Phương pháp tính toán hàng tồn kho hợp lý

  • Số trang: 30 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 36 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

TỒN KHO Tiểu luận Phương pháp tính toán hàng tồn kho hợp lý GVHD: PGS-TS. PHẠM NGỌC TUẤN HV: CAO VĂN ĐẲNG - 11040387 Page 1 TỒN KHO MỤC LỤC II. PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................. 3 1. Tổng quan .............................................................................................................. 3 2. Phân loại ................................................................................................................ 6 a. Hàng mua đang đi đường ................................................................................... 7 b. Hàng đại lý (hàng uỷ thác) ................................................................................. 8 c. Hợp đồng bán đặc biệt ....................................................................................... 8 d. Bán với cam kết mua lại (sales with buy back) .................................................... 8 e. Bán với tỷ lệ trả lại cao (Sales with high rate return) ......................................... 9 f. III. Hàng bán trả góp ............................................................................................... 9 CÁC TRƯỜNG HỢP ........................................................................................ 10 a. Ngành Thép ...................................................................................................... 10 b. Ngành kính xây dựng ........................................................................................ 11 c. Ngành mía đường ............................................................................................. 14 d. Các mặt hàng khác ........................................................................................... 16 IV. CÁC PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN ............................................................... 20 1. Có nhiều phương pháp ......................................................................................... 20 2. Ưu và nhược điểm của từng phương pháp ............................................................ 20 a. Phương pháp nhập trước - xuất trước (FIFO) .................................................. 20 b. Phương pháp nhập sau - xuất trước (LIFO) ..................................................... 21 c. Phương pháp giá hạch toán .............................................................................. 21 d. Phương pháp giá thực tế đích danh .................................................................. 22 e. Phương pháp giá bình quân.............................................................................. 22 V. TỒN KHO NHƯ THẾ NÀO LÀ HỢP LÝ ....................................................... 22 1. Hai mặt của tồn kho ............................................................................................. 22 2. Tồn kho như thế nào là hợp lý ............................................................................. 23 a. Nắm bắt nhu cầu .............................................................................................. 23 GVHD: PGS-TS. PHẠM NGỌC TUẤN HV: CAO VĂN ĐẲNG - 11040387 Page 2 TỒN KHO b. Hoạch định cung ứng ....................................................................................... 24 c. Tính toán lượng đặt hàng ................................................................................. 24 d. Xác định thời điểm đặt hàng ............................................................................. 25 e. Ví dụ ................................................................................................................. 25 VI. KẾ HOẠCH - KHẮC PHỤC VÀ PHÒNG TRÁNH ........................................ 26 1. Mức độ sản xuất đều và cố định ........................................................................... 26 2. Tồn kho thấp ........................................................................................................ 26 3. Kích thước lô hàng nhỏ ........................................................................................ 27 4. Lắp đặt với chi phí thấp và nhanh chóng .............................................................. 27 5. Bố trí mặt bằng hợp lý ......................................................................................... 27 6. Kiểm kê hàng hóa ................................................................................................ 27 7. Tránh dự trữ quá nhiều ........................................................................................ 28 PHỤ LỤC ...................................................................................................................... 29 VII. I. THAM KHẢO ................................................................................................ 30 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tổng quan Tồn kho là toàn bộ nguồn vào quy trình sản xuất như hàng cung ứng, nguyên vật liệu, phụ tùng… mà công ty dùng trong hoạt động kinh doanh, ngoài ra còn bao gồm cả công việc đang được thực hiện - hàng hóa đang trong nhiều giai đoạn sản xuất khác nhau - cũng như thành phẩm đang chờ xuất kho đem bán hoặc vận chuyển đến khách hàng. Đối với nhiều công ty, hàng tồn kho được xem là tài sản lưu động quan trọng. Chi phí tồn kho có hai khía cạnh đáng lưu ý. Thứ nhất, phải xác định chi phí hàng tồn được thu mua hay sản xuất. Chi phí này sau đó được đưa vào tài khoản tồn kho cho đến khi sản phẩm được xuất kho đem bán. Khi sản phẩm đã được vận chuyển hoặc phân phối đến tay khách hàng, chi phí này được ghi thành tiêu phí trong báo cáo thu nhập như một phần của giá vốn hàng bán. Hãy tưởng tượng các chi phí đi vào tài khoản tồn kho và sau đó được chuyển khỏi tài khoản này và tính cho giá vốn hàng bán trong báo cáo thu nhập. Khi sản phẩm được chuyển