sản xuất có đủ hai điều kiện: có giá trị lớn hơn 5 triệu VNĐ và có thời gian sử dụng hơn một năm thì mới được coi là vốn cố định. *VLĐ là số tiền ứng trước về tài sản lưu động và tài sản lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất và tái sản xuất của doanh nghiệp tiến hành bình thường. VLĐ bao gồm giá trị tài sản lưu động như: nguyên vật liệu chính, nửa thành phẩm mua ngoài, vật liệu phụ, bao bì, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, sản phẩm dở dang và vốn lưu thông như thành phẩm, hàng hoá mua ngoài dùng cho tiêu thụ sản phẩm, vật tư mua ngoài chế biến, vốn tiền mặt. *Cơ cấu vốn lưu động. Là quan hệ tỷ lệ giữa các thành phần vốn lưu động chiếm trong tổng số vốn lưu động. ở những DN khác nhau, kết cấu của vốn lưu động hợp lý sẽ góp phần sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả vốn lưu động. Vốn kinh doanh có vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp, cụ thể: Vốn kinh doanh là công cụ quan trọng để thực hiện các nhiệm vụ kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn kinh doanh phản ánh các quan hệ về lợi ích kinh tế giữa doanh nghiệp vơi doanh nghiệp trong ván đề đầu tư. Vốn kinh doanh cho phép khả năng lựa chọn của doanh nghiệp trong sự phân tích nhu cầu thị trường là: quyết định sản xuất gi? Sản xuất như thế nào? và sản xuất cho ai? Sao cho đạt hiệu quả nhất. 1.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Trong những năm qua, chúng ta đã tìm được một số biện pháp và phương thức khai thác vốn trong nước đã góp phần đáng kể cho sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế. Tuy nhiên có một số nghịch lý đang tồn tại là: trong khi chúng ta đang tìm mọi biện pháp để huy động tới đa số vốn trong nước đồng thời tích cực kêu gọi vốn đầu tư của nước ngoài cho sự phát triển của nền kinh tế thì vấn đề hiệu quả sử dụng vốn lại chưa được coi trọng. Vốn là nhân tố quan trọng cho quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế. Song sử dụng vốn có hiệu quả lại là vấn đề quan trọng hơn nhiều. Trong một số chừng mực nào đó sử dụng vốn có hiệu quả sẽ đồng nghĩa với gia tăng vốn đầu tư, măt khác sử dụng vốn có hiệu quả còn là khâu quyết định quy mô huy động và tái tạo vốn. Trong điều kiện phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ngày càng nhiều các công ty tư nhân tồn tại và phát triển một cách bền vững trên cơ sở không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và sức cạnh tranh của mình. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng chính là nâng cao hiệu quả sử các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp, bởi vì, các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp chính là biểu hiện một phần quan trọng của số vốn mà doanh nghiệp đã đầu tư đưa vào sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh. Hội nhập kinh tế Quốc tế là xu hướng tất yếu của các quốc gia trên thế giới. Nó tạo ra nhiều cơ hội thận lợi cho sự phát triển kinh tế. Nhưng muốn tận dụng được những ưu thế của phân công lao động Quốc tế đòi hỏi mỗi doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế phải nâng cao được sức cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ để chiếm lĩnh được thị trường trong và ngoài nước. Muốn làm được điều đó trước hết ta phải bảo toàn được số vốn đó sau đó thì phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nói riêng. 2. Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng vốn: 2.1 Quan điểm về hiệu quả sử dụng vốn: Chỉ tiêu phản ánh tổng quát nhất hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp được xác định bởi công thức: Kết quả đầu ra Hiệu quả sử dụng vốn = Vốn sản xuất kinh doanh Trong đó, kết quả đầu ra có thể tính bằng chỉ tiêu: Giá trị sản lượng, doanh thu hay lợi nhuận, còn vốn kinh doanh được tính bằng các chỉ tiêu: Vốn cố định, vốn lưu động, vốn chủ sở hữu, vốn vay... Chỉ tiêu này phản ánh bình quân trong kỳ cứ một đồng vốn kinh doanh tạo ra bao nhiêu đồng hiệu quả. Bản chất về hiệu quả sử dụng của doanh nghiệp là biểu hiện một mặt về hiệu quả kinh doanh, phản ánh trình độ quản lý và sử dụng vốn, thời gian sử dụng vốn theo các điều kiện và nguồn lực xác định phù hợp với mục đích kinh doanh. Hay nói một cách khái quát tiêu chuẩn hiệu quả là tối đa hoá kết quả và tối thiểu hoá lượng vốn trên cơ sở nâng cao năng lực sản xuất của tài sản tiết kiệm vốn. 2.2 Các chỉ tiêu đánh giá tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh: 2.2.1 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định. Chỉ tiêu thể hiệu quả sử dụng vốn cố định: Doanh thu tiêu thụ trong kỳ Sức sản xuất tài sản cố định = Giá trị TSCĐ sử dụng trong kỳ Chỉ tiêu này phản ánh 1 đồng tài sản cố định tham gia vào sản xuất kinh doanh có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ. Sức sinh lợi vốn cố định (Tỷ suất lợi nhuận VCĐ) = Tổng lợi nhuận trong kỳ Vốn cố định bình quân trong kỳ Khi sử dụng chỉ tiêu này cần lưu ý tính lợi nhuận do có sức tham gia trực tiếp của tài sản cố định tạo ra không tính lợi nhuận về các hoạt động tài chính và lợi nhuận không có sức tham gia của vốn cố định tạo ra. Vốn cố định bình quân Hệ số đảm nhiệm vốn cố định = Doanh thu thuần Doanh thu thuần Hiệu quả sử dụng vốn cố định = Vốn cố định bình quân Trong đó: VCĐ đầu kỳ + VCĐ cuối kỳ VCĐ bình quân = 2 VCĐ đầu kỳ (hoặc cuối kỳ) = NG TSCĐ ở đầu kỳ (cuối kỳ) - Số tiền KHLK đầu kỳ (cuối kỳ) Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn cố định trong kỳ tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng TSCĐ = NG TSCĐ bình quân Trong đó: Nguyên giá TSCĐ Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ = đầu kỳ + Nguyên giá TSCĐ cuối kỳ 2 Chỉ tiêu này phản ánh 1 đồng nguyên giá TSCĐ tham gia vào hoạt động sản xuất sẽ tạo bao nhiêu đồng doanh thu thuần. 2.2.2 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả vốn lưu động: Tài sản lưu động là tài sản ngắn hạn và thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh, đảm bảo được vốn lưu động phù hợp với quy mô, yêu cầu của sản xuất kinh doanh và sử dụng chúng một cách hiệu quả là mục tiêu của nhà quản lý doanh nghiệp. Để đánh giá hiệu quả vốn lưu động, chúng ta có thể sử dụng các chỉ tiêu cơ bản sau: Tổng doanh thu thuần Sức sản xuất của vốn lưu động = Vốn lưu động bình quân Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lưu động sẽ đem lại cho doanh nghiệp bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Tổng lợi nhuận trong kỳ Doanh lợi vốn lưu động = Vốn lưu động bình quân Chỉ tiêu sức sinh lợi của vốn lưu động hay còn gọi là tỷ suất lợi nhuận của vốn lưu động phản ánh một đồng vốn lưu động tạo nên được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Khi phân tích chúng ta có thể so sánh giữa các kỳ, năm, giữa thực tế và kế hoạch nếu sức sản xuất và sức sinh lợi của vốn lưu động tăng lên chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động tăng lên và ngược lại. Trong quá trình sản xuất kinh doanh vốn lưu động vận động không ngừng, thường xuyên qua các giai