Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành cơ khí việt nam

  • Số trang: 35 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 15 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

LUẬN VĂN: Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành cơ khí Việt Nam Lời nói đầu Ngành cơ khí là một ngành có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Công nghiệp cơ khí không chỉ cung cấp các sản phẩm tiêu dùng mà quan trọng hơn là cung cấp thiết bị, máy móc cho nhiều ngành sản xuất khác. Đặc biệt trong điều kiện hiện nay khi đất nước ta đang tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá thì công nghiệp cơ khí càng có vai trò to lớn hơn bao giờ hết. Ngay từ khi mới ra đời, ngành công nghiệp cơ khí ở nước ta đã được Đảng và Nhà nước xác định là ngành có vai trò then chốt và luôn được ưu tiên phát triển. Tuy nhiên, từ khi bước sang cơ chế thị trường, ngành cơ khí Việt Nam đã bộc lộ rất nhiều yếu kém, trong đó vấn đề nổi cộm nhất là khả năng cạnh tranh của ngành rất hạn chế ngay cả ở thị trường trong nước. Chính vì vậy, các doanh nghiệp trong ngành đã không đủ sức cạnh tranh với hàng hoá ngoại nhập, bị thu hẹp thị trường, hoạt động sản xuất kinh doanh gặp rất nhiều khó khăn... nhiều doanh nghiệp đứng trước nguy cơ bị phá sản. Vì vậy, để ngành cơ khí có thể tồn tại và phát triển đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước không còn cách nào khác là phải nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp cơ khí không chỉ ở thị trường trong nước mà còn ở cả thị trường quốc tế. Chính từ tính cấp thiết và hữu dụng của vấn đề, với mong muốn đóng góp phần nhỏ bé của mình vào việc tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành cơ khí em đã chọn đề tài : “Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành cơ khí Việt Nam”. Ngoài lời nói đầu và phần kết luận,kết cấu đề án gồm ba phần. Phần I : Cạnh tranh và nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường Phần II : Thực trạng khả năng cạnh tranh của ngành cơ khí Việt Nam hiện nay. Phần III : Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành cơ khí Việt Nam. Phần I Cạnh tranh và nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp công nghiệp trong cơ chế thị trường. I. 1. Sản phẩm công nghiệp và thị trường sản phẩm công nghiệp. Sản phẩm công nghiệp. Theo quan niệm truyền thống, sản phẩm công nghiệp là tổng hợp các đặc trưng vật lý, hoá học có thể quan sát và được tập hợp trong một hình thức đồng nhất, là vật mang giá trị sử dụng. Theo quan điểm kinh tế hàng hoá, sản phẩm công nghiệp chứa đựng các thuộc tính hàng hoá. Nó không chỉ là sự tổng hợp các đặc trưng hoá lý và đặc trưng giá trị sử dụng mà còn là vật mang giá trị trao đổi. Theo quan điểm Marketing, sản phẩm công nghiệp là một tập hợp đặc trưng vật chất và đặc trưng phi vật chất nhằm thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng trên thị trường. Sản phẩm công nghiệp sẽ được tiêu thụ trên thị trường sản phẩm công nghiệp. 2. Thị trường sản phẩm công nghiệp. Trước khi tìm hiểu khái niệm thị trường sản phẩm công nghiệp, ta phải hiểu thế nào là thị trường. Có thể nói, thị trường là nơi kết hợp giữa cung và cầu, trong đó người mua và người bán cùng bình đẳng, cùng cạnh tranh với nhau. Việc xác định nên mua hay nên bán hàng hoá và dịch vụ với số lượng và giá cả bao nhiêu do cung cầu xác định. Sự phân định thị trường sản phẩm công nghiệp và thị trường các yếu tố sản xuất kinh doanh chỉ mang ý nghĩa tương đối, bởi vì từng doanh nghiệp công nghiệp, trong quan hệ với thị trường, bao giờ họ cũng vừa là người mua và vừa là người bán. Thị trường gắn liền với quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá, nó ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của sản xuất lưu thông hàng hoá. Thị trường hoạt động dựa trên các quy luật sau đây: - Quy luật giá trị - Quy luật cung cầu - Quy luật lưu thông tiền tệ - Quy luật cạnh tranh II. Cạnh tranh và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường. 1. Cạnh tranh trong cơ chế thị trường. 1.1. Quan niệm về cạnh tranh. Thuật ngữ “cạnh tranh” có nguồn gốc từ tiếng La tinh với nghĩa chủ yếu là sự đấu tranh, ganh đua, thi đua giữa các đối tượng cùng phẩm chất, cùng loại, đồng giá trị nhằm đạt được những ưu thế, lợi ích, mục tiêu xác định. Kinh tế học định nghĩa cạnh tranh là sự tranh giành thị trường ( khách hàng ) để tiêu thụ sản phẩm giữa các doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường ngày nay, cạnh tranh là một điều kiện và là yếu tố kích thích kinh doanh, là môi trường và động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng năng suất lao động, tạo sự phát triển của xã hội nói chung. Kết quả cạnh tranh sẽ tự loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả và tất yếu những doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả sẽ đứng vững trên thị trường. Tuy nhiên, ngoài những mặt tích cực, cạnh tranh không lành mạnh cũng gây ra nhiều hậu quả tiêu cực cho xã hội như : gây tổn thất lãng phí cho xã hội, ô nhiễm môi trường .... Chính vì vậy, nhà nước cần có những giải pháp hữu hiệu để hạn chế những tác hại tiêu cực của cạnh tranh. 1.2. Các loại hình cạnh tranh. Có nhiều cách phân loại cạnh tranh dựa trên những tiêu thức khác nhau . 1.2.1. Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường, có ba loại : - Cạnh tranh giữa người bán và người mua - Cạnh tranh giữa những người mua với nhau - Cạnh tranh giữa những người bán với nhau 1.2.2. Căn cứ vào mức độ, tính chất của cạnh tranh trên thị trường, có 3 loại : - Cạnh tranh hoàn hảo : Là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường có rất nhiều người mua và người bán và không có người nào có ưu thế để có thể ảnh hưởng đến giá cả trên thị trường. - Cạnh tranh không hoàn hảo : Tình trạng thị trường không đạt được như trên, tức là có ít nhất một người bán hàng lớn đến mức có thể ảnh hưởng đến giá cả trên thị trường. - Cạnh tranh độc quyền : Đây là loại hình cạnh tranh mà trên thị trường chỉ có một số người bán một số sản phẩm thuần nhất hoặc nhiều người bán một loại sản phẩm không đồng nhất. Họ có thể kiểm soát gần như toàn bộ số lượng sản phẩm hay hàng hoá bán ra trên thị trường. Thị trường cạnh tranh độc quyền không có cạnh tranh về giá cả mà một số người bán toàn quyền quyết định giá cả. 1.2.3. - Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế, có : Cạnh tranh trong nội bộ ngành : Là cuộc cạnh tranh giữa các nhà doanh nghiệp trong cùng một ngành. - Cạnh tranh giữa các ngành : Là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hay đồng minh giữa các nhà doanh nghiệp trong các ngành kinh tế với nhau nhằm giành giật lợi nhuận cao nhất. 2. Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và những chỉ tiêu phản ánh khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. 2.1. Khái niệm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. WEF- “Báo cáo về khả năng cạnh tranh toàn cầu năm 1997”, định nghĩa : Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể tự duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý chí trên thị trường cạnh tranh, bảo đảm thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi cho việc tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời thực hiện được những mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra. Theo quan điểm tổng hợp của Wan Buren, Martin và Westqren ( 1991), khả năng cạnh tranh của một ngành ( một doanh nghiệp ) là khả năng tạo ra và duy trì lợi nhuận và thị phần trên các thị trường trong và ngoài nước. Như vậy, có thể hiểu khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp là năng lực, khả năng về mọi mặt hoạt động của doanh nghiệp : hoạt động sản xuất, hoạt động quản trị cũng như khâu tiêu thụ ... nhằm sản xuất ra được những sản phẩm hàng hoá và dịch vụ có chất lượng cao với chi phí sản xuất thấp, được thị trường chấp nhận nhờ đó tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, không ngừng duy trì và mở rộng thị phần , xác lập cho doanh nghiệp một chỗ đứng vững chắc trên thị trường. 2.2. Các chỉ tiêu phản ánh khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Để phản ánh khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp, người ta dùng rất nhiều các chỉ tiêu khác nhau gồm các chỉ tiêu định lượng và các chỉ tiêu định tính. 2.2.1. - Các chỉ tiêu định lượng. Thị phần của doanh nghiệp : Đây là một chỉ tiêu thường được sử dụng để đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này được đo bằng tỷ lệ phần trăm doanh số của công ty so với doanh số của toàn ngành. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh cao và ngược lại. - Doanh thu : Dựa vào doanh thu có thể đánh giá được khả năng tiêu thụ của doanh nghiệp là tốt hay không tốt. Để sử dụng được chỉ tiêu này thì doanh nghiệp có thể chọn từ 3 đến 5 đối thủ cạnh tranh mạnh nhất trong ngành để đưa ra so sánh và kết luận. Chỉ tiêu này dễ tính, đơn giản nhưng nhược điểm là dôi khi không chính xác và khó lựa chọn ra doanh nghiệp nào là mạnh nhất. - Tỷ suất lợi nhuận : Tỷ suất lợi nhuận là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và cũng thể hiện tính hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Công thức tính : Lợi nhuận của doanh nghiệp Tỷ suất lợi nhuận = —–——————————— Doanh thu của doanh nghiệp - Quy mô về vốn : Một doanh nghiệp có tổng vốn kinh doanh lớn sẽ có khả năng cạnh tranh cao hơn do có điều kiện mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ. - Năng suất lao động: Được đo bằng giá trị sản lượng / một công nhân. Năng suất lao động càng cao phản ánh doanh nghiệp càng có khả năng giảm chi phí, hạ giá thành, do đó có khả năng cạnh tranh càng cao trên thị trường. - Giá thành sản xuất : Phản ánh khả năng cạnh tranh về giá của doanh nghiệp. Giá thành sản xuất càng thấp, giá bán càng giảm, do đó sẽ tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp. 2.2.2 - Các chỉ tiêu định tính . An toàn trong kinh doanh : Chỉ tiêu chủ yếu về an toàn trong kinh doanh là đa dạng hoá đầu tư và sản phẩm với kết quả cuối cùng là bảo đảm và phát triển nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng cao phản ánh khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp càng cao và ngược lại. - Vị thế của doanh nghiệp trên thị trường : Các doanh nghiệp phải xây dựng nhãn hiệu riêng của mình và khi đọc đến tên nhãn hiệu người tiêu dùng trên toàn thế giới có thể phân biệt được tiềm lực, chất lượng, phương thức phục vụ của sản phẩm này như thế nào so với các sản phẩm khác. III. Những nhân tố tác động đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường. Trong nền kinh tế thị trường, khả năng cạnh tranh của bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải chịu ảnh hưởng của ba nhóm nhân tố sau : 1. Nhóm nhân tố thuộc môi trường vĩ mô. Đây là nhóm nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Nhóm nhân tố này bao gồm các nhân tố sau : - Các nhân tố về mặt kinh tế. - Các nhân tố về chính trị, luật pháp. - Các nhân tố về khoa học – công nghệ. - Các yếu tố về văn hoá-xã hội. - Các yếu tố tự nhiên. 