vào kho và sau đó được lấy ra để phân phối đến tay khách hàng, chi phí tồn kho sẽ được chuyển vào một tài khoản rồi lấy ra sau từ đó. Tuy nhiên, cần phải nhận thấy rằng những dòng tiền này không cần phải song GVHD: PGS-TS. PHẠM NGỌC TUẤN HV: CAO VĂN ĐẲNG - 11040387 Page 3 TỒN KHO song nhau - nghĩa là, dòng chi phí vào và ra khỏi tài khoản tồn kho không cần phải đặt đúng thứ tự như lưu lượng hàng nhập và xuất kho. Như được trình bày dưới đây, chúng ta có thể quyết định trước hết sử dụng các mặt hàng tồn kho nhận được gần đây nhất vì nó giúp chúng ta ước tính chi phí thực tế hơn. Chính sách tồn kho rất quan trọng khiến cho các nhà quản lý sản xuất, quản lý marketing và quản lý tài chính phải làm việc cùng nhau để đạt được sự thống nhất. Có nhiều quan điểm khác nhau về chính sách tồn kho, để có sự cân bằng các mục tiêu khác nhau như: giảm chi phí sản xuất, giảm chi phí tồn kho và tăng khả năng đáp ứng nhu cầu cho khách hàng. Mục này sẽ giải quyết các quan điểm đối chọi nhau để thiết lập chính sách tồn kho. Chúng ta khảo sát về bản chất của tồn kho và các công việc bên trong hệ thống tồn kho, xây dựng những vấn đề cơ bản trong hoạch định tồn kho và kỹ thuật phân tích một số vấn đề tồn kho.Có nhiều lý do để giải thích tại sao muốn tồn kho và tại sao lại không muốn tồn kho? Dưới đây sẽ thể hiện lý do của hai quan điểm này: a. Tại sao chúng ta giữ hàng tồn kho? Tồn kho là cần thiết nhưng vấn đề quan trọng là khối lượng hàng tồn kho được giữ là bao nhiêu cho phù hợp với điều kiện hoạt động sản xuất – kinh doanh của đơn vị. Chúng ta giữ hàng tồn kho vì một vài chi phí sau đây thấp: Chi phí chất lượng khởi động: Khi chúng ta bắt đầu sản xuất một lô hàng thì sẽ có nhiều nhược điểm trong giai đoạn đầu, như công nhân có thể đang học cách thức sản xuất, vật liệu không đạt đặc tính, máy móc lắp đặt cần có sự điều chỉnh. Kích thước lô hàng càng lớn thì có ít thay đổi trong năm và ít phế liệu hơn. Tồn kho có thể cần thiết cho hiệu quả vận hành của hệ thống sản xuất nhưng cũng có nhiều lý do đối với việc tại sao ta không giữ hàng tồn kho. Thành phẩm - Chuẩn bị lượng hàng trước khi giao hàng. - Năng lực sản xuất có hạn. - Sản phẩm có thể để trưng bày cho khách hàng. Bán thành phẩm - Vì khâu quản lý, không thể kết hợp 2 giai đoạn sản xuất lại. - Sản xuất và vận chuyển các lô hàng lớn khiến cho tồn kho nhiều hơn nhưng có thể giảm chi phí sản xuất, chi phí vận chuyển nguyên vật liệu. Vật liệu thô - Do một số nhà cung cấp sản xuất và vận chuyển một vài vật liệu thô theo lô. - Lượng đặt mua lớn làm tồn kho nhiều hơn nhưng có thể được khấu trừ theo số lượng mua, giảm được chi phí mua hàng. GVHD: PGS-TS. PHẠM NGỌC TUẤN HV: CAO VĂN ĐẲNG - 11040387 Page 4 TỒN KHO b. Tại sao chúng ta không giữ hàng tồn kho? Một số lý do sau đây làm cho chi phí gia tăng khi lượng tồn kho cao. - Chi phí tồn trữ: Là những chi phí phát sinh có liên quan đến việc tồn trữ như trong bảng 6-2 dưới đây. - Chi phí cho việc đáp ứng khách hàng: Nếu lượng bán thành phẩm tồn kho quá lớn thì nó làm cản trở hệ thống sản xuất. Thời gian cần để sản xuất, phân phối các đơn hàng của khách hàng gia tăng thì khả năng đáp ứng những thay đổi các đơn hàng của khách hàng yếu đi. - Chi phí cho sự phối hợp sản xuất: Do lượng tồn kho quá lớn làm cản trở qui trình sản xuất nên nhiều lao động được cần đến để giải tỏa sự tắc nghẽn, giải quyết những vấn đề tắc nghẽn liên quan đến sản xuất và lịch trình phối hợp. - Chi phí về chất lượng của lô hàng lớn: Khi sản xuất những lô hàng có kích thước lớn sẽ tạo nên tồn kho lớn. Trong vài trường hợp, một số sẽ bị hỏng và một số lượng chi tiết của lô sản xuất sẽ có nhược điểm. Nếu kích thước lô hàng nhỏ hơn có thể giảm được lượng kém phẩm chất. B - Chi phí nhân lực cho hoạt động giám sát quản lý:- Chi phí lương cho nhân viên bảo quản.- Chi phí quản lý điều hành kho hàng. Phí tổn cho việc đầu tư vào hàng tồn kho:- Phí tổn do việc vay mượn để mua hàng và chi phí trả lãivay.- Phí bảo hiểm hàng hóa trong kho. - Chi phí khác phát sinh:- Chi phí do hao hụt, mất mát vật liệu.- Chi phí do không sử dụng được nguyên vật liệu đó.- Chi phí đảo kho để hạn chế sự giảm sút về chất lượng. c. Bản chất của tồn kho: Hai vấn đề quan trọng trong mọi hoạch định tồn kho là: - Cần đặt hàng là bao nhiêu cho từng loại nguyên vật liệu ? - Khi nào thì tiến hành đặt hàng lại ? Hàng hóa tồn kho có thể bao gồm cả nhu cầu nguyên vật liệu phụ thuộc lẫn nhu cầu nguyên vật liệu độc lập. Trong tồn kho nhu cầu độc lập, nhu cầu tồn kho của một loại hàng tồn kho độc lập với nhu cầu tồn kho của bất kỳ loại hàng nào khác. Ví dụ như hàng hóa là thành phẩm vận chuyển cho khách hàng. Nhu cầu của các loại hàng này được ước lượng thông qua dự báo hoặc những đơn hàng của khách hàng. Mục đích của chương này là đề cập đến quyết định về lượng đặt hàng và điểm đặt hàng của những hàng hóa có nhu cầu độc lập. Tồn kho có nhu cầu phụ thuộc bao gồm các loại hàng mà nhu cầu của nó phụ thuộc vào nhu cầu của hàng hóa khác trong tồn kho. Ví dụ: để lắp ráp được một xe đạp chúng ta cần 2 lốp xe, 1 sườn xe, 1 gi-đông,… Nói chung, nhu cầu về vật liệu và các phần tử có thể tính toán nếu chúng ta có thể ước lượng được nhu cầu của các loại thành phẩm cần sử dụng chúng. Các quyết định về lượng đặt hàng GVHD: PGS-TS. PHẠM NGỌC TUẤN HV: CAO VĂN ĐẲNG - 11040387 Page 5 TỒN KHO và điểm đặt hàng lại cho hàng hóa tồn kho phụ thuộc rất khác biệt với tồn kho độc lập. Những nguyên vật liệu, hàng hóa mua về đã được kiểm tra trước khi đưa vào các kho dự trữ. Đến lượt cần phải quản lý chúng, việc quản trị dự trữ bao quát trên ba phương diện: Quản trị hiện vật của dự trữ, quản trị kế toán và quản trị kinh tế của dự trữ . 2. Phân loại Hàng tồn kho trong các doanh nghiệp có nhiều loại, nhiều thứ có vai trò, công dụng khác nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh. Việc xác định và ghi nhận hàng tồn kho đòi hỏi phải được quan tâm thường xuyên vì hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số các tài sản lưu động của các doanh nghiệp. Để quản lý tốt hàng tồn kho cần phải phân loại, sắp xếp hàng tồn kho theo những nhóm và theo tiêu thức nhất định. Tiêu thức phân loại thông dụng nhất là phân loại theo công dụng của hàng tồn kho.  