đoạn của quá trình tái sản xuất. Đẩy nhanh tốc độ luân chuyển của vốn lưu động sẽ góp phần giải quyết nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp. Góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, để xác định tốc độ luân chuyển của vốn lưu động, người ta đưa ra các chỉ tiêu phân tích: Tổng doanh thu thuần Số vòng quay của vốn = Vốn lưu động bình quân Chỉ tiêu này còn được gọi là hệ số luân chuyển, cho biết vốn lưu động quay được mấy vòng trong kỳ. Nếu số vòng quay vốn lưu động tăng chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn tăng và ngược lại. Thời gian một vòng quay luân chuyển Thời gian của kỳ = Số vòng quay của vốn lưu động trong kỳ Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết cho vốn lưu động quay được một vòng. Thời gian càng ngắn thì tốc độ luân chuyển càng nhanh tức là vốn lưu động sử dụng triệt để hơn. Ngoài hai chỉ tiêu trên, khi phân tích còn có thể tính ra chỉ tiêu hệ số đảm nhận của vốn lưu động. Hệ số này càng nhỏ, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn càng cao, số vốn tiết kiệm được càng nhiều. Qua chỉ tiêu này ta biết được để có được một đồng luân chuyển thì cần bao nhiêu đồng vốn lưu động. Vốn lưu động bình quân Hệ số đảm nhận vốn lưu động = Tổng số doanh thu thuần Trong toàn bộ các công thức nêu trên, doanh thu thuần và vốn lưu động bình quân trong kỳ được xác định như sau: + Tổng doanh thu thuần = tổng doanh thu bán hàng trong kỳ- (chi phí các khoản thuế phải nộp + chiết khấu hàng bán + giảm giá hàng bán + doanh thu hàng bị trả lại). + Thời gian của phân tích: Theo quy ước để đơn giản trong phân tích thì thời gian tháng là 30 ngày, quý là 90 ngày và năm là 360 ngày. + Vốn lưu động bình quân: Vốn đầu tháng + vốn cuối tháng -Vốn lưu động bình quân tháng = 2 Tổng vốn lưu động 3 tháng - Vốn lưu động bình quân quý = 3 Tổng vốn lưu động 4 quý -Vốn lưu động bình quân năm = 4 Trường hợp có số liệu về vốn lưu động đầu các tháng thì có thể xác định vốn bình quân quý, bình quân năm (V0): V1/2 +V2/2 +................+ Vn -1/2 +Vn/2 V0 = n-1 Trong đó: V1........,, Vn: Vốn lưu động hiện có vào đầu các tháng n: Hệ số tháng 2.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. - Về khách quan: + Cơ chế quản lý và chính sách vĩ mô của Nhà nước. + Tác động của nền kinh tế có lạm phát. + Sự phát triển của khoa học công nghệ + Sự biến động của thị trường “đầu ra” và “đầu vào” của doanh nghiệp. + Sự cạnh tranh trên thị trường. +Các yếu tố rủi ro. -Về chủ quan: có nhiều nhân tố chủ quan thuộc về bản thân doanh nghiệp ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp như: + Đặc điểm sản phẩm và chu kỳ sản xuất sản phẩm: sản phẩm của doanh nghiệp ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Vị thế của sản phẩm trên thị trường, tính cạnh tranh…ảnh hưởng đến sản lượng sản phẩm tiêu thụ. Qua đó ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Sản phẩm mà doanh nghiệp lựa chọn kinh doanh có đặc tính riêng của nó. Nếu chu kỳ sản xuất dài doanh nghiệp sẽ bị ứ đọng vốn gây khó khăn cho các hoạt động sản xuất kinh doanh làm giảm hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Nếu chu kỳ sản xuất ngắn, thời gian luân chuyển vốn nhanh, vòng quay vốn cao, hiệu quả sử dụng vốn tăng lên. Do vậy, doanh nghiệp cần phải nghiên cứu kỹ thị trường đồng thời không ngừng đổi mới công nghệ sản xuất làm giảm chu kỳ sản xuất sản phẩm. + Các yếu tố về vốn của doanh nghiệp: Việc bố trí cơ cấu vốn đầu tư: nếu sự bố trí giữa vốn cố định