Quản trị tiền lương của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường ở nước ta - hoàng trung thành

  • Số trang: 26 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 11 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU ...................................................................................................... 2 PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ VÀ ĐỘNG LỰC CỦA TIỀN LƢƠNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG. ........................................ 3 I. NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TIỀN LƢƠNG. ..................................... 3 1. Tiền lƣơng là gì? ....................................................................................... 3 2. Các hình thức trả lƣơng. ............................................................................ 4 3. Hình thức tiền thƣởng. ............................................................................ 12 4. Thang lƣơng, bảng lƣơng ........................................................................ 12 II. CƠ CHẾ QUẢN LÍ TIỀN LƢƠNG VÀ THU NHẬP. .............................. 12 III. ĐÁNH GIÁ ............................................................................................... 13 PHẦN II: THỰC TRẠNG CỦA TIỀN LƢƠNG VÀ TÁC DỤNG CỦA TIỀN LƢƠNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP ......................................... 15 I. TÌNH HÌNH TIỀN LƢƠNG VÀ THU NHẬP CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG.15 1. Thực hiện mức lƣơng tối thiểu chung. .................................................... 15 2. Thực hiện mức lƣơng tối thiểu vùng. ...................................................... 16 II. NGUYÊN NHÂN SỰ HẠN CHẾ CỦA TIỀN LƢƠNG HIỆN NAY . .... 18 PHẦN III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ TIỀN LƢƠNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP. ......................................................... 20 I. GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ TIỀN LƢƠNG. .................... 20 II. ĐỊNH HƢỚNG CẢI CÁCH ...................................................................... 22 1. Về tiền lƣơng tối thiểu ............................................................................ 22 2. Về thang lƣơng, bảng lƣơng.................................................................... 23 3. Cơ chế quản lý tiền lƣơng ....................................................................... 23 KẾT LUẬN ........................................................................................................ 26 1 LỜI MỞ ĐẦU Đứng trƣớc sự thay đổi hàng ngày của khoa học-kỹ thuật-công nghệ và sự cạnh tranh khốc liệt ngày càng gay gắt trên thị trƣờng,nguồn nhân lực đã thực sự trở thành tài sản cực kỳ quý giá đối với các doanh nghiệp. Bởi vì, các doanh nghiệp chỉ có thể tồn tại và phát triển dựa trên cơ sở phát huy hiệu quả nhân tố con ngƣời. Do đó, mối quan tâm hàng đầu hiện nay của các nhà quản trị là làm sao để khuyến khích đƣợc ngƣời lao động đem hết tài năng và trí tuệ ra để phục vụ cho doanh nghiệp. Còn đối với ngƣời lao động,họ quan tâm đầu tiên đến các lợi ích kinh tế và coi đó là nguồn động viên quan trọng. Thực tế ở nƣớc ta hiện nay, thu nhập của ngƣời lao động còn thấp. Chính vì vậy, với ngƣời lao động, tiền lƣơng có tác dụng rất lớn trong tạo động lực để họ lao động. Làm thế nào để trả lƣơng hợp lí với những gì ngƣời lao động đã làm đƣợc và quản lí tiền lƣơng sao có hiệu quả là quan tâm lớn của các nhà quản trị. Với ý nghĩa đó,em trọn đề tài “Quản trị tiền lƣơng của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trƣờng ở nƣớc ta”. Kết cấu bài viết gồm 3 phần: Phần I: Cơ sở lý luận về vai trò và động lực của tiền lƣơng trong nền kinh tế thị trƣờng. Phần II: Thực trạng và tác dụng của tiền lƣơng trong các doanh nghiệp ở nƣớc ta hiện nay. Phần III: Một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của tiền lƣơng trong các doanh nghiệp. Đề tài đã đƣợc hoàn thành nhờ sự hƣớng dẫn của thầy giáo – TS. Vũ Anh Trọng. Em xin chân thành cảm ơn! Sinh viên Hoàng Trung Thành 2 PHẦN I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ VÀ ĐỘNG LỰC CỦA TIỀN LƢƠNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG. I. NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TIỀN LƢƠNG. 