Theo kế toán Mỹ: hàng tồn kho được chia thành 3 nhóm chính là: - Hàng tồn kho thương mại: là những hàng mua vào để bán ra - Hàng tồn kho sản xuất: bao gồm: nguyên vật liệu, bán thành phẩm, giá trị sản phẩm dở dang, thành phẩm, vật dụng khác. - Hàng tồn kho là các vật phẩm khác: các thứ hàng tồn kho này không trọng yếu nên thường được ghi nhận thẳng vào chi phí khi chúng được mua về để sử dụng.  Theo kế toán Pháp: hàng tồn kho được phân chia theo công dụng bao gồm: nguyên vật liệu, tài sản dự trữ sản xuất khác, giá trị sản phẩm dở dang, dịch vụ dở dang, tồn kho sản phẩm, tồn kho hàng hoá.  Theo kế toán Việt Nam: hàng tồn kho bao gồm: nguyên vật liệu, hàng mua đi đường, công cụ dụng cụ, giá trị sản phẩm dở dang, hàng gửi bán, thành phẩm, hàng hoá. Như vậy, chúng ta thấy rằng việc phân loại hàng tồn kho ở các quốc gia về cơ bản là tương đối thống nhất với nhau. Ngoài ra, hàng tồn kho còn được phân loại theo các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, đó là hàng tồn kho ở khâu dự trữ (nguyên vật liệu, hàng đi đường, công cụ dụng cụ..); hàng tồn kho ở khâu sản xuất (giá trị sản phẩm dở dang) và hàng tồn kho ở khâu lưu thông (thành phẩm, hàng hoá, hàng gửi bán). Tuy nhiên, việc phân loại hàng tồn kho gắn với các khâu của quá trình sản xuất là phù hợp hơn cả vì nó gắn quá trình quản lý với từng khâu của quá trình sản xuất kinh doanh đảm bảo quá trình quản lý chặt chẽ và có hiệu quả. Dưới đây là sơ đồ phân loại hàng tồn kho ở doanh nghiệp thương mai và doanh nghiệp sản xuất. GVHD: PGS-TS. PHẠM NGỌC TUẤN HV: CAO VĂN ĐẲNG - 11040387 Page 6 TỒN KHO Sơ đồ: Phân loại HTK ở doanh nghiệp thương mại và doanh nghiệp sản xuất. Việc xác định những gì thuộc về hàng tồn kho cũng nảy sinh vấn đề cần trao đổi ở đây, nghĩa là xem xét việc sở hữu hàng tồn kho trong một số trường hợp. Theo nguyên tắc thực hành kế toán nói chung thì thuộc về hàng tồn kho chỉ là những thứ mà do doanh nghiệp sở hữu. Tuy nhiên, một điểm quan trọng là quyền kiểm soát gắn bó với tài sản đó. Trong thực tế, việc ghi nhận là hàng tồn kho khi nhận được hàng vì người mua khó xác định chính xác thời điểm pháp lý chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm cho mỗi lần mua, đồng thời không có những sai sót trọng yếu nào khi ghi nhận theo cách này. a. Hàng mua đang đi đường Vấn đề sở hữu được đặt ra trong trường hợp hàng mua đang đi đường, vậy khi nào quyền kiểm soát được chuyển giao. Điều này thường được xác định theo điều khoản cam kết hợp đồng giữa hai bên mua và bán. Nếu hàng được vận chuyển theo FOB điểm đi thì quyền kiểm soát chuyển giao cho người mua khi người bán chuyển hàng cho người vận tải là người đại diện cho bên mua. Như vậy hàng vận chuyển theo FOB điểm đi sẽ thuộc hàng tồn kho của người mua ngay sau khi hàng được bên bán chuyển cho người vận tải, hàng tồn kho này là hàng đang đi đường khi kết thúc kỳ kế toán của doanh nghiệp mua. Nếu bỏ qua việc ghi nhận này sẽ dẫn đến sai lệch trong hàng tồn kho, trong khoản phải trả trên bảng cân đối kế toán đồng thời sẽ thiếu nghiệp vụ mua hàng và giá trị hàng tồn cuối kỳ trên báo cáo kết quả kinh doanh. Nếu hàng vận chuyển theo FOB điểm đến thì quyền kiểm soát chưa chuyển giao đến tận khi người mua nhận được hàng hoá từ người vận chuyển chung, GVHD: PGS-TS. PHẠM NGỌC TUẤN HV: CAO VĂN ĐẲNG - 11040387 Page 7 TỒN KHO nghĩa là hàng vận chuyển theo FOB điểm đến vẫn thuộc quyền sở hữu và thuộc hàng tồn kho của bên bán cho đến khi người mua nhận được hàng. b. Hàng đại lý (hàng uỷ thác) Khi bên giao đại lý chuyển hàng cho bên nhận đại lý, tại bên nhận đại lý đồng ý nhận hàng nhưng không phát sinh khoản công nợ nào, trừ việc bên nhận đại lý phải bảo quản hàng khỏi mất và hỏng cho đến khi hàng bán được. Khi bên nhận đại lý bán được hàng thì toàn bộ doanh thu sau khi trừ hoa hồng đại lý và các chi phí phát sinh đã ghi hộ bên giao đại lý trong quá trình bán hàng được chuyển giao lại cho bên giao đại lý. Như vậy, khi hàng giao đại lý thì hàng vẫn là tài sản của bên giao đại lý và vẫn thuộc hàng tồn kho của bên giao đại lý và được theo dõi theo giá mua hoặc giá thành sản xuất thực tế mặc dù hàng đang được bên nhận đại lý nắm giữ và bảo quản. Bộ phận hàng gửi bán đại lý còn được theo dõi và ghi trong thuyết minh báo cáo tài chính. Đối với bên nhận đại lý thì không được phản ánh một phần hàng nhận đại lý nào vào bộ phận hàng tồn kho của đơn vị này vì hàng là tài sản của bên giao đại lý. c. Hợp đồng bán đặc biệt Như chúng ta đã đề cập tới ở trên, quyền sở hữu pháp lý được chuyển giao là chỉ dẫn chung dùng để xác định khi nào số hàng thuộc vào hàng tồn kho của doanh nghiệp. Nhưng việc chuyển giao quyền pháp lý của sản phẩm và bản chất kinh tế của nghiệp vụ kinh tế thường không phù hợp với nhau. Có thể quyền pháp lý của hàng đã chuyển giao cho người mua nhưng người bán hàng vẫn chịu các rủi ro về hàng và ngược lại việc chuyển giao quyền pháp lý có thể không xảy ra nhưng bản chất kinh tế của nghiệp vụ thì người bán không chịu các rủi ro về hàng nữa. Chúng ta xem xét ba trường hợp minh họa dưới đây cho các vấn đề này nảy sinh trong thực tế. d. Bán với cam kết mua lại (sales with buy back) Đôi khi một doanh nghiệp tài trợ vốn cho hàng tồn kho của doanh nghiệp mà không ghi chép là công nợ hay hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp. Đây là một cách dẫn đến một "cam kết tài trợ sản phẩm" thường liên quan đến một việc "bán hàng" với một cam kết rõ ràng hoặc không rõ ràng sẽ "mua lại". Theo cách này, người bán chuyển hàng cho người mua và đồng ý mua lại số hàng này với một giá nhất định trong một tương lai gần. Người mua sẽ sử dụng số hàng này như là khoản thế chấp để vay ngược trở lại số hàng đó, người mua dùng tiền vay trả cho người bán. Người bán mua lại