2. Nhóm nhân tố thuộc môi trường ngành. Môi trường ngành là môi trường phức tạp nhất và ảnh hưởng nhiều nhất đến cạnh tranh. Sự thay đổi thường diễn ra thường xuyên khó dự báo được và phụ thuộc vào các lực lượng sau đây : - Sức ép của đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành : Khi trong ngành kinh doanh của doanh nghiệp có số lượng đông đối thủ cạnh tranh hoặc có nhiều đối thủ thống lĩnh thị trường thì cạnh tranh sẽ ngày càng gay gắt hơn. - Sự đe doạ của các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn sẽ gia nhập thị trường - Sức ép của nhà cung ứng : Quyền lực của nhà cung ứng được khẳng định thông qua sức ép về giá nguyên vật liệu. - Sức ép của khách hàng :Vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp còn bị đe doạ bởi chính năng lực, trình độ nhận thức, khả năng của người tiêu dùng. - Sự xuất hiện các sản phẩm thay thế : Khi trên thị trường xuất hiện thêm sản phẩm mà doanh nghiệp đang sản xuất tất yếu sẽ giảm khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường. 3.Nhân tố bên trong doanh nghiệp. 3.1. Nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực có vai trò quan trọng nhất trong mọi hoạt động của doanh nghiệp. Nguồn nhân lực bao gồm : - Quản trị viên cấp cao : Gồm ban giám đốc và các trưởng phòng phó ban. Đây là đội ngũ có ảnh hưởng quyết định đến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp - Quản trị viên cấp trung gian : Đây là độ ngũ quản lý trực tiếp phân xưởng sản xuất đòi hỏi phải có kinh nghiệm và khả năng hợp tác, ảnh hưởng tới tốc độ sản xuất và chất lượng sản phẩm. - Đội ngũ quản trị viên cấp thấp và cán bộ công nhân viên trực tiếp sản xuất sản phẩm : Đội ngũ công nhân ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm, do vậy cần tạo điều kiện cho họ hoàn thành tốt những công việc được giao. 3.2. Nguồn lực vật chất ( Máy móc thiết bị và công nghệ ) Máy móc thiết bị và công nghệ ảnh hưởng rất lớn đến năng lực của doanh nghiệp, nó là nhân tố quan trọng bậc nhất thể hiện năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến sản phẩm, chất lượng của sản phẩm và giá thành của sản phẩm. Một doanh nghiệp có hệ thống trang thiết bị hiện đại thì sản phẩm của họ có chất lượng cao, giá thành hạ. Như vậy nhất định khả năng cạnh tranh sẽ tốt hơn. 3.3. Nguồn lực tài chính. Khả năng tài chính của doanh nghiệp quyết định tới việc thực hiện hay không thực hiện bất cứ một hoạt động đầu tư, mua sắm hay phân phối của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có tiềm lực về tài chính sẽ có điều kiện để đổi mới công nghệ, đầu tư trang thiết bị, đảm bảo nâng cao chất lượng, hạ giá thành. Như vậy, doanh nghiệp sẽ duy trì và nâng cao sức cạnh tranh, củng cố vị trí của mình trên thị trường. IV. Một số nội dung và yêu cầu chủ yếu của hoạt động quản trị nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp vừa là đối tượng vừa là động lực chủ yếu của quá trình phát triển kinh tế, vì vậy có thể khằng định là năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp cần phải được nâng cao, phải được đảm bảo và phát triển. Muốn vậy, doanh nghiệp cần phải nâng cao hiệu quả trong mọi hoạt động quản trị của mình, đặc biệt chú ý các lĩnh vực sau : 1. Lĩnh vực sản xuất Sản xuất là việc sử dụng con người lao động để tác động lên các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất ( vật tư, máy móc, đất đai, thông tin.... ) để làm ra các sản phẩm hay dịch vụ phù hợp với nhu cầu thị trường. Lĩnh vực này gồm các nhiệm vụ cụ thể sau : - Hoạch định chương trình - Xây dựng kế hoạch sản xuất - Điều khiển quá trình sản xuất - Kiểm tra chất lượng Lĩnh vực sản xuất có vai trò rất quan trọng. Tổ chức sản xuất hợp lý sẽ góp phần to lớn vào việc sử dụng có hiệu quả nguyên, nhiên, vật liệu, thiết bị, máy móc và sức lao động trong quá trình sản xuất. Từ đó, có thể sản xuất được những sản phẩm có chất lượng cao, phù hợp với nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất. Vì vậy, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp tất yếu phải tổ chức tốt quá trình sản xuất. 2. Lĩnh vực Marketing Nhiệm vụ chung của quản trị Marketing là thực hiện tốt nhất các nhiệm vụ chung của doanh nghiệp như : lợi nhuận, tăng doanh thu và nâng cao uy tín của doanh nghiệp. Nhiệm vụ cụ thể của quản trị Marketing là : nghiên cứu khách hàng và thị trường để trên cơ sở đó đề ra các chiến lược về thị trường, về sản phẩm, tiêu thụ.... Cụ thể bao gồm những nội dung sau : - Nghiên cứu các thông tin về thị trường - Hoạch định chính sách sản phẩm - Hoạch định chính sách giá cả - Hoạch định chính sách phân phối - Chính sách hỗ trợ tiêu thụ Nâng cao khả năng cạnh tranh tất yếu phải tăng cường hoạt động Marketing trong doanh nghiệp. Thông qua Marketing, các doanh nghiệp sẽ có được những thông tin chính xác về thị trường, nhờ đó hoạch định được một chính sách sản phẩm phù hợp, một chiến lược về giá tối ưu, đồng thời tổ chức được quá trình phân phối và hỗ trợ tiêu thụ một cách hiệu quả... Từ đó, sẽ nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm, giành thắng lợi trong cạnh tranh, đảm bảo sự tồn tại và phát triển vững chắc của doanh nghiệp. 