Phân tích tình hình cho vay doanh nghiệp tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn việt nam chi nhánh an giang

  • Số trang: 91 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 11 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

Luận văn Xây dựng thị trường quyền chọn và giao sau cho thị trường chứng khoán Việt Nam MỤC LỤC CHƯƠNG I: THỊ TRƯỜNG QUYỀN CHỌN VÀ GIAO SAU - NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN ............................................................................................................... 1 1.1. Lý thuyết hợp đồng quyền chọn và giao sau........................................................... 1 1.1.1. Khái niệm hợp đồng quyền chọn. ........................................................................ 1 1.1.2. Phân loại quyền chọn. ......................................................................................... 1 1.1.2.1. Phân loại theo vị thế. ................................................................................... 1 1.1.2.2. Phân loại theo thời gian thực hiện quyền chọn. ............................................ 1 1.1.2.3. Phân loại theo tài sản cơ sở ......................................................................... 1 1.1.3. Các chiến lược quyền chọn. ................................................................................. 2 1.1.4. Khái niệm hợp đồng giao sau. ............................................................................. 4 1.2. Vai trò của hợp đồng quyền chọn và hợp đồng giao sau đối với TTCK ................. 4 1.2.1. Quản trị rủi ro .................................................................................................... 4 1.2.2. Hợp đồng quyền chọn và giao sau đóng vai trò như một công cụ đầu tư. ............ 4 1.2.3. Một công cụ dùng để đánh giá thị trường............................................................ 5 1.2.4. Là động lực thúc đẩy TTCK phát triển ............................................................... 5 1.2.5. Tác động gián tiếp đến các công ty niêm yết và nền kinh tế ................................ 6 1.3. Điều kiện để xây dựng thị trường quyền chọn và giao sau ..................................... 6 1.3.1. Phải có hệ thống cơ sở pháp lý hoàn thiện ........................................................... 6 1.3.2. Điều kiện về hàng hoá trên TTCK ....................................................................... 7 1.3.3. Điều kiện về thông tin trên thị trường .................................................................. 7 1.3.4. Điều kiện kỹ thuật. .............................................................................................. 7 1.3.5. Điều kiện về con người ....................................................................................... 7 1.4. Thị trường quyền chọn và giao sau chứng khoán trên thế giới – bài học kinh nghiệm cho Việt Nam ...................................................................................................... 7 1.4.1. Không ngừng cải tiến sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ và hoàn thiện cơ sở hạ tầng. ................................................................................................................ 7 1.4.2. Xây dựng một hành lang pháp lý với các chính sách công bằng và hợp lý, hệ thống giám sát minh bạch. ............................................................................................ 9 1.4.3. Tự do hóa thị trường............................................................................................ 9 1.4.4. Những mặt trái của công cụ phái sinh. ............................................................... 10 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ KHẢ NĂNG XÂY DỰNG THỊ TRƯỜNG QUYỀN CHỌN VÀ GIAO SAU CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM. ............................................................................................ 12 2.1. Thực trạng TTCK Việt Nam trong thời gian qua và sự cần thiết xây dựng thị trường quyền chọn và giao sau cho chứng khoán. ....................................................... 12 2.1.1. Tổng quan TTCK trong thời gian qua ................................................................ 12 2.1.2. Tìm ẩn nhiều rủi ro trên TTCK. ......................................................................... 15 2.1.3. Sự cần thiết phải xây dựng thị trường quyền chọn và giao sau cho chứng khoán. ............................................................................................................................. 17 2.2. Những hạn chế cần khắc phục để xây dựng thị trường quyền chọn và giao sau chứng khoán. ........................................................................................................... 19 2.2.1. Những hạn chế từ phía Nhà nước ...................................................................... 19 2.2.1.1. Hệ thống luật pháp chưa hoàn chỉnh.......................................................... 19 2.2.1.2. Sự can thiệp quá sâu của Nhà nước vào thị trường .................................... 21 2.2.1.3. Khắt khe đối với các nhà đầu cơ ................................................................ 