số hàng trong tương lai và người mua thu lợi từ việc được thanh toán để trả khoản nợ vay. Như vậy bản chất của nghiệp vụ này là người bán đang tài trợ cho số hàng tồn kho của người bán và vẫn duy trì rủi ro của số hàng này - mặc dù về thực tế quyền pháp lý về số hàng đã được chuyển giao cho người mua. Với cách này, người bán sẽ bán được lợi về thuế tài sản (Property Taxes) chuyển sang khoản nợ ngắn hạn trên bảng cân đối kế toán cuả người bán và có thể dẫn đến sai lệch lợi nhuận. Đồng thời, theo cách này thì người mua khi mua hàng có thể tránh được vấn đề thanh khoản nhập GVHD: PGS-TS. PHẠM NGỌC TUẤN HV: CAO VĂN ĐẲNG - 11040387 Page 8 TỒN KHO trước xuất trước hoặc người mua được lợi từ một cam kết tương hỗ ở thời điểm sau này. Các cam kết bán với hợp đồng mua lại này thường được gọi là “các nghiệp vụ để lại” vì người bán để lại hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp khác trong một thời gian ngắn. Khi một cam kết mua lại với một giá xác định và giá này bao gồm toàn bộ giá gốc của hàng tồn kho cộng với các chi phí bảo quản (lưu kho), kế toán lại phản ánh trên sổ sách của người bán dưới hình thức là hàng tồn kho và công nợ phải trả. Tóm lại, theo hợp đồng bán và mua lại thì khi hợp đồng mua lại diễn ra hàng tồn kho thuộc về doanh nghiệp bán. e. Bán với tỷ lệ trả lại cao (Sales with high rate return) Các hợp đồng chính thức hoặc không chính thức thường xuất hiện trong một số ngành công nghiệp như phát hành, âm nhạc, đồ chơi, dụng cụ thể thao,… cho phép bên mua hàng được trả lại hàng và nhận lại toàn bộ tiền hàng mà không có điều kiện nào ràng buộc. Chẳng hạn, một công ty phát hành sách bán sách cho "cửa hàng sách của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân" với một cam kết là bất kỳ quyển sách nào không bán được thì có thể được trả lại và hoàn lại toàn bộ tiền. Theo thống kê có khoảng 25% sách bán ở cửa hàng sách Trường Đại học Kinh tế Quốc dân bị trả lại cho bên bán. Vậy công ty phát hành (người bán) có thể ghi chép nghiệp vụ bán hàng này như thế nào? Trong trường hợp này, có thể người bán sẽ ghi chép toàn bộ số hàng đã bán và thiết lập dự kiến tài khoản hàng bị trả lại và giảm giá hàng bán hoặc là không ghi nhận việc bán cho đến khi xác định được số thực bán được. Vấn đề nảy sinh ở đây là trong trường hợp nào thì số hàng được coi như đã bán được và không còn thuộc hàng tồn kho của bên bán. Theo chúng tôi thì khi lượng hàng bị trả lại có thể dự kiến được một cách tương đối chính xác thì hàng có thể được coi là đã bán được và số hàng đó không còn thuộc bộ phận hàng tồn kho của bên bán. Còn hàng bị trả lại không thể dự kiến được chính xác thì việc ghi giảm hàng tồn kho của bên bán khi số hàng thực sự bán được. f. Hàng bán trả góp Trong trường hợp hàng bán trả góp, tiền hàng được trả theo nhiều kỳ, vì hàng bán trả góp phát sinh rủi ro về nợ khó đòi cao hơn so với bán hàng thông thường nên người bán thường nắm quyền pháp lý của số hàng cho đến khi toàn bộ tiền hàng được thanh toán. Vấn đề nảy sinh ở đây là liệu rằng số hàng bán trả góp có được xem như hàng đã bán được, hay chưa? mặc dù quyền pháp lý của số hàng này chưa được chuyển giao. Theo chúng tôi, hàng bán trong trường hợp này có thể được ghi giảm trong hàng tồn kho của bên bán nếu tỷ lệ nợ khó đòi có thể dự đoán được tương đối chắc chắn căn cứ vào việc phân tích khả năng thanh toán của bên mua và một số nhân tố ảnh hưởng khác. Như vậy, việc bán trả góp ở đây chỉ ra rằng, trong một số trường hợp có thể ghi giảm hàng tồn kho của doanh nghiệp mặc dù quyền sở hữu pháp lý chưa được chuyển giao.Trong trường hợp này cần căn cứ GVHD: PGS-TS. PHẠM NGỌC TUẤN HV: CAO VĂN ĐẲNG - 11040387 Page 9 TỒN KHO vào bản chất kinh tế của nghiệp vụ để xác định mà không căn cứ vào hình thức pháp lý của nghiệp vụ. Như vậy, việc phân loại và xác định những hàng nào thuộc hàng tồn kho của doanh nghiệp ảnh hưởng tới việc tính chính xác của hàng tồn kho phản ánh trên bảng cân đối kế toán và ảnh hưởng tới các chỉ tiêu trên báo cáo kết quả kinh doanh. Vì vậy việc phân loại hàng tồn kho là cần thiết trong mỗi doanh nghiệp.  Ngoài ra ta cũng có thể phân loại hàng tồn kho như sau : • Nguyên liệu, vật liệu, công cụ dụng cụ tồn kho, đã mua đang đi trên đường hoặc gửi đi gia công chế biến • Hàng hoá mua để bán : Hàng hoá tồn kho, hàng mua đang đi trên đường, hàng gửi đi gia công, chế biến, hàng gửi bán • Hàng hoá thành phẩm : Thành phẩm tồn kho, và thành phẩm gửi bán • Sản phẩm dở dang : Sản phẩm chưa hoàn thành hoặc sản phẩm hoàn thành nhưng chưa làm thủ tục nhập kho • Chi phí dịch vụ dở dang Tất cả những thứ này được coi là hàng tồn kho và chiếm một phần lớn trong tỷ lệ tài sản kinh doanh của doanh nghiệp, bởi vì doanh thu từ hàng tồn kho là một trong những nguồn cơ bản tạo ra doanh thu và những khoản thu nhập thêm sau này cho doanh nghiệp. Đó là những tài sản đã sẵn sàng để đem ra bán hoặc sẽ được đem ra bán. Nếu để tồn hàng tồn kho quá lâu thì sẽ làm ảnh hưởng không tốt tới quá trình kinh doanh, bởi vì doanh nghiệp sẽ phải tốn chi phí dự trữ, chi phí thanh lý hay cải tiến hàng bị lỗi thời, và thanh lý hàng hư hỏng. Tuy nhiên, việc không dự trữ đủ hàng tồn kho cũng là một rủi ro bởi vì doanh nghiệp có khả năng đánh mất những khoản doanh thu bán hàng tiền năng hoặc thị phần nếu sau này giá lên cao mà doanh nghiệp không còn hàng để bán. II. CÁC TRƯỜNG HỢP a. Ngành Thép Công nghiệp sản xuất thép là một trong những ngành đã và đang "è cổ” gánh chịu thiệt hại do hàng hóa tồn kho gây ra. Hiệp hội thép Việt Nam cho biết, mỗi tấn thép bị tồn kho, đơn vị trực tiếp tạo ra sản phẩm bị thiệt hại 300.000 đồng/tháng.Vốn vay sản xuất với lãi suất cao nhưng hàng hóa không được tiêu thụ, thay vì đồng vốn quay vòng sinh lợi nay rơi vào tình trạng đóng băng. Đến trung tuần tháng 6, lượng hàng tồn kho của ngành thép đã lên đến khoảng 400.000 tấn. Theo đó, bình quân mỗi tháng, toàn ngành thép bị thiệt hại hơn 100 tỷ đồng. Tình trạng hàng tồn kho được các doanh nghiệp đối phó