3. Lĩnh vực nhân sự Quản trị nhân sự là một tập hợp các biện pháp của chủ thể quản trị tác động lên đối tượng bị quản trị ( bao gồm : lao động trí óc, lao động sản xuất trực tiếp và lao động quản lý ) nhằm thực hiện tốt nhất những nhiệm vụ sản xuất- kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời phải chú ý thoả đáng đến lợi ích của người lao động cũng như đến sự phát triển mọi mặt của người lao động. Nội dung của hoạt động quản trị nhân sự gồm : - Tuyển chọn nguồn nhân lực - Sử dụng nguồn nhân lực - Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một yêu cầu tất yếu đối với mọi doanh nghiệp hiện nay. Một doanh nghiệp có nguồn nhân lực có trình độ cao, được sử dụng một cách hợp lý sẽ có năng suất lao động cao. Nhờ vậy, sẽ giảm chi phí, hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm. Kết quả là sẽ nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường. 4. Lĩnh vực tài chính Quản trị tài chính là việc lập kế hoạch, điều khiển và kiểm tra các dòng lưu thông của các phương tiện tài chính của doanh nghiệp . Đó là sự quản trị các mối quan hệ tài chính phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp và giữa doanh nghiệp với các đối tác bên ngoài. Nội dung của quản trị tài chính gồm : - Huy động vốn - Sử dụng vốn - Quản lý vốn Mục đích của quản trị tài chính là nhằm sử dụng vốn một cách có hiệu quả để thu lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp, bảo đảm khả năng thanh toán cho doanh nghiệp, bảo toàn và phát triển vốn, bảo đảm an toàn tài chính.... Có thể nói, thực hiện tốt chức năng quản trị tài chính là một đòi hỏi tất yếu để nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp bởi nguồn lực về vốn luôn là một nhân tố có tác động quyết định đến sức cạnh tranh. Phần II Thực trạng khả năng cạnh tranh của ngành cơ khí Việt Nam hiện nay I. Đặc điểm của ngành cơ khí Việt Nam có ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp cơ khí. 1. Qúa trình hình thành và phát triển ngành cơ khí Việt Nam Ngành công nghiệp cơ khí ở nước ta có một lịch sử phát triển trên 40 năm và luôn được xác định là ngành công nghiệp then chốt. Ngay từ năm 1955 ngành công nghiệp cơ khí bắt đầu phát triển thành một ngành ưu tiên của nền kinh tế. Năm 1970, giá trị sản lượng cơ khí chiếm 12% giá trị sản lượng của toàn ngành công nghiệp. Từ sau năm 1985, ngành công nghiệp cơ khí chịu ảnh hưởng bởi chính sách đổi mới kinh tế. Các dòng hàng hoá và thương mại đã thay đổi và phương thức trợ cấp trực tiếp trước đây từ Nhà nước cho ngành cơ khí đã giảm. Kết quả là, nhiều doanh nghiệp cấp huyện, cấp tỉnh hoặc bị tan rã, hoặc hợp nhất hay giao lại cho trung ương quản lý. Số lượng các doanh nghiệp cơ khí quốc doanh giảm từ 610 doanh nghiệp năm 1985 còn 463 doanh nghiệp năm 1996. Hiện nay, ngành công nghiệp cơ khí có khoảng 460 doanh nghiệp nhà nước, trên 900 doanh nghiệp tư nhân và 12 viện nghiên cứu. Thêm vào đó, một số lượng lớn các cơ sở sản xuất rất nhỏ có quy mô dưới 10 lao động cho mỗi cơ sở cũng đang hoạt động trong ngành cơ khí. Khoảng 224000 lao động đang làm việc trong ngành cơ khí trong đó có khoảng 10000 người có trình độ đại học và trên đại học. 2. Các đặc điểm kinh tế- kỹ thuật của ngành cơ khí Việt Nam có ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành cơ khí. 2.1. Đặc điểm về tổ chức ngành. Hiện tại về mô hình tổ chức và lực lượng sản xuất ngành cơ khí Việt Nam được tập hợp và phân quyền theo quản lý chủ yếu trong ba khu vực : Cơ khí quốc doanh : Gồm 01 Tổng công ty 91 và 07 Tổng công ty 90 của các Bộ kinh tế và quốc phòng, hàng trăm công ty cơ khí thuộc các ngành than, điện, hoá chất, nông-lâm-ngư nghiệp... và các công ty, các nhà máy thuộc các sở của thành phố và tỉnh. Cơ khí ngoài quốc doanh : Với quy mô vừa và nhỏ đang phát triển khá nhanh tại các thành phố lớn và một số tỉnh, song nhìn chung do vẫn chưa có tiềm lực tài chính mạnh và công nghệ cao nên chủ yếu làm phụ tùng, dịch vụ sửa chữa. Số doanh nghiệp tư nhân đầu tư công nghệ mới tiên tiến chưa xuất hiện nhiều Cơ khí có vốn đầu tư nước ngoài : Có quy mô và sản lượng lớn chiếm lĩnh một số ngành hàng công nghiệp trong nước, chủ yếu trong lĩnh vực lắp ráp ô tô, xe máy. 2.2. Đặc điểm về sản phẩm. Ngành cơ khí Việt Nam sản xuất và cung cấp một phạm vi sản phẩm khá rộng gồm một số phân ngành như : ngành cơ khí chế tạo máy động lực; ngành cơ khí chế tạo thiết bị và vật liệu kỹ thuật điện, ngành cơ khí chế tạo máy công cụ, ngành cơ khí chế tạo kết cấu thép, ngành cơ khí phục vụ quốc phòng, ngành cơ khí sửa chữa và sản xuất hàng gia dụng... Hầu hết các sản phẩm này chất lượng chưa cao, chưa có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Các sản phẩm cơ khí Việt Nam vẫn đang bị hàng ngoại nhập cạnh tranh quyết liệt. 2.3. Đặc điểm về thị trường. Ngành cơ khí Việt Nam có một thị trường sản phẩm rất rộng lớn, đa dạng. Bao gồm : thị trường máy móc- thiết bị phục vụ cho sản xuất công nghiệp và giao thông vận tải, thị trường máy móc- thiết bị phục vụ sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp, thị trường máy móc-thiết bị phục vụ xây dựng, thị