Thỏa ước basel, lộ trình và thực trang áp dụng của các ngân hàng thương mại tại việt nam

  • Số trang: 31 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 29 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

Tiểu luận THỎA ƯỚC BASEL, LỘ TRÌNH VÀ THỰC TRANG ÁP DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM -1- LỜI MỞ ĐẦU Hai năm sau khủng hoảng tài chính toàn cầu bùng nổ, Ủy ban Basel về kiểm soát ngân hàng đã đạt được thỏa thuận nhằm khép các ngân hàng vào những tiêu chuẩn ngặt nghèo hơn. Sau những quyết định năm 1988 và 2007 (gọi là Basel I và Basel II), văn bản mới có tên Thỏa thuận Basel III là sự đút rút những bài học từ cuộc khủng hoảng vừa qua, đồng thời là nền tảng để thiết lập trật tự tài chính thế giới mới. Basel III với nhiều đề xuất mới về vốn, đòn bẩy và các tiêu chuẩn về tính thanh khoản để củng cố các quy định, giám sát và quản lý rủi ro của ngành ngân hàng. Các tiêu chuẩn vốn và các vùng đệm vốn mới sẽ đòi hỏi các ngân hàng giữ tiền nhiều hơn và chất lượng cao hơn so với mức vốn theo quy định hiện hành của Basel II. Các đòn bẩy mới và tỷ lệ tính thanh khoản đưa ra nhằm bổ sung các yêu cầu về vốn tối thiểu dựa trên rủi ro và các biệ pháp để đảm bảo đủ kinh phí được duy trì trong trường hợp xảy ra khủng hoảng. Đề tài tiến hành nghiên cứu các chuẩn mực và quy định trong hiệp ước Basel để làm cơ sở ứng dụng Basel trong quản trị rủi ro của hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam. Cùng với các phiên bản Basel I - Basel II và Basel III, đề tài chỉ tóm tắt một số nội dung có liên quan trực tiếp đến khả năng ứng dụng tại Việt Nam bao gồm một số chuẩn mực quy định về cách xác định hệ số rủi ro và tính toán nhu cầu vốn tối thiểu nhằm giúp Ngân hàng đối phó với rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường. Sau khi tìm hiểu và giới thiệu ngắn gọn về hiệp ước Basel, đề tài tập trung thực hiện việc đánh giá quy mô, hiệu quả hoạt động của hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời gian qua, những vấn đề cần lưu ý trong công tác quản trị rủi ro của các Ngân hàng, từ đó phân tích những khó khăn mà hệ thống NHTM Việt Nam đã - đang và có thể sẽ gặp phải khi ứng dụng Basel. -2- I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking supervision - BCBS) được thành lập vào năm 1974 bởi một nhóm các Ngân hàng Trung ương và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển (G10) tại thành phố Basel, Thụy Sỹ nhằm tìm cách ngăn chặn sự sụp đổ hàng loạt của các ngân hàng vào thập kỷ 80. Hiện nay, các thành viên của Ủy ban gồm đại diện ngân hàng trung ương hay cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng của các nước: Anh, Bỉ, Canada, Đức, Hà Lan, Hoa Kỳ, Luxembourg, Nhật, Pháp, Tây Ban Nha,Thụy Điển, Thụy Sỹ và Ý. Ủy ban được nhóm họp 4 lần trong một năm. Hội đồng thư ký của Ủy ban Basel được đề xuất bởi Ngân hàng Thanh toán Quốc tế ở Basel, gồm 15 thành viên là những nhà giám sát hoạt động ngân hàng chuyên nghiệp được biệt phái tạm thời từ các tổ chức tín dụng tài chính thành viên. Ủy ban Basel và các tiểu ban sẵn sàng đưa ra những lời tư vấn cho các cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng ở tất cả các nước. Ủy ban Basel không có bất kỳ một cơ quan giám sát nào và những kết luận của Uỷ ban này không có tính pháp lý và yêu cầu tuân thủ đối với việc giám sát hoạt động ngân hàng. Thay vào đó, Ủy ban Basel chỉ xây dựng và công bố những tiêu chuẩn và những hướng dẫn giám sát rộng rãi, đồng thời giới thiệu các báo cáo thực tiễn tốt nhất trong kỳ vọng rằng các tổ chức riêng lẻ sẽ áp dụng rộng rãi thông qua những sắp xếp chi tiết phù hợp nhất cho hệ thống quốc gia của chính họ. Theo cách này, Ủy ban khuyến khích việc áp dụng cách tiếp cận và các tiêu chuẩn chung mà không cố gắng can thiệp vào các kỹ thuật giám sát của các nước thành viên. Ủy ban báo cáo thống đốc ngân hàng trung ương hay cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng của nhóm G10. Từ đó tìm kiếm sự hậu thuẫn cho những sáng kiến của Ủy ban. Những tiêu chuẩn bao quát một dải rất rộng các vấn đề tài chính. Một mục tiêu quan trọng trong công việc của Ủy ban là thu hẹp khoảng cách giám sát