và vốn lưu động và tỷ trọng của từng khoản mục trong từng loại vốn chưa hợp lý, chưa phù hợp với đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp thì hiệu quả sử dụng vốn kém là không tránh khỏi. Việc xác định nhu cầu vốn: nếu xác định nhu cầu vốn không chính xác thì dẫn tới tình trạng thừa vốn hoặc thiếu vốn, cả hai trường hợp đều ảnh hưởng không tốt tới quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và làm giảm hiệu quả sử dụng vốn. Việc xác định nhu cầu vốn: nếu xác định nhu cầu vốn không chính xác thì dẫn tới tình trạng thừa vốn hoặc thiếu vốn, cả hai trường hợp đều ảnh hưởng không tốt tới quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và làm giảm hiệu quả sử dụng vốn. Việc tổ chức sử dụng vốn kinh doanh trong từng khâu: hiệu quả sử dụng vốn sẽ cao nếu như vốn kinh doanh trong từng khâu được tổ chức hợp lý và sử dụng có hiệu quả. Ngược lại nếu doanh nghiệp sử dụng vốn lãng phí chẳng hạn như: mua các loại vật tư không đúng tiêu chuẩn kỹ thuật, kém phẩm chất hay không huy động cao độ tài sản cố định vào sản xuất kinh doanh...sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng vốn. + Trình độ quản lý của doanh nghiệp: nếu trình độ quản lý yếu kém có thể dẫn tới tình trạng vốn bị ứ đọng, vật tư hàng hoá chậm luân chuyển, hoạt động kinh doanh thua lỗ kéo dài, vốn bị thâm hụt sau mỗi chu kỳ sản xuất... Chương 2 Thực trạng vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty TNHH sinh thái. 1. Khái quát về công ty TNHH sinh thái. 1.1 Sự hình thành và phát triển của Công ty TNHH Sinh Thái. Công ty TNHH Sinh Thái được thành lập vào ngày 16\2\1996 theo quyết định số 166/TC/UBTH của Sở kế hoạch và đầu tư Hà Nội với ngành nghề kinh doanh chính là xuất nhập khẩu máy móc thiết bị, xe máy ô tô… 1.2. Sơ đồ tổ chức bộ máy của công ty: Giám Đốc Phòngkế toán Phòng thị trường Cửa hàng số 1 Phòng tài vụ Cửa hàng số 2 Phòng xuất khẩu Cửa hàng số 3 Cửa hàng số 4 . 2. Tình hình sử dụng vốn tại Công ty TNHH Sinh thái. 2.1 Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh nói chung của công ty. Phân tích tình hình sử dụng vốn sản xuất kinh doanh có thể thông qua một số chỉ tiêu sau: Bảng 1: Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty TNHH Sinh Thái. Đơn vị: 1000 đồng. Chỉ tiêu Công thức 1. DT thuần Năm Năm 2002 2001 2002 2001 Số tiền Số tiền Số tiền so với % 70.848.00 86.973.0 16.125.0 22,76 0 2. VKD bình quân 00 00 52.021.42 61.587.8 9.566.41 18,39 3 3. LN thuần 35 2 1.208.360 1.292.68 84.320 6,98 0 4. Vòng quay toàn bộ vốn 5. Doanh lợi tổng vốn DT thuần VKDbình 1,362 1,412 0,05 3,67 0,023 0,021 - 0,002 - 8,7 quân LN thuần VKDbình quân (Nguồn: Số liệu trong sổ kế toán của Công ty) Vòng quay toàn bộ vốn: cho biết trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh vốn của Công ty được quay bao nhiêu vòng và nói chung vòng quay càng lớn hiệu quả càng cao. Qua bảng 1 ta thấy: Vòng quay vốn năm 2002 tăng 0,05 vòng so với năm 2001, tỷ lệ tăng tương ứng là 3,67%, làm cho doanh thu tăng 16.125.000 nghìn đồng, điều này chứng tỏ vốn sản xuất kinh doanh của năm 2002 sử dụng có hiệu quả hơn năm 2001. Lợi nhuận của Công ty năm 2002 tăng lên so với năm 2001 là 84.320 nghìn đồng, tỷ lệ tăng tương ứng là 6,98% điều này chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn của công ty đã được tăng lên. Nếu dừng lại ở đây chỉ cho thấy sự tăng giảm lợi nhuận giữa các năm chứ không biết được một đồng vốn bình quân được sử dụng trong kỳ tạo ra mấy đồng lợi nhuận? Do đó