trường máy móc- thiết bị phục vụ tiêu dùng... Hiện nay, nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nên nhu cầu về sản phẩm cơ khí càng cao. Có thể nói, ngành cơ khí Việt Nam có một lợi thế to lớn : đó là có một thị trường rộng lớn để tiêu thụ sản phẩm. Song trên thực tế các sản phẩm của ngành cơ khí nước ta chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường. Vì vậy, chỉ chiếm một thị phần rất nhỏ bé và khiêm tốn. 2.4. Đặc điểm về công nghệ. Công nghệ và thiết bị vạn năng cũ kỹ, lạc hậu hàng 30-40 năm so với khu vực và 5060 năm so với thế giới. Có tới 95% thiết bị được gom nhặt từ các thiết bị lẻ, không đồng bộ, không xác định được sản phẩm ổn định, không nhận được chuyển giao công nghệ từ các nước phát triển, thiết bị hầu hết đã hết khấu hao. 2.5. Đặc điểm về nguồn nhân lực. Ngành cơ khí có một lực lượng lao động khá lớn. Theo số liệu thống kê của tổng cục thống kê, chưa kể khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, hiện nay có khoảng 224000 lao động đang làm việc trong ngành cơ khí, trong đó có khoảng 10000 người có trình độ trên đại học. Tuy nhiên, nhìn chung chất lượng nguồn nhân lực ngành cơ khí không cao. Phần lớn đội ngũ công nhân, cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý chưa được trang bị kịp các kiến thức mới để đáp ứng được đòi hỏi của nền sản xuất cơ khí có công nghệ cao trong cơ chế thị trường đa dạng và quốc tế. 2.6. Đặc điểm về vốn. Theo con số thống kê, hiện nay cả nước có gần 500 doanh nghiệp cơ khí quốc doanh, tuy nhiên bình quân vốn của mỗi doanh nghiệp rất nhỏ chưa đầy 1 triệu USD ( khoảng trên 10 tỷ đồng). Hơn nữa, đầu tư vốn cho ngành cơ khí trong những năm gần đây rất nhỏ, khoảng dưới 2 triệu USD, chỉ chiến khoảng 0,6% vốn đầu tư. Đây là một khó khăn lớn cho ngành cơ khí nhất là trong việc mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, đầu tư đổi mới công nghệ. 2.7. Đặc điểm về mối quan hệ với các ngành khác. Một trong những yếu kém của ngành cơ khí Việt Nam là thiếu các ngành công nghiệp liên quan và công nghiệp hỗ trợ. Phần lớn các loại nguyên liệu dùng để sản xuất các sản phẩm cơ khí có chất lượng đều phải nhập khẩu. Công nghiệp sản xuất thép trong nước không có khả năng dáp ứng đầu vào cho ngành cơ khí. Chưa có công nghiệp luyện nhôm và đồng. Tương tự như vậy, cung ứng các loại nguyên liệu chuyên dùng khác cũng bị hạn chế và các doanh nghiệp dựa vào các nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước đang gặp phải biến động thường xuyên do việc cung ứng không ổn định II. Phân tích và đánh giá thực trạng khả năng cạnh tranh của ngành cơ khí Việt Nam. 1.Thực trạng khả năng cạnh tranh của ngành cơ khí Việt Nam hiện nay. 1.1. Đánh giá tổng quan khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành cơ khí Việt Nam hiện nay. Hiện nay, ngành cơ khí có 1599 doanh nghiệp trong nước và gần 30000 hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp cơ khí với giá trị tài sản gần 500 triệu USD sản xuất khoảng 7000 tỷ đồng giá trị sản lượng với hơn 500 chủng loại sản phẩm như các máy công cụ, động cơ diesel, động cơ điện, động cơ xăng. xe vận tải và máy kéo nhỏ ( 12 CV )... Nhiều sản phẩm mới chưa bao giờ nước ta tự sản xuất trong thời kỳ trước năm 1990 như xe máy, thiết bị kết cấu khối lượng siêu trường, siêu trọng, thiết bị tham gia vào các công trình lớn như xi măng, đường mía, thuỷ điện, nhiệt điện, luyện kim, khai thác dầu khí... đã lần lượt ra đời. Có thể nói, trong hơn 10 năm đổi mới vừa qua, ngành cơ khí đã có rất nhiều nỗ lực. Tuy nhiên, đó cũng chỉ là quá trình thích nghi để không bị tụt lùi, để tồn tại nên đến nay ngành chỉ đáp ứng được 8-9% nhu cầu của nền kinh tế quốc dân và trên tổng thể ngành vẫn ở bên bờ của khủng hoảng. Hầu hết các doanh nghiệp cơ khí đang ở trạng thái hoạt động yếu và không có tính cạnh tranh quốc tế. Trước hết, sức sản xuất của ngành công nghiệp cơ khí hiện nay vẫn còn quá nhỏ bé chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường, kể cả thị trường trong nước và thị trường nước ngoài. Thị trường trong nước : Đất nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hoá- hiện đại hoá nên nhu cầu về các sản phẩm của ngành cơ khí rất cao, đặc biệt là nhu cầu về các thiết bị cho các ngành sản xuất công nghiệp, nhu cầu về máy móc phục vụ giao thông vận tải, nông nghiệp... Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, nhu cầu về các sản phẩm cơ khí lại càng tăng nhanh và đa dạng đặc biệt là nhu cầu về thiết bị đồng bộ để cải tạo đầu tư chiều sâu, xây dựng các nhà máy mới và các loại hàng tiêu dùng cao cấp. Các mặt hàng này chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng kim ngạch nhập khẩu của nước ta trong thời kỳ dổi mới. Theo số liệu của các cơ quan có thẩm quyền hàng năm nước ta nhập khẩu khoảng 3,5 tỷ thiết bị máy móc, phương tiện vận tải, phụ tùng... trong đó một nửa là thiết bị lẻ, dịch vụ, phụ tùng và một nửa là thiết bị toàn bộ cho các ngành công nghiệp khác nhau. Nếu coi lượng nhập khẩu này cộng với khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ trong nước là nhu cầu thực tế của thị trường thì nhu cầu hàng năm về sản phẩm cơ khí trong cả nước là vào khoảng 3,8 đến 4 tỷ USD. Đó là một nhu cầu rất lớn, là cơ hội cho các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam. Tuy nhiên, năng lực sản