Một số giải pháp hạn chế ảnh hưởng của suy thoái kinh tế tới kinh doanh xuất khẩu gạch ngói của công ty cổ phần viglacera hạ long sang thị trường các nước châu

  • Số trang: 39 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 24 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

GVHD: Th.S Phan Thu Giang Chuyên đề tốt nghiệp Chương I Tổng quan nghiên cứu đề tài 1.1 Tính cấp thiết của nghiên cứu đề tài Năm 2011, kinh tế thế giới được dự báo sẽ tiếp tục phục hồi với mức tăng trưởng khá, song vẫn còn chứa đựng những bất ổn khó lường. Do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ năm 2008 được đánh giá là cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất kể từ cuộc đại khủng hoảng 1929- 1933, có mức độ ảnh hưởng lớn lan rộng khắp toàn cầu với những diễn biến phức tạp, khó lường. Vào đầu tháng 10 năm 2008, IMF ước tính thiệt hại của cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ đã lên đến 1,4 nghìn tỉ USD. Kéo theo đó là tình trạng suy thoái trên toàn thế giới diễn ra nhanh chóng. Theo dự báo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) thì kinh tế thế giới năm 2010 sẽ tăng trưởng 3,1%, cao hơn so với mức 1,1% của năm 2009, song vẫn thấp hơn nhiều so với mức trên 5% của hai năm 2006, 2007. Tốc độ suy thoái mạnh rơi vào quý IV năm 2008 và quý I năm 2009. Theo dự báo thì năm 2009 mức suy thoái tại Mỹ là 0,9%. Còn theo dự báo của Liên Hợp Quốc thì năm 2010 nền kinh tế thế giới có thể đạt mức tăng trưởng 2,4%, tuy nhiên sự phục hồi này còn rất mong manh. Theo báo cáo của Liên Hợp Quốc, sự phục hồi của kinh tế toàn cầu chủ yếu là do chính sách kích thích kinh tế được các nước tung ra trong năm 2009. Nhưng cho đến năm vừa rồi- 2010 theo nhận định của bộ phận phân tích thông tin kinh tế (EIU) thuộc tạp chí The Economist của Anh cho biết các số liệu gần đây cho thấy nền kinh tế thế giới đang trên con đường phục hồi, tuy nhiên vẫn còn nhiều khó khăn đối với nhiều nước. Nhìn chung, các dự báo về nền kinh tế toàn cầu đều cho thấy cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đã được kiểm soát, kéo theo dấu hiệu hồi phục kinh tế. Tuy nhiên, hiện vẫn còn quá sớm để khẳng định kinh tế thế giới hoàn toàn thoát khỏi suy thoái và bước vào chu kỳ hồi phục. Nghiên cứu của Liên Hợp Quốc về tình hình kinh tế- xã hội khu vực Châu Á-Thái Bình Dương nhấn mạnh Châu Á-Thái Bình Dương đang dẫn đầu thế giới về phục hồi kinh tế. Theo dự báo “Tình hình và triển vọng kinh tế thế giới năm 2010” của Liên Hợp Quốc, năm 2010, các nước đang phát triển ở Châu Á sẽ có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất, đặc biệt là Trung Quốc 8,8%, Ấn Độ 6,5%, tiếp đến là Việt Nam, Lào: 5%, hơn mức 4% của năm 2009. Kế tiếp là Myanmar và Indonesia với hơn 4%.Những quốc SV: Nguyễn Thuý Quỳnh- K43E5 Trường Đại học Thương Mại GVHD: Th.S Phan Thu Giang Chuyên đề tốt nghiệp gia còn lại, tăng trưởng từ 3,5% trở xuống, thấp nhất là Nhật Bản với 1,5% và Brunei với 0,5%. Trong bối cảnh này, suy thoái kinh tế thế giới cũng đã tác động tới Việt Nam, mà nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới nên khó có thể tránh khỏi tác động không thuận cho s ự ổn định và phát triển. Biến số nghịch của giảm sút tốc độ tăng trưởng, khởi phát từ quý III năm 2008 bởi khủng hoảng tài chính. Nếu như xuất khẩu của nước ta năm 2008 đạt 62,9 tỷ USD thì năm 2009 giảm mất 10%, chỉ đạt