Skkn sử dụng tài liệu văn học giúp học sinh hứng thú học tập lịch sử việt nam lớp 8, 9

  • Số trang: 28 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 15 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI: "SỬ DỤNG TÀI LIỆU VĂN HỌC GIÚP HỌC SINH HỨNG THÚ HỌC TẬP LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 8, 9" 1 Phần một ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Đặc điểm bộ môn Dạy học lịch sử ở trường phổ thông là một quá trình giáo viên cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản của sử dân tộc nói riêng và lịch sử nhân loại nói chung, nhằm phục vụ cho việc giáo dục học sinh phát triển toàn diện. Lịch sử vốn tồn tại khách quan và đã diễn ra trong quá khứ, cho nên muốn học sinh tiếp thu được vấn đề đòi hỏi giáo viên phải lựa chọn các phương pháp dạy học khác nhau sao cho đạt kết quả cao. Với phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm, học sinh chủ động lĩnh hội tri thức, càng đòi hỏi người thầy giáo phải khai thác triệt để các phương pháp dạy học tích cực để thu hút sự chú ý của học sinh. Đồng thời lôi cuốn sự ham mê đối với học sinh học môn lịch sử trong tình hình hiện nay. Đặc thù của bộ môn Lịch sử là: dài, nhiều sự kiện với những mốc Lịch sử khác nhau nên khó ghi nhớ. 2. Lí do chọn đề tài Trong nhà trường phổ thông, bộ môn lịch sử là một trong những bộ môn có tầm quan trọng và có tính giáo dục rất lớn, nó cung cấp cho học sinh một bức tranh sinh động về lịch sử loài người và lịch sử dân tộc Từ đặc điểm bộ môn và yêu cầu thực tế, đòi hỏi chúng ta phải đổi mới phương pháp dạy học lịch sử nhằm giúp học sinh hứng thú học tập, phát huy tính tích cực của học sinh, giúp học sinh tư duy và nắm được nội dung kiến thức trọng tâm. Vì vậy người giáo viên phải sử dụng đến kiến thức các môn học khác như: Địa, công dân, văn học,… những bộ môn đó làm cho giờ học lịch sử sống động hơn, hấp dẫn học sinh hơn. Trong đó, nếu giáo viên biết vận dụng một số câu trích dẫn, câu văn, câu thơ, đoạn trích để miêu tả tường thuật một sự kiện, một cuộc đời hoạt động của nhân vật, một cuộc cách mạng…sẽ làm phong phú tri thức học sinh, giúp học sinh yêu thích, hứng thú say mê học tập môn lịch sử và sẽ làm bớt đi sự khô khan của giờ học môn lịch sử. Để góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng, tôi xin trình bày một số vấn đề về việc: “Sử dụng tài liệu văn học giúp học sinh hứng thú học tập lịch sử Việt Nam lớp 8, 9”. Với việc nghiên cứu đề tài này, tôi mong muốn sẽ góp phần giúp giáo viên có một giờ dạy học có hiệu quả tốt hơn, học sinh tự giác, chủ động lĩnh hội kiến thức và ngày càng yêu thích học môn lịch sử. 3. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu: 2 Đề tài nghiên cứu giảng dạy và học tập với nội dung “Gây hứng thú học tập lịch sử bằng tài liệu văn học”. Đối tượng nghiên cứu mà tôi áp dụng cho đề tài này là: Học sinh lớp 8A, 8B, 9A và 9B của trường THCS Ba Vinh. Đề tài được thực hiện trong năm học 2012- 2013 và các năm tiếp theo tại trường THCS Ba Vinh và có thể nhân rộng ra các đơn vị bạn. 4. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp sưu tầm sử liệu. - Phương pháp phân tích. - Phương pháp tổng hợp. - Phương pháp khái quát. - Thể nghiệm trên lớp. Phần hai NỘI DUNG Chương I CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1. Cơ sở lí luận Bác Hồ kính yêu dạy “Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” Tại kỳ họp của Quốc hội khoá X năm 2000, Quốc hội X đã thông qua Nghị quyết số 40/2000/QH10 về vấn đề đổi mới chương trình giáo dục phổ thông. Tiếp đó ngày 11/6/2001 Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 14/2001/CT-TTg về đổi mới giáo dục phổ thông. Trong đó nhấn mạnh mục tiêu của chương trình đổi mới giáo dục phổ thông là nhằm thay đổi cách dạy và học theo hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh. Một trong những phương pháp để tích cực hoá hoạt động dạy và học đó là việc dạy học liên môn. Dạy học liên môn là một trong những nguyên tắc quan trọng của dạy học ở trường phổ thông nói chung, môn lịch sử nói riêng. Nó góp phần bổ sung lượng kiến thức các môn học khác cho bài học, giúp học sinh hứng thú say mê học tập, góp phần nâng cao hiệu quả bài học, đồng thời từ đó học sinh hướng đến và làm theo những điều tốt đẹp vì con người. 