bằng cách sản xuất cầm chừng, có những đơn vị sản xuất thép cắt giảm hơn 50% công suất. Đây là giải pháp bất đắc dĩ, các doanh nghiệp gần như không còn sự lựa chọn nào khác. Hệ lụy là người lao động thiếu việc làm, thu nhập bị giảm sút, doanh nghiệp có nguy cơ thua lỗ, vấn đề an sinh xã hội khó được bảo đảm…. GVHD: PGS-TS. PHẠM NGỌC TUẤN HV: CAO VĂN ĐẲNG - 11040387 Page 10 TỒN KHO b. Ngành kính xây dựng Hiệp hội kính xây dựng Việt Nam cho biết, lượng kính xây dựng tồn kho của các doanh nghiệp cả nước hiện đã lên đến 21 triệu m2 quy tiêu chuẩn, tăng 8 triệu m2 so với cuối năm 2005. Theo ông Ngô Văn Thanh - Tổng thư ký Hiệp hội kính xây dựng, mức tồn kho như trên là khá cao, đang gây ra nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp. Nguyên nhân là do thị trường bất động sản thời gian qua trầm lắng, làm cho nhu cầu về vật liệu xây dựng nói chung cũng như kính xây dựng nói riêng không tăng trưởng mạnh. Mặt khác, kính Việt Nam lại đang phải cạnh tranh mạnh với một lượng lớn kính nhập khẩu từ Trung Quốc. Hiện thuế suất thuế nhập khẩu kính xây dựng từ Trung Quốc là 30%. Với mức thuế này khi nhập khẩu về đến Việt Nam, kính Trung Quốc sẽ khó có thể cạnh tranh được với kính Việt Nam. Nhưng bằng nhiều cách khác nhau như nhập lậu, gian lận thương mại... nên giá kính Trung Quốc hiện bán tại thị trường Việt Nam chỉ tương đương hoặc thấp hơn giá kính của Việt Nam, cạnh tranh rất mạnh với các doanh nghiệp sản xuất trong nước và càng gây ra tình trạng dư thừa. Do lượng kính tồn kho lớn, các doanh nghiệp đã phải giảm giá bằng cách tiến hành hàng loạt các chính sách chiết khấu thương mại. Nhưng cách làm này cũng không kích thích được thị trường, một số doanh nghiệp đã phải giảm giá bán dưới giá thành. Từ đầu năm 2006 đến nay, giá bán kính xây dựng của các doanh nghiệp đã giảm mạnh. Chẳng hạn kính trắng 4mm cuối năm 2005 có giá bán 47.500 đ/m2 đến tháng 4/2006 đã giảm xuống còn 34.000 đ/m2. Kính màu trà 5mm giá 67.000 GVHD: PGS-TS. PHẠM NGỌC TUẤN HV: CAO VĂN ĐẲNG - 11040387 Page 11 TỒN KHO đ/m2 đã giảm xuống dưới 60.000 đ/m2. Theo Hiệp hội kính xây dựng Việt Nam, để cân đối cung cầu trong tình hình hiện nay, các nhà sản xuất kính đã thống nhất xem xét dừng sản xuất chủng loại kính trắng 4mm, là chủng loại kính chiếm tỷ trọng lớn (khoảng 30% sản lượng sản xuất), tồn kho nhiều và chỉ sản xuất kính 5mm để giảm dư thừa. Giải pháp này cũng giúp tránh được hiện tượng một số dự án xây dựng khi thiết kế sử dụng kính có độ dầy 5 mm, nhưng đưa kính 4 mm thay thế làm giảm độ an toàn cho người sử dụng, gây thất thoát vốn đầu tư xây dựng cơ bản. Hiện toàn quốc có 7 nhà máy sản xuất kính xây dựng hoạt động với công suất năm 2005 đạt khoảng 81 triệu m2 quy tiêu chuẩn, trong khi nhu cầu chưa đạt tới 80 triệu m2/năm. Dự báo, cung sẽ tiếp tục vượt cầu trong các năm tới do liên tục vẫn có các nhà máy sản xuất kính xây dựng đi vào hoạt động. Nhà máy kính Trường Sơn của Công ty TNHH Kỳ Anh có công suất 220 tấn/ngày sẽ đi vào sản xuất trong năm nay, cung cấp ra thị trường 12 triệu m2 quy tiêu chuẩn/năm. Trong năm 2006 một số nhà máy kính có công nghệ lạc hậu sẽ phải ngừng sản xuất như kính Đáp Cầu 4,5 triệu tấn/năm, kính Móng Cái công suất 2,5 triệu tấn/năm... nhưng công suất chung của toàn ngành vẫn còn cao. Năm 2007, Liên doanh VGI giữa tập đoàn Nippon Sheet Glass (Nhật Bản) và Tổng Công ty vật liệu xây dựng số 1 (Việt Nam) cũng sẽ đưa nhà máy kính nổi 500 tấn/ngày tại Mỹ Xuân, Vũng Tàu đi vào sản xuất, cung cấp ra thị trường 29 triệu m2 quy tiêu chuẩn/năm. Khi đó tổng năng lực sản xuất của các nhà máy kính xây dựng tại Việt Nam sẽ ở vào khoảng 116 triệu m2 quy tiêu chuẩn/năm. Mức tăng trưởng công suất toàn ngành sẽ đạt 33%/năm. Căn cứ theo dự báo thị trường, đến năm 2007, tiêu thụ kính xây dựng cả nước vào khoảng 95 triệu m2 quy tiêu chuẩn/năm. Như vậy, năng lực sản xuất của các nhà máy sẽ vượt nhu cầu sử dụng khoảng 21 triệu m2 quy tiêu chuẩn/năm. Thêm vào đó, Tập đoàn công nghiệp than và khoáng sản Việt Nam cũng đã cùng với một đối tác tư nhân thành lập Công ty cổ phần kính nổi Chu Lai và đang chuẩn bị đầu tư một nhà máy kính nổi có công suất lên tới 1.000 tấn/ngày tại Khu kinh tế mở Chu Lai. Theo dự kiến, nhà máy kính này sẽ được khởi công xây dựng vào cuối năm nay và cuối năm 2008 đi vào sản xuất. Như vậy, tình hình tiêu thụ kính vốn đang "ảm đạm" sẽ càng ảm đạm hơn. Hiệp hội kính xây dựng Việt Nam dự tính đến năm 2010, nhu cầu tiêu thụ mới cân đối được sản lượng sản xuất của các nhà máy trong nước, nếu các cơ quan chức năng không kiểm soát đầu tư mới vào ngành kính xây dựng, thì hiện tượng cung vượt xa cầu sẽ còn tăng thêm, gây lãng phí trong đầu tư và khó khăn cho ngành sản xuất này. Khảo sát hiện trạng tại các đơn vị khác như Công ty kính nổi Viglacera Bình Dương, Công ty kính Việt Hưng, Kỳ Anh, VGI Vũng Tàu... cho thấy, giai đoạn này là thời điểm khó khăn với nhiều doanh nghiệp. Cả nước có tám doanh nghiệp sản xuất kính thì lượng sản phẩm đọng đến đầu tháng ba này là hơn 34 GVHD: PGS-TS. PHẠM NGỌC TUẤN HV: CAO VĂN ĐẲNG - 11040387 Page 12 TỒN KHO triệu m2 kính QTC. Thị trường tiêu thụ mặt hàng kính xây dựng bị thu hẹp 30% dẫn đến hai nhà máy kính phải đóng cửa, ba dây chuyền khác tạm dừng sản xuất, hàng nghìn lao động có nguy cơ mất việc... Trong khi các doanh nghiệp tìm mọi cách tiêu thụ sản phẩm, bảo đảm việc làm và đời sống công nhân thì thị trường cả nước lại ngập tràn kính ngoại đủ chủng loại. Theo số liệu báo cáo của ngành Hải quan, từ đầu năm đến nay, bình quân mỗi tháng có khoảng hai triệu m2 kính nhập khẩu. Với mức giá luôn thấp hơn kính sản xuất trong nước, kính ngoại đang giành giật thị trường với kính nội. Nguyên nhân chính khiến kính nội thua trên sân nhà do nhiều yếu tố chủ quan và khách quan. Hiện giá thành trong nước làm ra 1m2 kính nội thường cao hơn kính ngoại cùng chủng loại, kích cỡ. Chẳng hạn nguyên liệu chính như dầu FO (chiếm 30-40% giá thành sản xuất kính), hiện giá trong nước cao hơn từ 20 đến 