1. Tiền lương là gì? Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, toàn bộ mọi hoạt động về kinh tế đặt dƣới sự quản lý Nhà nƣớc một cách có kế hoạch, trong đó kể cả kế hoạch hoá sức lao động. Do đó, tiền lƣơng là một phần thu nhập quốc dân, đƣợc Nhà nƣớc phân phối một cách có kế hoạch cho ngƣời lao động theo số lƣợng và chất lƣợng lao động. Nhƣ vậy tiền lƣơng chịu sự tác động của quy luật cân đối, có kế hoạch và chịu sự chi phối trực tiếp của Nhà nƣớc. Còn nền kinh tế thị trƣờng là nền kinh tế thong qua quan hệ mua – bán, trao đổi. Nó là một thể thống nhất của các thị trƣờng: hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ, tƣ liệu sản xuất, tài chính, sức lao động, trong đó thị trƣờng sức lao động có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thị trƣờng sức lao động tồn tại khi sức lao động trở thành hàng hoá hay phải có hai điều kiện sau: + Ngƣời lao động đƣợc tự do bán sức lao động ( năng lực ) của mình và bán có thời hạn nhất định , chứ không phải bán trong thời gian vĩnh viễn. + Ngƣời lao động không có tƣ liệu sản xuất hoặc có rất ít. Trƣớc đây quan niệm rằng chỉ với điều kiện bị tƣớc hết tƣ liệu sản xuất thì ngƣời lao động mới có thể bán sức lao động của mình. Song, thực tế ngày nay không phải những ngƣời bán sức lao động đều không có tƣ liệu sản xuất mà họ có ít. Nhƣng có thể họ không biết sản xuất – kinh doanh hoặc sản xuất – kinh doanh không có hiệu quả hơn là đi làm thuê (bán sức lao động ). 3 Và khi đã thừa nhận sự tồn tại khách quan của thị trƣờng sức lao động thì tiền lƣơng không chỉ thuộc phạm trù phân phối mà còn là phạm trù trao đổi, phạm trù có giá trị. Trong nền kinh tế thị trƣờng, hàng hoá sức lao động là một loại hàng hoá đặc biệt, thể hiện ở chỗ: + Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động chỉ thể hiện rõ trong việc tiêu dùng sức lao động. Và khi tiêu dùng nó sẽ tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị ban đầu đã tiêu hao. + Giá trị sức lao động đƣợc đo bằng giá trị các tƣ liệu sinh hoạt cần thiết để tái sức lao động của con ngƣời. Do vậy, tiền lƣơng là giá cả sức lao động. Và giá cả sức lao động có thể dao động quanh giá trị của nó tuỳ thuộc vào quan hệ cung - cầu sức lao động. Tóm lại, tiền lƣơng mang bản chất kinh tế -xã hội. Nó vừa là thƣớc đo giá trị, là đơn vị của chi phí sản xuất kinh doanh, vừa gắn với con ngƣời và cuộc sống của họ. Ngoài khái niệm tiền lƣơng còn khái niệm thu nhập. Thu nhập là tất cả các khoản thu mà ngƣời lao động nhận đƣợc ( từ doanh nghiệp la chủ yếu ) bao gồm tiền lƣơng, tiền thƣởng, các khoản tiền khác hoặc vật chất mà doanh nghiệp cung cấp cho ngƣời lao động. 2. Các hình thức trả lương. Thông thƣờng, ở các doanh nghiệp có 3 hình thức trả lƣơng chính là: trả lƣơng theo thời gian, theo sản phẩm và trả lƣơng khoán. Hình thức trả lương theo thòi gian: là tiền lương được trả căn cứ vào trình độ kỹ thuật và thời gian làm việc của công nhân. Có hình thức tính tiền lƣơng đơn giản theo suất lƣơng cao hay thấp và thời gian làm dài hay ngắn quyết định; lại có hình thức tính tiền lƣơng kết hợp giữa thời gian với tiền khen thƣởng khi đạt hoặc vƣợt chỉ tiêu chất lƣợng và số lƣợng. 4 Hình thức trả lương theo sản phẩm: là việc trả lương cho công nhân (nhóm công nhân) theo số lƣợng sản phẩm sản xuất ra (đơn vị tính là chiếc, kg, tấn, mét...) thƣờng đƣợc phân ra các loại sau: - Trả lương theo sản phẩm trực tiếp: là tiền lương trả cho từng người công nhân bằng tích số giữa số lƣợng sản phẩm sản xuất ra với đơn giá. - Trả lương theo sản phẩm tập thể: áp dụng đối với một số công việc sản xuất theo phƣơng pháp dây chuyền hoặc một số công việc thủ công nhƣng có liên quan đến nhiều công nhân. - Trả lương theo sản phẩm gián tiếp: chỉ áp dụng đối với một số công nhân phục vụ mà công việc của họ có ảnh hƣởng lớn đến thành quả lao động của công nhân chính hƣởng theo sản phẩm. - Trả lương theo sản phẩm luỹ tiến: là hình thức trả lương phần sản lượng trong định mức khởi điểm tính theo đơn giá bình thƣờng; phần sản lƣợng vƣợt mức khởi điểm sẽ tính theo đơn giá cao hơn. - Trả lƣơng theo sản phẩm có thƣởng: là trả lƣơng sản phẩm trực