3 Mặt khác, bộ môn lịch sử cung cấp cho học sinh những tri thức ở nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc và thế giới (cả tri thức về khoa học xã hội và khoa học tự nhiên). Do đó việc dạy học liên môn là dùng các kiến thức ở các bộ môn khác bổ sung, hỗ trợ làm sáng rõ hơn kiến thức mà học sinh đang được học trong môn học, cụ thể ở đây là bộ môn lịch sử và việc sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử. Từ cơ sở đó tôi mạnh dạn xin trình bày những kinh nghiệm về sử dụng tài liệu văn học trong giờ học lịch sử. 1.2. Cơ sở thực tiễn “Lịch sử là những gì đã diễn ra trong quá khứ; lịch sử loài người mà chúng ta học là toàn bộ những hoạt động của con người từ khi xuất hiện đến nay” (SGK Lịch sử 6 – trang 3 – NXB Giáo dục năm 2002) Như vậy, qua khái niệm trên chúng ta đều thấy rằng: Việc học lịch sử có nét đặc trưng riêng, có cái khó riêng. Đó là người học không thể tri giác trực tiếp; không thể “sờ” hay làm thí nghiệm trong phòng thí nghiệm.... mà buộc phải tư duy, phải trừu tượng hoá, khái quát hoá để dựng lại những gì đã diễn ra trong quá khứ, thông qua các sự kiện, niên đại, nhân vật....Để làm được điều đó ngoài việc sử dụng các nguồn tư liệu sử học (hiện vật, văn tự cổ....) thì việc sử dụng các tác phẩm văn học có tác dụng rất lớn trong việc “dựng lại” lịch sử. Bên cạnh đó, việc dạy và học lịch sử ở nhiều trường phổ thông hiện nay đang gặp nhiều khó khăn. Đó là tình trạng đại bộ phận học sinh đang dần “xa lánh” môn lịch sử, không còn hứng thú với việc học tập môn lịch sử. Đây là thực trạng đáng buồn, bởi vì sử học ở trường phổ thông có vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm và hình thành nhân cách của học sinh. Trong quá trình giảng dạy môn lịch sử, ở các bài học nội dung truyền đạt cho học sinh chỉ là những kênh chữ, một vài bài có cung cấp thêm hình ảnh, trong các tiết dạy lịch sử đa số giáo viên chỉ chú ý bám sát nội dung kiến thức trong sách giáo khoa mà chưa chú ý sử dụng những hình thức khác để bổ trợ làm cho tiết học thêm sinh động. Ví dụ như: cung cấp thêm những hình ảnh ngoài sách giáo khoa hoặc những mẫu chuyện kể về những con người đã góp phần xây dựng đất nước để có được những thành tựu của hôm nay mà trong sách giáo khoa không đề cập đến một cách đầy đủ. Qua tiết dạy lịch sử tại đơn vị, không những không đem lại hứng thú cho học sinh, mà tiết học trở nên khô khan, đôi lúc học sinh lại có những suy nghĩ lệch lạc về những nhân vật lịch sử hoặc những sự kiện lịch sử quan trọng. 4 Tìm hiểu nguyên nhân của hiện tượng trên, theo tôi có nhiều nguyên nhân. Trong đó nguyên nhân quan trọng dẫn tới hiện tượng trên đó là: Giáo viên dạy sử còn để giờ dạy sử quá khô khan, nặng nề nên thiếu sự thu hút đối với học sinh. Do đó, để khắc phục hiện tượng này, theo tôi ngoài việc đổi mới phương pháp, tăng cường sử dụng đồ dùng trực quan.... thì chúng ta cần sử dụng nhiều hơn nữa nguồn tài liệu văn học trong giờ học lịch sử để làm bài giảng thêm sinh động, hấp dẫn hơn. Chương II THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1. Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện đề tài 2.1.1. Thuận lợi Thứ nhất: Bản thân là một giáo viên có nhiều năm tham gia giảng dạy môn Lịch sử 8, 9 nên nắm bắt rất rõ đặc điểm của bộ môn, mục đích, yêu cầu của chương trình và nắm bắt rất rõ những khó khăn mà các em gặp phải khi lĩnh hội kiến thức lịch sử. Thứ hai: Từ năm học 2011-2012 trường tôi có hai giáo viên giảng dạy bộ môn Lịch sử với trình độ chuẩn trở lên, đó là điều kiện để chúng tôi thường xuyên thực hiện các chuyên đề, dự giờ, thao giảng và rút kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng bộ môn. Thứ ba: Ngày nay với sự bùng nổ của các phương tiện thông tin truyền thông đã giúp các em tiếp cận Lịch sử với nhiều nguồn khác nhau để lĩnh hội kiến thức Lịch sử một cách đầy đủ nhất. Bên cạnh đó các em nhìn nhận bộ môn Lịch sử cũng theo chiều hướng tích cực hơn. Thứ tư: Học sinh Trường trung học cơ sở Ba Vinh đa số các em đều ngoan, được trang bị đầy đủ sách giáo khoa, và có thư viện với các đầu sách để các em tham khảo. Thứ năm: Bản thân có sức khoẻ tốt, có thời gian công tác giảng dạy; được Ban giám hiệu, tổ chuyên môn cùng đồng nghiệp trong đơn vị giúp đỡ, tạo điều kiện để hoàn thành tốt nhiệm vụ. 2.1.2. Khó khăn Thứ nhất: Học sinh Trường trung học cơ sở Ba Vinh có đến 99 % là con em đồng bào các dân tộc thiểu số, đời sống vật chất khó khăn, trình độ không đồng đều nên chất lượng bộ môn thấp, có hạn Thứ hai: Chưa có phòng học bộ môn, các trang thiết bị phục vụ dạy học vẫn còn thiếu, xuống cấp. Thứ ba: Đa số các em chưa biết khai thác các kênh thông tin để nâng cao hiệu quả lĩnh hội kiến thức Lịch sử. 5 Thứ tư: Phương pháp nghiên cứu, trình bày, phân tích còn hạn chế.... Thứ năm: Nguồn tài liệu tham khảo còn hiếm, khó sưu tầm (đặc biệt nguồn văn học dân gian). 