quốc tế trên hai nguyên lý cơ bản là: (1) không ngân hàng nước ngoài nào được thành lập mà thoát khỏi sự giám sát; và (2) việc giám sát phải tương xứng. Để đạt được mục tiêu -3- đề ra, từ năm 1975 đến nay, Ủy ban Basel đã ban hành rất nhiều văn bản, tài liệu liên quan đến vấn đề này. Vào năm 1988, Ủy ban đã quyết định giới thiệu hệ thống đo lường vốn mà nó được đề cập như là Hiệp ước vốn Basel (the Basel Capital Accord) hay Basel I. Hệ thống này cung cấp khung đo lường rủi ro tín dụng với tiêu chuẩn vốn tối thiểu 8%. Basel I không chỉ được phổ biến trong các quốc gia thành viên mà còn được phổ biến ở hầu hết các nước khác có các ngân hàng hoạt động quốc tế. Đến năm 1996, Basel I được sửa đổi với rất nhiều điểm mới. Để khắc phục những hạn chế của Basel I, tháng 6/1999, Uỷ ban Basel đã đề xuất khung đo lường mới với 3 trụ cột chính: (i) yêu cầu vốn tối thiểu trên cơ sở kế thừa Basel I; (ii) sự xem xét giám sát của quá trình đánh giá nội bộ và sự đủ vốn của các tổ chức tài chính; (iii) sử dụng hiệu quả của việc công bố thông tin nhằm làm lành mạnh kỷ luật thị trường như là một sự bổ sung cho các nỗ lực giám sát. Đến ngày 26/6/2004, bản Hiệp ước quốc tế về vốn Basel mới (Basel II) đã chính thức được ban hành. Lịch sử vắn tắt của Hiệp ước vốn Basel: (1) Năm 1988, Hiệp ước vốn Basel đầu tiên (Basel I) ra đời và có hiệu lực từ 1992. (2) Năm 1996, Basel I được bổ sung thêm rủi ro thị trường (được thực thi chậm nhất vào ngày 1/1/1998). (3) Tháng 6/1999, đề xuất một khung Hiệp ước vốn mới với chương trình tư vấn lần thứ nhất (First Consultative Package - CP1). (4) Tháng 1/2001, chương trình tư vấn lần thứ hai (CP2). (5) Tháng 4/2003, chương trình tư vấn lần thứ ba (CP3). (6) Quý 4/2003, phiên bản mới của Hiệp ước vốn (Basel II) được hoàn thiện. (7) Tháng 1/2007, Basel II có hiệu lực. (8) Năm 2010, chấm dứt quá trình chuyển đổi. Sau khi Basel II không thể ngăn chặn được cuộc khủng hoảng toàn cầu , Basel III ra đời. -4- II. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA BASEL 1. Hiệp ước Basel I (The Basel Capital Accord) 1.1 Mục tiêu của Basel I: Củng cố sự ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng quốc tế. Thiết lập một hệ thống ngân hàng quốc tế thống nhất, bình đẳng nhằm giảm cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng quốc tế. 1.2 Tiêu chuẩn của Basel I: a) Tỉ lệ vốn dựa trên rủi ro - “Tỉ lệ Cook” Tỉ lệ này được phát triển bởi BCBS với mục đích củng cố hệ thống ngân hàng quốc tế, đối tượng ban đầu là những ngân hàng hoạt động quốc tế, nhưng sau này đã được thực thi trên hơn 100 quốc gia. Theo tiêu chuẩn này, ngân hàng phải giữ lại lượng vốn bằng ít nhất 8% của rổ tài sản, được tính toán theo nhiều phương pháp khác nhau và phụ thuộc vào độ rủi ro của chúng. Tỉ lệ thoả đáng về vốn (CAR) = Vốn bắt buộc/Tài sản tính theo độ rủi ro gia quyền (RWA) Theo đó, quy định 5 định mức về vốn như sau: CAR < 2% CAR < 6% CAR < 8% CAR > 8% CAR > 10% Thiếu vốn trầm Thiếu vốn rõ rệt Thiếu vốn Mức vốn thích Mức vốn tốt trọng hợp b) Vốn cấp 1, cấp 2 và cấp 3 Thành tựu cơ bản của Basel I là đã đưa ra được định nghĩa mang tính quốc tế chung nhất về vốn của ngân hàng và một cái gọi là tỷ lệ vốn an toàn của ngân hàng. Tiêu chuẩn này quy định: Vốn cấp 1 ≥ Vốn cấp 2 + Vốn cấp 3  Cấp 1: Vốn nòng cốt là lượng vốn dự trữ sẵn có và các nguồn dự phòng được công bố, như là khoản dự phòng cho các khoản vay, bao gồm: - Vốn chủ sở hữu vĩnh viễn -5- - Dự trữ công bố (Lợi nhuận giữ lại) - Lợi ích thiểu số (minority interest) tại các công ty con, có hợp nhất báo cáo tài chính - Lợi thế kinh doanh (goodwill)  Cấp 2: Vốn bổ sung - Lợi nhuận giữ lại không công bố - Dự phòng đánh giá lại tài sản - Dự phòng chung/dự phòng thất thu nợ chung - Công cụ vốn hỗn hợp - Vay với thời hạn ưu đãi - Đầu tư vào các công ty con tài chính và các tổ chức tài chính khác  Cấp 3 (Dành cho rủi ro thị trường) = Vay ngắn hạn Vốn tính theo rủi ro gia quyền RWA = Tổng (Tài sản x Mức rủi ro phân định cho từng tài sản trong bảng cân đối kế toán) + Tổng (Nợ tương đương x Mức rủi ro ngoại bảng) Basel I đưa ra trọng số rủi ro gồm 4 mức: - Quốc gia 0%; - Ngân hàng 20%; - Doanh nghiệp 