Tiểu luận tài chính quốc tế khủng hoảng tài chính

  • Số trang: 29 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 11 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜN G ĐẠ I HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH KH OA ĐÀO TẠO SAU Đ ẠI HỌ C ------------------------------ TIỂU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ CHỦ ĐỀ 2B: KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH Lớp Khóa Nhóm : Cao Học – Ngân hàng đêm 2 : 18 :4 Danh sách học viên thực hiện: 1. Huỳnh Trung Dũng 2. Nguyễn Hoàng Lan 3. Nguyễn Thế Lộc 4. Vũ Thị Nga 5. Nguyễn Văn P húc 6. Nguyễn Văn Thanh 7. Võ Thụy Vy 8. Chung Tư Hòa 9. Lê Huy P hương Giảng Viên: Ths. Nguyễn Khắc Quốc Bảo TP. Hồ Chí Minh, tháng 04 năm 2010 1 Khủng hoảng tài chính – một thất bại lớn của chính trị Johnny Munk hammar och Nima Sanandaji Báo báo về chính sách của EEI Một loạt các bài viết về chính sách của Hiệp hội các doanh nghiệp Châu Âu (EEI) nhằm mục đích thông báo các cuộc tranh luận của chính trị Châu Âu với tư cách là những tranh cãi đủ cứng rắn, nhằm thúc đẩy các ý tưởng của tự do kinh doanh và tự do cạnh tranh. Tờ báo có nhiệm vụ khi các bài phân tích cho dù được viết bởi đội ngũ nhân viên trực tiếp của EEI hoặc các tác giả bên ngoài. Bất cứ kết luận hay ý kiến được trình bày trong các bài viết này không nhất thiết phải trích quan điểm của EEI hoặc của những người liên kết với EEI. Trưởng ban Johnny Munkhammar Hỗ trợ thiết kế Bản quyền của hiệp hội kinh doanh Châu Âu Bất cứ sự sao chép nào phải được sự cho phép từ nhà xuất bản Phát hành bởi: European Enterprise Institute c/o Kellen Europe Avenue Jules Bordetlaan 142 1140 Brussels Tel: +32 (0) 2 761 16 75 E-mail: european-ent erprise@ kelleneurope.com Web site: www.european-enterprise.org EEI President and Co-President : Peter Jungen, Gunnar Hökmark 2 Hiệp hội kinh doanh Châu Âu là một tổ chức phi lợi nhuận, có trụ sở tại Bỉ. Hiệp hội nhằm mục đích thúc đẩy tinh thần kinh doanh trong cộng đồng chính sách Châu Âu và cung cấp một nền tảng cho các ý tưởng và triết lý của doanh nhân trên khắp Châu Âu. Các công trình nghiên cứu của EEI để tạo ra những điều kiện và tranh luận trong mọi khía cạnh của chính sách có tác động đến điều kiện của tinh thần doanh nhân, khuyến khích đổi mới, năng lực cạnh tranh và sự thịnh vượng kinh tế. EEI không mang bất kỳ một ý kiến của tổ chức trong vấn đề cá nhân, nhưng tích cực khuyến khích cuộc đối thoại tranh luận giữa các bên liên quan. 3 Mục lục Thông điệp từ nhà xuất bản Lời nói đầu Từ rủi ro thế chấp đến khủng hoảng tài chính toàn cầu Thuế - tài trợ tổ chức tín dụng và quy chế tạo khủng hoảng Các chuyên gia dự đoán như thế nào về chính trị tạo ra cuộc khủng hoảng …Nhưng các chính trị gia đã bỏ qua những cảnh báo Những khủng hoảng của tư bản? Thị trường tài chính tự do là quyết định cho sự giàu có Mỹ đang lê bước trên con đường cải cách Kết luận Tài liệu tham khảo 4 Thông điệp từ nhà xuất bản Trong suốt 25 năm qua, nền kinh tế toàn cầu đã trải qua một sự tăng trưởng và phát triển chưa từng thấy. Nhiều quốc gia trên thế giới đã thoát khỏi cảnh đói nghèo. Ý nghĩa này gây một ấn tượng và chắc chắn đây là một điều gì đó để các nhà kinh tế mong đợi. Sự thịnh vượng không phải là vấn đề chính của kinh tế học mà vấn đề về giá trị lao động và các cơ hội xã hội. Hàng triệu người dễ dàng đạt được những giá trị mới và cơ hội thật sự nhiều đến mức mà ở năm 1968 hoặc thậm chí năm 1989 không ai tin rằng điều này có thể xảy ra. Thế giới đã thay đổi và chúng ta không còn nghe nói về thế giới thứ ba bởi vì không còn sự phân chia địa cầu chúng ta thành thế giới thứ ba, thứ hai và thứ nhất. Sự hiện đại và thị trường tài chính toàn cầu đã thay đổi tất cả, mang lại những cơ hội đầu tư và thương mại cho tất cả các dân tộc và khu vực mà trước đây hầu như không có cơ hội tham gia. Viễn cảnh này quan trọng khi chúng tôi thảo luận về khủng hoảng tài chính ngày nay và nguyên nhân của nó. Những kết luận của chúng tôi không phải nhận được bằng kết qủa của 25 năm thành công khác nhau. Bởi vì chúng tôi cần ít nhất bằng với những năm thành công như chúng tôi thấy để đáp ứng những thách thức như người ta sống trong đói nghèo, xã hội đang thay đổi, về chính trị, về thách thức đối với những thay đổi chính trị và sự hợp nhất của các quốc gia và khu vực. Những kết quả của sự phát triển toàn cầu cho chúng tôi những kinh nghiệm đáng kinh ngạc, những điều mà chúng tôi nhìn thấy hôm nay chắc chắn là vai trò quan trọng về sự vận hành tốt của thị trường tài chính toàn cầu. Và chúng tôi cần chắc chắn rằng chúng hoạt động tốt trong tương lai, sự thích nghi thật sự của kinh tế toàn cầu. Nếu hôm nay chúng ta điều chỉnh những thị trường này bằng cách gây cản trở sức sống và cải tiến liên