tiếp kết hợp với chế độ tiền thƣởng. Hình thức trả lương khoán: cũng là một trong hình thức trả lương theo sản phẩm, áp dụng cho những công việc không thể định mức cho từng chi tiết, bộ phận công việc mà thƣờng giao khối lƣợng công việc tổng hợp và phải hoàn thành trong một thời gian nhất định. Quy định hiện hành về hình thức và chế độ trả lương Theo quy định của Bộ Luật Lao động về hình thức trả lương: - Ngƣời sử dụng lao động có quyền chọn các hình thức trả lƣơng theo thời gian (giờ, ngày, tuần, tháng), theo sản phẩm, theo khoán nhƣng phải duy trì hình thức trả lƣơng đã chọn trong một thời gian nhất định và phải thông báo cho ngƣời lao động biết. 5 - Ngƣời lao động hƣởng lƣơng giờ, ngày, tuần đƣợc trả lƣơng sau giờ, ngày, tuần làm việc ấy hoặc đƣợc trả gộp do hai bên thoả thuận, nhƣng ít nhất 15 ngày phải trả gộp một lần. - Ngƣời lao động hƣởng lƣơng tháng đƣợc trả lƣơng cả tháng một lần hoặc nửa tháng một lần. - Ngƣời lao động hƣởng lƣơng theo sản phẩm, theo khoán, đƣợc trả lƣơng theo thoả thuận của hai bên; nếu công việc phải làm trong nhiều tháng thì hàng tháng đƣợc tạm ứng lƣơng theo khối lƣợng công việc đã làm trong tháng. - Ngƣời lao động đƣợc trả lƣơng trực tiếp, đầy đủ, đúng thời hạn và tại nơi làm việc. Trong trƣờng hợp đặc biệt phải trả lƣơng chậm thì không đƣợc chậm quá một tháng và ngƣời sử dụng lao động phải đền bù cho ngƣời lao động một khoản tiền ít nhất bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm do ngân hàng Nhà nƣớc công bố tại thời điểm trả lƣơng. - Lƣơng đƣợc trả bằng tiền mặt. Việc trả lƣơng một phần bằng séc hoặc ngân phiếu do Nhà nƣớc phát hành do hai bên thoả thuận với điều kiện không gây thiệt hại, phiền hà cho ngƣời lao động. - Ngƣời lao động có quyền đƣợc biết lý do mọi khoản khấu trừ vào tiền lƣơng của mình. Trƣớc khi khấu trừ tiền lƣơng của ngƣời lao động, ngƣời sử dụng lao động phải thảo luận với Ban chấp hành công đoàn cơ sở; trƣờng hợp khấu trừ thì cũng không đƣợc khấu trừ quá 30% tiền lƣơng hàng tháng. - Ngƣời sử dụng lao động không đƣợc áp dụng việc xử phạt bằng hình thức cúp lƣơng của ngƣời lao động. Chế độ trả lương làm đêm, làm thêm giờ: - Ngƣời lao động làm thêm giờ đƣợc trả lƣơng theo đơn giá tiền lƣơng hoặc tiền lƣơng của công việc đang làm nhƣ sau: 6 +) Vào ngày thƣờng, ít nhất bằng 150%; +) Vào ngày nghỉ hàng tuần, ít nhất bằng 200%; +) Vào ngày lễ, ngày nghỉ có hƣởng lƣơng, ít nhất bằng 300%. Nếu ngƣời lao động đƣợc nghỉ bù những giờ làm thêm , thì ngƣời sử dụng lao động chỉ phải trả phần tiền chênh lệch so với tiền lƣơng tính theo đơn giá tiền lƣơng hoặc tiền công của công việc đang làm của ngày làm việc bình thƣờng. - Ngƣời lao động làm việc vào ban đêm, thì đƣợc trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lƣơng tính theo đơn giá tiền lƣơng hoặc tiền lƣơng của công việc đang làm vào ban ngày. Chế độ trả lương ngừng việc: trong trường hợp phải ngừng việc, người lao động được trả lương như sau: - Nếu do lỗi của ngƣời sử dụng lao động, thì ngƣời lao động đƣợc trả đủ tiền lƣơng; - Nếu do lỗi của ngƣời lao động thì ngƣời đó không đƣợc trả lƣơng; những ngƣời lao động khác trong cùng đơn vị phải ngừng việc đƣợc trả lƣơng theo mức do hai bên thoả thuận nhƣng không đƣợc thấp hơn mức lƣơng tối thiểu. - Nếu vì sự cố về điện, nƣớc mà không do lỗi của ngƣời sử dụng lao động hoặc vì những nguyên nhân bất khả kháng, thì tiền lƣơng do hai bên thoả thuận, nhƣng không đƣợc thấp hơn mức lƣơng tối thiểu. Chế độ trả lương trong những trường hợp khác: - Trong trƣờng hợp sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu, quyền quản lý hoặc quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp thì ngƣời sử dụng lao động kế tiếp phải chịu trách nhiệm trả lƣơng và các quyền lợi khác cho ngƣời lao động từ doanh nghiệp cũ chuyển sang. Trong trƣờng hợp doanh nghiệp bị phá sản thì tiền lƣơng, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội và các 7 quyền lợi khác của ngƣời lao động theo thoả ƣớc tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết là khoản nợ trƣớc hết trong thứ tự ƣu tiên thanh toán. - Khi bản thân hoặc gia đình gặp khó khăn, ngƣời lao động đƣợc tạm ứng tiền lƣơng theo điều kiện do hai bên thoả thuận. - Ngƣời sử dụng lao động