cần phân tích chỉ tiêu doanh lợi tổng vốn. Chỉ tiêu này phản ánh chính xác và là chỉ tiêu cuối cùng đánh giá chất lượng sản xuất kinh doanh của Công ty. - Năm 2001 cứ một đồng vốn kinh doanh bình quân sản xuất tạo ra 0,023 đồng lợi nhuận. - Năm 2002 cứ một đồng vốn kinh doanh binh quân sản xuất tạo ra 0,021 đồng lợi nhuận giảm 0,002 đồng so với năm 2001 tương ứng với tỷ lệ giảm là 8,7% chứng tỏ chất lượng sản xuất kinh doanh giảm nhưng không đáng kể so với vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh lúc ban đầu (năm 2002 lên tới 61.587.835 nghìn đồng, tăng 9.566.412 nghìn đồng so với năm 2001). Ta thấy rằng năm 2002 Công ty sử dụng vốn có hiệu quả hơn năm 2001 nhưng kết quả chưa cao, Công ty cần phải tăng doanh lợi tổng vốn hơn nữa trong những năm tiếp theo để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng tối đa doanh thu. Tuy nhiên để biết rõ hiệu quả của từng loại vốn và ảnh hưởng của nó như thế nào tới lợi nhuận? Ta cần đi sâu phân tích hiệu quả sử dụng VCĐ và hiệu quả sử dụng VLĐ. 2.2 Hiệu quả sử dụng vốn cố định: Xem xét đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định là một yêu cầu rất quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh. Bởi vậy để đánh giá, xem xét một cách khá chính xác tình hình sử dụng VCĐ của Công ty có ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh như thế nào, ta sẽ căn cứ vào kết quả tính toán của một số chỉ tiêu trong bảng dưới đây: Bảng 2: Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định. Đơn vị: 1000 đồng. Năm Công thức Chỉ tiêu 1. DT thuần Năm Năm 2001 2002 Số tiền Số tiền 2002 so với 2001 Số tiền % 70.848.00 86.973.00 16.125.00 22,76 0 0 0 2. LN thuần 1.208.360 1.292.680 84.320 6,98 3. VCĐ bq 7.674.313 11.271.18 3.596.873 46,87 6 4. Nguyên giá 34.383.27 45.421.69 11.038.42 32,1 TSCĐ bq 1 5 4 5. Số tiền KH luỹ (26.708.9 (34.150.5 (7.441.55 (27,8 kế 58) 08) 0) 6) 6. Hiệu suất sử DT thuần dụng VCĐ 7. Hàm lượng VCĐ 8. VCĐ bq VCĐ bq DT thuần Tỷ suất lợi LN thuần nhuận VCĐ 9. Hiệu suất sử dụng TSCĐ 10. Hệ số hao mòn VCĐ bq DT - 1,15 - 9,23 7,72 0,108 0,13 0,022 0,157 0,115 - 0,042 2,06 1,92 - 0,14 - 6,8 0,78 0,75 - 0,03 - 3,85 16,36 20,37 26,75 thuần NGTSCĐ bq KH luỹ kế NGTSCĐ (Nguồn: Công ty TNHH Sinh Thái cung cấp) Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty năm 2002 tăng so với năm 2001 cụ thể là doanh thu tăng 16,125 triệu (22,76%) lợi nhuận tăng 84.320 nghìn đồng. Và VCĐ bình quân năm 2002 tăng sao với năm 2001 là 3.596.873 nghìn đồng điều này chứng tỏ trong năm 2002 công ty đã sử dụng TSCĐ hiệu quả hơn năm 2001. - Hiệu suất sử dụng TSCĐ: Năm 2002 gảm 0,14 đồng so với năm 2001. Năm 2001 cứ một đồng nguyên giá tài sản cố định tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì sẽ tạo ra 2,06 đồng doanh thu thuần nhưng đến năm 2002 chỉ tạo ra 1,92 đồng doanh thu thuần. Điều này chứng tỏ hiệu suất sử dụng TSCĐ năm 2002 đã giảm sút so với năm 2001. - Hệ số hao mòn tài sản cố định: năm 2001 là 0,78 đồng, năm 2002 giảm 0,03 đồng so với năm 2001 điều này chứng tỏ TSCĐ đã được nâng cấp và đổi mới nên hệ số hao mòn giảm. - Hiệu suất sử dụng VCĐ: Năm 2002 là 0,75 giảm so với năm 2001 là 0,03 đồng. Chỉ tiêu này cho thấy cứ một đồng VCĐ của Công ty tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra 0,75 đồng doanh thu trong năm 2002. Điều này chứng tỏ hiệu quả sử dụng VCĐ của Công ty năm 2002 kém hiệu quả hơn năm 2001. - Hàm lượng VCĐ: Năm 2002 tăng so với năm 2001 là 0,022 đồng. Chỉ tiêu này