21 2.2.2. Những hạn chế từ các nhà đầu tư ....................................................................... 22 2.2.2.1. Những hạn chế của các nhà đầu tư cá nhân. ............................................. 22 2.2.2.2. Những hạn chế của các tổ chức đầu tư nước ngoài. ................................... 22 2.2.3. Những hạn chế từ thị trường. ............................................................................. 23 2.2.3.1. Thị trường chưa thật sự hiệu quả. .............................................................. 23 2.2.3.2. Thị trường chưa có tính thanh khoản cao. .................................................. 24 2.2.3.3. Danh mục hàng hóa chưa phong phú, chất lượng chưa đảm bảo. .............. 24 2.2.3.4. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật giao dịch chưa vững mạnh. .................................... 25 2.2.3.5. Trình độ của nhân lực quản lý thị trường chưa cao. ................................... 26 2.3. Triển vọng xây dựng thị trương quyền chọn và giao sau chứng khoán ............... 27 2.3.1. Các chính sách của Nhà nước ............................................................................ 27 2.3.2. Hội nhập kinh tế quốc tế - Tiềm năng phát triển của TTCK ............................... 28 2.3.3. Nhu cầu đầu tư ngày càng cao ........................................................................... 38 2.3.4. Kinh nghiệm phát triển các công cụ phái sinh cho vàng, ngoại tệ và nông sản trong thời gian qua. ..................................................................................................... 29 CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP XÂY DỰNG THỊ TRƯỜNG QUYỀN CHỌN VÀ GIAO SAU CHO THỊ CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM................................................ 31 3.1. Lộ trình xây dựng thị trường quyền chọn và giao sau cho TTCK Việt Nam. ...... 31 3.1.1. Giai đoạn chuẩn bị 3-5 năm ............................................................................... 31 3.1.2. Giai đoạn thực nghiệm và hoàn thiện ( 2 năm ).................................................. 31 3.1.3. Giai đoạn vận hành và phát triển ....................................................................... 32 3.2. Các giải pháp cụ thể để xây dựng thị trường quyền chọn và giao sau chứng khoán. ............................................................................................................................ 32 3.2.1. Hoàn thiện khung pháp lý.................................................................................. 32 3.2.2. Giải pháp hoàn thiện TTCK .............................................................................. 36 3.2.2.1. Thành lập trung tâm thông tin ................................................................... 36 3.2.2.2. Nhanh chóng thành lập một tổ chức định mức tín nhiệm. .......................... 37 3.2.2.3. Thắt chặt mối quan hệ giữa niêm yết và cổ phần hóa ................................ 38 3.2.2.4. Quốc tế hóa thị trường .............................................................................. 39 3.2.2.5. Nâng cấp cơ sở hạ tầng và kỹ thuật........................................................... 39 3.2.3. Tăng cường nhận thức về công cụ quyền chọn và giao sau đến người dân Việt Nam. ................................................................................................................... 40 3.2.3.1. Giải pháp tạo nhận thức về quyền chọn và giao sau cho các nhà đầu tư. ... 40 3.2.3.2. Giải pháp tạo nhận thức về quyền chọn và giao sau cho các định chế tài chính trên TTCK..................................................................................................... 40 3.2.3.3. Giải pháp tạo nhận thức về quyền chọn và giao sau cho các nhà hoạch định chính sách trên TTCK. ................................................................................... 41 3.3. Mô hình thị trường quyền chọn và giao sau cho TTCK Việt Nam. ...................... 42 3.3.1. Tổ chức quản lý................................................................................................. 42 3.3.1.1. Trung tâm giám sát. ................................................................................... 42 3.3.1.2. Trung tâm xử lý.......................................................................................... 43 3.3.1.3. Trung tâm thanh toán bù trừ ...................................................................... 44 3.3.1.4. Trung tâm thông tin ................................................................................... 44 3.3.1.5. Trung tâm nghiên cứu và phát triển sản phẩm ........................................... 45 3.3.2. Cơ chế vận hành. ............................................................................................... 45 3.3.3. Các chuẩn hoá hợp đồng ................................................................................... 48 3.3.4. Đề xuất mô hình định giá quyền chọn cho TTCK Việt Nam .............................. 