xuất của các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam rất yếu kém, chưa đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế quốc dân. Trước hết, phải thừa nhận rằng trong mười năm đổi mới vừa qua, ngành cơ khí cũng đã có những bước phát triển nhất định như : Năm 2000 giá trị tổng sản lượng của toàn ngành cơ khí đạt trên 19115 tỷ đồng, tăng gấp gần 2,26 lần chỉ tiêu này của năm 1995, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong giai đoạn 1996-2000 là 17,7%. Tuy nhiên so với nhu cầu thì con số đó còn quá nhỏ bé. Năm 1996, ngành cơ khí mới chỉ đáp ứng được khoảng 8% nhu cầu trong nước. Còn hiện nay, mặc dù có sự tăng trưởng đáng kể, song ngành cơ khí cũng mới chỉ đáp ứng được khoảng 10% nhu cầu đó. Và giá trị sản lượng của toàn ngành cơ khí chỉ chiếm khoảng 9% giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành công nghiệp trong khi đó vốn đầu tư chiếm hơn 10% và số lao động chiếm khoảng 8,4% ( hơn 224000 người lao động). Vì vậy, chúng ta phải nhập khẩu phần lớn máy móc-thiết bị phục vụ cho các ngành sản xuất cũng như các sản phẩm tiêu dùng cao cấp mà ngành cơ khí không đáp ứng được nhu cầu. Đây là một vấn đề lớn mà ngành cơ khí Việt Nam cần phải xem xét và có chiến lược khắc phục tình trạng này. Thị trường Việt Nam và nhu cầu nhập khẩu máy móc thiết bị 3 năm trở lại đây. Đơn vị : tỷ đồng Thời gian 1997 1998 Tổng kim ngạch nhập khẩu trong cả nước 15592,3 11499,6 11636 Kim ngạch nhập khẩu máy móc, thiết bị 3511,5 3511,3 2749 30,55% 23,6% Tỷ lệ phần nhập máy móc thiết bị cơ khí 30,3% 1999 trong tổng kim ngạch nhập khẩu Từ thực trạng khả năng sản xuất như trên, thị phần của các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam rất khiêm tốn. Phần lớn thị phần của các sản phẩm cơ khí của nước ta bị Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản... chiếm giữ. Các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam chỉ chiếm một phần rất nhỏ bé. Một số sản phẩm của ngành cơ khí đang bị mất dần thị trường tiêu thụ ngay trong nước, đặc biệt trong việc sản xuất và cung cấp thiết bị toàn bộ. Các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam thời gian qua đã nhập hàng tỷ USD thiết bị, máy móc như chương trình các nhà máy xi măng lò đứng, lò quay, thiết bị mía đường, thiết bị nhà máy bia, thiết bị dầu khí... trong khi các đơn đặt hàng của ngành cơ khí Việt Nam vẫn ở “ bên ngoài” hoặc nếu có tham gia thì chỉ ở dạng nhà thầu phụ với khối lượng rất ít ỏi và rẻ mạt. Thí dụ như công trình xây dựng nhà máy điện Phả Lại, cần khoảng 25000 tấn thiết bị cơ khí phi tiêu chuẩn trị giá khoảng 30 triệu USD, tuy nhiên sự tham gia của các tổng công ty lớn như Tổng công ty Coma, Tổng công ty lắp máy Việt Nam LILAMA... chỉ với tư cách là nhà thầu phụ, thậm chí phụ của thầu phụ. Với tư cách này phần mà các doanh nghiệp Việt Nam được hưởng chỉ bằng khoảng gần 40% giá trị các nhà thầu chính có được. Hay trên thị trường máy động lực và nông nghiệp : Theo con số thống kê hàng năm, thị trường nước ta tiêu thụ khoảng 100000 máy động cơ diesel và 30000 máy kéo hai bánh loại nhỏ. Trong đó, hàng Trung Quốc chiếm khoảng 65% thị phần, 20% của các nước Nhật Bản, Hàn Quốc... còn lại 15% thị phần là của hàng Việt Nam. Như vậy, thị trường thì rộng lớn nhưng thị phần lại quá nhỏ bé. Một ví dụ nữa là thị trường máy bơm: Hiện nay nhu cầu về máy bơm nước của người dân rất cao, đặc biệt là ở các đô thị. Nhưng trên thị trường cung cấp máy bơm hầu như không thấy sản phẩm của Việt Nam. Theo số liệu điều tra, trên thị trường máy bơm hiện nay, máy bơm Trung Quốc chiếm tới 48%, Hàn Quốc chiếm 30%, ngoài ra là sản phẩm của Nhật Bản, Italia... Máy bơm Việt Nam chỉ chiếm số thị phần nhỏ bé còn lại. Thị trường ngoài nước : Xuất khẩu sản phẩm cơ khí là mong muốn từ lâu của những người công tác trong ngành cơ khí vì nó là một trong những yếu tố quan trọng để phát triển ngành này. Nhiều năm qua, ngành cơ khí đã xuất khẩu nhiều sản phẩm của mình sang các nước Đông Âu, nhưng đó là những sản phẩm có trình độ công nghệ thấp như các loại kìm, cờ lê, mỏ lết... theo sự phân công của khối SEV nên giá trị xuất khẩu thấp. Mấy năm gần đây, ngành đã xuất khẩu một số sản phẩm có trình độ cao, tuy nhiên giá trị xuất khẩu rất nhỏ bé chỉ chiếm khoảng 0,1% tổng giá trị xuất khẩu của cả nước. Tỷ lệ này quá nhỏ bé so với các nước công nghiệp phát triển, tỷ lệ này là 35% đến 40%. Trong những năm gần đây, giá trị xuất khẩu có tăng lên song rất chậm chạp. Qua đó, có thể thấy các sản phẩm cơ khí của nước ta yếu tính cạnh tranh quốc tế. 1.2. Phân tích khả năng cạnh tranh của ngành cơ khí Việt Nam. Trong hơn 10 năm đổi mới vừa qua, đặc biệt là trong 5 năm gần đây ( 1995-2000) ngành cơ khí Việt Nam đã có tốc độ tăng trưởng khá, nhiều dấu hiệu đáng mừng song trên thực tế do năng lực sản xuất còn yếu kém lại phải đương đầu với những đối thủ cạnh tranh lớn, đặc biệt là Trung Quốc, nên khả năng cạnh tranh của ngành cơ khí nước ta còn rất thấp kém. Để thấy rõ khả năng cạnh tranh của ngành cơ khí Việt Nam, ta phân tích ở một số điểm chủ yếu sau : 1.2.1. Cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm. Ngành cơ khí Việt Nam cung cấp một phạm vi sản phẩm khá rộng. Các sản phẩm của ngành cơ khí bao gồm các máy công cụ, động cơ diesel, động cơ điện, động cơ xăng, xe vận tải và máy kéo nhỏ, tàu