100%. Trọng số rủi ro không phản ánh độ nhạy cảm rủi ro trong mỗi loại này. 1.3 Những thiếu sót của Basel I: Sau khi rủi ro tín dụng được thiết lập vào năm 1988, Uỷ ban Basel đã chuyển sự chú ý của họ sang rủi ro thị trường để phản ứng lại các hoạt động kinh doanh chuyên hữu ngày càng tăng của các ngân hàng thương mại và đến năm 1996, Basel I đã được sửa đổi với mục đích tính đến cả phí vốn đối với rủi ro thị trường. -6- Một trong những điểm hạn chế cơ bản của Basel I là không đề cập đến một loại rủi ro đang ngày càng trở nên phức tạp với mức độ ngày càng tăng lên, đó là rủi ro vận hành (không có yêu cầu vốn dự phòng rủi ro vận hành). Ngoài ra, còn một số điểm hạn chế khác, như: không phân biệt theo loại rủi ro, không có lợi ích từ việc đa dạng hóa… 2. Hiệp ước Basel II (The New Capital Accord) Ở trên ta đã thấy đươc dù Basel I đã hình thành những tiêu chuẩn nhất định mang tính chuẩn mực cho các ngân hàng những nó vẫn còn tồn tại khá nhiều điểm hạn chế. Chính vì vậy, từ năm 1999, Uỷ ban Basel đã nỗ lực đưa ra một Hiệp ước mới thay thế cho Basel I, và cho đến năm 2004, bản Hiệp ước quốc tế về vốn của Basel (Basel II) đã chính thức được ban hành. 2.1 Mục tiêu của Basel II: Nâng cao chất lượng và sự ổn định của hệ thống ngân hàng quốc tế; Tạo lập và duy trì một sân chơi bình đẳng cho các ngân hàng hoạt động trên bình diện quốc tế; Đẩy mạnh việc chấp nhận các thông lệ nghiêm ngặt hơn trong lĩnh vực quản lý rủi ro. Hai mục tiêu đầu của Basel II là những mục tiêu chủ chốt của Hiệp ước vốn Basel I. Mục tiêu cuối cùng là mới, đó là dấu hiệu của việc bắt đầu chuyển dần từ cơ chế điều tiết dựa trên tỷ lệ, mà đó chỉ là một phần của khung mới, hướng đến một sự điều tiết mà sẽ dựa nhiều hơn vào các số liệu nội bộ, thông lệ và các mô hình. 2.2 Cách tiếp cận mới dựa trên 3 cột trụ chính Trụ cột thứ I: liên quan tới việc duy trì vốn bắt buộc. Theo đó tỷ lệ vốn bắt buộc tối thiểu (CAR) vẫn là 8% của tổng tài sản có rủi ro như Basel I. Tuy nhiên, rủi ro được tính toán theo ba yếu tố chính mà ngân hàng phải đối mặt: rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành (hay rủi ro hoạt động) và rủi ro thị trường. So với Basel I, cách tính chi phí vốn đối với rủi ro tín dụng có sự sửa đổi lớn, đối với rủi ro thị trường có sự thay đổi nhỏ, nhưng hoàn toàn là phiên bản mới đối với rủi ro vận hành. Trọng số rủi ro -7- của Basel II bao gồm nhiều mức (từ 0%-150% hoặc hơn) và rất nhạy cảm với xếp hạng. Trụ cột thứ II: liên quan tới việc hoạch định chính sách ngân hàng, Basel II cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách những “công cụ” tốt hơn so với Basel I. Trụ cột này cũng cung cấp một khung giải pháp cho các rủi ro mà ngân hàng đối mặt, như rủi ro hệ thống, rủi ro chiến lược, rủi ro danh tiếng, rủi ro thanh khoản và rủi ro pháp lý, mà hiệp ước tổng hợp lại dưới cái tên các rủi ro tồn tại khác (residual risk). Basel II nhấn mạnh 4 nguyên tắc của công tác rà soát giám sát: Thứ nhất, các ngân hàng cần phải có một quy trình đánh giá được mức độ đầy đủ vốn nội bộ theo danh mục rủi ro và phải có được một chiến lược đúng đắn nhằm duy trì mức vốn đó. Thứ hai, các giám sát viên nên rà soát và đánh giá việc xác định mức độ vốn nội bộ và chiến lược của ngân hàng, cũng như khả năng giám sát và đảm bảo tuân thủ tỉ lệ vốn tối thiểu; giám sát viên nên thực hiện một số hành động giám sát phù hợp nếu họ không hài lòng với kết quả của quy trình này. Thứ ba, Giám sát viên khuyến nghị các ngân hàng duy trì mức vốn cao hơn mức tối thiểu theo quy định. Thứ tư, giám sát viên nên can thiệp ở giai đoạn đầu để đảm bảo mức vốn của ngân hàng không giảm dưới mức tối thiểu theo quy định và có thể yêu cầu sửa đổi ngay lập tức nếu mức vốn không được duy trì trên mức tối thiểu. Trụ cột thứ III: Các ngân hàng cần phải công khai thông tin một cách thích đáng theo nguyên tắc thị trường. Basel II đưa ra một danh sách các yêu cầu buộc các ngân hàng phải công khai thông tin, từ những thông tin về cơ cấu vốn, mức độ đầy đủ vốn đến những thông tin liên quan đến mức độ nhạy cảm của ngân hàng với rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro vận hành và quy trình đánh giá của