49 LỜI MỞ ĐẦU Quyền chọn chứng khoán và giao sau chứng khoán cũng như các sản phẩm phái sinh chứng khoán và các sản phẩm phái sinh khác là kết quả tất yếu của quá trình phát triển thị trường tài chính. Về bản chất, đây là các công cụ quản trị rủi ro tài chính, ngoài ra đây còn là các kênh đầu tư mới trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán, bảo vệ nhà đầu tư khỏi các biến động trên thị trường, tạo ra nhiều phương án đầu tư đa dạng, v.v. Hơn nữa, quyền chọn và giao sau chứng khoán sẽ thúc đẩy tính năng động của thị trường chứng khoán, ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển nền kinh tế nói chung. Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời vào tháng 07/2000, đánh dấu một bước chuyển mình của thị trường tài chính trong nước trước xu thế hội nhập và quyết tâm đổi mới của Chính phủ. Tuy nhiên, quy mô còn nhỏ bé và tính non trẻ của thị trường chứng khoán Việt Nam, cùng với các khiếm khuyết về chính sách quản lý, điều hành, giám sát loại hình thị trường cao cấp này, cũng như trình độ còn hạn chế của các thành phần tham gia thị trường đã và đang mang lại nhiều rủi ro cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước khi tham gia kinh doanh chứng khoán. Đối với các quốc gia có thị trường chứng khoán phát triển, bản thân thị trường đã được điều chỉnh để đạt được hiệu quả tối ưu. Đồng thời, các sản phẩm phái sinh chứng khoán cũng được chú trọng phát triển nhằm khắc phục các yếu tố rủi ro cố hữu gắn liền với thị trường chứng khoán cơ sở, đáp ứng khẩu vị phong phú và chiến thuật đa dạng của các nhà đầu tư…Vì vậy, tham khảo và ứng dụng các mô hình thị trường quyền chọn và giao sau sẵn có dựa vào điều kiện thực tiễn ở nước ta là những bước đi cần thiết của thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay, đó là lý do chúng tôi chọn đề tài: “Xây dựng thị trường quyền chọn và giao sau cho thị trường chứng khoán Việt Nam”. Trong phạm vị nghiên cứu của đề tài này chúng tôi chủ yếu tập trung vào tìm hiểu và xây dựng thị trường quyền chọn và giao sau cho TTCK Việt Nam, các công cụ phái sinh trên thị trường ngoại tệ và thị trường vàng được xem xét và vận dụng tương tự. Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng các phương pháp chủ yếu là phương phát tổng hợp so sánh, phương pháp diễn dịch quy nạp, phương pháp tư duy logic… Ngoài phần mở đầu và phụ lục, đề tài gồm có 3 chương như sau: Chương 1: Tổng quan về thị trường quyền chọn và giao sau chứng khoán. Chương 2: Thực trạng thị trường chứng khoán và khả năng xây dựng thị trường quyền chọn và giao sau chứng khoán tại Việt Nam. Chương 3: Giải pháp xây dựng thị trường quyền chọn và giao sau cho thị trường chứng khoán Việt Nam. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  CPH : Cổ phần hoá. CQGS&QLTT : Cơ quan giám sát và quản lý thông tin. CTCK : Công ty chứng khoán. CTNY : Công ty niêm yết. DNNN : Doanh nghiệp nhà nước. HĐGS : Hợp đồng giao sau. HĐQC : Hợp đồng quyền chọn. NĐT : Nhà đầu tư. NĐTNN : Nhà đầu tư nước ngoài. NĐTTN : Nhà đầu tư trong nước. OTC : Thị trường phi tập trung. SGD : Sàn giao dịch. SGDCK TP.HCM : Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh. TK : Tài khoản. TNHH : Trách nhiệm hữu hạn. TTCK : Thị trường chứng khoán. TTGDCK HN : Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội. UBCKNN : Uỷ ban chứng khoán nhà nước. VN : Việt Nam. WTO : Tổ chức thương mại thế giới. DANH MỤC BẢNG BIỂU & HÌNH VẼ  Danh mục hình vẽ: Hình 1 : Biểu đồ số tài khoản của nhà đầu tư trên sàn Hà Nội và TP.HCM qua các năm. ......................................................................... 14 Hình 2 : Chỉ số VN-Index qua các năm. ............................................................. 15 Hình 3 : Sơ đồ quy trình quản lý thông tin cho thị trường chứng khoán Việt Nam Quy trình quản lý thông tin................................................... 38 Hình 4 : Quy trình giao dịch trên thị trường quyền chọn và giao sau tại Việt Nam. ............................................................................................ 47 Danh mục bảng biểu: Bảng 1 : Số lượng công ty niêm yết giao dịch và giá trị vốn hóa thị trường trên sàn TP.HCM và sàn Hà Nội. .............................................. 13 Bảng 2 : Số lượng tài khoản giao dịch của nhà đầu tư trên TTCK Việt Nam (2000–2007). ............................................................................... 14 Bảng 3 : Rủi ro thị trường tính trên VN-Index qua các năm. ............................... 16 Bảng 4 : Tỷ suất trung bình/năm và độ lệch chuẩn năm của các nước (02/08/2000 – 01/04 /2008). ................................................................. 17 CHƯƠNG 1: THỊ TRƯỜNG QUYỀN CHỌN VÀ GIAO SAU - NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1.1. Lý thuyết quyền chọn và giao sau. 1.1.1. Khái niệm quyền chọn. Quyền chọn là một hợp đồng giữa hai bên – người mua và người bán – trong đó cho người mua quyền, nhưng không phải là nghĩa vụ, để mua hoặc bán một tài sản nào đó (tài sản cơ sở) vào một ngày trong tương lai với giá đã đồng ý vào ngày hôm nay. Thời điểm xác định trong tương lai gọi là ngày đáo hạn. Thời gian từ khi ký HĐQC đến ngày thanh toán gọi là kỳ hạn của quyền chọn. Mức giá áp dụng trong ngày đáo hạn gọi là giá thực hiện. 1.1.2. Phân loại quyền chọn. 1.1.2.1. Phân loại theo vị thế. Quyền chọn mua ( Call Option): Là một quyền chọn để mua một tài sản (Chứng Khoán) ở một mức giá cố định – giá thực hiện, trong một khoản thời gian nhất định hay một thời điểm đã xác định trong tương lai. Quyền chọn bán (Put Option): Là một quyền chọn để bán một tài sản (Chứng khoán) ở một mức giá cố định, trong một khoản thời gian nhất định hay một thời điểm đã xác định trong tương lai. 1.1.2.2. Phân loại theo thời gian thực hiện quyền chọn. Quyền chọn kiểu Mỹ là quyền lựa chọn mà người mua quyền chọn có quyền thực hiện quyền lựa chọn tại bất kỳ thời điểm nào trong thời gian thỏa thuận của hợp đồng.  