được 56,6 tỷ USD. Qua 2 năm này ta thấy rõ được ảnh hưởng của suy thoái tới kim ngạch xuất khẩu của nước ta. Xuất khẩu giảm sút vì thị trường xuất khẩu của nước ta là Mỹ, Nhật Bản và châu Âu nên khi các thị trường này rơi vào suy thoái và lâm vào khó khăn đã dẫn tới nhu cầu tiêu dùng hàng nhập khẩu của người dân tại đây giảm sút theo. Do vậy, xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường châu Á giảm sút đáng kể trong năm 2009. Hơn thế nữa, khi các nước châu Á lâm vào suy thoái, nhu cầu tiêu dùng của người dân có sự thay đổi rõ rệt. Họ ưu tiên cho các mặt hàng thiết yếu cho cuộc sống hơn. Chính vì vậy mà các sản phẩm liên quan tới nhóm vật liệu xây dựng như gạch ngói của CTCP Viglacera Hạ Long đứng trước thách thức khá lớn. Qua quá trình điều tra và tìm hiểu, chuyên đề thống kê được 100% số người được phỏng vấn đồng ý với vấn đề này. Do đó việc tìm hiểu kỹ ảnh hưởng của suy thoái kinh tế tới hoạt động xuất khẩu gạch ngói của CTCP Viglacera Hạ Long sang thị trường các nước châu Á và đưa ra một số giải pháp hạn chế ảnh hưởng của nó là vấn đề cần thiết. 1.2 Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài Trong tình hình bối cảnh thế giới đang lâm vào suy thoái nghiêm trọng và tác động của suy thoái kinh tế cũng đã ảnh hưởng đến Việt Nam, cụ thể là ảnh hưởng tới hoạt động XK của Việt Nam nói chung và ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu từ việc XK của CTCP Viglacera Hạ Long nói riêng. Qua quá trình thực tập và điều tra phỏng vấn trực tiếp tại công ty, với tư cách là một sinh viên, tác giả nêu ra những vấn đề lớn trong đề tài như sau:  Làm rõ thực trạng hoạt động xuất khẩu sản phẩm gạch ngói của CTCP Viglacera Hạ Long trong thời kỳ suy thoái kinh tế.  Đề xuất một số giải pháp để giải quyết những khó khăn và những vấn đề khúc mắc cần tháo gỡ trong đề tài. Từ đó đưa ra một số đề nghị cho công ty. Từ những vấn đề cấp thiết đã nêu ở trên nên chuyên đề đã chọn đề tài nghiên cứu là: SV: Nguyễn Thuý Quỳnh- K43E5 Trường Đại học Thương Mại GVHD: Th.S Phan Thu Giang Chuyên đề tốt nghiệp “ Một số giải pháp hạn chế ảnh hưởng của suy thoái kinh tế tới kinh doanh xuất khẩu gạch ngói của Công ty Cổ phần Viglacera Hạ Long sang thị trường các nước châu Á”. 1.3 Các mục tiêu nghiên cứu  Khái quát vấn đề lý thuyết liên quan đến khủng hoảng kinh tế toàn cầu, suy thoái kinh tế, ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu về hoạt động xuất khẩu nói chung. Khái luận về tác động của suy thoái kinh tế tới hoạt động xuất khẩu.  Điều tra làm rõ thực trạng ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu tới hoạt động xuất khẩu của CTCP Viglacera Hạ Long trong giai đoạn hiện nay.  Đề xuất một số giải pháp khắc phục ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới hoạt động xuất khẩu của CTCP Viglacera Hạ Long. 1.4 Phạm vi nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu những ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới tới hoạt động xuất khẩu nói chung và tình xuất khẩu sản phẩm gạch ngói của CTCP Viglacera Hạ Long sang thị trường các nước Châu Á nói riêng, do thời gian còn hạn hẹp và khả năng nhận định, phân tích của bản thân còn hạn chế nên : - Phạm vi nghiên cứu về thời gian: trong giai đoạn từ năm 2007 đến hết 2010.Sở dĩ có sự phân định thời gian như vậy là vì qua số liệu của từng năm từ 2007 đến hết 2010 ta có thể thấy rõ sự