Skkn giáo dục trẻ chậm phát triển ngôn ngữ lớp nhà trẻ

  • Số trang: 7 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 24 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI: “KINH NGHIỆM GIÁO DỤC TRẺ CHẬM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ HỌC HÒA NHẬP TẠI LỚP NHÀ TRẺ D2 TRƯỜNG MẦM NON A” MỞ ĐẦU Ngôn ngữ là phương tiện là sản phẩm độc quyền của con người, nó gắn bó mật thiết với lịch sử loài người. Nó chỉ được hình thành, tồn tại và phát triển trong xã hội loài người, do ý muốn và nhu cầu của con người. “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người” (V.L. Lênin). Nhờ có ngôn ngữ mà con người có thể hiểu được nhau, cùng nhau hành động vì những mục đích chung: Lao động, đấu tranh và phát triển xã hội. Không có ngôn ngữ không thể giao tiếp được, thậm chí không thể tồn tại được, nhất là đứa trẻ, một sinh thể yếu ớt rất cần đến sự chăm sóc, bảo vệ của người lớn. Ngôn ngữ làm cho đứa trẻ trở thành một thành viên của xã hội loài người. Ngôn ngữ là công cụ hữu hiệu để trẻ có thể bày tỏ những nguyện vọng của mình từ khi còn rất nhỏ để người lớn có thể chăm sóc, điều khiển, giáo dục trẻ. Trường học mầm non, là trường học đầu tiên đới với trẻ, ở đây có điều kiện, có cơ hội lớn hơn để giáo dục ngôn ngữ cho trẻ hình thành và phát triển nhận thức của trẻ về thế giới xung quanh; là phương tiện phát triển tình cảm, đạo đức, thẩm mĩ; là công cụ giúp trẻ hòa nhập với cộng đồng và trở thành thành viên của cộng đồng. Như vậy, ngôn ngữ có vai trò rất lớn, là phương tiện quan trọng nhất để trẻ lĩnh hội nền văn hóa dân tộc, để giao lưu với những người xung quanh, để tư duy, tiếp thu khoa học và bồi bổ tâm hồn, giúp hình thành và phát triển nhân cách của trẻ. Có thể khẳng định rằng: Học tiếng mẹ đẻ là sự học tập quan trọng nhất, cần thiết nhất, bắt đầu sớm nhất và được quan tâm nhất. Thực tế trong xã hội hiện nay, nhiều phụ huynh rất quan tâm đến việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ ngay từ bé. Họ đã nghiên cứu sách báo, tài liệu trên mạng internet…để nuôi dạy con một cách khoa học. Tuy nhiên bên cạnh đó, một bộ phận không nhỏ phụ huynh bị cuốn theo công việc. Mọi sinh hoạt của trẻ đều giao hết cho người giúp việc. Nhiều trẻ lớn lên trong không gian giao tiếp chật trội. Sinh hoạt hằng ngày chủ yếu là ăn, ngủ, vệ sinh cá nhân, chơi một mình và xem ti vi. Đó là một trong những yếu tố dẫn đến trẻ chậm phát triển ngôn ngữ. Vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ nhà trẻ nói chung và trẻ 24- 36 tháng nói riêng từ lâu đã được Bộ giáo dục và Đào tạo, Sở giáo dục và Đào tạo Hà Nội, Phòng giáo dục và Đào tạo huyện Thanh Trì, Ban giám hiệu trường Mầm Non A rất quan tâm. Ngày 25 tháng 7 năm 2009, Bộ giáo dục và Đào tạo đã ban hành chương trình Giáo Dục Mầm Non, trong đó đề ra những mục tiêu, nội dung giáo dục rất cụ thể, hướng dẫn giáo dục thực hiện rất rõ ràng. Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Thanh Trì, Ban giám hiệu nhà trường đã tổ chức tập huấn, kiến tập các chuyên đề, tổ chức các buổi tọa đàm, sinh hoạt chuyên môn trao đổi về vấn đề này. Tuy nhiên để áp dụng thực tế vào chính trẻ chậm phát triển ngôn ngữ ở lớp tôi thì còn rất khó khăn. Là một giáo viên trẻ, có nhiệt huyết với nghề, tôi đã luôn băn khoăn, trăn trở làm thế nào để phát triển tốt ngôn ngữ cho các cháu chậm phát triển ngôn ngữ ở lớp mình? Sau thời gian nghiên cứu, áp dụng một loạt các biện pháp, các cháu chậm phát triển ngôn ngữ đã tiến bộ rõ rệt. Vì vậy, tôi xin mạnh dạn trao đổi với chị em đồng nghiệp dưới dạng đề tài sáng kiến kinh nghiệm: “Kinh nghiệm giáo dục trẻ chậm phát triển ngôn ngữ học hòa nhập tại lớp nhà trẻ D2 Trường mầm non A”. * Mục đích nghiên cứu: – Đánh giá thực trạng việc giáo dục trẻ chậm phát triển ngôn ngữ học hòa nhập tại lớp nhà trẻ 24 – 36 tháng D2, Trường mầm non A. – Tìm ra hệ thống các biện pháp nhằm ứng dụng có hiệu quả công tác giáo dục trẻ chậm phát triển ngôn ngữ học hòa nhập tại lớp nhà trẻ 24 – 36 tháng, D2 trường Mầm non A. * Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp giáo dục trẻ 24 – 36 tháng chậm phát triển ngôn ngữ học hòa nhập. * Phạm vi nghiên cứu: Trẻ 24 – 36 tháng tuổi, lớp nhà trẻ D2, trường Mầm non A, năm học 2013 – 2014. NỘI DUNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN: Ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của trẻ đặc biệt là trẻ 24- 36 tháng. Ngôn ngữ là phương tiện hình thành và phát triển nhận thức của trẻ về thế giới xung quanh. Đối với trẻ 24- 36 tháng, sử dụng ngôn ngữ giúp trẻ tìm hiểu, khám phá và nhận thức về môi trường xung quanh. Thông qua các từ ngữ và các câu nói của người lớn; trẻ làm quen với các sự vật, hiện tượng trong môi trường xung quanh; trẻ hiểu những đặc điểm, tính chất, công dụng của các sự vật cùng với các từ tương ứng với nó. Từ và hình ảnh trực quan của các sự vật cùng đi vào nhận thức của trẻ. Nhờ có ngôn ngữ, trẻ nhận biết ngày càng nhiều các sự vật, hiện tượng mà trẻ được tiếp xúc trong cuộc sống hằng ngày giúp trẻ hình thành, phát triển phong phú các biểu tượng về thế giới xung quanh. Ngôn ngữ là phương tiện giúp trẻ hình thành và phát triển tư duy: Đối với trẻ 24 – 36 tháng trẻ sử dụng ngôn ngữ không chỉ tìm hiểu những hiện tượng, sự vật gần gũi xung quanh, mà còn có thể tìm hiểu những sự vật khộng xuất hiện trực tiếp trước mắt trẻ, những sự việc xảy ra trong quá khứ và tương lai. Trẻ hiểu được những lời giải thích, gợi ý của người lớn, biết so sánh, khái quát và dần dần hiểu được bản chất của sự vật, hiện tượng, hình thành những khái niệm sơ đẳng. Sự hiểu biết của trẻ về thế giới xung quanh ngày càng rộng lớn hơn. Nhận thức của trẻ được rõ ràng, chính xác và trí tuệ của trẻ không ngừng phát triển. Ngôn ngữ là công cụ giúp trẻ hoạt động vui chơi và nhận thức thế giới xung quanh: Đối với trẻ 24- 36 tháng, trẻ sử dụng ngôn ngữ để giao lưu tình cảm trong lúc chơi đồ chơi trong lớp mầm non, phát triển khả năng tư duy và trí tưởng tượng của trẻ, ngôn ngữ còn là phương tiện để trẻ biểu hiện nhận thức của mình. Nhờ có ngôn ngữ trẻ đã nhận thức được về môi trường xung quanh và tiến hành hoạt động với nó, đồng thời trẻ cũng sử dụng ngôn ngữ để kể lại, miêu tả lại sự vật, hiện tượng và những hiểu biết của trẻ để trao đổi với mọi người. Ngôn ngữ là phương tiện để giao lưu cảm xúc và phát triển tình cảm: Đối với trẻ 24 – 36 tháng trẻ sử dụng ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất, giúp trẻ giao lưu cảm