Mục đích chính của quyền chọn kiểu Mỹ là nhằm đầu cơ. Quyền lựa chọn kiểu Châu Âu là quyền lựa chọn mà người mua quyền chọn chỉ có thể thực hiện quyền lựa chọn tại một thời điểm xác định đã được thỏa thuận trong hợp đồng.  Mục đích chính của quyền chọn kiểu Châu Âu là phòng ngừa rủi ro. 1.1.2.3. Phân loại theo tài sản cơ sở Option chứng khoán Quyền chọn đối với các chứng khoán riêng lẻ. Các quyền chọn này tồn tại đối với hàng ngàn cổ phiếu riêng lẻ, mặc dù khối lượng giao dịch có thể thấp đối với quyền chọn cổ phiếu nhất định. Ở Mỹ, quyền chọn đối với nhiều loại cổ phiếu được giao dịch trên nhiều sàn giao dịch. Các tổ chức giao dịch quyền chọn chứng khoán ở Mỹ gồm sàn giao dịch quyền chọn Chicago, sở giao dịch chứng khoán Philadelphia, sở giao dịch chứng khoán Mỹ và sở giao dịch Pacific. Quyền chọn giao dịch trên hơn 500 loại chứng khoán khác nhau. Một hợp đồng có thể cho phép người sở hữu có quyền mua hay bán 100 cổ phiếu với giá thực hiện xác định. Khối lượng hợp đồng này rất tiện lợi vì bản thân các cổ phiếu thường được giao dịch theo lô 100 cổ phiếu. Option chỉ số chứng khoán: Ở hầu hết các quốc gia, tồn tại một quyền chọn mà tài sản cơ sở là chỉ số chứng khoán. Các quyền chọn này cũng nằm trong số các quyền chọn được giao dịch sôi động nhất của các quốc gia. Quyền chọn chỉ số phổ biến vì hai nguyên nhân. - Chúng gần như được thiết kế để thanh toán bằng tiền mặt vào lúc đáo hạn, tạo điều kiện cho nhà đầu tư kinh doanh quyền chọn mà không cần nhận và chuyển giao cổ phiếu. - Vì chúng là quyền chọn đối với toàn bộ thị trường. Vì có quá nhiều loại cổ phiếu có giao dịch quyền chọn, chỉ có một số ít các nhà đầu tư có thời gian để tận dụng các cơ hội đó. Nhiều người khác thích phân tích toàn bộ thị trường hơn và sử dụng quyền chọn chỉ số để kinh doanh dự trên dự đoán của mình. 1.1.3. Các chiến lược quyền chọn. Trong một thị trường thuần nhất không có quyền chọn thì các chiến lược hiện hữu sẽ rất hạn chế. Chẳng hạn, khi thị trường kỳ vọng giá sẽ tăng lên thì người ta sẽ mua cổ phiếu. Còn nếu nó được kỳ vọng giảm xuống thì người ta sẽ bán cổ phiếu. Nhưng trong một thị trường có quyền chọn thì nó sẽ làm cho các chiến lược trở nên phong phú hơn rất nhiều. Chẳng hạn như, bằng các chiến lược kết hợp quyền chọn có thể tạo nên nhiều sản phẩm, làm đa dạng hoá sản phẩm đầu tư, dẫn đến tăng tính lựa chọn hàng hoá cho thị trường. Cụ thể, ta có thể xem qua một vài chiến lược cơ bản của quyền chọn như sau: Bán quyền chọn bán Người bán quyền chọn bán có trách nhiệm mua cổ phiếu của người mua quyền chọn bán ở mức giá thực hiện. Người bán quyền chọn bán có lợi nhuận nếu giá cổ phiếu tăng và vì vậy mà quyền chọn bán không được thực hiện trong trường hợp đó người bán giữ hoàn toàn khoản phí. Ngược lại nếu giá cổ phiếu giảm đến mức quyền chọn bán được thực hiện, người bán quyền chọn bán bị buộc phải mua cổ phiếu với giá cao hơn giá trị của thị trường. Mua quyền chọn bán Mua quyền chọn bán là một chiến lược dành cho thị trường giá xuống. Mức lỗ tiềm năng được giới hạn trong phí quyền chọn được chi trả, mức lợi nhuận tiềm năng lớn. Nếu giá cổ phiếu khi đáo hạn thấp hơn giá thực hiện, quyền chọn bán là cao giá ITM và sẽ được thực hiện. Nếu giá cổ phiếu khi đáo hạn lớn hơn hoặc bằng giá thực hiện, quyền chọn bán là kiệt giá OTM hoặc ngang giá ATM. Mua quyền chọn mua Mua quyền chọn mua là một chiến lược tăng giá có mức lỗ có giới hạn (phí quyền chọn) và có mức lợi nhuận tiềm năng không giới hạn. Bán quyền chọn mua Bán quyền chọn mua là một chiến lược kinh doanh giá xuống và mang lại lợi nhuận có giới hạn chính là phí quyền chọn nhưng mức lỗ thì vô hạn. Bán quyền chọn mua với giá thực hiện thấp hơn có mức lợi nhuận tối đa cáo hơn nhưng mức lỗ do giá tăng cũng cao hơn. Với giá cổ phiếu cho trước, vị thế bán quyền chọn mua được duy trì càng lâu, giá trị thời gian càng mất dần và lợi nhuận càng lớn. Hình a: giá lên, người mua quyền chọn mua lời tối đa bằng (ST – c – X), người bán quyền chọn mua lỗ tối đa bằng (X – c – ST). Hình b: giá xuống, người bán quyền chọn mua lời tối đa bằng c, người mua quyền chọn mua lỗ tối đa bằng c. Hình c: giá xuống, người mua quyền chọn bán lời tối đa bằng (X – p – ST), người bán quyền chọn bán lỗ tối đa bằng (ST – p – X). Hình d: giá lên, người bán quyền chọn bán lời tối đa bằng p, người mua quyền chọn bán lỗ tối đa bằng p. Chú thích: 1. X : giá thực hiện quyền chọn. 2. ST : giá tài sản cơ sở vào thời điểm đáo hạn. 3. c : phí quyền chọn mua. 4. p : phí quyền chọn bán. 1.1.4. Khái niệm hợp đồng giao sau. Hợp đồng giao sau hay là hợp đồng tương lai (future contract) trên TTCK là một thoả thuận giữa hai bên để mua hay bán một số lượng chứng khoán (trái phiếu hoặc cổ phiếu) nhất định tại một thời hạn xác định với mức giá xác định tại thời điểm thoả thuận giao dịch. HĐGS là hợp đồng kỳ hạn được chuẩn hóa về tài sản cơ sở mua bán, số lượng các đơn vị tài sản cơ sở mua bán, thể thức thanh toán và kỳ hạn giao dịch. 1.2. Vai trò của hợp đồng quyền chọn và hợp đồng giao sau đối với TTCK. 1.2.1. Quản trị rủi ro Trong một thị trường ta biết rằng, các nhà đầu tư có khẩu vị rủi ro khác nhau. Một số nhà đầu tư có khả năng chấp nhận rủi ro tốt hơn các nhà đầu tư khác. Tuy nhiên, tất cả các nhà đầu tư đều muốn giữ cho khoản đầu tư của mình ở một mức rủi ro có thể chấp nhận được. Thị trường quyền chọn và giao sau cung cấp một cơ chế hiệu quả cho phép tránh rủi ro và dịch chuyển rủi ro từ những người không thích rủi ro sang những người chấp nhận rủi ro để tìm kiếm lợi nhuận. 