sụt giảm doanh thu từ hoạt động xuất khẩu do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu. - Phạm vi nghiên cứu về không gian: tại CTCP Viglacera Hạ Long. - Giới hạn mặt hàng nghiên cứu: xuất khẩu sản phẩm gạch ngói vì gạch ngói là sản phẩm có sản lượng lớn tại công ty cũng như trong công tác xuất khẩu- nó được bạn hàng các nước trên thế giới chọn mua rất nhiều. - Giới hạn thị trường nghiên cứu: xuất khẩu sang thị trường các nước Châu Á. Có thể nói trong 5 Châu lục thì Châu Á là châu chiếm giữ trên dưới 50% kim ngạch xuất khẩu của nước ta. Đồng thời đây cũng là thị trường lớn nhất đối với công ty. Tại thị trường này công ty có tới 21 nước bạn hàng như: Ấn Độ, Campuchia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Myanmar, Lào, Thái Lan, Malaysia, Singapo… SV: Nguyễn Thuý Quỳnh- K43E5 Trường Đại học Thương Mại GVHD: Th.S Phan Thu Giang Chuyên đề tốt nghiệp 1.5 Một số khái niệm và phân định nội dung của vấn đề nghiên cứu 1.5.1 Một số khái niệm chung 1.5.1.1 Khái niệm suy thoái kinh tế, suy thoái kinh tế toàn cầu  Khái niệm suy thoái kinh tế( Economic downturn) Theo kinh tế học vĩ mô: “ Suy thoái kinh tế là sự suy giảm sản lượng GDP của một quốc gia, hoặc tăng trưởng âm, trong vòng từ hai quý liên tiếp trở lên trong một năm”. Suy thoái kinh tế cũng có thể liên quan với giảm phát hoặc lạm phát trầm trọng. Suy thoái kinh tế có thể bao gồm những suy giảm ngẫu nhiên trong các thước đo của các hoạt động kinh tế nói chung như tỷ lệ thất nghiệp, đầu tư, và lợi nhuận của doanh nghiệp. Theo quan điểm của NBER đưa ra định nghĩa về suy thoái kinh tế “là sự tụt giảm hoạt động kinh tế trên cả nước, kéo dài nhiều tháng”.  Khái niệm suy thoái kinh tế toàn cầu (global economic downturn) Có thể hiểu rằng suy thoái kinh tế toàn cầu là sự suy giảm sản lượng GDP của toàn thế giới, hoặc tăng trưởng âm, trong vòng từ hai quý liên tiếp trở lên trong một năm. Hay nói cách khác, suy thoái toàn cầu là sự suy giảm mức độ tăng trưởng của nhiều quốc gia trong 2 quý liên tiếp. Đồng thời khiến cho tỷ lệ thất nghiệp, lạm phát… gia tăng trên toàn thế giới. 1.5.1.2 Khái niệm xuất khẩu Xuất khẩu có thể hiểu đơn thuần là hoạt động đưa hàng hoá và dịch vụ ra khỏi một nước sang các quốc gia khác để bán. Theo luật Thương Mại 2005 của nước Cộng Hoà XHCN Việt Nam thì: “ Xuất khẩu hàng hoá là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”. Theo lý luận TMQT: Xuất khẩu là việc đưa hàng hoá và dịch vụ ra khỏi một nước sang các quốc gia khác để bán. Xuất khẩu là một bộ phận của hoạt động thương mại quốc tế trong đó hàng hoá và dịch vụ được bán, cung cấp cho nước ngoài nhằm thu ngoại tệ. Đây là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế, nó không chỉ là một hành vi buôn bán đơn lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán phức tạp có tổ chức bên trong và bên ngoài nhằm mục đích lợi nhuận, thúc đẩy hàng hoá sản xuất phát triển, chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, ổn định và nâng cao mức sống của nhân dân. SV: Nguyễn Thuý Quỳnh- K43E5 Trường Đại học Thương Mại GVHD: Th.S Phan Thu Giang Chuyên đề tốt nghiệp Theo quan điểm của các nhà kinh doanh quốc tế: Xuất khẩu hàng hoá là việc bán hàng hoá của quốc gia này cho một quốc gia khác trên cơ sở thanh toán bằng tiền tệ. Hàng hóa được vận chuyển qua biên giới quốc gia, tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một