quan đến thương mại, kinh doanh và đầu tư, chúng tôi sẽ mất cơ hội hoặc không đạt được ổn định. Khu vực tài chính phải được ổn định, đáng tin cậy và minh bạch, nhưng nó không thể cân bằng những thiếu sót của các bộ phận khác của nền kinh tế. Nếu chính sách tiền tệ không ổn định, tài chính công không ổn định hoặc nếu những can thiệp chính trị làm suy yếu thị trường, thị trường không thể bù đắp cho điều đó và không ai 5 có thể tránh được những hậu quả của cuộc suy thoái kinh tế, chúng ta chỉ có thể hạn chế thấp nhất điều này xảy ra. Đó là lý do thảo luận về cuộc khủng hoảng hiện nay phải được mở ra và cung cấp một lộ trình cho sự phát triển tương lai của thị trường tài chính toàn cầu. Có nhiều việc phải làm để đạt được những quy định tốt hơn, nhưng điều đó không có nghĩa là những sắp đặt – cái đó thường là những đề nghị trong tranh luận ngày nay. Châu Âu giữ vai trò hàng đầu trong việc bảo đảm sự tự do của thị trường tài chính toàn cầu với những quy định tốt hơn. Việc công bố này của hiệp hội các doanh nghiệp Châu Âu cung cấp những thông tin có giá trị về sự can thiệp thật sự của chính phủ như thế nào, là nguyên nhân của hầu hết những cuộc khủng hoảng tài chính, và do đó dẫn đến những tranh luận về thị trường tài chính tự do trong tương lai. Gunnar Hökmark Đồng chủ tịch EEI và là thành viên của Nghị viện Châu Âu Giới thiệu Cuộc khủng hoảng tài chính ở M ỹ đã làm chao đảo nền kinh tế toàn cầu. Một số những ngân hàng lớn nhất của thế giới đã bị phá sản và bị chính phủ kiểm soát. Thị trường cổ phiếu sụp đổ khiến những nhà đầu tư nhỏ lo sợ bị mất vốn một khi các ngân hàng không an toàn. Ngày nay, nhiều nhà quan sát xem khủng hoảng như là một bằng chứng suy yếu của thị trường tự do. Họ nghĩ rằng giải pháp nằm ở chỗ sự dụng nhiều hơn những quy định và can thiệp của chính phủ trong thị trường tài chính. Đồng thời, có nhiều dấu hiệu cho rằng cuộc khủng hoảng được tạo ra bởi các quy định và sự can thiệp của chính phủ. Đây không phải là sự thất bại của thị truờng mà là sự thất bại của chính trị. Cuộc khủng hoảng có nguồn gốc từ thị trường thế chấp của Hoa Kỳ, đặc biệt trong việc cho vay “dưới chuẩn” tập trung vào những hộ gia đình có điều kiện tín dụng 6 yếu. Chính phủ Hoa Kỳ bước đầu làm cho những hộ gia đình có thu nhập thấp dễ dàng sở hữu nhà thông qua tổ chức công như Fannie M ae and Freddie M ac. Vẽ lên sự trợ cấp mạnh mẽ, Fannie M ae and Freddie Mac đã cấp bảo lãnh thế chấp cho những cá nhân không đủ điều kiện cho vay bình thường. Đồng thời, những quy định này cũng được đưa ra trong một số trường hợp các ngân hàng bắt buộc mở rộng tín dụng cho những người vay mà tài sản không đảm bảo. Không khác với cuộc khủng hoảng tài chính ở Thụy Điển những năm 1990 và suy giảm kéo dài ở Mỹ, cuộc khủng hoảng tài chính hiện tại có cái gốc từ chính sách tiền tệ của chính phủ. Cục dự trữ Mỹ cắt giảm tỷ lệ dự trữ ở mức rất thấp sau năm 2001 để làm chậm suy giảm kinh tế, đã tạo ra bong bóng bất động sản. Cuối cùng, các ngân hàng tin chắc rằng chính phủ sẵn sàng giải cứu họ, nếu khủng hoảng xảy ra. Trong bối cảnh đó, các tổ chức tín dụng Mỹ mở rộng những khoản cho vay rủi ro cao cho những người có điều kiện tín dụng thấp. Khi thị trường nhà đất suy giảm, phần lớn các hộ gia đình không còn có khả năng trả hết những khoản vay của họ, và khủng hoảng đã xảy ra sau đó. Nhiều chuyên gia và nhà bình luận đã cảnh báo về cuộc khủng hoảng hiện nay. Nhưng trong suốt giai đoạn kinh tế tăng trưởng, không ai lắng nghe những cảnh báo này, trong đó có cả Đ ảng Cộng hòa và Đảng Dân chủ. Thị trường tự do được đặc trưng là tạo sự phá huỷ: sản phẩm cũ, công ty và việc làm được thây thế bằng cái mới và tốt hơn. Nếu không có sự can thiệp của chính phủ vào thị trường tài chính Mỹ có lẽ sự suy giảm đã có hạn chế và những người tham gia thị trường sẽ chịu đựng sự mất mát.Thông qua sự can thiệp của chính phủ, sự suy giảm đã trở thành cuộc khủng hoảng - nếu chính phủ không tiếp tục can thiệp – có thể sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng cho toàn bộ nền kinh tế. Do đó chính phủ can thiệp sâu hơn. Khủng hoảng phải được ngăn chặn và điều này có thể đưa đến sự can thiệp có thể lặp đi lập lại trong một thời gian dài. Điều này không chỉ xảy ra ở Mỹ mà còn diễn ra ở các tổ chức tài chính tại các quốc gia khác đã lỡ mua lại khoản tín dụng xấu. Ngày nay các quốc gia Châu Âu đang hành động riêng lẻ, nhưng việc phối hợp hành động trong nội bộ các nước EU đang được bàn luận. Ngoài việc kiểm soát khủng hoảng, có 7 rất nhiều lý do để tập trung cải thiện một viễn cảnh dài hạn, nơi mà vai trò của chính phủ trong thị trường tài chính là đề ra những luật lệ, chứ không chỉ là người tham gia thị trường. Hoa Kỳ trước đây đã giành được lợi thế thông qua chính sách