ngân hàng đối với từng loại rủi ro này nhằm cho phép các đối tác của ngân hàng định giá và giao dịch ở mức độ hợp lý Như vậy, quá trình phát triển của Basel và những Hiệp ước mà tổ chức này đưa ra, các ngân hàng thương mại càng ngày càng được yêu cầu hoạt động một cách minh bạch hơn, -8- đảm bảo vốn phòng ngừa cho nhiều loại rủi ro hơn và do vậy, hy vọng sẽ giảm thiểu được rủi ro. 2.3 Ưu điểm của Basel II so với Basel I: - Về cấu trúc và nội dung: Basel I tập trung vào một giải pháp quản lý rủi ro duy nhất là “yêu cầu vốn tối thiểu”. Trong khi, Basel II tập trung nhiều hơn vào các phương pháp nội bộ của chính ngân hàng, đánh giá hoạt động thanh tra, giám sát và kỷ luật trên nguyên tắc thị trường. Do đó, quyền lực của các nhà quản lý quốc gia được tăng lên bởi họ cần phải đánh giá sự đủ vốn của ngân hàng có tính đến đặc điểm rủi ro cụ thể của nó. - Về tính linh động của ứng dụng: Basel I quy định chung một chọn lựa cho tất cả các ngân hàng. Basel II linh hoạt hơn với một danh sách các phương pháp, các biện pháp khuyến khích để các nhà quản lý quốc gia và các ngân hàng chọn lựa. - Về tính nhạy cảm với rủi ro: Basel I đo đạc rủi ro quá sơ bộ. Basel II nhạy cảm hơn với rủi ro thông qua độ nhạy cảm của yêu cầu vốn đối với mức độ rủi ro tăng lên và sự công khai bắt buộc một cách chi tiết về độ nhạy cảm rủi ro và chính sách rủi ro. - Về trọng số rủi ro: Basel I quy định từ 0 - 100 và ưu đãi hơn với các nước thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD- Organisation for Economic Cooperation and Development). Basel II quy định từ 0 - 150 hoặc hơn và không có đặc quyền nào, bao gồm cả phân cấp bên trong và bên ngoài. - Về kỹ thuật giảm rủi ro tín dụng: Basel I chỉ hỗ trợ và đảm bảo. Basel II thừa nhận về kỹ thuật giảm thiểu rủi ro tốt hơn, đưa ra nhiều kỹ thuật hơn như hỗ trợ, đảm bảo, phái sinh tín dụng, lập mạng lưới vị thế (position netting). 2.4 Hạn chế của Basel II: Mặc dù được coi như một cơ chế quan trọng để đẩy mạnh cải cách và củng cố toàn bộ công tác điều hành trong lĩnh vực tài chính, nhưng cuộc khủng hoảng tài chính hiện tại đã cho thấy những thiếu sót, bất cập của Basel II. Đó là: -9- - Việc áp dụng các phương pháp quản trị rủi ro tiên tiến chưa có các tiêu chuẩn có thể được chấp nhận rộng rãi. - Các phương pháp giám sát, đánh giá rủi ro chưa tính đến các hoạt động của chu kỳ kinh doanh. - Các cơ quan quản lý chưa theo kịp tốc độ phát triển mạnh mẽ những sản phẩm dịch vụ có khoa học công nghệ cũng như mức độ rủi ro cao... 3. Hiệp ước Basel III Cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế toàn cầu năm 2008 cho thấy thiếu sót trong các quy định về tài chính trong hoạt động Ngân hàng. Nếu Basel II chủ yếu tập trung khía cạnh ”tài sản” thì Basel III phần lớn tập trung vào khía cạnh ”nợ”của các Ngân hàng. Trong đó, Basel III yêu cầu tăng cường về vốn của Ngân hàng, giới thiệu các yêu cầu mới quy định về tính thanh khoản ngân hàng và đòn bẩy ngân hàng. Mục tiêu chính của quy định mới nhằm cải thiện khả năng chịu đựng của ngành ngân hàng khi đối mặt cú sốc bắt nguồn từ những căng thẳng tài chính và kinh tế, làm giảm nguy cơ khủng hoảng lan truyền của khu vực tài chính cho nền kinh tế. 3.1 Mục tiêu của Basel III: Hạn chế rủi ro, phòng ngừa, ngăn chặn khủng hoảng tái phát và ràng buộc các ngân hàng vào trách nhiệm. 3.2 Nội dung chính: Như vậy, nếu triển khai áp dụng basel III, các NHTM sẽ cần thay đổi trên 4 nội dung chính như sau: Thứ nhất, nâng cao chất lượng vốn. Trước hết, Basel 3 sẽ giúp nâng cao chất lượng vốn của các ngân hàng một cách đáng kể. Đây là đặc điểm chính của Basel 3. Chất lượng vốn tốt hơn đồng nghĩa với việc bù đắp các khoản lỗ tốt hơn, điều này giúp cho ngân hàng “khỏe” hơn, do đó có khả năng chống đỡ tốt hơn trong thời kì khó khăn. Theo quy định hiện tại, những tài sản có chất lượng kém sẽ phải khấu trừ vào vốn (vốn cấp 1 + vốn cấp 2). Còn theo Basel 3, việc khấu trừ sẽ nghiêm ngặt hơn, khấu trừ thẳng vào vốn cổ phần thông thường. Hơn nữa, định nghĩa vốn cấp 1 cũng - 10 - quy định chặt chẽ hơn bao gồm vốn thường và các công cụ tài chính có chất lượng theo những tiêu chuẩn chặt chẽ. Thứ hai, yêu cầu các