hoặc cả hai quốc gia. 1.5.2 Một số lý thuyết của vấn đề nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu, chuyên đề đã tìm hiểu và nghiên cứu bằng khá nhiều phương tiện truyền thông khác nhau nhưng với thời gian và khả năng nghiên cứu có hạn. Chuyên đề chưa tìm ra một quan điểm nào được nâng lên thành lý thuyết về suy thoái kinh tế toàn cầu và hoạt động xuất khẩu mà đa phần chỉ là các quan điểm của các nhà kinh tế học về suy thoái kinh tế và bản chất, chức năng của hoạt động xuất khẩu. 1.5.2.1 Lý thuyết về chu kỳ phát triển kinh tế Hình 1.1: Chu kỳ kinh tế Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Chu_kỳ_kinh_tế - Suy thoái là pha trong đó GDP thực tế giảm đi. Ở Mỹ và Nhật Bản, người ta quy định rằng, khi tốc độ tăng trưởng GDP thực tế mang giá trị âm suốt hai quý liên tiếp thì mới gọi là suy thoái. - Phục hồi pha trong đó GDP thực tế tăng trở lại bằng mức ngay trước suy thoái. Điểm ngoặt giữa hai pha này là đáy của chu kỳ kinh tế. - Khi GDP thực tế tiếp tục tăng và bắt đầu lớn hơn mức ngay trước lúc suy thoái, nền kinh tế đang ở pha hưng thịnh( hay còn gọi là pha bùng nổ). Kết thúc pha hưng thịnh lại SV: Nguyễn Thuý Quỳnh- K43E5 Trường Đại học Thương Mại GVHD: Th.S Phan Thu Giang Chuyên đề tốt nghiệp bắt đầu pha suy thoái mới. Điểm ngoặt từ pha hưng thịnh sang pha suy thoái mới gọi là đỉnh của chu kỳ kinh tế. - Thông thường, người ta chỉ nhận ra hai điểm đáy và đỉnh của chu kỳ kinh tế khi nền kinh tế đã sang pha tiếp sau điểm ngoặt với dấu hiệu là tốc độ tăng trưởng GDP thực tế đổi chiều giữa mức âm và mức dương. Trong thực tế, các nhà kinh tế học cố tìm cách nhận biết dấu hiệu của suy thoái vì nó tác động tiêu cực đến mọi mặt kinh tế, xã hội. Một số đặc điểm thường gặp của suy thoái là:  Tiêu dùng giảm mạnh, hàng tồn kho của các loại hàng hoá lâu bền trong các doanh nghiệp tăng lên ngoài dự kiến. Việc này dẫn đến nhà sản xuất cắt giảm sản lượng đầu tư vào trang thiết bị, nhà xưởng cũng giảm và kết quả là GDP thực tế giảm sút.  Cầu về lao động giảm, đầu tiên là số ngày làm việc của người lao động giảm xuống, tiếp theo là hiện tượng cắt giảm nhân công và tỷ lệ thất nghiệp tăng cao.  Khi sản lượng giảm thì lạm phát sẽ chậm lại do giá đầu vào của sản xuất giảm bởi nguyên nhân cầu sút kém. Giá cả dịch vụ khó giảm nhưng cũng tăng không nhanh trong giai đoạn kinh tế suy thoái.  Lợi nhuận của các doanh nghiệp giảm mạnh và giá chứng khoán thường giảm theo khi các nhà đầu tư cảm nhận được pha đi xuống của chu kỳ kinh doanh. Cầu về vốn cũng giảm đi làm cho lãi suất giảm xuống trong thời kỳ suy thoái. - Còn khi nền kinh tế hưng thịnh thì các dấu hiệu trên biến thiên theo chiều ngược lại. Trước đây, một chu kỳ kinh doanh thường được cho là có bốn pha lần lượt là suy thoái, khủng hoảng, phục hồi và hưng thịnh. Tuy nhiên, trong nền kinh tế hiện đại, khủng hoảng theo định nghĩa kinh tế tiêu điều, thất nghiệp tràn lan, các nhà máy đóng cửa hàng loạt, v.v… không xảy ra nữa. Vì thế, toàn bộ giai đoạn GDP giảm đi, tức là giai đoạn nền kinh tế thu hẹp lại, được gọi duy nhất là suy thoái. Ở Việt Nam cho đến thập niên 1990, trong một số sách về kinh tế các nước Tư bản chủ nghĩa, khi nói về chu kỳ kinh tế thường gọi tên bốn pha này là khủng hoảng, tiêu điều, phục hồi và hưng thịnh. 