2.2. Thực trạng vấn đề 2.2.1. Đối với giáo viên Là giáo viên đã công tác được gần 12 năm trong ngành, trong quá trình được tham gia tập huấn, dự giờ đồng nghiệp và hơn hết là có nhiều năm trực tiếp giảng dạy bộ môn lịch sử tôi thấy nhiều giáo viên vẫn xem nhẹ bộ môn của mình, tâm lí môn lịch sử là môn phụ, đã làm cho không ít giáo viên có suy nghĩ “dạy cho xong”, hoặc là chỉ truyền tải những gì trong sách giáo khoa yêu cầu, mà không chú ý đến việc đầu tư chiều sâu cho bài giảng, mặt khác chương trình lịch sử lớp 8, 9 vẫn còn dài, nặng về kiến thức, làm cho học sinh khó khăn trong việc lĩnh hội kiến thức. Bên cạnh đó, quá trình đào tạo chính quy chuyên ngành lịch sử chỉ có ở bậc đại học còn ở bậc cao đẳng thì đào tạo môn kép như: Sử - Giáo dục công dân, Sử - Địa, Văn - Sử… đã làm cho chất lượng đội ngũ giáo viên chưa cao. 2.2.2. Đối với học sinh Tâm lí học sinh vẫn xem nhẹ bộ môn Lịch sử, coi môn Lịch sử là môn phụ, các em chưa thực sự tập trung tìm hiểu sâu bài học mà chỉ dừng lại ở mức độ học thuộc những gì thầy cô cho ghi, mặt khác bộ môn Lịch sử vốn khô khan, dễ nhàm chán, nhiều giáo viên chưa có phương pháp phù hợp, nên các em không ưa thích, không hứng thú học tập. Đầu năm học 2013-2014 để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài tôi có làm một bài tập trắc nghiệm để tìm hiểu động cơ và thái độ học tập của 113 học sinh lớp 8, 9 trường THCS Ba Vinh như sau: Hãy chọn phương án mà em cho là phù hợp với bản thân em? Stt Phương án 1 Lịch sử chỉ là môn học phụ 2 Môn lịch sử rất khô khan và dài dòng 3 Học lịch sử rất thú vị vì nó giúp em tìm hiểu được lịch sử loài người và lịch sử dân tộc 4 Học lịch sử chỉ cần học những gì thầy cô cho ghi là Đúng Sai 6 được, không cần phải tìm tòi thêm Kết qủa thu được như sau: Câu 1: 82 học sinh trả lời đúng, 31 học sinh trả lời sai Câu 2: 75 học sinh trả lời đúng, 38 học sinh trả lời sai Câu 3: 50 học sinh trả lời đúng, 63 học sinh trả lời sai Câu 4: 72 học sinh trả lời đúng, 41 học sinh trả lời sai Qua kết quả thu được từ bài tập trắc nghiệm chúng ta có thể kết luận: Đa số học sinh vẫn coi Lịch sử là môn phụ, khô khan, dài dòng và chỉ cần học những gì mà thầy cô cho ghi là được. Trong những năm gần đây kết quả các kì thi đại học, cao đẳng cho thấy đa số học sinh không nắm được những kiến thức của Lịch sử dân tộc, tỉ lệ điểm môn lịch sử đạt trên điểm trung bình rất thấp, điều đó làm cho chúng ta không khỏi băn khoăn và càng thấy sự cấp bách của việc thay đổi phương pháp dạy học. Từ những thực trạng trên và nhiều năm giảng dạy bộ môn lịch sử 8, 9 tôi muốn chia sẻ với đồng nghiệp những kinh nghiệm “Sử dụng tài liệu văn học giúp học sinh hứng thú học tập lịch sử Việt Nam lớp 8, 9” và mong muốn làm sao cho các em đừng lãng quên lịch sử. Chương III GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ “SỬ DỤNG TÀI LIỆU VĂN HỌC GIÚP HỌC SINH HỨNG THÚ HỌC TẬP LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 8, 9” Văn học và sử học có mối quan hệ mật thiết với nhau, trước đây người ta cho rằng “Văn, Sử, Triết bất phân” bởi lúc đó Văn học, Sử học, Triết học chưa trở thành những môn khoa học độc lập, còn ngày nay chúng đã trở thành các môn khoa học độc lập, nhưng giữa chúng vẫn có mối quan hệ mật thiết với nhau. Do đó, Văn học bổ trợ cho Sử học, ngược lại Sử học bổ trợ cho Văn học, vì vậy nếu chúng ta biết vận dụng yếu tố Văn học trong dạy học Lịch sử thì hiệu quả dạy học Lịch sử sẽ được nâng lên. 3.1. Tài liệu tham khảo trong dạy học lịch sử Theo tiến sĩ N.G Đairi trong cuốn “Chuẩn bị bài học lịch sử như thế nào” (NXB Giáo dục Hà Nội 1973 – trang 35). Thì bài giảng lịch sử trên lớp nên thực hiện theo sơ đồ sau: 1 2 7 2 3 Trong đó, con số 1 chỉ phần tài liệu tham khảo không có trong SGK, giáo viên