tạm ứng tiền lƣơng cho ngƣời lao động phải tạm thời nghỉ việc để làm các nghĩa vụ công dân. * MỘT SỐ ĐIỀU TRONG BỘ LUẬT LAO Đ ỘNG: Điều 55 Tiền lƣơng của ngƣời lao động do hai bên thoả thuận trong hợp đồng lao động và đƣợc trả theo năng suất lao động, chất lƣợng và hiệu quả công việc. Mức lƣơng của ngƣời lao động không đƣợc thấp hơn mức lƣơng tối thiểu do Nhà nƣớc quy định. Điều 56 Mức lƣơng tối thiểu đƣợc ấn định theo giá sinh hoạt, bảo đảm cho ngƣời lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thƣờng bù đắp sức lao động giản đơn và một phần tích luỹ tái sản xuất sức lao động mở rộng và đƣợc dùng làm căn cứ để tính các mức lƣơng cho các loại lao động khác. Chính phủ quyết định và công bố mức lƣơng tối thiểu chung, mức lƣơng tối thiểu vùng, mức lƣơng tối thiểu ngành cho từng thời kỳ sau khi lấy ý kiến Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và đại diện của ngƣời sử dụng lao động. Khi chỉ số giá sinh hoạt tăng lên làm cho tiền lƣơng thực tế của ngƣời lao động bị giảm sút, thì Chính phủ điều chỉnh mức lƣơng tối thiểu để bảo đảm tiền lƣơng thực tế. Điều 57 8 Chính phủ công bố thang lƣơng, bảng lƣơng để làm cơ sở tính các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tiền lƣơng khi làm thêm giờ, làm đêm, ngừng việc, nghỉ hàng năm và các trƣờng hợp nghỉ việc khác của ngƣời lao động sau khi lấy ý kiến Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và đại diện của ngƣời sử dụng lao động. Điều 58 1- Ngƣời sử dụng lao động có quyền chọn các hình thức trả lƣơng theo thời gian (giờ, ngày, tuần, tháng), theo sản phẩm, theo khoán nhƣng phải duy trì hình thức trả lƣơng đã chọn trong một thời gian nhất định và phải thông báo cho ngƣời lao động biết. 2- Ngƣời lao động hƣởng lƣơng giờ, ngày, tuần đƣợc trả lƣơng sau giờ, ngày, tuần làm việc ấy hoặc đƣợc trả gộp do hai bên thoả thuận, nhƣng ít nhất 15 ngày phải đƣợc trả gộp một lần. 3- Ngƣời lao động hƣởng lƣơng tháng đƣợc trả lƣơng cả tháng một lần hoặc nửa tháng một lần. 4- Ngƣời lao động hƣởng lƣơng theo sản phẩm, theo khoán, đƣợc trả lƣơng theo thoả thuận của hai bên; nếu công việc phải làm trong nhiều tháng thì hàng tháng đƣợc tạm ứng lƣơng theo khối lƣợng công việc đã làm trong tháng. Điều 59 1- Ngƣời lao động đƣợc trả lƣơng trực tiếp, đầy đủ, đúng thời hạn và tại nơi làm việc. Trong trƣờng hợp đặc biệt phải trả lƣơng chậm, thì không đƣợc chậm quá một tháng và ngƣời sử dụng lao động phải đền bù cho ngƣời lao động một khoản tiền ít nhất bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm do Ngân hàng Nhà nƣớc công bố tại thời điểm trả lƣơng. 9 2- Lƣơng đƣợc trả bằng tiền mặt. Việc trả lƣơng một phần bằng séc hoặc ngân phiếu do Nhà nƣớc phát hành, do hai bên thoả thuận với điều kiện không gây thiệt hại, phiền hà cho ngƣời lao động. Điều 60 1- Ngƣời lao động có quyền đƣợc biết lý do mọi khoản khấu trừ vào tiền lƣơng của mình. Trƣớc khi khấu trừ tiền lƣơng của ngƣời lao động, ngƣời sử dụng lao động phải thảo luận với Ban chấp hành công đoàn cơ sở; trƣờng hợp khấu trừ thì cũng không đƣợc khấu trừ quá 30% tiền lƣơng hàng tháng. 2- Ngƣời sử dụng lao động không đƣợc áp dụng việc xử phạt bằng hình thức cúp lƣơng của ngƣời lao động . Điều 61 1- Ngƣời lao động làm thêm giờ đƣợc trả lƣơng nhƣ sau: a) Vào ngày thƣờng, đƣợc trả lƣơng ít nhất bằng 150% của tiền lƣơng giờ của ngày làm việc bình thƣờng; b) Vào ngày nghỉ hàng tuần hoặc ngày lễ, đƣợc trả lƣơng ít nhất bằng 200% của tiền lƣơng giờ của ngày làm việc bình thƣờng. Nếu làm thêm giờ vào ban đêm thì còn đƣợc trả thêm theo quy định tại khoản 2 Điều này. Nếu ngƣời lao động đƣợc nghỉ bù những giờ làm thêm, thì ngƣời sử dụng lao động chỉ phải trả phần tiền chênh lệch so với tiền lƣơng giờ của ngày làm việc bình thƣờng. 