cho thấy để tạo ra một đồng doanh thu cần 0,13 đồng VCĐ, giảm 0,022 đồng so với năm 2001. Hiệu quả sử dụng vốn cố định được thể hiện cụ thể qua kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh là lợi nhuận. Ta thấy tỷ suất lợi nhuận VCĐ của Công ty năm 2002 giảm so với năm 2001 là 0,042 đồng. Chỉ tiêu này cho thấy cứ một đồng vốn cố định bình quân tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ sẽ tạo ra 0,115 đồng lợi nhuận thuần giảm 0,042 đồng so với năm 2001. Xét một cách tổng quát hiệu quả sử dụng vốn cố định của Công ty có xu hướng giảm. Đây là dấu hiệu không tốt, Công ty cần khắc phục trong thời gian tới. Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định chưa hẳn là đã đầy đủ, chính xác vì mỗi doanh nghiệp khác nhau thì cơ cấu vốn khác nhau. Hoạt động kinh doanh của Công ty chủ yếu là vốn lưu động chiếm tỷ trọng cao hơn 80% trong tổng số vốn. Do đó muốn sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì phải sử dụng hiệu quả vốn lưu động. 2.3 Hiệu quả sử dụng vốn lưu động: Vốn lưu động là một trong hai bộ phận tài sản tạo nên vốn kinh doanh - đó là những tài sản ngắn hạn và thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh. Trong bảng cân đối tài sản của công ty, tài sản lưu động luôn chiếm 80% gồm các khoản tiền mặt, khoản phải thu và dự trữ. Điều đó chứng tỏ sử dụng hiệu quả vốn lưu động ảnh hưởng rất lớn dến kết quả kinh doanh của công ty. Mặc dù hầu hết các vụ phá sản trong kinh doanh là hậu quả của nhiều yếu tố chứ không phải chỉ do quản lý vốn lưu động. Nhưng cũng cần thấy rằng sự bất lực của một số Công ty trong việc hoạch định và kiểm soát một cách chặt chẽ các loại tài sản lưu động hầu như là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến thất bại của họ. Công ty TNHH Sinh Thái đã áp dụng hệ thống chỉ tiêu sau để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty: + Số vòng quay vốn lưu động. + Thời gian một vòng luân chuyển vốn lưu động. + Hệ số đảm nhiệm của vốn lưu động. + Mức doanh lợi vốn lưu động. + Sức sản xuất của vốn lưu động. Trong 2 năm gần đây việc sử dụng vốn lưu động của Công ty đã đạt được những kết quả sau: Bảng 3: Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty TNHH Sinh Thái Đơn vị: nghìn đồng. 2002 so với 2001 Năm Công thức Chỉ tiêu Năm Năm 2001 2002 Tuyệt đối 1. Doanh thu thuần 70.848.00 86.973.00 16.125.0 0 2. Vốn lưu động 0 3. Lợi nhuận thuần 9 VLĐ 1,598 13,46 9 1.208.360 1.292.680 84.320 4. Số vòng quay DT thuần 22,76 00 44.347.11 50.316.64 5.969.53 0 % 1,729 0,131 6,98 8,2 VLĐ bq 5. Thời gian 1 360 vòng quay chuyển 6. Hệ nhiệm luân Vòng quay 225,28 208,21 - 17,07 - 7,58 0,63 0,58 - 0,05 - 7,94 0,027 0,026 1,598 1,729 VLĐ số đảm VLĐ bq DT thuần 7. Mức doanh lợi LN thuần VLĐ VLĐ bq 8. Sức sản xuất DT thuần VLĐ - 0,001 - 3,7 0,131 8,2 VLĐ bq Nguồn: Số liệu từ sổ kế toán của Công ty * Đánh giá chung hiệu quả sử dụng vốn lưu động: Hiệu quả chung về sử dụng vốn lưu đông dược phản ánh qua các chỉ tiêu: + Sức sản xuất của vốn lưu động: Số liệu trong bảng 3 cho thấy sức sản xuất của vốn lưu động năm 2001 là 1.598 đồng có nghĩa là 1 đồng vốn lưu động sử dụng trong năm 2001 đem lại cho Công ty 1.598 đồng doanh thu thuần, nhưng số liệu sức sản xuất năm 2002 cho thấy Công ty đã đạt được 1,729 đồng doanh thu thuần trên 1 đồng vốn lưu động bỏ ra. Như vậy doanh thu thuần trên 1 đồng vốn lưu động năm 2002 tăng 0,131 đồng so với năm 2001. Điều này có nghĩa là sức sản xuất của vốn lưu động của Công ty có xu hướng tăng