1.2.2. Công cụ đầu tư. Đây là một vai trò hết sức quan trọng của hợp đồng quyền chọn và giao sau. Các nhà đầu cơ sử dụng các HĐQC, HĐGS như một công cụ đầu cơ để kiếm lời, Sở dĩ người đầu cơ mạo hiểm chấp nhận rủi ro để tham gia thị trường này là vì công cụ đòn bẩy tài chính của nó. Đối với HĐQC, ngoài lợi thế chỉ chịu một mức phí cụ thể trên hợp đồng, thì nhà đầu cơ có quyền không thực hiện hợp đồng nếu biến động giá của tài sản cơ sở không theo như những gì họ dự đoán. 1.2.3. Một công cụ dùng để đánh giá thị trường Các thị trường quyền chọn và giao sau là nguồn thông tin rất quan trọng đối với giá cả. Đặc biệt thị trường giao sau được xem như là một công cụ chủ yếu để xác định giá giao ngay của một tài sản. Như chúng ta thấy, do giá giao ngay chứa đựng cùng một loại thông tin, như việc chiết tách thông tin đó từ thị trường giao ngay sẽ khó khăn hơn từ thị trường giao sau. Hơn nữa, trong hầu hết các trường hợp, thị trường giao sau thường sôi động hơn, và vì vậy, thông tin từ thị trường này thường được xem là đáng tin cậy hơn thông tin trên thị trường giao ngay. Do đó, thị trường giao sau cung cấp những thông tin hiệu quả để hình thành giá. Còn thị trường quyền chọn tuy không trực tiếp phản ánh dự đoán về giá giao ngay tương lai như HĐGS, nhưng nó phản ánh sự biến động giá của các loại chứng khoán cơ sở hay nói cách khác, quyền chọn phản ánh độ rủi ro gắn liền với mỗi tài sản cơ sở. 1.2.4. Là động lực thúc đẩy TTCK phát triển Quyền chọn và giao sau cổ phiếu vừa là công cụ bảo vệ lợi nhuận, và là công cụ giảm thiểu rủi ro hữu hiệu và đồng thời là một loại hàng hóa có thể mua bán trên TTCK. Với ý nghĩa là công cụ giảm thiểu rủi ro nên HĐQC và HĐGS tạo tâm lý an toàn hơn trong đầu vào cổ phiếu, do đó thu hút được thêm nhiều người đầu tư còn e ngại về mức độ mạo hiểm, rủi ro trên TTCK mạnh dạn tham gia thị trường. Với vai trò là một hàng hóa trên TTCK quyền chọn và giao sau cổ phiếu mang đến khát khao kiếm lợi nhuận nên khi hợp đồng được ứng dụng giao dịch, nhiều nhà đầu tư sẽ tham gia thị trường để đầu cơ kiếm lời. Khi nhiều người đầu tư tham gia thị trường sẽ làm cầu hàng hóa chứng khoán tăng. Điều này làm cho thị trường trở nên sôi động và cơ hội phát triển, mở rộng thị trường là rất cao. Ngoài ra, thị trường giao dịch quyền chọn và giao sau cho phép các nhà đầu tư đạt được tỷ suất lợi nhuận cao với chi phí bỏ ra ít hơn TTCK. Vì vậy, chính điều này sẽ hấp dẫn nguồn vốn đầu tư mạo hiểm. Từ đó, giúp hình thành các quỹ đầu tư mạo hiểm, huy động thêm nhiều nguồn lực tài chính giúp thúc đẩy và phát triển TTCK. Thị trường quyền chọn và giao sau chứng khoán có tính thanh khoản cao hơn TTCK. Tính thanh khoản cao hơn một phần là do mức vốn yêu cầu để tham gia vào thị trường quyền chọn và giao sau là thấp hơn và điều này cũng cho phép các nhà đầu tư dể dàng tham gia hoặc rút lui khỏi thị trường làm thị trường thêm sôi động. Hơn nữa, các thị trường quyền chọn và giao sau cho phép nhà đầu tư bán khống dễ dàng hơn. 1.2.5. Tác động gián tiếp đến các công ty niêm yết và nền kinh tế Để quyền chọn hay giao sau một cổ phiếu một công ty được niêm yết thì công ty đó phải đáp ứng được những điều kiện của UBCKNN đề ra như số lượng cổ phiếu đang lưu hành, số lượng cổ phiếu được giao dịch trên thị trường, số cổ đông nắm giữ cổ phiếu, giá cổ phiếu… Hơn nữa, không một CTNY nào muốn quyền chọn bán (mua giao sau) cổ phiếu công ty mình được mua bán liên tục bởi đó là dấu hiệu cho thấy thị trường dự đoán giá cổ phiếu công ty sẽ đi xuống, và điều này cũng cho thấy uy tín của công ty trên thị trường đang giảm dần. Như vậy, công ty có thể nhìn vào xu hướng giao chứng khoán phái sinh trên thị trường mà nhận biết được sự đánh giá của thị trường đối với công ty mình, điều này giúp công ty có những điều chỉnh kịp thời trong chiến lược kinh doanh để giữ uy tín của công ty trên thị trường. Như vậy, thông qua chứng khoán phái sinh giúp người đầu tư giám sát gián tiếp hoạt động của các CTNY. Khi có thêm người giám sát, đòi hỏi CTNY phải nỗ lực hơn trong hoạt động kinh doanh của mình. 1.3. Điều kiện để xây dựng thị trường quyền chọn và giao sau. 1.3.1. Phải có hệ thống cơ sở pháp lý hoàn thiện. TTCK muốn thu hút nhiều nhà đầu tư, trước hết phải tạo cho nhà đầu tư tâm lý được kinh doanh một cách công bằng trên thị trường. TTCK ổn định và phát triển là thị trường ít xãy ra gian lận, phạm pháp; mọi hành vi sai phạm phải xử lý nghiêm minh, chính xác. Thị trường đó chỉ có thể được xây dựng trên cơ sở có hệ thống pháp luật hoàn thiện. Trên TTCK nhiều rủi ro, quyền chọn và giao sau có phương thức giao dịch khá đặc biệt có sự tham gia của nhiều bên như: người mua, người bán, CTCK, CTNY, công ty thanh toán, công ty lưu ký,…Do đó, luật pháp phải điều chỉnh mọi hành vi của các đối tượng này để đảm bảo nghĩa vụ cũng như quyền lợi của các bên tham gia. Như vậy, để quyền chọn và giao sau được ứng dụng có hiệu quả cần phải có hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động của thị trường phái sinh chứng khoán, TTCK theo hướng bao quát, toàn diện và phù hợp với thực tiễn thị trường. 