tự do kinh tế và gia tăng mối quan hệ đến những nước công nghiệp khác. Trong những năm gần đây, nước này đã mất đà trong cải cách thị trường, chi tiêu công đã gia tăng và những điều chỉnh mới về công nghiệp đã được đưa vào. Điều này có nghĩa là Hoa Kỳ đã mất đi chút ít về tự do kinh tế - và do đó là mất cạnh tranh – trong khi những nước khác gia tăng cạnh tranh. Điều này đang áp dụng với phần lớn các nước Châu Âu và dĩ nhiên có Trung Quốc, Ấn Độ và Braxin được đề cập là 3 nền kinh tế phát triển nhanh nhất. Nhiều dự đoán rằng khủng hoảng đã đánh dấu kết thúc kỷ nguyên thịnh vượng và thống trị toàn cầu của Hoa K ỳ. Hoa Kỳ dĩ nhiên có thể vượt qua cuộc khủng hoảng, nhưng câu hỏi đặt ra là bằng cách nào và khi nào - và đâu là điều kiện kinh tế lâu dài được tạo lập bởi các chính trị gia Hoa Kỳ, đặc biệt là trong thị trường tài chính. Để thành công, các chính trị gia Mỹ phải nhận ra được nguyên nhân chính của cuộc khủng hoảng và đánh giá những cải cách tiếp theo. Cuộc khủng hoảng này không phải là kết quả của nền kinh tế Hoa Kỳ đang quá tự do, mà nó đến từ những phần khác nhau nơi mà nó chưa được tự do cho đến tận bây giờ. (The crisis is not a result of the US economy being too free, but comes from the various parts where it has not been free until now.) Sẽ luôn có những suy giảm trong nền kinh tế và rủi ro của các bong bóng do thị trường tạo ra. Nhưng xoáy sâu vào lý thuyết rất phổ biến của Karl Marx hoặc JeanBaptiste Colbert, cũng không có giải pháp cho bất kỳ điều này. Thị trường tự do là điều kiện tạo nên sự thịnh vượng, và tự do thị trường tài chính là cần thiết trên toàn cầu của những thập niên trước đây. Thật vậy, kể từ khi cuộc khủng hoảng này xảy ra, vai trò tạo lập của chính phủ là rất lớn, nó cung cấp một tình thế mạnh mẽ để tự do hoá thị trường tài chính. Kiến thức này cũng quan trọng cho Châu Âu cân nhắc, ít nhiều bởi vì cuộc khủng khoảng cũng tác động đến chúng ta giống như vậy. Chúng ta có thể học rất nhiều điều từ những việc đã làm tốt và những việc chưa làm tốt trong chính sách kinh 8 tế M ỹ. Mục tiêu của nghiên cứu này để mô tả nguồn gốc và những giải pháp lâu dài cho cuộc khủng hoảng hiện nay. Johnny Munkhammar Giám đốc nghiên cứu, Hiệp hội doanh nghiệp Châu Âu Nima Sanandaji Managing Director, Captus, chuyên gia cố vấn Từ rủi ro thế chấp đến khủng hoảng tài chính toàn cầu Trong những năm gần đây, nền kinh tế Mỹ tăng trưởng rất nhanh và đầu tư nước ngoài chảy mạnh vào trong nước. Trong khi đó, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã duy trì mức lãi suất liên bang rất thấp trong một thời gian dài. Năm 2003, lãi suất trái phiếu kho bạc kỳ hạn 3 tháng chỉ khoảng 1%. Hơn nữa, từ năm 2003-2005 FED đã duy trì lãi suất dưới mức lạm phát kỳ vọng dẫn đến việc trợ cấp mạnh mẽ cho các khoản vay. Điều này đã tạo ra bong bóng nhà đất. Từ giữa thập niên 1990, thị trường cho vay dưới chuẩn bắt đầu phát triển. Theo đó, thị trường này cung cấp các khoản vay cho những người đi vay không đáp ứng đủ điều kiện để vay thông thường. Sự phát triển của các khoản vay thế chấp dưới chuẩn đó đã được khuyến khích mạnh mẽ ở góc độ chính trị thông qua các khoản trợ cấp. Thậm chí có những quy định trong vài trường hợp bắt buộc ngân hàng phải mở rộng thế chấp. Các khoản thế chấp dưới chuẩn đã đóng một vai trò quan trọng giúp cho số lượng những hộ gia đình Mỹ sở hữu nhà tăng từ 65% đến 69% trong giai đoạn 1995 - 2006. Cuối năm 2007, tổng cộng đã có hơn bảy triệu hộ gia đình Mỹ sở hữu các khoản vay dưới chuẩn. Giá trị của các khoản vay thế chấp dưới chuẩn tại thời điểm đó vào khoảng 1.300 tỷ đô la, gấp bốn lần so với năm 2003. Chỉ riêng trong năm 2005, những hợp đồng thế chấp dưới chuẩn được ký có giá trị khoảng 600 tỷ đô la. Những khoản vay dưới chuẩn rủi ro cao cùng với sự tăng trưởng quá nóng của thị trường. Chính phủ đã tạo ra khủng hoảng, nhưng chính hoạt động cho vay quá mức đã góp phần dẫn đến sự lây lan mạnh mẽ của khủng hoảng. Còn các chính trị gia Mỹ 9 lại làm tăng rủi ro cho một thị trường vốn đã tiềm ẩn nhiều rủi ro, hậu quả là khủng hoảng nhanh chóng xuất hiện. Khi tăng trưởng kinh tế chững lại, thị trường nhà đất bắt đầu đóng băng, những hộ gia đình có thu nhập thấp bắt đầu gặp khó khăn trong việc hoàn trả và tái tục các khoản vay thế chấp của họ. Trong quý III năm 2007, các khoản vay thế chấp dưới chuẩn chiếm tổng cộng 13% thị trường cho vay thế chấp tại Mỹ, đồng thời đã có 55% trường hợp nhà bị tịch thu trong thời gian này. Một vài tổ chức tín dụng Mỹ chuyên cho vay dưới chuẩn đã lâm vào khủng hoảng nặng nề. Chẳng hạn như cổ phần của New Century Financial Corporations và Novastar Financial giảm mạnh đến 90%. Cuộc khủng hoảng sau đó nhanh chóng lan ra khắp thị trường tài chính vốn đã tăng trưởng quá nóng