2- Ngƣời lao động làm việc vào ban đêm quy định tại Điều 70 của Bộ luật này, thì đƣợc trả thêm ít nhất bằng 30% của tiền lƣơng làm việc vào ban ngày. Điều 62 Trong trƣờng hợp phải ngừng việc, ngƣời lao động đƣợc trả lƣơng nhƣ sau: 10 1- Nếu do lỗi của ngƣời sử dụng lao động, thì ngƣời lao động đƣợc trả đủ tiền lƣơng; 2- Nếu do lỗi của ngƣời lao động thì ngƣời đó không đƣợc trả lƣơng; những ngƣời lao động khác trong cùng đơn vị phải ngừng việc đƣợc trả lƣơng theo mức do hai bên thoả thuận nhƣng không đƣợc thấp hơn mức lƣơng tối thiểu; 3- Nếu vì sự cố về điện, nƣớc mà không do lỗi của ngƣời sử dụng lao động hoặc vì những nguyên nhân bất khả kháng, thì tiền lƣơng do hai bên thoả thuận, nhƣng không đƣợc thấp hơn mức lƣơng tối thiểu. Điều 63 Các chế độ phụ cấp, tiền thƣởng, nâng bậc lƣơng, các chế độ khuyến khích khác có thể đƣợc thoả thuận trong hợp đồng lao động, thoả ƣớc tập thể hoặc quy định trong quy chế của doanh nghiệp. Điều 64 Ngƣời sử dụng lao động có trách nhiệm trích từ lợi nhuận hàng năm để thƣởng cho ngƣời lao động đã làm việc tại doanh nghiệp từ một năm trở lên, theo quy định của Chính phủ phù hợp với đặc điểm của từng loại doanh nghiệp. Điều 65 1- Nơi nào sử dụng ngƣời cai thầu hoặc ngƣời có vai trò trung gian tƣơng tự thì ngƣời sử dụng lao động là chủ chính phải có danh sách và địa chỉ của những ngƣời ấy kèm theo danh sách những ngƣời lao động làm việc với họ và phải bảo đảm việc họ tuân theo quy định của pháp luật về trả công lao động, an toàn lao động và vệ sinh lao động. 2- Nếu ngƣời cai thầu hoặc ngƣời có vai trò trung gian tƣơng tự trả thiếu hoặc không trả lƣơng và không bảo đảm các quyền lợi khác cho ngƣời lao động, thì ngƣời sử dụng lao động là chủ chính phải chịu trách nhiệm trả lƣơng và bảo đảm các quyền lợi đó cho ngƣời lao động. Trong trƣờng hợp này, ngƣời sử dụng 11 lao động là chủ chính có quyền yêu cầu ngƣời cai thầu hoặc ngƣời có vai trò trung gian tƣơng tự đền bù hoặc yêu cầu cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật. 3. Hình thức tiền thưởng. Tiền thƣởng thực chất là khoản tiền bổ xung cho tiền lƣơng nhằm quán triệt hơn nguyên tắc phân phối theo động và nâng cao hiệu quả trong sản xuất kinh doanh. Thật vậy, phần lợi nhuận đƣợc tạo ra trong quá trình sản xuất không chỉ có vai trò của chủ doanh nghiệp mà còn có vai trò đóng góp tích cực của ngƣời lao động. Do đó, trong việc phân phối lợi nhuận phải trích một phần cho ngƣời lao động ( dƣới dạng tiền thƣởng ). Có thể nói tiền thƣởng là một trong những biện pháp khuyến khích vật chất đối với ngƣời lao đông trong quá trình làm việc. Vì thế nó có tác dung động viên và kích thích ngƣời lao động làm việc 4. Thang lương, bảng lương Nhà nƣớc ban hành 21 thang lƣơng và 25 bảng lƣơng với quan hệ tiền lƣơng tối thiểu, trung bình, tối đa là 1, 1,82 và 7,06 áp dụng đối với doanh nghiệp Nhà nƣớc. Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài và doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp đƣợc quyền vận dụng thang lƣơng, bảng lƣơng do Nhà nƣớc ban hành hoặc tự xây dựng và đăng ký với cơ quan lao động địa phƣơng. II. CƠ CHẾ QUẢN LÍ TIỀN LƢƠNG VÀ THU NHẬP. Đối với doanh nghiệp nhà nƣớc, việc lập kế hoạch tiền lƣơng và xác định đơn giá tiền lƣơng phải gắn với năng suất lao động và hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Giám đốc đƣợc quyền chủ động trong việc trả lƣơng cho ngƣời lao động gắn với năng suất lao động, hiệu quả và mức độ đóng góp 12 của từng ngƣời. Nhà nƣớc thực hiện chức năng thẩm định, kiểm soát và điều chỉnh. Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài và doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, Nhà nƣớc quy định mức lƣơng tối thiểu, quy định các nguyên tắc có tính chất định hƣớng, làm căn cứ để doanh nghiệp cụ thể hoá mức tiền lƣơng, tiền công theo điều kiện cụ thể của từng ngành nghề. Doanh nghiệp quyết định trả lƣơng cho ngƣời lao động căn cứ vào hiệu quả sản xuất, kinh doanh, mức tiền công trên thị trƣờng và thoả thuận trong hợp đồng lao động, thoả ƣớc lao động tập thể. III. ĐÁNH GIÁ Qua 8 năm thực hiện chế độ tiền lƣơng mới, có thể đánh giá nhƣ sau: a) Mặt được. - Đã thực hiện đƣợc một số mục tiêu đặt ra của tiền lƣơng tối thiểu, mức lƣơng đã đƣợc “tiền tệ hoá”, phƣơng pháp xác định có căn cứ khoa học. Nhà nƣớc công bố mức lƣơng tối thiểu phù hợp với các loại hình doanh nghiệp đã thúc đẩy các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp Nhà nƣớc sắp xếp, tổ chức sản xuất, tổ chức lao động, tính đúng chi phí tiền lƣơng, tăng doanh thu, tiết kiệm chi phí, tăng tiền lƣơng gắn với tăng lợi nhuận, hiệu quả của doanh nghiệp. - Hệ thống thang lƣơng, bảng lƣơng do Nhà nƣớc ban hành là cơ sở để chuyển xếp lƣơng, đánh giá chất