1.3.2. Điều kiện về hàng hóa trên TTCK. HĐQC và HĐGS chứng khoán được giao dịch dựa trên biến động của giá chứng khoán. Do đó, muốn thị trường quyền chọn và giao sau chứng khoán hình thành và phát triển thì thị trường TTCK phải phát triển đến một mức độ nhất định đảm bảo cả về số lượng chứng cũng như chất lượng của chứng khoán. Nếu số lượng chứng khoán trên thị trường càng lớn, chất lượng càng cao, biến động của chứng khoán càng lớn và mang tính chất ngẫu nhiên thì nhu cầu về sản phẩm phái sinh cho chứng khoán càng nhiều. 1.3.3. Điều kiện về thông tin trên thị trường Các giao dịch quyền chọn đều dựa trên sự biến động của giá chứng khoán cơ sở dựa vào phản ứng của nhà đầu tư trên thị trường thông qua những thông tin nhận được. Do đó, thông tin minh bạch là một điều kiện để người đầu tư có cơ sở rõ ràng và chính xác để thực hiện các quyết định đầu tư của mình. 1.3.4. Điều kiện kỹ thuật. Hoạt động của TTCK nói chung và quyền chọn nói riêng phải đòi hỏi một số yêu cầu về kỹ thuật: kỹ thuật định giá; kỹ thuật chọn phương án đầu tư; kỹ thuật đặt, chuyển lệnh mua và lệnh bán; kỹ thuật hoạch toán và chuyển quyền sở hữu; kỹ thuật lưu ký chứng khoán; kỹ thuật lưu trữ lệnh;…Tất cả các kỹ thuật này phải có quy trình và hệ thống quản lý hiện đại,…Chính vì vậy mà cần phải có hệ thống kỹ thuật hoàn thiện trước khi đưa vào áp dụng các giao dịch này. 1.3.5. Điều kiện về con người. Sản phẩm phái sinh cho chứng khoán là sản phẩm tài chính cao cấp, vì sự cao cấp đó muốn thực hiện được cũng như tham được vào thị trường đòi hỏi nhà quản lý cũng như nhà đầu tư ngoài việc nắm và vận dụng được kiến thức về tài chính phái sinh còn phải có một vốn kiến thức nhất định về TTCK cũng như kiến thức liên quan đến lĩnh vực kinh tế... 1.4. Thị trường quyền chọn và giao sau chứng khoán trên thế giới – bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. 1.4.1. Không ngừng cải tiến sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ và hoàn thiện cơ sở hạ tầng. Hoàn thiện cơ sở hạ tầng và nâng cao chất lượng dịch vụ. Một cơ sở hạ tầng hiện đại và vững mạnh sẽ mở rộng quy mô các nhà đầu tư ra khỏi phạm vi quốc gia, giúp tiết kiệm thời gian thực hiện lệnh,v.v. và do đó khuyến khích ngày càng nhiều nhà đầu tư tham gia thị trường. Thêm vào đó, việc nâng cao chất lượng dịch vụ sẽ giữ chân được các khách hàng tiềm năng. Chẳng hạn như CBOE không chỉ thành công trong việc không ngừng cải tiến các sản phẩm của mình cũng như giảm phí cho khách hàng (năm 2006, tiết kiệm cho các khách hàng và các thành viên khoảng 45,7 triệu USD so với 31,6 triệu năm 2005), mà còn có những cải tiến trong kỹ thuật giao dịch, 96% các đơn đặt hàng của CBOE được thực hiện trên bảng điện tử. Riêng tại Châu Á, nổi bật là Hàn Quốc, với thị trường phái sinh chứng khoán năng động nhất thế giới. Vào năm 2006, doanh thu trung bình hàng ngày của KOFEX là 194 tỷ USD, tương đương với 27% giao dịch toàn cầu (và chiếm 78,1% tổng giao dịch toàn Châu Á). Hàn Quốc là nước có tỷ lệ giao dịch quyền chọn chỉ số chứng khoán cao. Quy mô của thị trường phái sinh chứng khoán Hàn Quốc khá lớn, điều này được giải thích bởi sự đầu tư kỹ càng cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật của sàn giao dịch tập trung và một nền tảng pháp lý thuận lợi cũng như cơ cấu giám sát hợp lý. KOFEX cung cấp các sản phẩm phái sinh tương đối đơn giản cho các nhà đầu tư cá nhân với chi phí giao dịch và yêu cầu ký quỹ thấp, các giao dịch đều dựa trên Internet. Tại Singapore, vào tháng 8/2004, Sở giao dịch Singapore đã giới thiệu phần mềm giao dịch phái sinh, SGX QUEST (phục vụ cho hệ thống quản lý và yết giá giao dịch), nhằm tạo ra một hệ thống giao dịch tập trung cho TTCK và thị trường phái sinh. Sự phát triển của các thị trường phái sinh chứng khoán như Hàn Quốc, Ấn Độ và Singapore ở Châu Á lại một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của cơ sở hạ tầng vững mạnh. Các quốc gia nêu trên đã có những nỗ lực trong việc xây dựng một hệ thống giao dịch điện tử hiện đại, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia. Phát triển nguồn nhân lực. Đối với một thị trường cao cấp như thị trường phái sinh nói chung và nền kinh tế nói riêng, nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự phát triển. Nhận thức được điều này, các thị trường phát triển trên thế giới đều là những thị trường có đội ngũ nhân lực có trình độ cao, am hiểu thị trường với kiến thức chuyên môn vững chắc, có nhiều kinh nghiệm về thị trường, với các viện đào tạo chuyên môn có uy tín. Học viện Options (The Options Institute)-cánh tay phải của CBOE, là cơ quan dẫn đầu về giáo dục quyền chọn. Thành lập năm 1985, Học viện này đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của CBOE nói riêng và thị trường quyền chọn nói chung. Mỗi năm, Học viện tiếp nhận hàng trăm lớp trên toàn thế giới, giáo dục cho hàng ngàn nhà đầu