đưa vào bài giảng nhằm nâng cao tính khoa học, sự trong sáng vừa sức, sự hấp dẫn lôi cuốn của giờ học lịch sử. Ngoài SGK, tài liệu tham khảo có vị trí, ý nghĩa quan trọng trong việc làm phong phú kiến thức lịch sử đang học, hiểu sâu hơn quá khứ, tạo bài giảng hấp dẫn, sinh động có sức lôi cuốn học sinh. Phân loại tài liệu tham khảo, theo tài liệu BDTX chu kì III, nó có các loại như sau: - Tài liệu lịch sử gốc: Gồm các văn kiện, tài liệu có liên quan trực tiếp đến sự kiện, ra đời vào thời điểm xảy ra sự kiện như các hiệp ước, điều ước, tuyên ngôn.... Ví dụ: Hiệp ước Hác Măng (1883); tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước VNDCCH (2/9/1945). - Tài liệu, văn kiện của Đảng, Nhà nước, phong trào công nhân và cộng sản Quốc tế.... - Các tài liệu văn học (văn học dân gian, văn học bác học, văn học hiện đại...) - Tài liệu lịch sử rút ra từ các công trình nghiên cứu sử học, dân tộc học.... Như vậy, trong giờ dạy học việc sử dụng tài liệu tham khảo giúp học sinh có thêm cơ sở để nắm vững, hiểu bản chất sự kiện lịch sử, hình thành khái niệm, hiểu rõ quy luật, bài học của lịch sử, nó giúp các em khắc phục việc “hiện đại hoá” lịch sủ hoặc “hư cấu” sai sự thực lịch sử. 3.2. Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học Lịch sử 3.2.1. Vai trò, ý nghĩa của tài liệu văn học Tài liệu văn học trong quá trình dạy học lịch sử ở trường phổ thông có vai trò to lớn. Trước hết, các tác phẩm văn học với những hình tượng cụ thể có tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm của học sinh, nó giúp học sinh tiếp nhận kiến thức, khắc sâu kiến thức một cách dễ dàng hơn. Ví dụ: Khi dạy bài 20 (lịch sử 6) – “Từ sau Trưng Vương đến trước Lí Nam Đế” ở mục 4. Cuộc khởi n ghĩa Bà Triệu (năm 248) để khắc sâu hình ảnh oai phong của Bà Triệu khi xung trận giáo viên nên sử dụng 2 câu thơ sau: Hoành qua đương hổ dị (Vung giáo chống hổ dể) Đối diện bà vương nan (Giáp mặt vua Bà Khó) 8 Thứ hai, các tác phẩm văn học góp phần làm cho bài giảng thêm sinh động, hấp dẫn nâng cao, hứng thú của học sinh. 3.2.2. Các loại tài liệu văn học và cách sử dụng Trong việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông tuỳ vào từng khoá trình, nội dung từng bài, từng phần mà giáo viên có thể đưa vào bài giảng các loại tài liệu văn học khác nhau như: Văn học dân gian; tác phẩm văn học ra đời vào thời kì xảy ra sự kiện lịch sử; Tiểu thuyết lịch sử; Hồi kí cách mạng.... Mỗi loại lại có ý nghĩa khoa học riêng, dó đó khi sử dụng phải phù hợp với yêu cầu bài giảng; với từng sự kiện, nhân vật lịch sử mà giáo viên lựa chọn đưa vào. a. Văn học dân gian Văn học dân gian ra đời từ rất sớm và rất phong phú với nhiều thể loại khác nhau như thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, ca dao, dân ca.... Đây là những tài liệu có giá trị, nó phản ánh nội dung nhiều sự kiện quan trọng trong lịch sử dân tộc. Ví dụ như: khi dạy bài 15 “Nước Âu Lạc”. Khi giảng dạy về việc xây dựng thành Cổ Loa và cuộc kháng chiến chống quân xâm lượcTriệu, giáo viên có thể đưa vào đó một số câu chuyện cổ tích về Nỏ Thần, về xây Thành Cổ Loa. Nhưng quan trọng hơn là qua những câu chuyện đó giáo viên phải giúp học sinh thấy được bước tiến lớn của quân dân Âu Lạc về kĩ thuật xây dựng cũng như kĩ thuật chế tác vũ khí. Các loại hình văn học dân gian còn góp phần minh hoạ, làm rõ sự kiện, nhân vật lịch sử. Do đó, giáo viên nên đưa vào để học sinh hiểu rõ hơn về sự kiện, nhân vật lịch sử đó.... Không những vậy, tài liệu văn học dân gian còn làm cho bài học sinh động, tạo được không khí gần gũi với bối cảnh lịch sử đang học. Nó phản ánh những hiểu biết về các sự kiện lịch sử đang học, giúp học sinh hiểu được vấn đề cụ thể rõ ràng hơn. Ngoài ra, việc sử dụng tài liệu văn học dân gian còn giúp học sinh biết được, hiểu được về chí khí con người, về địa danh của một nhân vật lịch sử nào đó. Ví như khi nói về Lí Công Uẩn giáo viên có thể dùng 4 câu thơ sau: “Màn có trời cao, chiếu đất liền Đêm trăng thanh thả giấc thần tiên Suốt đêm nào dám vung chân duỗi Chỉ sợ sơn hà xã tắc nghiêng.” 