dần hay năng suất làm việc của vốn lưu động tăng lên. Nguyên nhân chủ yếu đem lại kết quả sức sản xuất của vốn lưu động tăng lên là do các năm gần đây Công ty đã có chiến lược mở rộng địa bàn kinh doanh của mình. Mặt khác các vần đề về dự trữ vật tư đã được xử lý đúng đắn làm giảm ứ đọng vốn. Do vậy việc thầu các công trình ngày càng nhiều hơn, tốc độ thi công cao hơn mà lại không ứ đọng vốn dẫn đến sức sản xuất của vốn lưu động tăng. + Mức doanh lợi vốn lưu động: Mức doanh lợi vốn lưu động trong bảng 3 cho biết: trong năm 2001, một đồng vốn lưu động đem lại cho Công ty 0,027 đồng lợi nhuận, con số này giảm 0,001 đồng tương đương với tỷ lệ giảm là 3,7% trong năm 2002 Mặc dù lợi nhuận trên một đồng doanh thu tăng do tổng doanh thu tăng nhanh khi lợi nhuận có tăng nhưng với tốc độ chậm hơn đồng thời vốn lưu động tăng chậm nên dẫn đến tỷ suất lợi nhuận của một đồng vốn lưu động đem sử dụng tăng. Qua hai chỉ tiêu trên ta có thể đánh giá một cách khái quát rằng hiệu quả sử dụng vốn lưu động cuả Công ty mỗi năm một tăng. Hiệu quả kinh tế của đồng vốn sử dụng năm sau cao hơn năm trước mặc dù quy mô thay đổi lên xuống chút ít. Điều này cần được giữ vững và phát huy trong những năm tới. * Phân tích tốc độ của vốn lưu động: Trong quá trình hoạt động kinh doanh, vốn lưu động vận động không ngừng, thường xuyên qua các giai đoạn. Đẩy nhanh tốc độ luân chuyển của vốn lưu động sẽ góp phần giải quyết nhu cầu về vốn lưu động cho Công ty từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Để đánh giá tốc độ luân chuyển của vốn lưu động người ta thường sử dụng các chỉ tiêu: vòng quay của vốn lưu động, thời gian của một vòng luân chuyển, hệ số đảm nhiệm vốn lưu động. + Số vòng quay của vốn lưu động: Chỉ tiêu này cho biết vốn lưu động đã quay được bao nhiêu vòng (tức là trải qua được bao nhiêu chu kỳ kinh doanh) trong một năm. Qua bảng số liệu số 8 cho ta thấy năm 2002 tăng hơn so với năm 2001 là 0,131 vòng. Như ta thấy vốn lưu động năm 2002 giảm so với năm 2001 mà doanh thu vẫn tăng chứng tỏ số vòng quay của vốn lưu động tăng tạo cho doanh thu có đà phát triển tốt. Có thể khẳng định rằng vòng quay của vốn lưu động càng tăng thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao tạo doanh thu và lợi nhuận cao hơn. Vòng quay vốn lưu động càng giảm thì hiệu quả sử dụng vốn thấp làm giảm doanh thu và giảm hiệu quả kinh doanh. + Thời gian của một vòng luân chuyển: Chỉ tiêu này phản ánh gần tương tự nhưng rõ nét hơn về số vòng quay của vốn lưu động. Nếu số vòng quay tăng tức là thời gian một vòng luân chuyển giảm còn số vòng quay giảm tức là thời gian một vòng luân chuyển tăng. Công ty TNHH Sinh Thái đã dần dần giảm được thời gian một vòng luân chuyển xuống thấp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Cụ thể là năm 2001 một vòng luân chuyển cần 225,28 ngày, đến năm 2002 một vòng luân chuyển vốn lưu động rút xuống chỉ còn 208,21 ngày. Điều này chứng tỏ vốn lưu động của Công ty ngày càng được sử dụng có hiệu quả hơn, triệt để hơn. + Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động: Ngoài hai chỉ tiêu vòng quay và thời gian một vòng luân chuyển vốn lưu động, để đánh giá mức tiết kiệm tài sản lưu động người ta còn dùng chỉ tiêu hệ số đảm nhiệm vốn lưu động. Năm 2002 để tạo ra một đồng doanh thu thuần Công ty phải sử dụng 0,58 đồng vốn lưu động trong khi năm 2001 cần sử dụng 0,63 đồng mới thu được một đồng doanh thu thuần. Như vậy lượng vốn lưu động để tạo ra một đồng doanh thu
- Xem thêm -