lƣợng đội ngũ lao động, ký kết hợp đồng lao động, đóng, hƣởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trả lƣơng cho những ngày nghỉ theo chế dộ quy định của Bộ luật Lao động. - Cơ chế quản lý tiền lƣơng của Nhà nƣớc đã tạo hành lang pháp lý để doanh nghiệp đƣợc quyền chủ động trong xác định chi phí tiền lƣơng cho ngƣời lao động. Tiền lƣơng, thu nhập của ngƣời lao động từng bƣớc gắn với năng suất lao động, hiệu quả sản xuất, kinh doanh; mối quan hệ giữa tiền lƣơng, tiền thƣởng và lợi nhuận đƣợc giải quyết hợp lý hơn; vai trò quản lý của Nhà nƣớc về tiền lƣơng, thu nhập đƣợc tăng cƣờng một bƣớc. 13 b. Mặt chưa được. - Mục tiêu đặt ra tính đúng, tính đủ lƣơng tối thiểu là khá cao so với sức phát triển của nền kinh tế nƣớc ta hiện nay. Mặt khác, tiền lƣơng tối thiểu mới đƣợc xem xét chủ yếu trong khu vực Nhà nƣớc chƣa có sự liên kết giữa các khu vực, vì vậy, nhìn chung tác dụng của mức lƣơng tối thiểu còn hạn chế, phạm vi áp dụng hẹp, chƣa thực sự là cơ sở hình thành mức tiền công trên thị trƣờng sức lao động. Chƣa phân biệt sự khác nhau giữa tiền lƣơng tối thiểu của các doanh nghiệp với tiền lƣơng tối thiểu của khu vực hành chính, sự nghiệp. Chƣa làm rõ những căn cứ xây dựng và áp dụng mức lƣơng tối thiểu vùng, ngành, chƣa quy định mức lƣơng tối thiểu giờ. - Hệ thống thang lƣơng, bảng lƣơng do Nhà nƣớc ban hành không bao trùm hết ngành nghề, công việc. Tiền lƣơng theo thang, bảng lƣơng với mức lƣơng tối thiểu chung do Nhà nƣớc quy định chỉ chiếm một phần nhỏ (khoảng 25%-30%) lƣơng thực tế và thu nhập của ngƣời lao động. - Việc thống nhất quản lý chi phí tiền lƣơng ở đầu vào chƣa hoàn toàn gắn với năng suất lao động và hiệu quả sản xuất, kinh doanh ở đầu ra của doang nghiệp nhà nƣớc. Việc đổi mới cơ chế quản lý tiền lƣơng, thu nhập và cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp chƣa đồng bộ. ở nhiều doanh nghiệp, tốc độ tăng tiền lƣơng bình quân lớn hơn tốc độ tăng năng suất lao động. Việc hằng năm, Nhà nƣớc giao đơn giá tiền lƣơng cho các doanh nghiệp chƣa phù hợp với cơ chế thị trƣờng, tạo cho giám đốc ỷ lại, không chịu trách nhiệm và không năng động để tính toán, quyết định đúng đắn chi phí tiền lƣơng gắn với lợi nhuận; 14 PHẦN II THỰC TRẠNG CỦA TIỀN LƢƠNG VÀ TÁC DỤNG CỦA TIỀN LƢƠNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP I. TÌNH HÌNH TIỀN LƢƠNG VÀ THU NHẬP CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG. Nhà nƣớc ta ban hành hệ thống thang lƣơng, bảng lƣơng để trả lƣơng cho ngƣời lao động trong lĩnh vực hành chính, sự nghiệp, cho những ngƣời làm các chức vụ bầu cử và cho lực lƣợng vũ trang nhân dân. Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp đã tham khảo, vận dụng hệ thống tiền lƣơng này để xây dựng hệ thống tiền lƣơng của doanh nghiệp mình. Đối với các doanh nghiệp nhà nƣớc,hệ thống thang lƣơng, bảng lƣơng của nhà nƣớc đƣợc dùng để làm cơ sở để trích nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho ngƣời lao động và làm cơ sở để xác định giá trị đầu vào của sản phẩm. 1. Thực hiện mức lương tối thiểu chung. a. Mức lƣơng tối thiểu chung thực hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 2008 theo quy định tại Điều 1 Nghị định số 166/2007/NĐ-CP là 540.000 đồng/tháng. b. Công ty căn cứ mức lƣơng tối thiểu chung tại khoản 1 nêu trên và hệ số lƣơng, phụ cấp lƣơng quy định tại Nghị định số 205/2004/NĐ-CP, Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ để tính mức lƣơng, phụ cấp lƣơng làm căn cứ tính đóng, hƣởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; tiền lƣơng ngừng việc; nghỉ ngày lễ, nghỉ hàng năm và các chế độ khác theo quy định của pháp luật lao động. Việc tính mức lƣơng và phụ cấp lƣơng đƣợc thực hiện nhƣ sau: lấy hệ số lƣơng cấp bậc theo chức danh nghề, công việc; hệ số lƣơng chuyên môn, nghiệp vụ; hệ số lƣơng chức vụ đƣợc xếp, phụ cấp lƣơng, hệ số chênh lệch bảo lƣu (nếu có) nhân với mức lƣơng tối thiểu chung 540.000đồng/tháng. 