và tác động đến các tổ chức tín dụng bên ngoài Hoa Kỳ. Trong tháng 3/2008, Bloomberg thống kê hơn 34.000 việc làm đã bị cắt giảm tại các ngân hàng niêm yết ở phố Wall. Trong tháng 4/2008, IMF liên tục cảnh báo rằng cuộc khủng hoảng tài chính có thể dẫn tới một cuộc suy thoái toàn cầu. Tổ chức này thậm chí còn cho rằng đây có thể là "cú sốc tài chính lớn nhất kể từ cuộc Đại khủng hoảng 1930". Cuộc khủng hoảng cho vay thế chấp dưới chuẩn ở M ỹ đã trở thành một vấn đề toàn cầu. Trên khắp thế giới, những khách hàng lớn, nhỏ gửi tiết kiệm tại ngân hàng và các nhà đầu tư bắt đầu sợ sẽ mất đi tài sản. Một số các ngân hàng nổi tiếng hàng đầu thế giới bị phá sản, hoặc được mua lại bởi các ngân hàng khác, hoặc bị Chính phủ các nước chi tiền mua lại nhằm nắm quyền kiểm soát, hoặc được cứu bởi các tổ chức tín dụng công. Những tên tuổi này bao gồm các tổ chức nổi tiếng như Bear Sterns, Merrill Lynch đến Washington Mutual với bề dày 119 năm tuổi đến Northern Rock, Bradford & Bing và HBOS tại Vương quốc Anh. Trên quy mô quốc tế, người ta bắt đầu hoang mang về khả năng phá sản dây chuyền của các ngân hàng, đó cũng là lý do vì sao các ngân hàng đang kín đáo cho vay để hỗ trợ lẫn nhau. Vì các ngân hàng đang phụ thuộc lẫn nhau cả về các khoản vay và cho vay, nên ngay cả những tổ chức tín dụng còn sống sót cũng đang trong tình thế cực kỳ khó khăn. Chính phủ Mỹ đã chi ra gói giải cứu trị giá 700 tỷ đô la để bình ổn thị trường và bơm tiền vào các ngân hàng, cho họ một biên lãi suất cho các khoản vay tái tục. Phần 10 vốn đó một phần dùng để mua lại các khoản nợ xấu, chẳng hạn như khoản vay có thế chấp ở các ngân hàng. Tại châu Âu, với các biện pháp khác nhau - nhưng với mục đích tương tự - đã được áp dụng. Chính phủ đã cam kết bảo lãnh cho các khoản tiền gửi ở các ngân hàng ở một số nước. Tại Vương quốc Anh, Chính phủ đã hoán đổi nguồn vốn của các ngân hàng thành vốn chủ sở hữu, tạo thuận lợi cho việc trả lại của tiền đóng thuế của người dân trong tương lai - như là trường hợp tại Thụy Điển vào năm 1992. Có lẽ đặc điểm của cuộc khủng hoảng này là nó đã được biết trước nhưng không thể tránh khỏi. Trong thực tế, một số các chuyên gia nhìn thấy sự phát triển này sớm vào năm 1999, nhưng cảnh báo của họ không được chính phủ chú ý. Tiền Thuế - Tài trợ cho các Tổ chức tín dụng và những Quy định tạo ra Khủng hoảng Để hiểu được sự đảo lộn kinh tế hiện nay ở Mỹ, cần phải nghiên cứu hai tổ chức tín dụng đóng vai trò quyết định là: Fannie Mae và Freddie Mac. The Federal National M ortgage Association (Công ty Cho vay thế chấp Quốc gia thuộc Liên bang), gọi tắt là Fannie Mae, được thành lập bởi Chính phủ Liên bang Hoa Kỳ sau Đại khủng hoảng. Qua thời gian, nó phát triển thành một tổ chức tín dụng tư nhân, đồng thời ở trạng thái là một thực thể của chính phủ. Việc kinh doanh của Fannie Mae bao gồm bảo hiểm các khoản cho vay của các tổ chức tín dụng khác. The Federal Home Loan Mortgage Corporation (Tập đòan cho vay mua nhà trả góp liên bang) ( viết tắt là: Freddie M ac) nó đã được thành lập vào 1970 với cấu trúc và mục đích tương tự như Fannie Mae. Hai tổ chức trên được chính quyền Liên bang tiếp quản vào ngày 7 tháng 9 năm 2008, khi bị ảnh hưởng nặng của cuộc khủng hoảng do các tổ chức này góp một phần lớn. Cần nói rằng các tổ chức này trong những tháng trước đã phụ trách 70% các khoản thế chấp tại Mỹ, thị trường trong đó nó đóng vai trò quyết định, nơi mà dấu hiệu đầu tiên của cuộc khủng hoảng xảy ra. Trước khi được tiếp quản bởi chính quyền Liên bang vào ngày 7 tháng 9 năm 2008, Fannie Mae và Freddie M ac là một thực thể, hai tổ chức này được thiết kế rất riêng, vừa là một cánh tay của chính phủ với những mục tiêu chính trị từ đó họ đã 11 nhận được những khoản trợ cấp lớn, M ặt khác, các doanh nghiệp cũng kinh doanh riêng và tìm cách tối đa hoá giá trị cổ đông. Mục tiêu chính trị đã làm giảm chi phí dành cho các khoản thế chấp dưới chuẩn bằng cách sử dụng trợ cấp xã hội những ảnh hưởng sau này đó là vô hiệu hóa trực tiếp các bản phân tích rủi ro thị trường bằng cách hạ thấp 1 cách giả tạo các khoản chi phí thế chấp những người hưởng lợi từ việc gia tăng các khoản vay thế chấp dưới chuẩn đả châm ngòi cho 1 cuộc khủng hoảng vỡ nợ. Một lý do tại sao Fannie Mae và Freddie Mac đã kiểm soát phần lớn thị trường thế chấp là do họ cũng được sử dụng các khoản trợ cấp để mở rộng hoạt động. Năm 1996, Văn phòng Ngân sách Quốc hội đã nghiên cứu cho thấy Fannie M ae và Freddie Mac đã nhận được khoảng 6.5 tỷ đô la trợ cấp vào năm 1995. Cả hai đều giữ hơn 40% nguồn vốn này, thay vì sử dụng chúng để trợ cấp thế chấp. Không ngạc nhiên vì các công ty rất thích như vậy do lợi nhuận biên lớn vì chi phí vốn nhỏ. Trong năm, một cuộc khảo sát từ Cục Kho bạc Mỹ cũng khẳng