30%, có thời điểm gần gấp đôi so với giá dầu trong khu vực. Do lợi thế về giá dầu, kính các nước trong khu vực nhập về Việt Nam giá luôn thấp hơn doanh nghiệp trong nước sản xuất. Kính là loại hàng hóa đặc biệt, nếu không có chuyên môn, khó phân biệt kiểm định được chất lượng. Lợi dụng kẽ hở này, nhiều doanh nghiệp đưa kính kém chất lượng, giá thành thấp vào lưu thông sản xuất dưới tem nhãn của hàng chất lượng cao khiến những doanh nghiệp kính làm ăn chân chính bị thiệt hại. Khâu kiểm định mặt hàng kính thông qua hàng rào kỹ thuật vẫn không được một cơ quan quản lý chất lượng nào kiểm soát. Tổng thư ký Hiệp hội Kính và Thủy tinh Việt Nam (VIEGLASS) Lê Minh Tuấn cho biết, các nhà nhập khẩu đang sử dụng hai phương thức gian lận thương mại chính như khai giá trị tính thuế thấp hơn giá trị thực tế 50-70% và chỉ bằng 30-40% giá thành sản xuất tại Việt Nam; kê khai độ dày của kính thấp hơn nhằm giảm thuế nhập khẩu. Việc nhập khẩu các loại kính không đạt tiêu chuẩn Việt Nam như các loại kính cán có độ cong vênh lớn, nhiều bọt, bao bì đóng gói kém, dễ vỡ, các loại kính chuyển mầu quá độ không bảo đảm tiêu chuẩn với giá rẻ đã gây ra tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, thiệt hại cho các nhà sản xuất trong nước. Kính chất lượng kém còn là nguyên nhân dẫn đến mất an toàn cho các công trình xây dựng. Sự vắng bóng của hàng rào kỹ thuật dẫn đến thiếu công bằng trong "sân chơi" giữa kính chất lượng trong nước và kính nhập khẩu kém chất lượng. Phó Giám đốc Ban Thương mại - Tổng công ty Viglacera Ðặng Hoàng Tùng cũng khẳng định: Tại các nước, việc quản lý chất lượng được đặt lên hàng đầu. Hàng rào kỹ thuật luôn được sử dụng như một công cụ hiệu quả. Ðiều này không hề trái với cam kết gia nhập WTO của nước ta về các biện pháp bảo hộ cạnh tranh. Nhằm bảo đảm lợi ích xã hội và an toàn trong sử dụng sản phẩm kính xây dựng, VIEGLASS đề nghị các cơ quan liên quan đưa ra các tiêu chuẩn kỹ thuật sản phẩm kính xây dựng và tiêu chuẩn lựa chọn lắp đặt kính, xây dựng thành quy chuẩn kỹ thuật bắt buộc áp dụng. Ðồng thời, thiết lập hàng rào kỹ thuật để ngăn GVHD: PGS-TS. PHẠM NGỌC TUẤN HV: CAO VĂN ĐẲNG - 11040387 Page 13 TỒN KHO chặn hành vi gian lận thương mại, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và an toàn cho các công trình xây dựng có sử dụng kính tại Việt Nam. Dấu hiệu lạc quan với ngành kính xây dựng là, mới đây Bộ Xây dựng đã giao các đơn vị liên quan xem xét, đánh giá sự phù hợp của các tiêu chuẩn Việt Nam với các tiêu chuẩn quốc tế đối với mặt hàng kính xây dựng, trình các cơ quan có thẩm quyền ban hành các quy định, quy chuẩn kỹ thuật, kiến nghị đưa sản phẩm này vào danh mục sản phẩm hàng hóa có khả năng gây mất an toàn. Với những giải pháp nêu trên, nhất là nâng cao chất lượng đa dạng hóa mặt hàng, thực hành tiết kiệm trong quản lý và trong sản xuất, xây dựng chuỗi cửa hàng tiêu thụ rộng khắp với dịch vụ lắp đặt kính trọn gói, bảo hành sau bán hàng, ngành kính xây dựng tìm lại vị thế mới, khẳng định thương hiệu trên thị trường trong nước và quốc tế. c. Ngành mía đường Dù chỉ mới sản xuất được nửa niên vụ đường 2011-2012 nhưng các nhà máy đường đang rơi vào tình cảnh khó khăn. Trong khi lượng đường tồn kho của các nhà máy đang gia tăng từng ngày, giữa tháng 2-2012 đường lậu từ Thái Lan tiếp tục tràn vào làm cho một số nhà máy trong nước điêu đứng. Giá đường bán buôn ở ĐBSCL tiếp tục giảm mạnh, trước tết trên 18.000 đồng/kg, sau tết chỉ còn trên dưới 16.500 đồng/kg. Theo lý giải của ông Trịnh Minh Châu, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Mía đường Sóc Trăng, sản lượng đường Thái Lan năm nay lên 10,6 triệu tấn, tăng 1 triệu tấn. Trong khi đó, đường lậu từ Thái Lan tràn sang biên giới Tây Nam ngày càng gia tăng. Theo ước tính của lãnh đạo một công ty mía đường, mỗi ngày có khoảng 500 tấn đường lậu qua ngõ biên giới Tây Nam. Giá đường cát lậu từ Thái Lan vào Việt Nam bán buôn với giá 17.000 đồng/kg, càng tăng thêm áp lực cho đường nội địa. Theo lãnh đạo một số nhà máy vùng ĐBSCL, đường sản xuất ra không bán được, giá tiếp tục hạ trong khi các nhà máy vẫn thu mua mía với giá không giảm để đảm bảo thu nhập cho nông dân. Tình trạng này đẩy hầu hết các nhà máy đường vào hoàn cảnh hết sức khó khăn. Trước đây, đường thủ công có màu vàng, còn mật, ngọt hơn đường sạch nên được người tiêu dùng thích. Tuy nhiên, đến nay các sản phẩm đường thủ công gần như “biến mất” nên một số người hám lợi đã sử dụng chất phụ gia pha chế đường trắng thành đường vàng. Tình trạng bát nháo chế biến đường trắng thành đường vàng ở ĐBSCL hiện nay xuất phát từ tâm lý người tiêu dùng chưa nhận thức đầy đủ về mối nguy hại về sức khỏe mang đến từ những sản phẩm pha chế không rõ nguồn gốc. “Đứng về góc độ nhà sản xuất, chúng tôi khuyến cáo người tiêu dùng không nên dùng thực phẩm không rõ xuất xứ hàng hóa. Người dân nên dùng đường có nhãn mác hàng hóa, nguồn gốc rõ ràng… Đây là những sản phẩm an GVHD: PGS-TS. PHẠM NGỌC TUẤN HV: CAO VĂN ĐẲNG - 11040387 Page 14 TỒN KHO toàn, đảm bảo cho sức khỏe” - ông Nguyễn Thành Long, Tổng Giám đốc Công ty Mía đường Cần Thơ cảnh cáo. Theo đánh giá của Hiệp hội Mía đường Việt Nam, sản lượng đường năm 2012 của các nhà máy trong nước có thể đạt 1,43 triệu tấn, cân đối cung cầu thừa trên 300.000 tấn. Với tình hình khó khăn trong khâu tiêu thụ hiện nay, khả năng nhiều nhà máy thua lỗ là khó tránh khỏi. Hiệp hội Mía đường Việt Nam cho rằng, Bộ Công thương, Bộ NN-PTNN cần có chủ trương và tạo điều kiện thuận lợi để các công ty được xuất khẩu đường với hạn mức 250.000 tấn trong năm 2012. Theo lãnh đạo một số công ty mía đường, thủ tục để giải quyết cho các doanh nghiệp đường xuất khẩu hiện nay là quá chậm chạp, quy định rắc rối, nhiêu khê; kiểu cấp “hạn ngạch nhỏ giọt” làm nhiều doanh nghiệp uể oải không còn hứng thú! Hiệp hội Mía đường Việt Nam đề xuất: Chính phủ cần có chính sách hỗ trợ các nhà máy đường về vốn, lãi suất để thực hiện tồn trữ, bình ổn thị trường với số lượng 10-20% sản lượng của các nhà máy trong thời gian 6 tháng. Đường lậu Thái Lan ngày càng lấn lướt tại thị trường nội địa, trong khi lượng đường tồn kho của các nhà máy tăng lên, nguy cơ ảnh hưởng đến giá thu mua mía nguyên liệu của nông dân là khó tránh khỏi từ đây tới cuối vụ! Trong tháng 1-2012, đoàn kiểm tra liên ngành quận Cái Răng - Cần Thơ phát hiện tại cơ sở kinh doanh đường cát của ông Lê Văn Thích đang “chế biến” và đóng gói số lượng lớn đường cát trắng của cơ sở Thuận Phát thành đường cát màu vàng kem chuẩn bị đưa ra thị trường tiêu thụ. Theo khai nhận của chủ cơ sở, hiện nay trên thị trường chủng loại đường cát màu vàng kem (còn gọi là đường mỡ gà) được người tiêu dùng ưa thích và tiêu thụ mạnh vì cho rằng đường chưa được tẩy trắng nên ít độc hại so với đường cát trắng hiện có mặt trên thị trường. Từ đó ông nghĩ ra cách làm thay đổi màu của đường cát trắng thành màu vàng kem để dễ tiêu thụ. GVHD: PGS-TS. PHẠM NGỌC TUẤN HV: CAO VĂN ĐẲNG - 11040387 Page 15 TỒN KHO Theo những người am hiểu trong ngành công nghiệp đường, tình trạng sử dụng hóa chất, chất phụ gia không rõ nguồn gốc để biến đường trắng thành đường vàng đã xuất hiện khá lâu. Giá mía nguyên liệu ở ĐBSCL không giảm trong khi đường cát giảm giá. Tính đến cuối tháng 3-2012, lượng hàng tồn kho tại các nhà máy đường là 380.000 tấn. Theo Hiệp hội Mía đường VN, lượng hàng tồn cao do sức mua tiếp tục thấp từ cuối năm ngoái đến nay. Nguyên nhân chính do doanh nghiệp sản xuất cầm chừng, không dám mạnh tay mua hàng dự trữ. Theo dự báo của Hiệp hội Mía đường VN, sản lượng đường niên vụ 20112012 ước đạt 1,4 triệu tấn, dư khoảng 170.000 tấn đường, trong đó 100.000 tấn tồn để chuyển sang vụ sau và có thể dư 70.000 tấn cho xuất khẩu. Tuy nhiên, vấn đề hiện nay là các nhà chế biến sản xuất trong nước của ngành bánh kẹo, nước giải khát, sữa... VN lại không mặn mà với đường trong nước mà tiếp tục đăng ký với Bộ Công thương để xin được nhập gần 270.000 tấn đường vì lý do giá nhập khẩu cạnh tranh hơn. Hệ lụy là giá bán buôn đường của các nhà máy giảm mạnh, giá thu mua mía nguyên liệu của người nông dân rớt theo. d. Các mặt hàng khác Gánh nặng hàng tồn kho : GVHD: PGS-TS. PHẠM NGỌC TUẤN HV: CAO VĂN ĐẲNG - 11040387 Page 16 TỒN KHO Không chỉ đường, mà các ngành sản xuất thực phẩm, công nghiệp cũng đang đối mặt với tình trạng hang tồn kho lớn. Khách hàng lớn nhất của các nhà sản xuất đường là ngành công nghiệp chế biến thực phẩm. Vì vậy, tình trạng các công ty đường tồn kho khối lượng lớn sản phẩm cho thấy bức tranh ảm đạm của một trong những ngành chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu công nghiệp của Việt Nam. Trong báo cáo tháng 5-2011 của Tổng cục Thống kê, sản xuất đường mía là ngành đứng đầu về tốc độ gia tăng giá trị sản xuất công nghiệp trong năm tháng đầu năm nay, với mức tăng tới 44,9% so với cùng kỳ năm 2010. Thế nhưng, đây cũng đang là ngành có lượng hàng tồn kho rất lớn, lên đến 525.000 tấn. Đường là ngành sản xuất mang tính thời vụ. Việc tồn kho vào thời điểm mía kết thúc vụ thu hoạch năm nay sẽ là chuyện bình thường, nếu như sức tiêu thụ đường của thị trường không chậm một cách bất thường, khiến cho mức tồn kho hiện nay tăng tới 142.000 tấn so với cùng kỳ năm ngoái. Khách hàng lớn nhất của các nhà sản xuất đường là ngành công nghiệp chế biến thực phẩm. Vì vậy, tình trạng các công ty đường tồn kho khối lượng lớn sản phẩm cho thấy bức tranh ảm đạm của một trong những ngành chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu công nghiệp của Việt Nam. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, lượng sản phẩm tồn kho trong ngành công nghiệp chế biến thực phẩm tính đến đầu tháng 5-2011 đã tăng mạnh. Trong đó, mức tồn kho của ngành sản xuất nước trái cây tăng 135,4% so với cùng kỳ năm ngoái. Sản phẩm cà phê sữa hòa tan, bột nêm và bột gia vị tăng trên dưới 100%. Nhiều sản phẩm khác như nước giải khát có ga, sữa đặc có đường và sữa tươi tiệt trùng, thức ăn gia súc cũng có mức tồn kho từ xấp xỉ 17% đến gần 40%. Không riêng gì ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, tồn khođang trở thành gánh nặng và là nỗi ám ảnh của ngành công nghiệp Việt Nam nói chung. Kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê cho thấy trong số 136 sản phẩm và nhóm sản phẩm công nghiệp, hơn hai phần ba số sản phẩm có mức tồn kho tăng so với cùng thời điểm này năm ngoái. Đáng ngại hơn là mức tồn kho đang có chiều hướng gia tăng, bất kể nhiều doanh nghiệp đã chủ động cắt giảm sản xuất, để hạn chế thiệt hại do đọng vốn vào hàng tồn kho. Ông Phạm Chí Cường, Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam, cho biết mỗi tấn thép tồn kho, nhà sản xuất sẽ thiệt hại ít nhất 300.000 đồng mỗi tháng cho tiền lãi vay ngân hàng. Chính vì vậy, nhiều công ty đã giảm sản lượng, có những doanh nghiệp hiện chỉ còn hoạt động với 40% công suất thiết kế. Thế nhưng, lượng thép xây dựng tồn kho vẫn tăng. Hiệp hội Thép Việt Nam dự báo, số thép tồn kho đến đầu tháng 6-2011 có thể xấp xỉ 400.000 tấn. Lạm phát cao, chính sách thắt chặt tín dụng, chủ trương cắt giảm đầu tư công để chống lạm phát được các nhà doanh nghiệp cho là những nguyên nhân chính làm giảm sức mua, dẫn đến tỷ lệ tồn kho tăng. Sản xuất vật liệu xây dựng là một trong những ngành chịu tác động nặng nề nhất, khi mà hầu như tất cả các sản phẩm trong ngành hàng này đều có mức tồn kho tăng mạnh. GVHD: PGS-TS. PHẠM NGỌC TUẤN HV: CAO VĂN ĐẲNG - 11040387 Page 17 TỒN KHO Trong đó, những sản phẩm chính như xi măng, thép xây dựng, gạchốp lát granit nhân tạo, sơn, kết cấu thép, ống nhựa, dây và cáp điện đều có lượng tồn kho tăng từ trên 20% đến gần 150%. Cá biệt, sản phẩm cáp điện đồng trục có vỏ bọc tăng tới 386%! Bên cạnh đó, tình trạng giá cả hàng hóa, dịch vụ tăng cao do lạm phát, cũng khiến cho người tiêu dùng phải thắt chặt chi tiêu và điều này ảnh hưởng không ít tới sức tiêu thụ sản phẩm của nhiều ngành công nghiệp. Nhìn vào số liệu của Tổng cục Thống kê, chúng ta sẽ dễ dàng nhận thấy người