9 Bên cạnh những tác dụng trên, việc sử dụng tài liệu văn học dân gian sẽ giúp cho việc giáo dục tư tưởng, đạo đức nói chung và giáo dục truyền thống dân tộc nói riêng có kết quả hơn. Chẳng hạn như: để giáo dục truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc, giáo viên có thể sử dụng trong bài giảng những tác phẩm như: Hịch Tướng Sĩ; bài thơ Thần của Lí Thường Kiệt;.... Hoặc để giáo dục lòng biết ơn các vua Hùng, giáo viên sử dụng hai câu nói của Bác Hồ: “Các vua Hùng đã có công dựng nước Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước.” b. Các tác phẩm văn học ra đời vào thời kì diễn ra các sự kiện lịch sử Đối với các tác phẩm văn học này, nó có ý nghĩa rất lớn đối với khi khui lại hình ảnh quá khứ. Nó làm quá khứ của sự kiện lịch sử trở lên sống động hơn, chân thật hơn. Sự kiện trở nên có sức sống hơn và thu hút học sinh hơn khi theo dõi bài giảng. Trong quá trình lịch sử từ đầu thế kỉ XX, khi nói về sự biến đổi của xã hội Việt Nam, cũng như thân phận của người nông dân trong xã hội thuộc Pháp. Giáo viên có thể sử dụng nhiều tác phẩm văn học có giá trị như: “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố; “Bước đường cùng” của Nguyễn Công Hoan; “Lão Hạc” của Nam Cao.... để khắc sâu hình ảnh thân phận người nông dân trong lòng xã hội cũ. Như vậy có thể nói rằng các tác phẩm văn học, xuất hiện cùng thời kì diễn ra các sự kiện lịch sử, đã giúp học sinh thấy được “bức tranh” sống động của lịch sử, làm cho các em nhận thức được sự kiện đómột cách toàn diện hơn. c. Tiểu thuyết lịch sử Tiểu thuyết lịch sử có vai trò không nhỏ đối với việc dạy học lịch sử, vì các tiểu thuyết này có chủ đề gần với những sự kiện trong khoá trình lịch sử, giúp học sinh khôi phục lại bối cảnh lịch sử, hình ảnh các sự kiện nhân vật của quá khứ. Ví như: Tiểu thuyết “Đêm hội long trì”; tác phẩm “Hoàng Lê Nhất Thống Chí”.....tuy nhiên khi dạy giáo viên cần lựa chọn, sáng lọc loại bỏ những tiểu thuyết bịa đặt, ảnh hưởng xấu đến nhận thức lịch sử của học sinh. 3.3. Phương pháp sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử Theo Trịnh Tùng, trong cuốn Phương pháp dạy học lịch sử (trang 164. NXB Giáo Dục 1999) để sử dụng tài liệu văn học trong giờ dạy lịch sử, có thể tiến hành theo cách sau: Thứ nhất: Đưa vào bài giảng một đoạn thơ, đoạn văn ngắn nhằm minh hoạ những sự kiện đang học làm cho nội dung bài học được phong phú và giờ học thêm sinh động. 10 Thứ hai: Dùng một đoạn trích để cụ thể hoá sự kiện, nêu ra kết luận khái quát giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn một thời kì, một sự kiện lịch sử. Thứ ba: Tài liệu văn học được sử dụng để tổ chức những buổi ngoại khoá (Dạ hội lịch sử). Tuỳ vào nội dung bài học, tiết dạy và năng lực của mỗi giáo viên mà chúng ta có thể sử dụng một trong những cách trên sao cho phù hợp. 3.4. Một số yêu cầu khi sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử Sử dụng tài liệu văn học trong giờ học sử giúp giờ học trở nên sinh động, hấp dẫn lôi cuốn học sinh, giúp học sinh có cái nhìn đa chiều đối với một sự kiện, một nhân vật, một hiện tượng lịch sử. Dễ dàng đưa kiến thức sử đến với học sinh. Tuy vậy, theo tôi việc sử dụng tài liệu văn học trong giờ học sử phải đảm bảo các yêu cầu sau: Thứ nhất: Tài liệu văn học đó phải đảm bảo cả giá trị giáo dưỡng, giáo dục và giá trị văn học. Thứ hai: Tài liệu ấy phải là một bức tranh sinh động về những sự kiện, nhân vật lịch sử đang học phải phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh. Thứ ba: Đối với giáo viên: - Trước khi sử dụng, cần có sự lựa chọn kĩ càng, phải loại bỏ những yếu tố không phù hợp. Đặc biệt đối với tài liệu văn học dân gian như thần thoại, cổ tích, ca dao, dân ca.... giáo viên cần loại bỏ những yếu tố thần bí hoang đường giữ lại những điểm cơ bản, khoa học phục vụ bài giảng. - Khi sử dụng giáo viên chỉ đưa vào những nội dung phù hợp, tránh việc lạm dụng đưa vào quá nhiều, làm loãng nội dung bài học lịch sử, biến giờ học sử thành giờ giới thiệu các tác phẩm văn học, ảnh hưởng tới sự tập trung nhận thức của học sinh vào những vấn đề đang học. Đồng thời, giáo viên cần sử dụng ngữ điệu phù hợp với tài liệu văn học, với nội dung sự kiện lịch sử cần minh hoạ phải đưa vào bài giảng một cách hợp lí, lôgíc.... làm được điều đó thì tính thuyết phục, hấp dẫn sẽ tăng lên rất nhiều. Nói tóm lại, việc sử dụng tài liệu văn học trong giờ học sử là một trong những cách thức để giáo viên đưa tài liệu tham khảo vào trong giờ dạy sử. Thực hiện theo sơ đồ dạy học của Đairi, qua đó hoàn thành mục tiêu bài học, kế hoạch dạy học và nâng cao chất lượng bộ môn trong trường phổ thông. 