định điều này. Fannie M ae. Và Freddie M ac không chỉ được hưởng lợi từ các khoản trợ cấp của chính phủ. Các tổ chức trong lĩnh vực tài chính nhận thức rõ ràng chính phủ liên bang chống lưng cho các tổ chức này và họ sẽ rất không hài lòng khi hai tổ chức này sụp đổ - giả thuyết đã được chứng minh vào ngày 07 tháng 9 năm 2008. Lợi nhuận thì tư nhân hóa và xã hội tổn thất. Những lợi thế do các chính trị gia tạo ra cho Fannie M ae và Freddie M ac đã làm cho chúng phát triển nhanh chóng và mở rộng ra các tổ chức tín dụng trên thị trường tự do. Tháng 7 năm 2008 tờ New York Times thông tin rằng hai 2 tổ chức trên đã cấp hoặc cam kết tài trợ khoảng một nửa thị trường thế chấp, đại diện cho 12.000 tỷ đô la M ỹ. Fannie Mae và Freddie Mac đã được nói đến đã làm gia tăng rủi ro trên thị trường thế chấp theo ba cách: - Tiền thuế thông qua kênh Fannie Mae và Freddie Mac để khuyến khích những khoản vay có rủi ro cao. - Mặc nhiên người ta ngầm hiểu rằng chính phủ sẽ đứng sau lưng để cứu Fannie Mae và Freddie Mac trong trường hợp có khủng hoảng, chính vì vậy nó đã tiếp tục kích thích rủi ro của thị trường qua hành vi. 12 - Các tổ chức tín dụng đã đông đúc bởi Fannie M ae và Freddie Mac, do vai trò chi phối tạo ra những sai lầm chết người của họ Ngoài Fannie Mae và Freddie Mac, có những ngân hàng cho vay nhà liên bang ở Hoa Kỳ. Chúng được tạo ra sau khi khủng hoảng, và cũng như Fannie Mae và Freddie Mac, họ là các tổ chức tín dụng được tài trợ bởi thuế. Các ngân hàng nhà liên bang cho các ngân hàng khác vay đổi lại, các ngân hàng cung cấp các khoản thế chấp cho các cá nhân. Họ sử dụng trợ cấp thuế để giảm chi phí thế chấp và như vậy cũng đã góp phần làm cho mở rộng tín dụng quá mức trên thị trường thế chấp Mỹ. Thị trường tài chính Mỹ có quy định chặt chẽ, các quy định này đã góp phần trong việc tạo ra cuộc khủng hoảng hiện nay. Các quy định của Liên bang và nhà nước chỉ cho phép một vài tổ chức tồn tại để đánh giá các rủi ro liên quan đến các khoản vay trên thị trường. Thị trường độc quyền này được trang bị kém để đo lường rủi ro so với một thị trường tự do hơn có nhiều thành viên tham gia. Đạo luật của Cộng đồng tái đầu tư được giới thiệu vào năm 1977 cũng đã châm ngòi những rủi ro xấu trong thị trường tín dụng. Chính quyền chịu trách nhiệm đánh giá số lượng các văn phòng chi nhánh của các ngân hàng trong các khu vực có thu nhập thấp và có bao nhiêu khoản vay được cấp ở đó. Nếu các khoản vay được cấp bị coi là quá ít, ngân hàng có nguy cơ bị xử phạt. Đê tránh bị phạt các ngân hàng sẽ mở rộng các khoản tín dụng cho những người không ít có khả năng chi trả cho các khoản vay. Năm 1995. chính quyền Clinton sửa đổi luật tái đầu tư Cộng đồng để gia tăng áp lực lên các ngân hàng cho vay có rủi ro cao. Người ta cho rằng thị trường có những rủi ro vì mặt trái của nó. Nhưng trong một thị trường với nhiều đối thủ cạnh tranh và không có sự can thiệp của chính phủ, động cơ lợi nhuận sẽ không bao giờ có dẫn đến việc cho vay ở những người không thể trả lại các khoản vay của họ. Hành vi chấp nhận rủi ro như vậy chỉ có thể được thực hiện bởi chính quyền, với tiền của người khác - tiền thuế của dân. Các chuyên gia đã dự đoán chính sách tạo ra k hủng hoảng như thế nào… Phần lớn những chỉ trích trong những năm qua đã dự báo đối với những cuộc khủng hoảng tài chính do chính phủ bao cấp cho các công ty Fannie M ae và Freddie 13 Mac có thể tạo ra. M ột ví dụ là có một bài báo đã đăng trên tờ N ew York Times năm 1999. Bài báo đã diễn tả những kế hoạch ban đầu nhằm sử dụng Fannie Mae và Freddie Mac để tạo ra sự dễ dàng cho vay thế chấp. “Bằng cách mở rộng các hình thức cho vay mà nó sẽ mua lại, Fannie Mae khuyến khích các ngân hàng cấp các khoản vay nhiều hơn đến với người dân với tiêu chuẩn tín dụng thấp”. Điều này, dẫn đến kỳ vọng đưa đến tăng đầu cơ mua nhà đối với những hộ dưới chuẩn và thu nhập thấp”, đáp lại việc thắt chặt từ chính quyến Clinton. Nhưng cũng có sự ủng hộ cho các chính sách này từ bên trong khu vực tài chính tư nhân. Ngân hàng tư nhân thấy rằng khả năng của việc mở rộng thị phần của họ đối với những điều kiện tín dụng thấp. Khoản cho vay mà thông thường có thể quá rủi ro trở nên có lợi nhuận một khi họ được tài trợ bởi tiền thuế và được cam kết tài trợ bởi các tổ chức được chính phủ bao cấp. Tuy nhiên, 9 năm qua nó đã nhận ra rằng chính sách xã hội như thế nguy hiểm như thế nào. Một bài báo tương tự lưu ý Fannie Mae trong vai trò mới đã tạo ra nhiều rủi ro hơn trong lĩnh vực tài chính như thế nào, mà có thể dẫn đến những vấn đề nghiêm trọng trong suy thoái kinh tế Vào những năm của thập kỷ 80, thật là nguy hiểm khi chính phủ ra tay giải cứu các khu vực tài chính. Peter.J.Wallison của học viện tổ chức Mỹ và dự báo tài chính, cảnh báo