dân đang có xu hướng tiết giảm chi tiêu đối với những nhóm sản phẩm ít thiết yếu cho đời sống, nhất là những mặt hàng có giá trị cao, để tập trung cho các nhóm hàng thiết yếu. Cụ thể, những sản phẩm như máy giặt, tủ lạnh, máy điều hòa nhiệt độ, giường, tủ, bàn ghế, kem dưỡng da, sữa tắm, xe gắn máy có dung tích xylanh trên 125 phân khối, giày dép, quần áo... đều có mức tồn kho rất cao. Ngược lại, nhóm hàng thuốc chữa bệnh, sữa bột, gạo, bột dinh dưỡng... chẳng những mức tồn kho không tăng, mà còn giảm đáng kể. Những tháng đầu năm nay, dù giá trị sản xuất của ngành công nghiệp vẫn còn tăng tới 14,2% so với cùng kỳ năm 2010, nhưng số liệu này đã không còn mấy ý nghĩa khi mà các nhà sản xuất đang vất vả tìm cách tiêu thụ hết số hàng hóa đã sản xuất. Trong bối cảnh sức mua thị trường đang rất yếu, lãi vay ngân hàng lại cao ngất ngưởng như hiện nay, thì tình trạng tồn kho với khối lượng lớn đang trở thành gánh nặng đối với doanh nghiệp nói riêng và ngành công nghiệp nói chung. Nếu tình trạng này còn kéo dài, e rằng sẽ có không ít doanh nghiệp bị đẩy đến bờ vực phá sản. Trong bối cảnh sức mua thị trường đang rất yếu, lãi vay ngân hàng lại cao ngất ngưởng như hiện nay, thì tình trạng tồn kho với khối lượng lớn đang trở thành gánh nặng đối với doanh nghiệp nói riêng và ngành công nghiệp nói chung. Nếu tình trạng này còn kéo dài, e rằng sẽ có không ít doanh nghiệp bị đẩy đến bờ vực phá sản. Mặc dù mùa đông năm nay kéo dài, rau quả trên thị trường giữ ở mức giá cao song lượng tồn kho mặt hàng này lại rất lớn. Tính đến đầu tháng 2, tồn kho chế biến và bảo quản rau quả tăng 80,6% so cùng kỳ. GVHD: PGS-TS. PHẠM NGỌC TUẤN HV: CAO VĂN ĐẲNG - 11040387 Page 18 TỒN KHO Tổng cục Thống kê vừa công bố báo cáo diễn biến kinh tế cả nước trong tháng 2 và hai tháng đầu năm 2012. Theo đó, trong tháng 2, chỉ số sản xuất công nghiệp đã tăng 10% so với tháng trước và tăng 22,1% so với cùng kỳ năm 2011. Tính chung hai tháng đầu năm, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 3,9% so với cùng kỳ năm 2011. Trong đó, sản xuất, phân phối điện, ga, nước tăng 11,7%, công nghiệp khai thác mỏ tăng 5%. Mặc dù đạt mức tăng trưởng sản xuất 2,4% nhưng theo đánh giá của Tổng cục Thống kê, ngành công nghiệp chế biến vẫn gặp nhiều khó khăn. Chỉ số sản xuất hai tháng đầu năm của ngành này thấp hơn nhiều so với mức tăng 18,2% của cùng kỳ năm trước. Riêng trong tháng 1, chỉ số sản xuất của ngành đã giảm mạnh, chỉ bằng 76% tháng 12/2011 và bằng 83% cùng kỳ năm 2011. Nguyên nhân chủ yếu một mặt do thời gian nghỉ Tết nguyên đán dài, mặt khác do ảnh hưởng của lạm phát cao dẫn đến tiêu thụ chậm. Trong khi đó, báo cáo lần này của Tổng cục Thống kê cũng ghi nhận mức tăng chỉ số tồn kho tại thời điểm 1/2 của toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là 17,4% so với cùng thời điểm năm trước. Lượng tồn kho khổng lồ phải kể đến ngành chế biến và bảo quản rau quả khi đánh dấu mức tăng 80,6%. Thông tin từ Bộ Công thương cũng cho biết, tình hình xuất khẩu rau hoa quả tháng 1 vừa rồi giảm nhẹ so với cùng kỳ 2011, ước đạt 45,26 triệu USD, giảm 3,7%. Tuy nhiên, theo ghi nhận của báo chí những ngày gần đây, do thời tiết diễn biến thất thường, nên có những thời điểm giá rau quả bị đẩy lên cao. Ngoài ra, ở những mặt hàng khác, chỉ số tồn kho tại các ngành sản xuất khác như phân bón và hợp chất ni-tơ cũng tăng 71,9%, xi măng, vôi, vữa tăng 68,1%, sắt, thép tăng 53,4% và các sản phẩm thuốc lá, thuốc lào tăng 46,8%. GVHD: PGS-TS. PHẠM NGỌC TUẤN HV: CAO VĂN ĐẲNG - 11040387 Page 19 TỒN KHO Theo Bộ Công thương, trong quý 1-2012, ngành công nghiệp chế biến vẫn là ngành gặp nhiều khó khăn nhất, chỉ số sản xuất ba tháng đầu năm của ngành này thấp hơn nhiều so với mức tăng 13,4% của cùng kỳ năm trước. Đáng ngại là một số mặt hàng có chỉ số tồn kho rất cao, chỉ tiêu thụ, bán được chưa đến một nửa tổng lượng hàng đã sản xuất. Điều này sẽ gây khó trong thu hồi vốn, tiếp tục sản xuất của doanh nghiệp. Theo báo cáo của Bộ Công thương, những nhóm hàng có chỉ số tiêu thụ giảm mạnh là nhóm sản xuất: đồ uống không cồn, giấy nhăn và bao bì, sắt thép, ximăng, các sản phẩm từ kim loại đúc sẵn, dây điện và cáp điện... Đến thời điểm 1-3, lượng tồn kho của phân bón và hợp chất nitơ tăng tới 62,7%; sắt, thép tăng 59,1%; bia và mạch nha tăng 48%; cáp điện và dây điện có bọc cách điện tăng 29%; sợi và dệt vải tăng 6,6%; đồ uống không cồn tăng 11% (so với cùng kỳ năm trước)... III. CÁC PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN 1. Có nhiều phương pháp  Phương pháp nhập trước - xuất trước (FIFO)  Phương pháp nhập sau - xuất trước  Phương pháp giá hạch toán  Phương pháp giá thực tế đích danh : Áp dụng đối với doanh nghiệp có ít mặt hàng hoặc mặt hàng ổn định và nhận diện được  Phương pháp giá bình quân : bình quân theo giá hang tồn kho đầu kỳ, cuối kỳ hoặc trong kỳ. Cũng có khi được tính theo từng thời kỳ hoặc vào mỗi lần nhập một lô hang (bình quân gia quyền liên hoàn) phụ thuộc vào tình hình của doanh nghiệp 2. Ưu và nhược điểm của từng phương pháp a. Phương pháp nhập trước - xuất trước (FIFO) Phương pháp này áp dụng dựa trên giả định là hàng được mua trước hoặc sản xuất trước thì được xuất trước, và hàng còn lại cuối kỳ là hàng được mua hoặc sản xuất ở thời điểm cuối kỳ. Theo phương pháp này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập kho ở thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị của hàng tồn kho được tính theo giá của hàng nhập kho ở thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ còn tồn kho. Phương pháp này giúp cho chúng ta có thể tính được ngay trị giá vốn hàng xuất kho từng lần xuất hàng, do vậy đảm bảo cung cấp số liệu kịp thời cho kế toán ghi chép các khâu tiếp theo cũng như cho quản lý. Trị giá vốn của hàng tồn kho sẽ tương đối sát với giá thị trường của mặt hàng đó. Vì vậy chỉ tiêu hàng tồn kho trên báo cáo kế toán có ý nghĩa thực tế hơn. GVHD: PGS-TS. PHẠM NGỌC TUẤN HV: CAO VĂN ĐẲNG - 11040387 Page 20
- Xem thêm -