sông và tàu biển, các thiết bị phục vụ sản xuất, xây dựng... Song nhìn chung thì chỉ có một số lượng nhỏ các sản phẩm có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước, còn lại phần lớn các sản phẩm là không có tính cạnh tranh và rất ít sản phẩm có tính cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Trước hết, phải khẳng định rằng, trong những năm đổi mới vừa qua ngành cơ khí cũng đã có rất nhiều nỗ lực trong việc đổi mới thiết bị, mở rộng chủng loại sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm để ngày càng đáp ứng nhu cầu thị trường song trên thực tế chất lượng sản phẩm nói chung của cả ngành cơ khí còn chưa phù hợp với yêu cầu của thị trường . Từ đó dẫn đến sản phẩm có khả năng tiêu thụ kém và khó có khả năng xuất khẩu. Đối với thiết bị toàn bộ : Thiết bị toàn bộ được hiểu là một dây chuyền công nghệ hoàn chỉnh liên hoàn nhằm sản xuất ra một hoặc là một số loại sản phẩm nhất định hoặc thực hiện một chức năng nhất định có giá trị lớn ( một vài triệu đồng ). Thiết bị toàn bộ nào cũng bao gồm nhiều chi tiết, cụm chi tiết cấu thành, trong đó thiết bị đơn giản, thiết bị đồng dạng mà dây chuyền nào cũng có như : bồn, bệ, tháp, băng tải, đường ống.... chiếm một tỷ trọng không nhỏ. Trong thời gian gần đây, ngành cơ khí Việt Nam đã cung cấp được khá nhiều thiết bị đồng bộ cho các ngành sản xuất vật chất trong nước. Trong lĩnh vực điện khí hoá, ngành cơ khí Việt Nam đã có thể tham gia chế tạo các công trình thuỷ điện lớn với công suất tổ máy đến 300MW, có thể chế tạo được các loại kết cấu thép, hệ thống cấp nước, hệ thống ngưng tụ, các máy nghiền than, băng tải, hệ thống lọc bụi... tương đương 35% tổng giá trị thiết bị toàn bộ của công trình. Trong lĩnh vực vật liệu xây dựng, hiện ngành cơ khí đã chế tạo được toàn bộ dây chuyền xi măng lò đứng có công suất 60 nghìn tấn / năm, trạm trộn bê tông 100m³ / giờ... Đối với thiết bị giao thông vận tải, ngành cơ khí có khả năng đáp ứng yêu cầu trong nước về các trạm nghiền sàng đá, trộn đá cấp phối, trạm trộn bê tông nhựa nóng... Đối với thiết bị chế biến nông sản ngành cơ khí có thể chế tạo phần lớn thiết bị cho nhà máy đường công suất 300 tấn mía/ ngày ; thiết bị cho các dây chuyền chế biến cà phê, chè, mủ cao su, xay xát gạo, sản xuất mỳ ăn liền, bánh kẹo... và một phần thiết bị cho nhà máy bia công suất 50triệu lít/ năm. Như vậy, có thể nói trong lĩnh vực sản xuất, cung cấp thiết bị toàn bộ, ngành cơ khí đã có những nỗ lực lớn để cung cấp ngày càng nhiều sản phẩm đáp ứng nhu cầu trong nước. Tuỳ theo từng loại thiết bị toàn bộ cơ khí trong nước có thể làm được thấp khoảng 35%-40%, cao là 60%-70% giá trị thiết bị toàn bộ và giá thấp hơn giá nhập từ 15%-20% tuỳ theo xuất xứ thiết bị. Tuy nhiên trên thực tế, phần lớn các máy móc thiết bị toàn bộ ở nước ta đều là các thiết bị nhập khẩu, kể cả những thiết bị mà trong nước đã sản xuất được. Trong thời gian vừa qua, ngành cơ khí mới chỉ cung cấp được một số dây chuyền cỡ nhỏ, giá trị không lớn cho ngành xây dựng, sơ chế nông sản và làm thầu phụ cho các công trình công nghiệp đầu tư lớn. Ngay cả chương trình lớn về chế biến nông sản là mía đường, sản xuất lại rất phù hợp với khả năng ngành cơ khí trong nước nhưng trong số 25 công trình mía đường xây dựng mới bằng vốn trong nước trong kế hoạch 5 năm 1996-2000 chỉ có hai công trình của tỉnh Khánh Hoà được tỉnh giao cho công ty đường của tỉnh làm chủ thầu. Như vậy, máy móc thiết bị toàn bộ của Việt Nam chưa có đủ khả năng cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm đối với thiết bị ngoại nhập. Chính vì vậy mà nước ta phải nhập hầu hết các thiết bị toàn bộ, chiếm khoảng 1/ 3 kim ngạch nhập khẩu của toàn ngành cơ khí. Dự đoán kế hoạch 5 năm này sẽ nhập khoảng 9-10 tỷ USD và kế hoạch 5 năm tiếp theo sẽ nhập khoảng 15-17 tỷ USD. Lý do chính của tình trạng này là do thiết bị toàn bộ của Việt Nam ít về chủng loại, nhỏ bé về khối lượng cung cấp hơn nữa, các nhà đầu tư chưa tin tưởng vào chất lượng của thiết bị toàn bộ trong nước. Đối với thiết bị lẻ, dụng cụ, phụ tùng : Đây là các sản phẩm mà sau khi sản xuất xong có thể được sử dụng một cách độc lập hoặc được bán ngay ra thị trường mà không nhất thiết phải gắn kết với các sản phẩm cơ khí khác. Đặc điểm thứ hai của nhóm sản phẩm này là giá trị một sản phẩm không quá lớn ( tối đa 400-500 ngàn USD ). Nhóm này có thể bao gồm phương tiện vận tải bộ, động cơ diezel, thiết bị nông nghiệp, thiết bị điện, thiết bị cơ điện, điện tử, hàng tiêu dùng ( quạt, điều hoà nhiệt độ, tủ lạnh, máy giặt...), máy gia công kim loại, các dụng cụ, phụ tùng cầm tay... So với thiết bị toàn bộ, nhóm này có khả năng cạnh tranh tốt hơn. Một số sản phẩm đã có thị trường ổn định ở trong nước, một số sản phẩm đã có thể vươn ra xuất khẩu. Tuy nhiên, nhìn một cách tổng quát, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam về chất lượng sản phẩm vẫn còn rất yếu kém. Đó chính là nguyên nhân khiến các sản phẩm cơ khí của Trung Quốc chiếm lĩnh hầu hết thị trường trong cả nước. Chúng ta sẽ phân tích một số mặt hàng và một số công ty để thấy rõ điều đó. Trên thị trường động cơ diesel : Theo những nhà quản lý của VINAPRO ( nhà sản xuất động cơ diesel hàng đầu của Việt Nam ) thì công ty của họ có thị phần chỉ khoảng 5% trong khi đó động cơ của Đài Loan, Trung Quốc và động cơ cũ nhập khẩu ( chủ yếu của Nhật Bản ) chiếm lĩnh hầu như 95% thị phần còn lại. Công ty cơ khí Trần Hưng Đạo cũng sản xuất động cơ diesel . Sản phẩm chủ yếu của công ty là D12 – là loại động cơ nhỏ sản xuất theo mẫu của Trung Quốc. Theo những nhà quản lý, động cơ đã bị hỏng thường xuyên, có một hệ thống nhiên liệu không hoàn hảo, chảy dầu, quá ồn và khó khởi động. Những nhà quản lý cho rằng, động cơ Trung Quốc nhìn chung là rẻ hơn, được thiết kế tốt hơn và nói chung là chất lượng cao hơn. Có ba doanh nghiệp sản xuất máy kéo ở Việt Nam. Một trong những máy kéo phù hợp nhất với vận tải trong nông nghiệp là máy kéo nhỏ Bông Sen ( 12CV ). Tuy nhiên, việc tiêu thụ sản phẩm này rất chậm vì chất lượng của máy kéo thấp mà giá cả lại cao hơn hàng ngoại nhập. Đối với xe đạp : Xe đạp đã được chế tạo ở Việt Nam từ những năm 1940 và ngành đã phát triển rất nhanh cho đến cuối những năm 1980. Trong thập kỷ gần đây, công nghiệp xe đạp đã giảm mạnh về sản lượng, cả xe hoàn chỉnh và khung xe vào năm 1996 chỉ bằng khoảng 50% khối lượng sản xuất của năm 1985. Nhiều người tiêu dùng cho rằng xe đạp Việt Nam chất lượng thấp, thiết kế xấu, không phù hợp. Bên cạnh đó cũng có một số nhóm sản phẩm được đánh giá có khả năng cạnh tranh cao như : máy nổ, máy xay xát, nồi chảo inox... Các chuyên gia đã xếp nhóm này vào nhóm những sản phẩm có khả năng cạnh tranh với các nước ASEAN. Các sản phẩm này thực tế trong những năm qua đã từng bước cạnh tranh được với hàng của Trung Quốc và hàng máy cũ của Nhật Bản trên thị trường nội địa và đã xuất khẩu sang nhiều nước trong và ngoài khu vực; tỷ suất lợi nhuận trên vốn năm 2000 trung bình đạt 5,5%. Nói tóm lại khả năng cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm của ngành cơ khí hiện nay rất thấp. Bên cạnh một số ít sản phẩm, một số ít doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh cao trong thị trường nội địa và vươn ra xuất khẩu thì hầu hết các doanh nghiệp cơ khí không cạnh tranh nổi với sản phẩm ngoại nhập, đánh mất dần thị trường trong nước. Vì vậy, nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã là một yêu cầu tất yếu đối với các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam hiện nay. 1.2.2. Cạnh tranh bằng giá cả Các sản phẩm cơ khí của Việt Nam hiện nay nhìn chung sức cạnh tranh về giá cả rất thấp. Hầu hết các sản phẩm cơ khí Việt Nam đều có giá cao hơn so với Trung Quốc - đối thủ cạnh tranh chính trên thị trường. Theo số liệu của Tổng công ty máy động lực và máy nông nghiệp Việt Nam ( VEAM), thị trường máy nông nghiệp Việt Nam đang bị máy Trung Quốc thao túng. Lý do máy Việt Nam phải rút khỏi sân nhà là hàng của ta không đủ sức cạnh tranh về giá cả so với hàng của Trung Quốc. Thông thường, máy nông nghiệp Trung Quốc rẻ hơn máy Việt Nam từ 15%-30%. Ví dụ, động cơ 15 mã lực của Trung Quốc hiện bán trên thị trường Việt Nam là 4,5-4,7 triệu đồng một chiếc; cùng loại động cơ này do Việt Nam sản xuất bán với giá 500-600USD trong khi động cơ chính hiệu của Nhật Bản có giá 1300USD. Hay trên thị trường máy nổ, máy nổ của Trung Quốc giá thấp chiếm 80% thị phần. Giá một máy nổ của Trung Quốc công suất 12 mã lực là 4 triệu đồng nhưng máy nổ của Việt Nam là 6,6 triệu đồng. Máy sát gạo của Việt Nam giá 1,7-1,9 triệu đồng một chiếc trong khi đó giá một chiếc máy sát gạo của Trung Quốc chỉ bằng một nửa. Máy Trung Quốc không chỉ rẻ hơn mà còn dễ thay thế phụ tùng hơn với chi phí rẻ hơn so với máy của Việt Nam. Ví dụ, một bộ Visai của Trung Quốc giá chỉ có 7 triệu, thay một bánh răng chỉ khoảng 90000-100000 đồng. Trong khi đó, một bộ Visai của Việt Nam giá 8 triệu đồng, thay một bánh răng hết tới 150000 đồng, mà theo đánh giá của người tiêu dùng thì độ bền của 2 sản phẩm là như nhau. Một ví dụ khác là sản phẩm máy bơm nước. Máy bơm nước của Việt Nam hiện nay vẫn chưa hấp dẫn được người tiêu dùng. Một lý do chính là do giá cao. Hiện nay trên thị trường Việt Nam, một máy bơm nước của Trung Quốc chỉ khoảng 200-300 ngàn đồng một chiếc. Trong khi đó, máy bơm của Việt Nam từ 700-800 ngàn đến hơn 1 triệu đồng một chiếc. Máy của Hàn Quốc chất lượng cao hơn cũng chỉ từ 800000 đồng đến 2 triệu đồng một chiếc. Chính vì vậy mà máy bơm của Việt Nam chưa cạnh tranh được với các sản phẩm cùng loại của Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản. Sở dĩ các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam không có khả năng cạnh tranh về giá cả là do chi phí sản xuất cao. Đó là do 3 nguyên nhân sau : Thứ nhất, lợi thế giá công nhân rẻ của các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam đang mất dần đi, do tiền lương trung bình tăng lên và do năng suất lao động thấp tương đối so với các nước khác trong khu vực. Thứ hai, do các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam phải nhập khẩu nguyên vật liệu làm cho chi phí sản xuất sản phẩm tăng lên. Thứ ba, công nghệ cũ lạc hậu cùng với trình độ quản lý kém làm cho mức chi phí nguyên liệu, nhiên liệu, năng lượng, các chi phí trung gian khác cao hơn so với các đối thủ cạnh tranh. Có thể nói tất cả những nguyên nhân trên làm cho cạnh tranh bằng giá bị hạn chế. Đó cũng là yếu tố chính dẫn đến tình trạng cạnh tranh yếu kém của ngành công nghiệp cơ khí. II. Thực trạng hoạt động nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam hiện nay. 1. Lĩnh vực sản xuất
- Xem thêm -