ngân hàng bổ sung thêm vốn. Theo quan điểm của Basel, chất lượng vốn tốt hơn vẫn chưa đủ. Rút kinh nghiệm từ bài học của cuộc khủng hoảng tài chính, Ủy ban Basel cho rằng khu vực ngân hàng cần nhiều vốn hơn nữa. Do đó, những tiêu chuẩn về hạn mức tối thiểu về vốn của các ngân hàng sẽ tăng mạnh trong những năm tới. Theo quy định này, các ngân hàng phải duy trì mức vốn phù hợp trên mức vốn tối thiểu tùy vào mức độ rủi ro, mô hình kinh doanh, điều kiện kinh tế. Theo Basel 3, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu vẫn là 8% nhưng tỷ lệ của loại vốn có chất lượng cao được nâng lên, cụ thể: tỷ lệ vốn cấp 1 tăng từ 4% trong Basel II lên 6% trong Basel 3, đồng thời tỷ lệ vốn của cổ đông thường (common equity) cũng được tăng từ 2% lên 4,5%. Basel 3 yêu cầu áp dụng bổ sung tỷ lệ đòn bẩy tối thiểu thử nghiệm ở mức 3%. Đây là tỷ lệ của vốn cấp 1 so với tổng tài sản hiện có cộng với các khoản mục ngoại bảng. Việc áp dụng thử nghiệm tỷ lệ này cho phép Ủy ban Basel theo dõi biến động tỷ lệ đòn bẩy thực của các ngân hàng theo chu kỳ kinh tế và mối quan hệ giữa các yêu cầu về vốn với tỷ lệ đòn bẩy. Thứ ba, giới thiệu phương pháp giám sát an toàn vĩ mô hệ thống để các ngân hàng áp dụng. Theo BIS, có hai việc cần làm để hạn chế rủi ro hệ thống hiệu quả: (1) giảm mức độ khuyếch đại của khủng hoảng theo chu kỳ kinh tế. Xu hướng hệ thống tài chính này có thể làm khuyếch đại giai đoạn thăng trầm của nền kinh tế thực; (2) mối quan hệ phụ thuộc và những rủi ro chung của các tổ chức tài chính, đặc biệt đối với những ngân hàng có vai trò quan trọng trong hệ thống. Như vậy, Basel 3 là một bước ngoặt trong việc xây dựng các quy định tài chính và là lần đầu tiên đề cập tới các thước đo giám sát an toàn vĩ mô được sử dụng để bổ sung cho phương pháp giám sát an toàn vi mô của từng tổ chức tín dụng. Ủy ban Basel đang nghiên cứu các thước đo đối với những tổ chức có tầm quan trọng đối với hệ thống. - 11 - Thứ tư, quy định về tiêu chuẩn thanh khoản đối với các ngân hàng. Basel 3 đưa ra tiêu chuẩn về thanh khoản. Đây là điều đặc biệt quan trọng chưa có tiêu chuẩn quốc tế nào quy định về vấn đề này. Tỷ lệ thanh khoản sẽ được ban hành vào 1/1/2015, giúp ngân hàng có khả năng chống đỡ ngắn hạn tốt hơn với những căng thẳng thanh khoản. Quy định này yêu cầu ngân hàng nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản cao và có chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu chi trả trong những trường hợp khó khăn. Ngoài ra, Basel III còn đưa ra các biện pháp giám sát chặt chẽ các ngân hàng và nhằm ngăn chặn việc lạm dụng chia thưởng, hoặc chia cổ tức cao trong bối cảnh tình trạng tài chính và tỷ lệ an toàn vốn không đảm bảo. Basel III cũng đồng thời rà soát lại các tiêu chuẩn về định nghĩa vốn cấp 1, vốn cấp 2 và sẽ loại bỏ các khoản vốn không đủ tiêu chuẩn khi giám sát chỉ tiêu an toàn vốn tối thiểu. Như vậy, có thể thấy rằng, loại trừ khoản vốn đệm phòng ngừa rủi ro tài chính 2,5%, tiêu chuẩn an toàn vốn tối thiểu không thay đổi (vẫn là 8%). Tuy nhiên, kết cấu của các loại vốn đã có sự thay đổi đáng kể theo hướng tăng tỷ trọng vốn cấp 1, đồng thời tăng tỷ trọng vốn chủ sở hữu phổ thông trong vốn cấp 1. Nếu tính đầy đủ cả 2 khoản vốn đệm dự phòng suy giảm tài chính và dự phòng chống hiệu ứng chu kỳ kinh tế thì tỷ lệ vốn chủ sở hữu được điều chỉnh tăng từ 2% (Basel II) tăng lên thành 9,5% (4,5% + 2,5% + 2,5%) ở Basel III. Nếu loại trừ phần vốn đệm chống chu kỳ kinh tế 2,5% (không bắt buộc trong điều kiện bình thường) thì mức tối thiểu vốn chủ cũng phải đạt mức 7%. Bên cạnh đó, có thể một số khoản trước đây được tính vào vốn chủ sở hữu nay phải bóc tách ra vì không đủ điều kiện coi là vốn chủ sở hữu. Chẳng hạn, khoản vốn vượt quá giới hạn 15% đầu tư vào các tổ chức tài chính khác, khoản vốn có nguồn gốc từ số thuế thu nhập lưu kỳ (hoãn lại)... Vì thế, yêu cầu nâng cao tỷ lệ vốn chủ sở hữu là bài toán không đơn giản đối với nhiều ngân hàng xét trong bối cảnh kinh tế xã hội đang có nhiều biến động. Các tiêu chuẩn của Basel III không có hiệu lực ngay lập tức: Chúng bắt đầu có hiệu lực từ năm 2013, được thực hiện theo một lộ trình đến hết năm 2018 và sẽ thực - 12 - hiện đầy đủ vào ngày 01/01/2019. Bảng sau sẽ cho thấy lộ trình cụ thể của việc thực thi hiệp ước Basel III Chỉ tiêu Tỷ lệ vốn chủ sở hữu tối thiểu 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 3,5% 4.0% 4,5% 4,5% 4,5% 4,5% 4,5% 0,625 1.25 1,875 % % % 5,125 5,76 6,375 % % % Vốn đệm dự phòng Vốn chủ sở hữu tối thiểu cộng vốn đệm dự phòng 3,5% 2,5% 4% 4,5% 7% 20% 40% 60% 80% 100% 100% Loại trừ khỏi vốn chủ sở hữu các khoản vốn không đủ tiêu chuẩn Tỷ lệ vốn cấp 1 tối thiểu 4,5% 5,5% 6,0% 6,0% 6,0% 6,0% 6,0% Tỷ lệ tổng vốn tối thiểu 8% 8% 8% 8% 8% 8% 8% 8% 8% 8% 8,625 9,125 9,875 10,5 Tổng vốn tối thiểu cộng vốn đệm dự phòng bắt buộc Loại trừ khỏi vốn cấp 1 và cấp 2 các khoản không đủ Thực hiện theo lộ trình 10 năm bắt đầu từ năm 2013 tiêu chuẩn Vốn dự phòng chống hiệu ứng chu kỳ Tuỳ theo điều kiện của quốc gia: mức từ 0% - 2,5% (Nguồn: http://www.basel-iii-accord.com/) 3.3 Những ưu, khuyết điểm của Basel III Ưu điểm: - 13 - - Buộc các ngân hàng phải tăng mức vốn dự trữ, đặc biệt là vốn các cổ đông hoặc của chủ sở hữu. - Gia tăng tiêu chuẩn về hạn mức tối thiểu về vốn của các ngân hàng. - Áp dụng bổ sung tỷ lệ đòn bẩy tối thiểu thử nghiệm ở mức 3% Khuyết điểm: - Cho phép Ngân hàng tự tính toán các yêu cầu về vốn dự phòng của họ, điều này dẫn đến các “xung đột về lợi ích” – Stefan Best – Giám đốc điều hành tại Standard & Poor’s. Ông Best cho rằng, các nhà điều tiết nên được trao quyền và có đủ năng lực để đánh giá nhu cầu của mỗi ngân hàng mặc dù điều này không hề dễ dàng do mô hình phức tạp của các ngân hàng. Do đó, ông Best cũng khuyến cáo nên đơn giản hóa phương thức tính toán nhu cầu vốn của các định chế tài chính. Ngoài ra, việc tính toán yêu cầu dự phòng vốn cần dựa vào sức mạnh kinh tế của riêng từng quốc gia. Ví dụ, các khoản nợ ở Đức cần ít vốn dự phòng rủi ro hơn so với ở các nước đang khủng hoảng tài chính. - Các tiêu chuẩn của Basel III không mang tính trói buộc, chỉ là cơ sở để mỗi nước soạn thảo những quy định riêng sao cho thống nhất với nguyên tắc chung. Điều này dẫn đến sự khác biệt giữa các nước trong việc thực hiện các quy định Basel. - Tiêu chuẩn đòn bẩy so sánh vốn với toàn bộ tài sản mà không tính đến rủi ro, mục tiêu là giới hạn tỉ lệ vốn mà ngân hàng có thể vay so với cổ phần thường. Các ngân hàng châu Âu đã phản đối tỉ lệ đòn bẩy với lập luận là chế độ kế toán bảng cân đối ngân hàng Mỹ hẹp hơn so với các đối tác quốc tế nên việc hạn chế đòn bẩy có thể dẫn đến sự đối xử không công bằng đối với các ngân hàng ngoài Mỹ. - Dựa vào xếp hạng tín dụng quá nhiều. Xếp hạng tín dụng chỉ nên được sử dụng như một trong những công cụ quản lý rủi ro. - Các ngân hàng vẫn tin tưởng sử dụng mô hình nội bộ của họ để quản lý rủi ro, dẫn đến mắc phải nhiều sai sót đáng kể trong nhiều tình huống. - 14 - - Trọng số rủi ro vẫn cho phép các ngân hàng tạo ra đòn bẩy hiệu quả rất cao. Các ngân hàng cần nắm giữ các tài sản cầm cố để chống lại các tài sản có tỷ lệ rủi ro cao. Đây là động cơ để tìm ra các tài sản có tỷ lệ rủi ro thấp và sau đó có thể tận dụng được. Ví dụ: Nợ công được xếp hạng AA sẽ vẫn mang trọng số nợ là 0. - Basel III quy định chung cho tất cả các nước. Tuy nhiên mỗi quốc gia lại có các điều kiện kinh tế khác nhau, điều này gây khó khăn cho các thị trường mới nổi trong việc áp dụng Basel III. - 15 - III. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI BASEL III - Thứ nhất, việc áp dụng Basel III sẽ buộc các ngân hàng phải dành nhiều vốn dự phòng hơn, do đó sẽ giảm bớt lượng vốn cho vay ra nền kinh tế điều này sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Theo một nghiên cứu công bố ngày 17/02/2011 của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) ước tính việc triển khai quy chế Basel III trong trung hạn sẽ khiến GDP toàn cầu giảm từ 0,05 - 0,15% mỗi năm. Điều này được lý giải do các ngân hàng đòi hỏi phải để dành nhiều vốn dự phòng hơn, do đó sẽ giảm bớt lượng vốn cho vay ra nền kinh tế. Viện tài chính quốc tế (IIF), một hiệp hội của các ngân hàng và các tổ chức tài chính, cũng chỉ trích Basel III sẽ làm giảm GDP của Hoa Kỳ và Anh còn 3,2% trong năm 2015, đồng thời làm tăng lãi suất cho vay