3.5. Minh họa cách “Sử dụng tài liệu văn học giúp học sinh hứng thú học tập lịch sử Việt Nam lớp 8, 9” 11 3.5.1. Minh họa cách sử dụng tài liệu văn học trong dạy học trong một số bài ở chương trình lịch sử Việt Nam lớp 9 Bài 14: Việt Nam sau chiến tranh Thế giới thứ nhất Ở mục I. Chương trình khai thác lần thứ hai của thực dân Pháp Khi giảng đến phần Thực dân Pháp tăng cường đầu tư vào nông nghiệp và khai mỏ giáo viên có thể minh họa bằng câu thơ: “Em đi ra Hòn Gai cuốc mỏ Anh đi vào đất đỏ làm phu Đổi thân được mấy đồng xu Thịt xương vùi gốc cao su mấy tầng” Hoặc: “Cao su đi dễ khó về Khi đi trai tráng, khi về bủng beo” Hay: “Cao su đi dễ khó về Khi đi mất vợ, khi về mất con” Hoặc: "Chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều, chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu. Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí, làm cho dân ta nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng. Chúng không cho các nhà tư sản ngóc đầu lên, chúng bóc lột công nhân vô cùng tàn nhẫn…” (Trích: "Tuyên ngôn độc lập") Các câu thơ này và đoạn trích trong "Tuyên ngôn độc lập" giúp cho học sinh hiểu được chính sách bóc lột của thực dân Pháp đối với nhân dân ta và giáo dục lòng căm thù giặc cho học sinh, có thái độ thương yêu những người lao động chân chính. Ở mục II. Các chính sách chính trị, văn hóa, giáo dục Khi giảng giáo viên có thể trích dẫn: “Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học, chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước, thương nòi của ta, chúng tắm những cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu. Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân. Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược…” 12 ( Trích: " Tuyên ngôn độc lập") Đây là dẫn chứng: chứng tỏ chính sách bóc lột thâm độc của thực dân Pháp đối với nhân dân ta bác bỏ luận điệu “Khai phá văn minh” của mẫu quốc, qua đó giáo dục lòng yêu nước, lòng căm thù giặc cho học sinh. Bài 16: Những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc ở nước ngoài trong những năm 19191925. Ở mục I. Nguyễn Ái Quốc ở Pháp (1917- 1923) Khi giảng giáo viên có thể trích dẫn Bản yêu sách của nhân dân An Nam gồm 8 điểm:1. Tổng ân xá những người bản xứ bị tù chính trị. 2. Cải cách nền pháp lí Đông Dương bằng cách để người bản xứ cũng được quyền hưởng những bảo đảm pháp lí như người châu âu. Xóa bỏ hoàn toàn những tòa án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam. 3. Tự do báo chí và tự do ngôn luận. 4. Tự do lập hội và hội họp. 5. Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương. 6. Tự do học tập, thành lập các trường kĩ thuật tại tất cả các tỉnh cho người bản xứ. 7. Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật. 8. Có đại biểu thường trực của người bản xứ do người bản xứ bầu ra tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được nguyện vọng của người bản xứ. ( Trích: "Bản yêu sách của nhân dân An Nam") Hoặc: Khi đọc luận cương của Lê-nin: “…Luận cương đến Bác Hồ và Người đã khóc Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lê Nin Bốn bức tường im nghe Bác lật từng trang sách gấp Tưởng bên ngoài đất nước đợi mong tin Bác reo lên một mình như nói cùng đất nước “Cơm áo là đây, hạnh phúc đây rồi” Hình của Đảng lồng trong hình của nước Phút khóc đầu tiên là phút Bác Hồ cười…” 13 Mục II. Nguyễn Ái Quốc ở Liên Xô (1923-1924) “Tuyết Mát -cơ -va sáng ấy lạnh trăm lần Trông tuyết trắng như đọng nghìn nước mắt Lê Nin mất rồi nhưng Bác chẳng dừng chân Luận cương của Lê Nin theo người về quê Việt Biên giới còn xa nhưng Bác đã đến rồi Kìa bóng Bác đang hôn lên hòn đá Lắng nghe trong màu hồng hình đất nước phôi thai” (Trích: "Người đi tìm hình của nước" của Chế Lan Viên) Hoặc: “Tháng giêng, Mạc Tư Khoa tuyết trắng Một người đi quên rét buốt xương Anh tìm ai? Lê-nin vĩ đại Tinh hoa trên đất chất kim cương” (Trích: "Theo chân Bác" của Tố Hữu) Trên đây là dẫn chứng nhằm cung cấp thêm tư liệu cho học sinh về “Bản yêu sách của nhân dân An Nam” của Nguyễn Ái Quốc gửi đến hội nghị Véc-xai, qua các dẫn chứng này, chúng ta còn giúp học sinh dễ nhớ được các mốc lịch sử và giáo dục cho học sinh tình cảm của mình dành cho Bác Hồ. Bài 17: Cách mạng Việt Nam trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Mục III. Việt nam quốc dân đảng và cuộc khởi nghĩa Yên Bái (1930) Khi nói về chủ nghĩa “Tam dân” của Tôn Trung Sơn giáo viên có thể trích dẫn câu: “Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc” trong quốc hiệu của nước ta và liên hệ cách mạng Trung Quốc với cách mạng Việt Nam. Dân tộc: Độc lập Dân quyền: Tự do. Dân sinh: Hạnh phúc. Bài 19: Phong trào cách mạng trong những năm1930 -1935 Nhằm khắc sâu địa danh cách mạng trong thời kì này giáo viên đọc đoạn thơ trong bài "Thơ cách mạng”: 14 “Kìa Bến Thuỷ đứng đầu dậy trước Nọ Thanh Chương tiếp bước đứng lên Nam Đàn, Nghi Lộc, Hưng Nguyên Anh Sơn, Hà Tĩnh một phen dậy rồi” Mục II: Phong trào cách mạng 1930 – 1931 với đỉnh cao Xô Viết Nghệ Tĩnh. Giảng về phong trào ở Nghệ Tĩnh giáo viên có thê đưa vào bài giảng đoạn trích sau trong “Bài ca cách mạng” cụ thể là: “.... Than ôi, nước mất nhà xiêu Thế không chịu nổi, liệu chiều tính mau Kìa Bến Thuỷ đứng đầu dậy trước Nọ Thanh Chương tiếp bước, bước lên Nam Đàn, Nghi Lộc, Hưng Nguyên Anh Sơn, Hà Tĩnh 1 phen dậy rồi.... ..... Trên gió cả cờ đào phất thẳng Dưới đất bằng giấy trắng tung ra Chiến trường một trận xông pha Bên kia đạn sắt, bên ta gan vàng....” Bài 22. Cao trào cách mạng tiến tới tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 Mục I. Mặt Trận Việt Minh ra đời Khi nói đến sự kiện Nguyễn Ái Quốc về nước ngày 28/1/1941 giáo viên liên hệ: “Ôi sáng xuân nay, xuân 41! Trắng rừng biên giới nở hoa mơ Bác về im lặng con chim hót Thánh thót bờ lau vui ngẩn nơ Bác đã về đây, Tổ quốc ơi! Nhớ thương hòn đất ấm hơi Người Ba mươi năm ấy chân không nghỉ Mà đến bây giờ mới tới nơi” 15 (Trích: "Theo chân Bác" của Tố Hữu) Qua bài thơ này học sinh dễ dàng nhớ được mốc thời gian Bác Hồ về nước là mùa xuân năm 1941 và năm ra đi tìm đường cứu nước là 1911 ( ba mươi năm ấy…) Để thấy không khí cách mạng sôi sục dâng trào, ta liên hệ các câu thơ sau: “Đồng cỏ héo đã bùng lên lửa cháy Nước non ơi hết thảy vùng lên Bắc, Trung, Nam khắp 3 miền Toàn dân khởi nghĩa chính quyền về tay” Học sinh thấy được vai trò quần chúng để làm nên lịch sử, củng cố nhận thức, tư tưởng của các em làm cho các em càng khắc sâu truyền thống anh hùng của dân tộc. Bài 23: Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 và sự thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Mục I: Lệnh tổng khởi nghĩa được ban bố. Trong mục này giáo viên cần trích đoạn: “Việt Nam độc lập đồng minh Có bản chương trình đánh Nhật, đánh Tây Quyết làm cho nước non này, Cờ treo độc lập, nền xây bình quyền ....Rồi ra sự nghiệp hoàn thành Rõ tên Nam Việt, rạng danh Lạc Hồng Khuyên ai nên nhớ chữ đồng, Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh” (Bản diễn ca: "Mười chính sách của Việt Minh" của Hồ Chí Minh) Bản diễn ca này giúp cho chúng ta nắm được các chính sách của mặt trận Việt Minh. Mục III. Giành chính quyền trong cả nước Nhân sự kiện Bác Hồ đọc tuyên ngôn độc lập, nhà thơ Tố Hữu viết: “Hôm nay sáng mồng hai, tháng chín Thủ đô hoa vàng nắng Ba Đình Muôn triệu tim chờ chim cũng nín Bỗng vang lên câu hát ân tình 16 Hồ chí minh! Hồ chí minh! ... Người đọc tuyên ngôn rồi chợt hỏi: Đồng bào nghe tôi nói rõ không? Ôi! Câu hỏi hơn một lời kêu gọi Rất đơn sơ mà ấm bao lòng Cả muôn triệu một lời đáp: Có ! Như Trường Sơn say gió Biển Đông…” Bài thơ này giúp học sinh dễ nắm không gian và thời gian Bác Hồ đọc bản “Tuyên ngôn độc lập”, giáo dục cho học sinh tình cảm thân thương, gần gũi dành cho Hồ Chủ Tịch; khắc họa hình tượng Bác Hồ vĩ đại, làm cho các em nhớ mãi không quên ngày 2 tháng 9 năm 1945. Bài 25: Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (19461950). Mục I. Kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược bùng nổ Giáo viên dẫn: Hỡi đồng bào toàn quốc! Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng, nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! Bất kì đàn ông, đàn bà, bất kì người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc xuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước. Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân! Giờ cứu nước đã đến, ta phải hi sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước, dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hi sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta. Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm! Kháng chiến thắng lợi muôn năm! (Trích: "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến" của Hồ Chí Minh) 17 Lời kêu gọi của Chủ Tịch Hồ Chí Minh rất ngắn gọn và súc tích, lời kêu gọi đã nói rõ được âm mưu của thực dân Pháp và tinh thần đấu tranh vì độc lập của nhân dân Việt Nam, qua đó học sinh biết được khí thế cách mạng của những năm đầu kháng chiến chống Pháp. Hoặc: Giọng của Người không phải sấm trên cao Thấm từng tiếng ấm vào lòng mong ước Con nghe Bác tưởng nghe lời non nước Tiếng ngày xưa và cả tiếng mai sau Học sinh thấy rằng lời kêu gọi của Bác là tiếng gọi của non sông đất nước, là mệnh lệnh của cách mạng tiến công dục dã soi đường chỉ lối cho mọi người Việt Nam đứng dậy cứu nước. Mục IV. Chiến dịch Việt Bắc Thu- Đông năm 1947 Qua thơ ca giúp học sinh xác định được các địa danh trong chiến dịch: “Anh kể chuyện tôi nghe Trận chợ Đồn chợ Rã Ta đánh giặc chạy re Hai đứa cười ha ha” Bài 26: Bước phát triển mới của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (19501953) Mục I. Chiến dịch Biên giới Thu- Đông 1950 Bác Hồ của chúng ta đã trực tiếp ra trận để chỉ đạo chiến dịch. Khi dạy bài này giáo viên có thể cung cấp thêm cho học sinh bài thơ “Đêm nay Bác không ngũ” “Anh đội viên thức dậy Thấy trời khuya lắm rồi Mà sao Bác vẫn ngồi Đêm nay Bác không ngủ ……” Bài 27: Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược kết thúc (19531954) Giáo viên có thể sử dụng các tác phẩm văn học viết về Điện Biên Phủ trong thời kì này vào bài giảng như bài “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên” (Tố Hữu) giáo viên có thể trích dẫn 18 hai câu thơ sau để khắc sâu về hình ảnh chiến đấu dũng cảm của chiến sĩ Điện Biên đó là: “Khoét núi ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt Máu trộn bùn non, gan không núng, chí không mòn.” Mục 2. Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ từ lúc mở đầu ngày 13/3/1954 đến khi kết thúc ngày 7/5/1954 giáo viên giảng thêm: “Năm mươi sáu ngày đêm Khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt Máu trộn bùn non Gan không núng, chí không sờn…” Hoặc: “Kháng chiến ba ngàn ngày Không đêm nào vui bằng đêm nay Đêm lịch sử Điện Biên sáng rực Trên đất nước, như huân chương trên ngực Dân tộc ta dân tộc anh hùng” Hay: “Chín năm làm một Điện Biên Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng…” (Trích: “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên” Tố Hữu) Qua các bài thơ này giúp học sinh dễ dàng ghi nhớ thời gian diễn ra chiến dịch Điện Biên Phủ (56 ngày đêm), chín năm kháng chiến chống Pháp (từ 1946 đến 1954) và làm cho học sinh hiểu rõ sự hi sinh, gian khổ và đã làm nên một Điện Biên Phủ chấn động địa cầu. Niềm tự hào dân tộc, thôi thúc các em ra sức học tập và rèn luyện nêm người... Qua khổ thơ học sinh thấy được sự đồng lòng đồng sức của nhân dân ta trong Chiến dịch Điện Biên Phủ: “Dốc Pha Đin chị gánh anh thồ Đèo Lũng Lô anh hò chị hát” Hoặc: “Súng nổ rung trời giận dữ Người lên như nước vỡ bờ Nước Việt Nam từ máu lửa Rủ bùn đứng dậy sáng loà” (Nguyễn Đình Thi) 19 Mục III. Hiệp Định Giơnevơ năm 1954 “Sông Bến Hải bên bồi bên lỡ Cầu Hiền Lương bên nhớ bên thương Cách chia mười mấy năm trường Khi mô mới nối được đường vô ra” Một giới tuyến quân sự tạm thời, nhưng đế quốc Mĩ đã âm mưu chia cắt đất nước ta lâu dài Nam- Bắc ngăn cách nước: “Nhưng súng gươm đâu ngăn được tình thương Đâu ngăn được mặt trời đỏ rực Khi lòng tôi đã hoá hướng dương” (Lê Anh Xuân) Bài 28: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc, đấu tranh chống Đế Quốc Mĩ và chính quyền Sài Gòn ở Miền Nam (1954-1965) Với chính sách tố cộng, diệt cộng và đạo luật 10/59 của Mĩ - Diệm, qua khổ thơ học sinh thấy được tộ ác của Mĩ- Ngụy “Có những ông già chúng khảo tra Chẳng khai nó chém giữa sân nhà Có chị gần sinh không chịu nhục Lấy vồ nó đập vọt thai ra” (Tố Hữu) Khi nói đến Miền Bắc thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965 ) “ Hỡi Miền Bắc đó nặng đôi vai Gánh cả non sông vượt dặm dài Xẻ dọc trường sơn đi cứu nước Mà lòng phơi phới dậy tương lai” Hoặc “Từ ngày anh đi ruộng đồng em đảm đang Ruộng chẳng chăng dây cây lúa thẳng hàng Đào đắp đê khơi nước vào làng” 20
- Xem thêm -