người đọc:”nếu các định chế tài chính bị phá sản [do các khoản vay dưới chuẩn], chính phủ sẽ tham gia và giải cứu chúng”. Wallison tiếp tục phát triển quan điểm của mình về khủng hoảng mà ông ta dự báo. Năm 2001, ông ta biên tập 1 quyển sách về rất nhiều vấn đề tạo ra bởi Fannie Mae và Freddie Mac trong hệ thống tài chính M ỹ. Ba năm sau, ông ta xuất bản một quyển sách có tên là Tư nhân hoá Fannie Mae và Fredie Mac và Ngân hàng cho vay mua nhà liên bang- Tại sao và như thế nào, đồng tác giả với Thomas A.Stanton và Bert Ely. Các tác giả đã rất rõ ràng trong những cảnh báo đối với đọc giả lưu ý đặc biệt Fannie Mae và Freddie Mac, nhưng ngân hàng cho vay mua nhà liên bang đã lơ đi một khủng hoảng trong tương lai: “Chính phủ đã hỗ trợ các công ty trong phân phối thị trường nhà ở rất ít để chất lượng của hệ thống tài chính M ỹ, nhưng tạo ra rủi ro cho những người nộp thuế và nền kinh tế khi cả một hệ thống không thể giải quyết bởi quy định” 14 Được chú ý bởi nhà kinh tế Thomas Sowel, N.Gregory M ankiw (Chủ tịch hội đồng tư vấn kinh tế của Tổng thống Mỹ) cảnh báo trong năm 2004 khu vực tài chính mong chính phủ giải cứu các định chế tài chính trong trường hợp có khủng hoảng. Mankiw nhận ra rằng điều này tạo ra “thúc đẩy cho các công ty chấp nhận rủi ro tương ứng với gia tăng trong doanh thu”. Cùng lúc đó, giá của những rủi ro trên giảm xuống, khi chính phủ sử dụng tiền của những người nộp thuế điều tiết sang. Trong số những nhà chỉ trích có Alan Greenspan, sau đó là Chủ tịch của Cục dự trữ liên bang Mỹ. Trả lời chất vấn trước Hội đồng thượng nghị viện về ngân hàng, Nhà đất và các vấn đề liên quan vào tháng 4/2005, ông ta đưa ra những dự báo rõ ràng về việc các chính sách xã hội thông qua các tổ chức cho vay có thể dẫn tới 1 tương lai khủng hoảng. Greenspan lưu ý rằng:”các nhà đầu tư có thể đi đến nhận định rằng chính phủ sẽ không để các công ty cổ phần lớn sụp đổ”. Đã dẫn đến định giá hơn giá trị của tài sản đảm bảo và đáng chú ý là tỷ lệ thế chấp tài sản thấp hơn trên thị trừơng tự do. Greenspan cũng lưu ý rằng chính phủ chống lưng cho Fannie Mae và Fredie Mac là lý do quan trọng giải thích tại sao họ đã giữ vai trò quan trọng của thị trường thế chấp. Đó là chính phủ liên bang đã cho phép họ mở rộng thị phần của thị trường thế chấp hộ gia đình từ 5,6% từ năm 1990 đến 23% trong năm 2003. Trong phần trình bày của mình, Greespan giải thích cơ chế có thể dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính. Trong một thị trường mà những người chủ nợ và các nhà đầu tư tin rằng người vay nợ ở vị trí có điểm tựa. Tuy nhiên, hành động của Fannie Mae và Fredie M ac đã làm vô hiệu cơ chế thị trường. “Quy chế GSEs về khía cạnh thị trường đã làm cho các công ty được bao cấp trở nên yếu không thể tồn tại được. Bởi vì trên thị trường các công ty tương tự như GSEs giao dịch định giá rủi ro hầu hết dựa trên nhận định của GSE, đặc biệt trong mối quan hệ với chính phủ hơn là cái làm được của các định chế, các nhà làm luật không thể trông cậy vào quy luật của thị trường đối với các rủi ro hệ thống”. Khi Fannie Mae và Fredie Mac còn ở quy mô nhỏ, rủi ro chúng có thể gây ra cho hệ thống tài chính là giới hạn. Từ khi trở thành các định chế tài chính, nhờ tiền của những người nộp thuế, ngày càng lớn, nó đòi hỏi “sự tăng trưởng theo bề rộng” theo cách mà chính phủ bao cấp cho vay, các định chế được chính phủ điều tiết, và bị kiểm 15 soát vai trò trên thị trường. Greenspand cảnh báo tình huống đó tồn tại có thể “đe dọa sự ổn định của Thị trường tài chính” và cũng cắt nghĩa Fannie Mae và Freddie Mac tạo ra sự tiện lợi cho thị trường thế chấp thông qua hoạt động cho vay của họ là quá mức so với thông thường Cuối cùng ông ta lưu ý rằng việc chủ tịch của Freddie Mac trong năm 1989 tuyên bố trước quốc hội Mỹ rằng có sự bảo hiểm rủi ro các hoạt động của công ty trước khi nó phát triển rộng ra. Sự thay đổi này sau năm 1989 khi các công ty bị kiểm soát bởi sự sở hữu của cổ đông tư nhân, những người sử dụng mối quan hệ gần gũi với chính phủ để mở rộng hoạt động của họ. Có lẽ sự phê phán mạnh mẽ nhất, đối với các chính sách gây ra khủng hoảng và chính sách tài chính (mà Greenspan chịu trách nhiệm lớn) khuyến khích dẫn đến gian lận cho vay từ các nhà quan sát một thị trường thân thiện. Tổng thống tiền nhiệm ứng cử Ron Paul và nhóm cố vấn thị trường tự do như Viện Cato và Viện Mises đã chỉ trích mạnh mẽ hành động của Đảng dân chủ cũng như Đảng Cộng hòa thời gian gần đây. Trong năm 2005, LewRockwell.com (là một trong những webzines nổi tiếng với những hồ sơ công bố độc lập và liên kết chặt chẽ với viện M ises) đã công bố bài diễn văn của Ron Paul trước Quốc hội Hoa kỳ, nơi ông cảnh bảo cuộc khủng hoảng sắp tới. “Tôi hy vọng rằng các đồng nghiệp của