khoảng 5 điểm phần trăm. - Trong một nghiên cứu công bố vào tháng 09/2012, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cho rằng Basel III sẽ không làm giảm hoạt động cho vay hoặc gây tổn hại cho kinh tế như lo ngại OECD. Nghiên cứu chỉ ra rằng lo ngại của các tổ chức tài chính về những quy tắc vốn trong Basel III, cũng như sự gia tăng trong phí bảo hiểm tiền gửi và các quy tắc minh bạch đã bị thổi phồng quá mức. - Thứ hai, điều kiện kinh tế của các nước phát triển và đang phát triển hoàn toàn khác nhau do đó việc áp dụng chung một quy chuẩn của Basel cho cả hai thì không phù hợp và khó thực hiện. Các nước đang phát triển hệ thống cơ sở vật chất, công nghệ và khả năng quản lý trong hoạt động ngân hàng còn kém xa so với các nước phát triển. Trong khi đó Basel III được xây dựng dựa trên những quy chuẩn của các ngân hàng thuôc nhóm G20. Đồng thời mục tiêu của hai nền kinh tế này lại có sự khác biệt “Mục tiêu của các thị trường mới nổi là tăng trưởng để đáp ứng nhu cầu của dân số đang tăng nhanh. Điều tiết chặt hơn có thể khiến các ngân hàng của họ vững - 16 - mạnh hơn nhưng lại có nguy cơ làm giảm sút tăng trưởng” - Michael Taylor, Cố vấn Ngân hàng Trung ương Barain, nói. - Thứ ba, Basel II, Basel III có là những biểu tượng chất lượng đảm bảo an toàn không? Basel I được tạo ra những năm 90 của thế kỷ trước để đối phó với tác động của sự sụp đổ TTCK. Sau đó là Basel II nhưng vẫn xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 và giờ đây là Basel III. - Một số quan điểm cho rằng, các qui định Basel III quá yếu ớt và có thể dẫn đến hậu quả nguy hiểm khôn lường, khi qui định này cho phép các ngân hàng duy trì ít vốn hơn so với tài sản được cho là ít rủi ro hơn, như trái phiếu chính phủ chẳng hạn, và khủng hoảng nợ châu Âu đã chỉ ra mối nguy hiểm tiềm tàng của cách tiếp cận này. - Dù vậy, IMF cho rằng các quy chuẩn Basel III vẫn chưa đủ mạnh để đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng. Trong khi đó, trưởng bộ phận Ngân hàng tư nhân thuộc UniCredit cho rằng Basel III có lợi cho các ngân hàng tư vì các ngân hàng này sẽ không phải hấp thụ nhiều vốn. - Thứ tư, các nước có nhất thiết phải áp dụng Basel không? Điều này còn tùy thuộc vào tình hình thực tế tại mỗi quốc gia. “Quan trọng là ngân hàng tốt nhất, chứ không phải là ngân hàng tuân thủ tốt nhất", ông Philippe Carrel, Phó chủ tịch điều hành, quản lý rủi ro của Thomson Reuters phát biểu tại hội thảo Rủi ro Việt Nam 2011 (RiskVietnam) được AsiaRisk tổ chức ngày 26/04 tại Hà Nội. - 17 - IV. LỘ TRÌNH VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG BASEL TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM 1. Lộ trình Hiện nay, các ngân hàng thương mại Việt Nam mới ở giai đoạn đầu của việc thực hiện Basel II trong khi thế giới đã phấn đấu thực hiện Basel III, do đó, các ngân hàng Việt Nam sẽ phải tiếp cận chuẩn an toàn theo cách của riêng mình mà không nhất thiết phải đi theo trình tự Basel I, II, III. Văn bản đầu tiên có quy định về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là Quyết định 297/1999/QĐ-NHNN5 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại. Tại quy định này, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu được xác định là 8% nhưng phương pháp tính đơn giản và chưa phản ánh chính xác tinh thần Basel I. Đến năm 2005, NHNN đã ban hành Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN với tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu vẫn là 8% nhưng phương pháp tính toán đã tiếp cận tương đối toàn diện Base I. Năm 2010, NHNN ban hành Thông tư số 13/TT-NHNN thay thế Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN, nâng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu lên 9% và phương pháp tính toán đã từng bước tiếp cận Basel II, chính thức có hiệu lực từ 01/10/2010. Cũng theo Thông tư 13, các khoản để tính vốn cấp 1 bao gồm vốn điều lệ, quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ, lợi nhuận không chia, thặng dư cổ phần được tính vào vốn theo quy định của pháp uật trừ đi phần dùng để mua cổ phiếu quỹ (nếu có).Trong khi các khoản để tính vốn cấp 2 được xác định là 50% số dư có tài khoản đánh giá