15 c. Đối với ngƣời lao động dôi dƣ thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động, nhận trợ cấp mất việc làm theo quy định tại khoản 4, Điều 3 và Điều 4 Nghị định số 110/2007/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ về chính sách đối với ngƣời lao động dôi dƣ do sắp xếp lại công ty nhà nƣớc, thì trợ cấp mất việc làm cho thời gian làm việc trong khu vực nhà nƣớc từ ngày 01 tháng 01 năm 2008 trở đi và trợ cấp đi tìm việc làm đƣợc tính theo mức lƣơng tối thiểu chung 540.000 đồng/tháng. Khi thực hiện các khoản trợ cấp này thì bổ sung thêm các cột tƣơng ứng để tính thời gian làm việc thực tế trong khu vực nhà nƣớc và tính trợ cấp mất việc làm vào biểu số 9, biểu số 10 ban hành kèm theo Thông tƣ số 18/2007/TT-BLĐTBXH ngày 10 tháng 9 năm 2007 của Bộ Lao động – Thƣơng binh và Xã hội. Đối với ngƣời lao động dôi dƣ thuộc diện nghỉ hƣu trƣớc tuổi thì trợ cấp thêm theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 3 Nghị định số 110/2007/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ, từ ngày 01 tháng 01 năm 2008 trở đi đƣợc tính theo mức lƣơng tối thiểu 540.000 đồng/tháng. 2. Thực hiện mức lương tối thiểu vùng. *Mức lƣơng tối thiểu vùng để trả công đối với ngƣời lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thƣờng ở các công ty thực hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 2008 theo. Điều 2: Nghị định số 167/2007/NĐ-CP nhƣ sau; a) Mức 620.000 đồng/tháng áp dụng đối với công ty hoạt động trên địa bàn các quận thuộc thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh. b) Mức 580.000 đồng/tháng áp dụng đối với công ty hoạt động trên địa bàn các huyện thuộc thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh; các quận thuộc thành phố Hải Phòng, thành phố Hạ Long thuộc tỉnh Quảng Ninh; thành phố Biên Hòa, thị xã Long Khánh, các huyện; Nhơn Trạch, Long Thành, Vĩnh Cửu và Trảng Bom thuộc tỉnh Đồng Nai; thị xã Thủ Dầu Một, các huyện: Thuận An, 16 Dĩ An, Bến Cát và Tân Uyên thuộc tỉnh Bình Dƣơng, thành phố Vũng Tàu thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. c) Mức 540.000 đồng/tháng áp dụng đối với công ty hoạt động trên các địa bàn còn lại. * Đối với công ty có đơn vị, chi nhánh hoạt động trên các địa bàn có mức lƣơng tối thiểu vùng khác nhau thì đơn vị, chi nhánh hoạt động ở địa bàn vùng nào áp dụng mức lƣơng tối thiểu vùng theo địa bàn đó. *Từ năm 1993 nƣớc ta thực hiện chính sách tiền lƣơng mới . Theo đó , tiền lƣơng đã góp phần đảm bảo đời sống cho ngƣời hƣởng lƣơng , đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế . Tuy nhiên , cuộc sống luôn luôn biến động , trong khi tiền lƣơng lại chủ yếu nằm trong trạng thái tĩnh , dẫn đến chính sách tiền lƣơng bộc lộ nhiều hạn chế trong quá trình thực hiện , nổi lên là : + Tiền lƣơng tối thiểu thấp , tiền lƣơng thực tế ngày càng giảm sút , vừa không đủ để tái sản xuất sức lao động , vừa không đủ đáp ứng nhu cầu trong điều kiện mở rộng xã hội hoá . Thật vậy , tháng 1/2001 , tiền lƣơng tối thiểu một lần nữa đƣợc điều chỉnh lên 210.000 đ/tháng . Và đến ngày 28 / 3 / 2001 , Chính phủ ban hành Nghị định 03 / 2002 / NĐ - CP cho phép các DNNN có thể mở rộng tiền lƣơng tối thiểu cao gấp 3 lần mức tiền lƣơng tối thiểu chung , tức 630.000 đ/tháng . Mặc dù mức lƣơng tối thiểu đã đƣợc điều chỉnh tăng song mới chỉ bù đƣợctrƣợt giá 61% . Do vậy lƣơng thực tế vẫn trong xu hƣớng giảm sút . + Diện hƣỏng lƣơng từ ngân sách Nhà nƣớc quá rộng , cơ cấu bất hợp lý và vẫn mang nặng tính bao cấp . Tính đến cuối tháng 12 / 1999 , đối tƣợng hƣởng lƣơng và trợ cấp thƣờng xuyên tữ NSNN là 6.172.497 ngƣời ( không kể lực lƣợng vũ trang ) , chiếm 8,2% dân số cả nƣớc và tổng kinh phí tiền lƣơng 1 năm hơn 21.000 tỷ đồng . Năm 2001 tổng quỹ tiền lƣơng gần 32.000 tỷ đồng . + Trên thực tế thu nhập của công chức lớn hơn nhiều lần so với tiền lƣơng . Số liệu điều tra ở 100 đơn vị thuộc các ngành giáo dục , y tế , khoa học kỹ thuật, 17 phát thanh truyền hình , kho bạc , hải quan cho thấy mức thu nhập từ lƣơng và ngoài lƣơng nhƣ sau ( bảng 1 ) BẢNG 1 : CƠ CẤU THU NHẬP CỦA CÔNG CHỨC MỘT SỐ NGÀNH (%) Công chức khối Tổng số Từ tiền lƣơng Ngoài lƣơng Đại học 100 37,80 62,20 Phổ thông trunh học 100 62,85 37,15 Tiểu học 100 85,78 14,22 Bệnh viện tinh / TP 100 59,29 40,71 Y tế huyện 100 78,83 21,17 Khoa học kỹ thuật 100 40,55 59,45 Phát thanh truyền hình 100 22,48 77,56 Kho bạc 100 45,11 54,89 Hải quan 100 36,08 63,92 Nguồn : Tạp chí Lao động và xã hội – Số tháng 11 / 2001 . Nhìn chung hiện nay thu nhập của công chức