tôi cùng tôi bảo vệ những người nộp thuế từ việc phải giải cứu Fannie Mae và Fredie Mac khi bong bóng cho vay mua nhà sụp đổ” Các phê bình gay gắt cũng nhắm vào chính quyền Tổng thống Bush và cả hai đảng Dân chủ và Cộng hòa, các thành viên của Quốc hội về việc đã quá hào phóng trong chi tiêu tiền đóng thuế của người dân. Vậy thì, trước khi cuộc khủng hoảng lan rộng, Chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ, cố vấn kinh tế của Tổng thống và một chuyên gia trên thị trường thế chấp phải đánh giá 1 cách cẩn thận tại sao chính sách chính phủ có thể dẫn đến 1 cuộc khủng hoảng tài chính và xác định sự kết hợp như thế nào đã mở đường cho lợi nhuận tư nhân và tổn thất xã hội.Trên thực tế, một sự thay đổi chính trị sẽ tác động hoàn toàn 16 lên những vấn đề được tạo ra bởi một chính sách tiền tệ trợ cấp cho vay kết hợp với sự can thiệp của chính phủ. Các chính trị gia sẽ tiến hành các cải cách cần thiết nhưng tất cả đã hoàn hảo. …Nhưng các nhà chính trị đã bỏ qua những cảnh báo Trong Nhà trắng, đã sớm có những sự thấu hiểu rằng cách hành xử của Fannie Mae và Freddie M ac sẽ đưa đến khủng hoảng lớn. M ột bài báo trên tờ N ew York Post chỉ ra rằng tiền cơ sở năm 2002 mà chính phủ tài trợ cho vay các tổ chức đã lớn đến mức những vấn đề tài chính của chúng có thể sinh ra những khó khăn to lớn cho toàn bộ khu vực tài chính. Trong năm 2003 chính quyền Bush đã cố gắng thuyết phục Quốc hội tạo quyền giám sát và điều tiết Fannie M ae và Freddie Mac. Kế hoạch đưa ra nhằm kiểm soát chặt chẽ hơn các tổ chức tín dụng. Nhưng thuế tài chính của các tổ chức này có thể giữ lại, như một sự bảo đảm ngầm rằng chính phủ có thể can thiệp vào nếu các tổ chức gặp vấn đề. Tuy nhiên, Barney Frank, sau đó là Democrat, chủ tịch của Hội đồng Tài chính Quốc gia đã phản đối những sáng kiến này. Frank tin rằng tình hình tài chính của Fannie Mae và Freddie Mac cơ bản là đảm bảo và bày tỏ rằng ông ta không thể thấy một dấu hiệu mất kiểm soát nghiêm trọng nào. “Hai thực thể - Fannie M ae và Freddie Mac – không đối diện với bất kỳ khủng hoảng tài chính nào”. Frank giải thích. Hơn nữa ông ta biện dẫn: “Càng nhiều người thổi phồng những vấn đề này, càng nhiều sức ép lên các công ty này, tài trợ mua nhà ở mức độ nhỏ hơn chúng ta thấy” Frank đã nhận được sự ủng hộ từ Rep.Melvin L.Watt (D), người đã tuyên bố: “Tôi không thấy gì hơn là một ván bài đang tiến hành ở đây, di chuyển từ trung gian này sang trung gian khác và đang trong quá trình suy yếu quyền lực mặc cả của những gia đình nghèo và khả năng nhận được tài trợ mua nhà.” Chín năm qua, có những dấu hiệu cảnh báo rõ ràng khủng hoảng đang đến, nhưng các phương pháp đo lường được đưa ra bởi chính quyền Bush để hạn chế sự tàn phá của chính sách được đưa qua kênh Fannie Mae và Freddie Mac đã bị giới hạn trong việc tạo ra một quyền lực điều tiết mới. 17 Sau đó giải pháp không cơ bản vấn đề bơm tài trợ vào thị trường thế chấp đang gia tăng sự liều lĩnh 1 cách nguy hiểm, thêm vào việc chính phủ là người bảo lãnh cho Fannie Mae và Freddie Mac càng thúc đẩy cho vay có rủi ro tăng. Ngay cả một nỗ lực nhỏ để điều tiết cũng đã bị ngưng lại bởi Quốc hội khi nó gặp phải sự phản đổi của xã hội vì những hộ gia đình có thu nhập thấp mua nhà dễ dàng hơn. Một lý do quan trọng nữa giải thích tại sao Fannie Mae và Freddie Mac có thể tiếp tục làm bất kể rủi ro là sự can thiệp của chính phủ làm gia tăng những rủi ro trên thị trường thế chấp, những rủi ro này không hoàn toàn là do các chính trị gia tại thời điểm nền kinh tế Mỹ đang phát triển 1 cách nhanh chóng. Tuy nhiên Greenspan, chủ tịch của Fed, được Đảng Dân chủ và Đảng Cộng Hòa đánh giá là một nhà kinh tế xuất sắc, ngay cả khi những nhận xét của ông bị thờ ơ. Khi nền kinh tế đang vận hành tốt, các nhà chính trị quan tâm nhiều hơn việc đạt được những mục tiêu chính sách xã hội trong ngắn hạn hơn là ngăn ngừa một cuộc khủng hoảng tiềm tàng. Cũng có thể do sự thiếu hiểu biết tầm quan trọng của việc không vận dụng định lượng các biến rủi ro thị trường, đặc biệt khi có bàn tay tác động của chính phủ làm gia tăng mạnh mẽ rủi ro. Cuối cùng, một giải thích quan trọng, đó là Fannie Mea và Freddie Mac là những tổ chức đã chi tiêu đáng kể ảnh hưởng đến các quyết định của chính trường Mỹ - ví dụ những tổ chức này đã dẫn đầu trong quyên góp cho chiến dịch tranh cử của Obama – điều đó có thể giúp giải thích rằng họ có khả năng tăng trưởng bằng những chính sách đặc biệt và trợ cấp thuế. Vì vậy việc chính quyền Bush cố gắng kiểm soát Fannie Mac và Freddie Mac trong năm 2003 bằng những bằng chứng không được làm sáng tỏ là bằng chứng của rủi ro có thể nhìn thấy trước. Đề xuất cải cách không có sức mạnh hiệu quả và bản thân Bush cũng thông qua kênh chính sách xã hội để thực hiện