lại tài sản cố định theo quy định của pháp luật, 40% số dư có tài khoản đánh giá lại tài sản tài chính theo quy định của pháp uật, quỹ dự phòng tài chính, trái phiếu chuyển đổi do tổ chức tín dụng phát hành thỏa mãn các - 18 - điều kiện đưa ra (như kỳ hạn ban đầu tối thiểu là 5 năm…), các công cụ nợ thỏa mãn các điều kiện đưa ra (như có kỳ hạn ban đầu tối thiểu trên 10 năm…). Basel III với những quy định mới về khái niệm và các tiêu chuẩn tối thiểu cao hơn cùng với phương pháp giám sát an toàn vĩ mô và sự thay đổi lịch sử trong quy định về hoạt động ngân hàng. Ủy ban Basel cùng các nhà lãnh đạo của các nước G20 đã thống nhất rằng cuộc cải tổ này sẽ được triển khai sao cho không ảnh hưởng tới tốc độ phục hồi kinh tế của các nước. Ngoài ra, sẽ cần có thời gian để đưa những tiêu chuẩn quốc tế mới vào những quy định riêng của các quốc gia. Theo tinh thần như vậy, BIS đã đưa ra một lộ trình để thực hiện bất đầu từ tháng 1/2013 và hoàn thành vào cuối năm 2018, với lộ trình cụ thể như sau: - Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 8% vẫn được giữ nguyên. -Tỷ lệ an toàn vốn cấp 1 tối thiểu được bắt đầu áp dụng vào 01/01/2015 với mức 4,5%, và phải đạt được mức 6% trước 01/01/2019. - Tỷ lệ an toàn vốn cổ phần thường tối thiểu cũng được bắt đầu áp dụng từ 01/01/2015 với mức 3,5%, và phải đạt được mức 4,5% trước 01/01/2019. - Tỷ lệ dự phòng bảo toàn vốn được bắt đầu tính từ 01/01/2016 với mức 0,625%, và hoàn thành mức 2,5% trước 01/01/2019. - Lộ trình loại bỏ các khoản giảm trừ khỏi vốn cấp 1 được áp dụng từ 01/01/2014 với mức 20%, và đến trước 01/01/2019 sẽ loại bỏ được 100%. 2. Thực trạng áp dụng Basel trong hệ thống Ngân hàng Việt Nam Hiện nay, khi các ngân hàng trên thế giới đã đề cập tới việc áp dụng chuẩn mực Basel III thì các ngân hàng ở Việt Nam vẫn chưa chính thức đề cập tới việc áp dụng một chuẩn mực nào của Basel. Mặc dù các quy định trong những năm gần đây của Ngân hàng Nhà nước như Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN và Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN, Thông tư số 13, 19 năm 2010 cũng đã đề cập tới một số vấn đề liên quan tới các điều khoản trong hiệp định Basel nhưng vẫn ở mức rất hạn chế. Việc các ngân hàng thương mại tại Việt Nam chưa áp dụng các chuẩn mực của Basel một - 19 - cách chính thức nhằm nâng cao chất lượng quản lý rủi ro trong khi các ngân hàng trên thế giới đã có những bước phát triển cao hơn sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của các ngân hàng thương mạiViệt Nam. Việc tiếp cận với các chuẩn mực của Basel, đặc biệt là Basel II đòi hỏi kỹ thuật phức tạp và chi phí khá cao. Đối với một nước có hệ thống ngân hàng mới đang ở giai đoạn phát triển ban đầu như Việt Nam, việc áp dụng Basel II gặp nhiều khó khăn, thách thức và mất nhiều thời gian. Tuy nhiên, trước xu thế hội nhập và mở cửa thị trường dịch vụ tài chính – ngân hàng với nhiều loại hình dịch vụ ngân hàng mới, việc từng bước áp dụng các chuẩn mực Basel tại Việt Nam là yêu cầu cấp thiết nhằm tăng cường năng lực hoạt động, giảm thiểu rủi ro đối với các ngân hàng thương mại và nâng cao năng lực cạnh tranh trong thị trường tài chính quốc tế, tạo điều kiện cho các ngân hàng Việt Nam có thể mở rộng thị trường trong thời gian tới. 2.1 Quy định an toàn vốn tối thiểu: Quy mô vốn tự có là một trong những tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá mức độ an toàn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng theo thông lệ quốc tế. Tại Việt Nam, sự tăng trưởng vốn của ngân hàng luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà quản trị ngân hàng trong các mục tiêu, chiến lược, kế hoạch hành động. Các tổ chức như Cơ quan thanh tra giám sát Ngân hàng, Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia cũng như Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam luôn đưa ra nhiều cơ chế, chính sách đánh giá năng lực tài chính của ngân hàng, trong đó nhấn mạnh việc tăng vốn tự có để đảm bảo an toàn hệ thống tài chính. Nhóm ngân hàng Năm 2012 Quý 1/2013 Quý 2/1013 Toàn hệ thống 135,919 415,260 438,274 NHTM NN 171,797 135,919 153,139 NHTM CP 94,953 171,797 176,400 - 20 -
- Xem thêm -