xúc với những người xung quanh hình thành những cảm xúc tích cực. Bằng những câu hát ru, những lời nói nựng, những câu nói âu yếm đã đem đến cho trẻ những cảm giác bình yên, sự vui mừng hớn hở. Những tiếng ầu ơ mẹ nói chuyện với trẻ là sự giao lưu cảm xúc và ngôn ngữ đầu tiên. Những cuộc nói chuyện đặc biệt này sẽ làm cho trẻ luôn vui vẻ và có những tình cảm thân thương với những người xung quanh. Dần dần hình thành ở trẻ những cảm xúc tích cực. Khi giao tiếp với người lớn, trẻ tiếp nhận được những sắc thái tình cảm khác nhau. Qua nét mặt, giọng nói, ngữ điệu, ngữ nghĩa chứa đựng trong các từ, các câu nói, dần dần trẻ cũng biết thể hiện những cảm xúc khác nhau của mình. Đồng thời thông qua ngôn ngữ trẻ nhận thức được cái hay, cái đẹp trong cuộc sống xung quanh như những bông hoa, những hàng cây, những cảnh đẹp của làng quê với những từ ngữ thể hiện nó… Trẻ chậm phát triển ngôn ngữ là trẻ không bắt chước được hành động hay lời nói, không thể kết nối hai từ gần nhau có nghĩa. Không hiểu chức năng của những vật dụng đơn giản, không kể được ba bộ phận đơn giản trên người. Không hiểu ngôn ngữ bằng những bạn cùng tuổi khác, không đặt được câu hỏi, không biết hoặc không làm theo những chỉ dẫn đơn giản, không kể tên được những sự vật thông thường, không nói được những từ ngắn. Việc trẻ chậm phát triển ngôn ngữ sẽ gây lên nhiều ảnh hường: Trẻ kém tự tin trong giao tiếp, khó biết cách bộc lộ những suy nghĩ, cảm xúc của mình có thể dẫn đễn những bực tức về tâm lý và có thể gây nên những thất bại trong trường học. Ngôn ngữ rất quan trọng đối với trẻ, vì một lý do nào đó mà trẻ chậm phát triển ngôn ngữ thì quả là rất thiệt thòi cho trẻ. Vậy nên việc phát triển ngôn ngữ cho các cháu chậm phát triển ngôn ngữ là một việc làm vô cùng quan trọng, cần thiết và được tiến hành càng sớm càng tốt. 1. CƠ SỞ THỰC TIỄN: 2. Mô tả thực trạng – Trường mầm non A xã Tứ Hiệp là một ngôi trường có bề dày thành tích về mọi mặt trong nhiều năm qua. Trường đã đạt Trường chuẩn quốc gia mức độ I, 4 năm liên tục đạt “Tập thể lao động xuất sắc” cấp Thành phố, năm 2013 được nhận bằng khen của Thủ tướng Chính Phủ. Với quy mô toàn trường có 3 khu: Văn Điển, Cương Ngô I, Cương Ngô II. Các khu ở vị trí trung tâm khu dân cư và gần nhau rất thuận lợi cho việc chăm sóc giáo dục trẻ, thuận tiện cho phụ huynh đưa con đến trường. – Năm học 2013 – 2014 tôi được Ban giám hiệu phân công dạy lớp nhà trẻ D2 (24 – 36 tháng) ở khu Cương Ngô 2, tổng số giáo viên trong lớp là 4 cô/35 cháu. Trong đó có 2 đồng chí đang theo học lớp đại học tại chức mầm non, 1 đồng chí có trình độ đạt chuẩn, 1 đồng chí đạt trình độ trên chuẩn. Trong quá trình thực hiện tôi đã gặp những điều kiện thuận lợi và một số khó khăn sau: 2. Thuận lợi: – Trẻ được phân chia học theo đúng độ tuổi. – Bản thân là một giáo viên trẻ luôn nhiệt tình, tâm huyết với nghề ham học hỏi trau dồi kiến thức, ®ang theo học líp Đ¹i häc sư phạm giáo dục mầm non hệ t¹i chøc. – Giáo viên nắm vững phương pháp dạy của bộ môn, được bồi dưỡng thường xuyên và tham gia học tập các lớp chuyên đề do phòng giáo dục tổ chức. – 100% giáo viên trong lớp có tinh thần đoàn kết, có sự phối hợp nhau trong công tác giảng dạy đặc biệt là chú ý phát triển ngôn ngữ cho trẻ. – Lớp học rộng rãi, khô thoáng, trang thiết bị, đồ dùng phục vụ cho việc phát triển ng«n ng÷ của trẻ đầy đủ, hiện đại phong phú về hình ảnh, màu sắc hấp dẫn (tranh ảnh, vật thật). – Luôn được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Ban giám hiệu nhà trường. – Luôn được sự ủng hộ của phụ huynh. 3. Khó khăn: – Trẻ 24 – 36 tháng do tôi phụ trách là độ tuổi còn non nớt, có nhiều trẻ chậm phát triển ngôn ngữ. – Các cháu bắt đầu đi học còn khóc nhiều, chưa quen với cô và các bạn, chưa thích nghi với điều kiện sinh hoạt, các hoạt động ở lớp. Một số cháu nghỉ học nhiều do sức khỏe kém, hay ốm vặt. – Do trẻ chậm phát triển ngôn nhữ nên trẻ gặp nhiều khó khăn khi tham gia các hoạt động và hòa nhập với các bạn cùng lứa với mình. – Đa số phụ huynh buôn bán tự do vì công việc chiếm nhiều thời gian nên nhận thức của phụ huynh về tầm quan trọng của ngôn ngữ đối với trẻ còn hạn chế. Một số phụ huynh do bận rộn công việc kiếm sống nên chưa thực sự quan tâm đến việc dạy dỗ con cái mà giao phó hoàn toàn cho cô giáo ở trường. Một số cháu được gia đình nuông chiều, muốn gì đòi bằng được; một số cháu hay khóc hay hờn hay ăn vạ hoặc cào cấu các bạn khi không đồng ý một điều gì đó. – Năm nay tôi mới dạy lớp có trẻ chậm phát triển ngôn ngữ nên việc lập kế hoạch chăm sóc giáo dục trẻ còn gặp nhiều khó khăn. – Giáo viên cùng lớp rất quan tâm đến việc chăm sóc trẻ nhưng chưa thực sự quan tâm đến việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Xuất phát từ những cơ sở thực trạng và những điều kiện khó khăn, thuận lợi trên, tôi đã áp dụng thực hiện hệ thống các biện pháp sau để giáo dục trẻ 24- 36 tháng chậm phát triển ngôn ngữ tiến bộ. III. BIỆN PHÁP THỰC HIỆN. 1. Biện pháp 1: Khảo sát trẻ đầu năm. Đối với trẻ 24 – 36 tháng việc giáo viên nắm bắt khả năng ngôn ngữ của trẻ ngay từ đầu năm học là vô cùng quan trọng. Qua đó giáo viên hiểu trẻ hơn, từ đó xây dựng kế hoạch và áp dụng những phương pháp phù hợp với trẻ giúp trẻ phát triển tốt ngôn ngữ của mình. Vì vậy việc khảo sát trẻ đầu năm học là vô cùng cần thiết. Ngay từ đầu năm chúng tôi đã chia số lượng trẻ ra làm 4 nhóm theo 4 cô trong lớp, theo dõi, đánh giá nhóm trẻ của mình. Chúng tôi đã căn cứ vào chỉ số đánh giá phát triển trẻ 24 – 36 tháng tuổi để khảo sát và đánh giá trẻ. Các chỉ số đánh giá sự phát triển của trẻ 24 tháng tuổi như sau: Chỉ số 1: Cân nặng bình thường của trẻ trai: 9,7- 15,3kg; trẻ gái: 9,1- 14,8 kg. Chỉ số 2: Chiều cao bình thường của trẻ trai: 81,7- 93,9cm; trẻ gái: 80,0- 92,9cm. Chỉ số 3: Biết lăn/ bắt bóng với người khác. Chỉ số 4: Xếp tháp, lồng hộp; xếp chồng 4- 5 hình khối. Chỉ số 5: Biết thể hiện một số nhu cầu ăn uống, vệ sinh bằng cử chỉ/ lời nói. Chỉ số 6: Chỉ/ gọi tên được một số đồ dùng, đồ chơi, con vật, quả quen thuộc. Chỉ số 7: Chỉ/ lấy được đồ vật có màu đỏ hoặc xanh. Chỉ số 8: Làm được theo chỉ dẫn một số yêu cầu đơn giản (lấy cốc uống nước, lau miệng, đi đến đây). Chỉ số 9: Trả lời các câu hỏi: “Ai đây?”, “Con gì đây?”,…”Ở đâu? Thế nào? Chỉ số 10: Nói được câu đơn 2-3 tiếng: đi chơi; mẹ bế; mẹ bế bé;… Chỉ số 11: Nhận ra bản thân trong gương trong ảnh. Chỉ số 12: Thích nghe hát, vận động theo nhạc (giậm chân, lắc lư…).
- Xem thêm -