sự can thiệp của chính phủ vào thị trường thế chấp. Trong bài diễn văn có giá trị vào mùa hè năm 2002, Bush tuyên bố: “Chúng ta cần hơn 5.5 triệu nhà được sở hữu đến năm 2010- triệu là tối thiểu số nhà sở hữu đến 2010. (...)Nó sắp đạt mức trung bình nhưng chúng ta phải cố gắng để đạt 18 được mục tiêu, tất cả chúng ta. Và bằng tất cả chúng ta, tôi muốn nói không chỉ là chính phủ liên bang mà khu vực tư cũng vậy” 26 Khủng hoảng lan rộng, với sự tiếp tay của thị trường tài chính thế giới, từ khu vực thế chấp nhà của M ỹ đến nhiều tổ chức tài chính khác. Bao gồm các chính phủ trên thế giới cũng tiếp tay tạo ra khủng hoảng. Nền kinh tế khổng lồ Trung Quốc với thặng dư mậu dịch đã mang đến cho chính phủ quỹ dự trữ dồi dào. Sau đó, họ đầu tư vào các công cụ tài chính Mỹ, đẩy mức cho vay lên cao và thổi phồng bong bóng. Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy đề xuất vào ngày 21 tháng 10 rằng Châu Âu nên tạo ra nguồn dự trữ dồi dào. Theo đó, chính phủ các nước Châu Âu nên mua các công ty để tránh sự sở hữu của nước ngoài. Tác hại của sở hữu nước ngoài vẫn còn không rõ ràng. Nhưng điểm chính là mối bận tâm của chính phủ - như là quỹ dự trữ dồi dào – góp phần tạo ra khủng hoảng, điều đó có nghĩa là đòi hỏi cao hơn cũng không phải là giải pháp. Trước khi thiết lập ra con đường bảo hộ các ngành công nghiệp trong nước, nên nhớ chính xác là những loại chính sách này tạo ra 1 cuộc suy thoái trong những năm 30 như thế nào. Và trước khi đưa ra chính sách quốc gia đó nên bắt đầu cạnh tranh từ các công ty xã hội hóa, một điều nên nhớ là các ông chủ tư nhân chịu thử thách tốt hơn trong điều hành công ty hơn là chính phủ. Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản. Nhiều người cho rằng cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay là kết quả của tự do kinh tế . Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy đã nói ví von rằng cuộc khủng hoảng này xuất phát việc các nền kinh tế thế giới không được điều tiết hiệu quả, và thời kỳ này sẽ chấm dứt ngay. Nhiều nhà quan sát đã khẳng định rằng sau cuộc khủng hoảng này chúng ta nên đưa ra nhiều quy định hơn, tăng sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế, tăng thuế và từ bỏ ý tưởng thị trường tự do. Theo biên tập Aftonbladet của tờ nhật báo lớn nhất ở Scandinavia, cuộc khủng hoảng tài chính hoàn toàn có thể đổ lỗi cho sự tự do kinh tế, và chỉ ra rằng thị trường tự do cơ bản là không bền vững. Bài báo trích dẫn tác phẩm "Khủng hoảng tài chính của chủ nghĩa Marx" đã chứng minh quan điểm của hệ tư tưởng đối lập trong việc giải thích cuộc khủng hoảng. 19 Thực tế là cuộc khủng hoảng ở M ỹ là kết quả của sự can thiệp quá sâu của chính phủ vào các mục tiêu chính sách xã hội mà phần lớn các chính sách này không được thảo luận bởi những người coi nó như là một bằng chứng của sự sụp đổ chủ nghĩa tư bản. Hơn nữa, cơn khủng hoảng này được coi là hậu quả của lòng tham: mọi thứ ở Mỹ từ chính sách chăm sóc y tế, giáo dục cho đến mức thuế bị cáo buộc là quá tự do. Chuyên gia Peter J. Wallison - người mà trong năm 1999 đã nhìn thấy trước được sự can thiệp của chính phủ vào thị trường thế chấp bất động sản có thể gây ra một cuộc khủng hoảng trong tương lai, đồn thời viết hai cuốn sách về rủi ro mà đại diện là những hoạt động của Fannie Mae và Freddie Mac - trao đổi ý kiến với một đồng nghiệp rằng hoàn toàn là phi lý khi đổ lỗi cuộc khủng hoảng là do thiếu các quy định. Trong ba thập kỷ qua đã có sự bãi bỏ các quy định quan trọng của nền kinh tế Mỹ, nhưng không phải trong lĩnh vực tài chính: "Hầu như mọi điều luật về tài chính, chẳng hạn như Cơ quan bảo hiểm tiền gửi liên bang, Đạo luật Cải cách 1991 - được thông qua sau vụ sụp đổ tiền tiết kiệm và cho vay ở cuối thập niên 1980 - đã thắt chặt đáng kể các quy định của ngân hàng ". Nhà bình luận tự do Johan Norberg hỏi trên tờ Swedish daily Expressen: "Chúng ta không nên bắt đầu một cuộc nghiên cứu hàng chục ngàn trang các quy định đã tồn tại và những thứ mà 12.190 người đã dành tất cả thời gian chỉ để điều chỉnh thị trường tài chính ở mức độ liên bang và những gì họ đã làm gì khi xảy ra khủng hoảng? Và rồi chúng ta sẽ thấy rằng họ đã làm thổi phồng quả bong bóng, ít nhất thì cũng hăm hở như những người khác. Cái khác biệt duy nhất là họ đã có một “cái bơm” lớn hơn". Ngay cả trong thời gian trước cuộc khủng hoảng tài chính, các quy định và sự can thiệp của Chính phủ được coi như là bằng chứng cho sự thất bại của chủ nghĩa tư bản. Milton Friedman - người đoạt giải thưởng Nobel - đã giải thích trong một cuốn sách đồng tác giả với Anna J. Schwartz: bằng cách tạo ra giảm phát thông qua chính sách tiền tệ, kinh tế đi xuống đã trở thành một cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu. 20
- Xem thêm -