bao gồm 2 phần : một phần do Nhà nƣớc trả , phần kia là thu nhập do đơn vị làm thêm . Trong đó phần từ tiền lƣơng chỉ bằng 1/3 đến 1/4 thu nhập , còn từ hoạt động làm thêm mang lại 2/3 đến 3/4 thu nhập của công chức . II. NGUYÊN NHÂN SỰ HẠN CHẾ CỦA TIỀN LƢƠNG HIỆN NAY . Những hạn ché của chính sách tiền lƣơng hiện nay có nhiều nguyên nhân . Dƣới đây là một số nguyên nhân chủ yếu : + Coi tiền lƣơng chỉ là yếu tố của phân phối mà chƣa coi là yếu tố của sản xuất . Tiền lƣơng là một bộ phận của thu nhập quốc dân , nhƣng đối với ngƣời lao động vầ ngƣời sử dụng lao động , tiền lƣơng có ý nghĩa , vị trí khác nhau . Đối với ngƣời lao động , tiền lƣơng là nguồn để tái sản xuất sức lao động , do vậy 18 tiền lƣơng là yếu tố của phân phối . Song đối với ngƣời sử dụng lao động thì tiền lƣơng là một bộ phận của chi phí sản xuất . Vì vậy , chi cho tiền lƣơng là chi cho đầu tƣ phát triển . Do chƣa coi chi phí tiền lƣơng là đầu tƣ cho ngƣời lao động mà chỉ coi đó là một khoản chi cho tiêu dùng cá nhân nên chính sách tiền lƣơng còn nhiều hạn chế .  Phải thay đổi nhận thức về tiền lƣơng . Đối với ngƣời lao động , tiền lƣơng là bộ phận chủ yếu của thu nhập . Chính vì vậy , tiền lƣơng là động lực kinh tế thúc đẩy ngƣời lao động quan tâm đến công việc của họ . Trả đúng , trả đủ tiền lƣơng cho ngƣời lao động sẽ khuyến khích họ quan tâm đến hoạt động và gắn bó với công việc mà họ đảm nhiệm . + Chƣa xoá bỏ bao cấp trong tiền lƣơng . Hiện nay , có không ít cán bộ , công chức đƣợc hƣởn bao cấp về nhà ở , xe cộ , điện thoại . Nếu nhƣ giảm đƣợc những khoản này cũng có thể chuyển phần không nhỏ vốn vào quỹ tiền lƣơng mỗi năm .  Tiếp tục tiền tệ hoá tiền lƣơng , cần xoá bỏ bao cấp trong tiền lƣơng . Các nhu cầu về điều kiện làm việc và sinh sống của cán bộ , công chức nhƣ nhà ở , xe cộ , điện thoại phải đƣợc tính toán đầy đủ vào tiền lƣơng . + Lƣơng tối thiểu chƣa ban hành theo từng vùng , ngành , không có sự phân biệt rõ ràng giữa lƣơng tối thiểu của doanh nghiệp với cán bộ công chức , giữa lao động trí óc và lao động chân tay . Hệ thống thang , bảng lƣơng vừa phức tạp , vừa gây khó khăn cho việc xếp lƣơng , các chế độ phụ cấp lƣơng trùng lặp , ý nghĩa khuyến khích không rõ ràng về xách tính , tạo ra mâu thuẫn .  Nhu cầu tối thiểu chung của xã hội thƣờng thấp hơn nhu cầu của ngƣời làm công ăn lƣơng . Vì vậy , mức lƣơng tối thiểu không thể chỉ bằng nhu cầu tối thỉểu chung của xã hội . 19 PHẦN III MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ TIỀN LƢƠNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP. I. GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ TIỀN LƢƠNG. 1. Mặc dù có nhiều cố gắng trong việc đổi mới , hoàn thiện hệ thống chính sách tiền lƣơng , song thực té cho thấy mức lƣơng hiện nay cò rhấp . Do đó , tiền lƣơng chƣa thực sự khuyến khióch ngƣời lao động , làm cho họ hăng hái làm việc thì phải tăng thu nhạp của họ . Khi ngƣời lao động thấy rằng họ sẽ nhân đƣợc một khoản đủ để thoả mãn hợp lý các nhu cầu , thì họ sẽ nỗ lực làm việc và làm việc có năng suất , chất lƣợng , hiệu quả . Nói chung lợi ích càng nhiều , càng kích thích con ngƣời làm việc , và ngƣợc lại . Thực tế tiền lƣơng tối thiểu ở nƣớc ta thấp , nhƣng tăng lƣơng tối thiểu hoàn toàn không đơn giản ( nếu cứ tăng thêm 10.000 đồng tiền lƣơng tối thiểu thì phải tăng ngân sách Nhà nƣớc khoảng 1.700 tỷ đồng ) . Do đó , các doanh nghiệp có xu hƣớng tăng thu nhập cho ngƣời lao động ( tăng tiền thƣởng , các khoản phụ cấp , trợ cấp … ) . Mặt khác , Nhà nƣớc phải luôn điều chỉnh tiền lƣơng tối thiểu sao cho phù hợp với tình hình thực tế . 2. Để tiền lƣơng phát huy vai trò tạo động lực thì mỗi chính sách tiền lƣơng ban hành ra phải thông qua ngƣời lao động ( bảng hỏi , phỏng vấn … ) . Sở dĩ nhƣ vậy là vif khi ngƣời quản lý ban hành chính sách thì họ luôn cho rằng có sự công bằng trong chính sách đó . Nhƣng công bằng là sự nhận thức , nếu ngƣời lao động không cảm nhận đƣợc sự công bằng thì chính sách cũng không tạo động lực thúc đẩy họ làm việc . Vì vậy , chính sách tiền lƣơng đƣa ra phải dẽ hiểu , làm cho ngƣời lao động có thể nhận thức đƣợc . Đồng thời phải thƣờng xuyên cung cấp thông tin cho ngƣời lao động thì họ mới nhận thức đúng đƣợc . 20
- Xem thêm -