tư, nhà môi giới, nhà tư vấn và các nhà quản lý. 1.4.2. Xây dựng một hành lang pháp lý với các chính sách công bằng và hợp lý, hệ thống giám sát minh bạch. Tại các thị trường đã phát triển trên thế giới, các hợp đồng phái sinh đã được xây dựng và đã được kiểm định thực tế, với một cơ cấu pháp lý phát triển mạnh và một hệ thống giám sát phù hợp (ở thị trường tập trung); trong khi đó tại một số nước Châu Á, hệ thống luật lệ và các quy định về thị trường phái sinh vẫn còn bỏ ngỏ. Các hàng rào pháp lý và những thiếu sót trong các tiêu chuẩn kế toán được xem như là các trở ngại đối với sự phát triển của thị trường phái sinh nói chung và thị trường quyền chọn và giao sau nói riêng. Chỉ ở các thị trường như Hồng Kông, Indonesia và Malaysia mới có các tiêu chuẩn kế toán phù hợp với Tiêu chuẩn báo cáo tài chính quốc tế IFRS (International Financial Reporting Standards). Ngoài ra, tại hai thị trường phái sinh chứng khoán phát triển là Hàn Quốc và Ấn Độ đã xây dựng những chính sách thuế phù hợp đảm bảo công bằng cho các nhà đầu tư. Riêng Ấn Độ, năm 1999 đã sửa đổi Luật các hợp đồng chứng khoán 1956, theo đó việc áp dụng các công cụ phái sinh chứng khoán được xem như đối với chứng khoán. Tại các thị trường quyền chọn và giao sau chứng khoán phát triển, đều có ít nhất một cơ quan quản lý và giám sát, chẳng hạn như: • Tại Hồng Kông, có Ủy ban chứng khoán và giao sau (The Securies and Futures Commission). • Tại Ấn Độ, có Ủy ban chứng khoán và thị trường Ấn Độ (The Securites and Exchange Commission of India). • Tại Mỹ, có Ủy ban giao dịch giao sau hàng hóa CFTC (The Commodity Futures Trading Commission), SEC, OCC. • V.v. 1.4.3. Tự do hóa thị trường. Khi thị trường ngày càng mở rộng thì xu hướng tự do hóa thị trường và hợp tác quốc tế là hiển nhiên. Đối với các thị trường kém phát triển hay còn non trẻ, việc tự do hóa thị trường tài chính nói chung và TTCK cũng như thị trường phái sinh chứng khoán nói riêng sẽ tạo động lực thúc đẩy thị trường phát triển, ngoài ra việc hợp tác với các tổ chức nước ngoài giàu kinh nghiệm sẽ giúp các thị trường tài chính mới nổi học hỏi được nhiều kinh nghiệm quý báu, tiết kiệm thời gian cũng như công sức nghiên cứu, tránh đi vào các vết xe đổ. Một vài năm trước, MAS (Sở tiền tệ Singapore) đã cấm các nhà đầu tư (hay đầu cơ) nước ngoài tham gia vào thị trường phái sinh Singapore. Nhưng trong năm 1999, MAS đã cho phép giao dịch các sản phẩm phái sinh lãi suất. Năm 2001, MAS cũng đã tháo bỏ các hàng rào trên thị trường quyền chọn Singapore. Kinh nghiệm của Singapore về việc tự do hóa đã làm cho thị trường phái sinh Singapore trở nên linh hoạt hơn. Các chính sách này đã góp phần thu hút các thành viên mới và các nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường phái sinh Singapore và do đó lại tăng tính thanh khoản cho thị trường. 1.4.4. Những mặt trái của công cụ phái sinh. Một công cụ nào cũng đều có hai mặt của nó, công cụ phái sinh ngoài một mặt là phòng ngừa rủi ro cho các nhà đầu tư, mà nó còn có thể tạo ra những rủi ro mới nếu chúng ta lạm dụng vào các mục đích bất chính. Chúng ta có thể xem qua các bài học dưới đây. Bài học kinh nghiệm của Enron là một số tồn tại trong việc hoạch toán và kiểm soát rủi ro. Chính vì độc quyền trong việc quản lý, kiểm soát, điều hành công ty mà các nhà quản lý của Enron đã phù phép số liệu kế toán, đẩy giá cổ phiếu lên cao, khi đó giá quyền chọn mua cũng tăng theo. Và khi Enron phá sản, đã gây thua lỗ hàng tỷ USD cho nhiều nhà đầu tư. Đối với Barings Bank, năm 1995, Nick Leeson đã gây thiệt hại 850 triệu bảng Anh (tương đương1,2 tỷ euro) cho ngân hàng Barings khi là nhân viên giao dịch chứng khoán trẻ mới 28 tuổi. Vào giữa thập kỷ 90, chính một mình Nicolas Leeson lại thu về 30% tổng số lợi nhuận của ngân hàng Barings. Với ngân hàng Barings, kinh doanh theo lối cũ chưa bao giờ đem lại được số lợi nhuận lớn như vậy. Và lúc đó, nhân viên ngân hàng Nicolas Leeson hoạt động trên thị trường phái sinh có thể bán lại với giá cao hơn 200 lần. Thị trường này cũng được đánh giá là rất nhiều rủi ro. Chính bản thân Peter Barings đã phải thốt ra: “Thị trường mới này cần được kiểm tra và làm chủ, đó là điều tôi đang làm ở đây”. Tuy nhiên, trên thực tế Barings ở London nhắm mắt làm ngơ, để mặc cho Nicolas Leeson muốn làm gì thì làm. Nicolas Leeson nắm cả khâu kinh doanh lẫn khâu kiểm soát, thật là một điều hiếm thấy trong kinh doanh ngân hàng. Và điều gì đến đã đến. Đó là một bài học lớn từ việc coi thường rủi ro và kinh doanh không tính toán. Hay như bài học kinh nghiệm của thị trường Mỹ. Năm 1986, kinh tế Mỹ đã có dấu hiệu suy giảm, tuy nhiên, TTCK Mỹ lại phát triển rất nhanh chóng với tốc độ từ 18,5% lên tới 43,6% vào giữa tháng 8/1987. Cùng lúc, Cục Dự trữ liên bang Mỹ đang phải tập trung để đối phó với cơn lạm phát và tỷ lệ lãi suất tiền gửi ngân hàng đang ở mức rất cao. Tình hình chung này kết hợp với xu hướng kinh doanh ăn chênh lệch chỉ số, sự thiếu tính thanh khoản của thị trường và tâm lý đầu tư theo kiểu "đám đông" đã góp phần tạo ra Ngày thứ hai đen tối của năm 1987. Không ít người còn đổ tội cho vai trò của máy tính điện tử trong sự kiện ngày 19/10. Người ta cho rằng hệ thống máy tính đã góp phần không nhỏ vào thảm họa này bởi vì chúng cho phép các nhà đầu tư thực hiện được một khối lượng giao dịch lớn trong một khoảng thời gian vô cùng ngắn ngủi. Tâm lý mua bán theo kiểu "đám đông" với sự hỗ trợ đắc lực của máy tính điện tử đã góp phần tạo ra Ngày thứ hai đen tối. Vào những năm 80, chỉ có 20% người dân Mỹ mua bán cố phiếu, con số này hiện nay đã lên tới 60-70%. Do vậy, nếu một khi có một chuyện "không ổn" với TTCK Mỹ thì mức độ tổn hại sẽ gấp nhiều lần hơn so với trước đây. Điều mà chúng ta có thể rút ra từ những cuộc khủng hoảng hay những vụ sụp đổ mang tính hệ thống là không nên sử dụng các hợp đồng phái sinh để thực hiện các hành vi bất chính. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ KHẢ NĂNG XÂY DỰNG THỊ TRƯỜNG QUYỀN CHỌN VÀ GIAO SAU CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM. 2.1. Thực trạng TTCK Việt Nam trong thời gian qua và sự cần thiết xây dựng thị trường quyền chọn và giao sau cho chứng khoán. 2.1.1. Tổng quan TTCK trong thời gian qua. Cách đây hơn 7 năm, vào ngày 20-7-2000, công chúng và các giới chuyên môn rất náo nức đón chờ một sự kiện đánh dấu bước tiến và chuyển mình rất đáng khích lệ của nền kinh tế nước ta theo xu thế hội nhập quốc tế và xây dựng nền kinh tế Việt Nam theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Đó là sự ra đời của Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.HCM (TTGDCK TP.HCM), một thị trường giao dịch chứng khoán chính thức đầu tiên tại Việt Nam. Từ ngày này trở đi, bên cạnh việc huy động vốn cổ điển từ hệ thống ngân hàng thương mại, nền kinh tế Việt Nam có thêm một kênh huy động và hỗ trợ vốn trung dài hạn mới. Bảy năm là khoảng thời gian không dài, nhưng cũng đủ để TTCK chính thức, từng bước đặt những nền tảng vững chắc cho tiến trình hoạt động, phát triển lâu dài và bền vững của TTCK VN trong thời gian tới. Thực trạng TTCK Việt Nam. TTCK chính thức Việt Nam ra đời tuy còn rất mới mẻ nhưng cũng thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà đầu tư. Từ khi đi vào hoạt động, TTCK đã đạt được một số thành tựu nhất định rất đáng khích lệ như: Hàng hóa được giao dịch trên thị trường ngày càng phong phú, đa dạng hơn. Thực hiện chủ trương của Chính phủ trong việc thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa kết hợp với việc thúc đẩy sự phát triển của TTCK. Năm 2007, trên cả hai sản thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội gồm có 274 công ty niêm yết và chứng chỉ quỹ (trong đó sàn TP.HCM là 154 và sàn Hà Nội là 120), nếu ta so với năm 2006 là 193 (tăng 42%) và năm 2005 là 38 (tăng 621%). Về số lượng công ty niêm yết tuy có tăng lên , nhưng các “đại gia” mới chỉ có lác đác. Các “đại gia” đã niêm yết có giá trị vốn hóa thị trường đạt trên 1.000 tỷ đồng (tức đạt trên 62,5 triệu USD) ở cả hai sàn mới đạt 70 (sàn TP.HCM 53, sàn Hà Nội 17), trong đó số đạt từ 10 nghìn tỷ đồng trở lên (tức trên 625 triệu USD) mới có 13 (sàn TP.HCM có 10, sàn Hà Nội 3). Như vậy, công ty niêm yết giá trị vốn hóa thị trường lớn nhất Việt Nam cho đến cuối năm 2007 đạt chưa được 2,7 tỷ USD và số công ty niêm yết đạt từ 1 tỷ USD trở lên hiện mới có 10 công ty. Bảng 1: Số lượng công ty niêm yết và giá trị vốn hóa thị trường trên sàn TP.HCM và sàn Hà Nội Năm HOSTC Số Cty niêm yết 2000 2001 2002 5 10 20 Giá trị vốn hóa thị trường 1.046 1.605 2.537 HASTC Số Cty niêm yết Giá trị vốn hóa thị trường 2003 22 2.408 2004 26 3.913 2005 32 7.765 6 1900 2006 106 145.896 87 73000 2007 138 364.425 120 131000 Nguồn: Trung tâm giao dịch chứng khoán Tp.HCM và Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội Nếu ta nhìn tổng thể, đem so sánh với tổng số công ty cổ phần ở Việt Nam thì chỉ chiếm khoản 7.9% ( Theo số liệu của ban chỉ đạo đổi mới doanh nghiệp Nhà nước, tính hết tháng 8/2007 cả nước mới cổ phần hóa được 3.450 doanh nghiệp) , con số này rất nhỏ so với các nước trong khu vực và thị trường trên thế giới. Đặc biệt, đối với nhóm cổ phiếu có tính thanh khoản cao và thường chiếm quy mô giao dịch lớn như các ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán…Theo quy định, từ ngày 1/1/2007, các doanh nghiệp niêm yết sẽ không được ưu đãi thuế, do đó động lực này không còn, sẽ làm cho các doanh nghiệp không năm mà và giảm tốc độ niêm yết cổ phiếu. Mặt khác, tổng giá trị vốn hóa thị trường - một trong những chỉ báo có tầm quan trọng hàng đầu phản ánh quy mô TTCK - đến nay đã đạt khoảng 495,425 nghìn tỷ đồng (sàn TP.HCM 364,425 nghìn tỷ đồng, sàn Hà Nội 131 nghìn tỷ đồng). So với GDP tính theo giá thực tế năm 2007 (ước đạt 1.140 nghìn tỷ đồng), thì tổng giá trị vốn hóa TTCK Việt Nam đạt 43,46% GDP, cao hơn rất nhiều so với các thời gian trước đây (năm 2006 chiếm 22,7% GDP), thuộc loại khá cao đối với một số nước mà TTCK mới ra đời và vượt xa mục tiêu đề ra cho đến năm 2010. Tuy nhiên, nếu tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái, thì tổng giá trị vốn hóa thị trường của Việt Nam mới đạt khoảng 30,7 tỷ USD, còn thấp xa so với quy mô của các thị trường trong khu vực, ở châu Á và trên thế giới. Chẳng hạn, bình quân trong năm 2006 đạt 500 tỷ đồng, tương đương với 30 triệu USD. Trong tháng 12/2006 bình quân đạt doanh số giao dịch 90 – 110 triệu USD/ngày, riêng trong 3 tháng 7, 8, 9/2006 đạt 66 triệu USD, bình quân năm 2007 cũng chỉ đạt 600 – 700 tỷ đồng, tương dương 40 – 45 triệu USD/ngày,
- Xem thêm -