1.5.2.2 Một số lý luận cơ bản của suy thoái kinh tế  Lược sử các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới từ 1929- 2011 Các cuộc khủng hoảng của kinh tế thế giới đã tác động hầu hết tới các mặt của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá… với các mức độ khác nhau. Sự tác động của nó thật sâu rộng và mang tính chất toàn cầu. Điển hình là ba cuộc khủng hoảng sau: SV: Nguyễn Thuý Quỳnh- K43E5 Trường Đại học Thương Mại GVHD: Th.S Phan Thu Giang Chuyên đề tốt nghiệp - Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929- 1933 được đánh giá là một trong những cuộc khủng hoảng kinh tế lớn trong lịch sử kinh tế hiện đại. Hậu quả của nó để lại trong suốt thập niên 1930. Cuộc suy thoái bắt đầu ở Mỹ vào tháng 10/1929, sau đó nhanh chóng lan sang châu Âu và hầu khắp các nước khác trên thế giới, cả những nước công nghiệp và các quốc gia chuyên xuất khẩu nguyên liệu thô đều bị ảnh hưởng. - Cuộc khủng hoảng thứ hai là khủng hoảng về hàng hoá, đó là cuộc khủng hoảng về dầu mỏ 1973 đã đẩy giá dầu mỏ lên cao và làm ảnh hưởng tới các hoạt động đầu tư, sản xuất, tiêu dùng. Cuộc chiến giữa thế giới Ả Rập và Israel cùng với đồng minh Mỹ, Nhật và một số nước châu Âu đã làm nên cuộc khủng hoảng dầu lửa này kéo theo đó là những tác động tiêu cực gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. - Và gần đây nhất là cuộc khủng hoảng năm 2008 là cuộc khủng hoảng nặng nề nhất trong vòng 60 năm trở lại đây theo đánh giá của IMF. Khi mà hàng loạt các ngân hàng lớn tại Mỹ tuyên bố phá sản thì nền kinh tế của nước này bị suy sụp nhanh chóng đã khiến kinh tế thế giới sụt giảm theo. Cùng với đó là tình trạng khủng hoảng về lương thực và năng lượng, những tháng cuối năm 2008 và đầu năm 2009 là những ngày đen tối của kinh tế thế giới. Cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ và nhanh chóng lan ra toàn cầu, nó đã tác động mạnh mẽ vào toàn bộ nền kinh tế các nước trên thế giới. Cho đến hiện nay thì theo đánh giá của các chuyên gia thì nền kinh tế các nước đang trên đà phục hồi.  Nguyên nhân của các cuộc khủng hoảng Trong ba cuộc suy thoái kể trên, mỗi cuộc suy thoái có nguyên do riêng của nó. - Trước tiên là cuộc Đại khủng hoảng năm 1930, là cuộc khủng hoảng sản xuất “thừa”. Do chạy theo lợi nhuận những năm ổn định, các nước CNTB tiến hành bóc lột tầng lớp lao động cho sản xuất ồ ạt, bừa bãi dẫn đến tình trạng cung nhiều hơn cầu rất nhiều, hàng sản xuất ra không tiêu thụ được vì sức mua của người dân giảm sút do sự bóc lột của CNTB. Nguyên nhân sâu xa của những cuộc khủng hoảng này là sự quản lý buông lỏng của chính phủ ( yếu tố nội sinh) đã làm mất cân đối trong sản xuất và tiêu dùng. - Về cuộc khủng hoảng dầu lửa 1973, nguyên nhân ngoại sinh của nó là do cuộc chiến tranh Yom Kippur ( Yom Kippur là ngày lễ lớn nhất của của người Do thái- lễ sám hối) xáy ra ngày 06/10/1973. Đây là cuộc chiến tranh giữa một bên là Ai CậpSyria cùng các đồng minh thuộc thế giới Ả Rập và một bên là Israel cùng các đồng minh chính là Mỹ, Nhật và một số nước thuộc EU hiện nay. Trong cuộc chiến tranh SV: Nguyễn Thuý Quỳnh- K43E5 Trường Đại học Thương Mại GVHD: Th.S Phan Thu Giang Chuyên đề tốt nghiệp này, để hỗ trợ chiến tranh quân sự, Ai Cập- Syria ngừng xuất khẩu dầu mỏ sang các nước ủng hộ Israel từ 10/1973- 04/1974, việc này đã được “ Tổ chức các quốc gia Ả Rập xuất khẩu dầu mỏ”( các nước Ả Rập trong OPEC, Ai Cập và Syria) thực hiện rất tốt. Kết quả là với việc khan hiếm dầu mỏ ở các quốc gia phương Tây mà nhu cầu thì quá lớn, dẫn đến giá dầu tăng lên đáng kể trong thời gian ngắn lên đến gần 100$/thùng. Chính cuộc khủng hoảng năng lượng này đã gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế 19731975 trên quy mô toàn cầu. - Còn cuộc khủng hoảng 2008 thì mọi người đều cho rằng nguyên nhân của nó bắt nguồn từ sự sụp đổ tài chính phố Wall với chính sách tín dụng dưới chuẩn, hay còn gọi là tín dụng thế chấp bất động sản rủi ro cao, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ thực thi chính sách tiền tệ nới lỏng làm cho đồng USD rẻ hơn so với các đơn vị tiền tệ khác trên thế giới. Kết quả là thị trường tài chính và thị trường bất động sản sôi lên và nổ tung. Trong đó người ta nêu lên nguyên nhân chính là do sự thiếu kiểm soát chặt chẽ của nhà nước nên mới có sự nổ tung thị trường tài chính và thị trường bất động sản. Kết quả là nhiều ngân hàng Mỹ phá sản, hàng trăm ngân hàng nộp đơn xin hưởng “ Chương trình hỗ trợ” của chính phủ Mỹ. Cuộc khủng hoảng tại Mỹ đã nhanh chóng lan sang các nước khác, trước hết là châu Âu, các nước đang phát triển cũng bị vạ lây nhanh chóng. Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng này là hàng triệu người thất nghiệp, theo FAO 17 triệu người sẽ lâm vào hoàn cảnh thiếu đói. Điều này có nghĩa là các khu vực sản xuất- kinh doanh phi tài chính đã bị trực tiếp chịu ảnh hưởng của suy thoái. 1.5.2.3 Lý thuyết về hoạt động xuất khẩu Hoạt động xuất khẩu được diễn ra trong mọi lĩnh vực, mọi điều kiện kinh tế, từ xuất khẩu hàng hoá tiêu dùng đến xuất khẩu tư liệu sản xuất, từ máy móc thiết bị cho đến các máy móc công nghệ kỹ thuật cao, từ hàng hoá hữu hình đến hàng hoá vô hình( dịch vụ). Tất cả đều nhằm mục tiêu đem lại lợi ích cho các quốc gia tham gia vào hoạt động xuất khẩu. Nó diễn ra trong phạm vi rất rộng cả về không gian và thời gian, có thể diễn ra trong một ngày hay kéo dài hàng năm, có thể diễn ra trên phạm vi lãnh thổ một quốc gia hay nhiều quốc gia khác nhau. Do đó, bản chất của hoạt động xuất khẩu cũng tồn tại hai quan điểm:  Theo quan niệm cổ điển Trong thương mại quốc tế cổ điển, hoạt động xuất khẩu chỉ là xuất khẩu hàng hoá đơn thuần. Là hoạt động phát sinh tự phát giữa cả hai bên tham gia và cùng thu lợi SV: Nguyễn Thuý Quỳnh- K43E5 Trường Đại học Thương Mại GVHD: Th.S Phan Thu Giang Chuyên đề tốt nghiệp nhuận. Các nhà XNK chỉ hướng vào lợi thế so sánh mà trong TMQT cổ điển là lợi thế so sánh tĩnh. - Theo như quan điểm của lợi thế so sánh của nhà kinh tế học người Anh David Ricardo, ông cho rằng nếu một quốc gia có hiệu quả thấp hơn so với hiệu quả của quốc gia khác trong việc sản xuất tất cả các loại sản phẩm thì quốc gia đó vẫn có thể tham gia vào hoạt động xuất khẩu, quốc gia đó sẽ tham gia vào việc sản xuất và xuất khẩu các loại hàng hóa mà việc sản xuất ra chúng ít bất lợi nhất. - Học thuyết Hecksher- Ohlin phát biểu: Một nước sẽ xuất khẩu loại hàng hoá mà việc sản xuất ra chúng sử dụng nhiều yếu tố rẻ và tương đối sẵn của nước đó và nhập khẩu những hàng hoá mà việc sản xuất ra chúng cần nhiều yếu tố đắt và tương đối khan hiếm ở quốc gia đó.  Theo quan niệm hiện đại Theo thương mại quốc tế hiện đại, xuất khẩu bao gồm cả xuất khẩu hàng hoá và xuất khẩu dich vụ. Hoạt động xuất khẩu diễn ra một cách đa dạng, nhanh chóng và tiện lợi hơn rất nhiều so với trong TMQT cổ điển. Hoạt động xuất khẩu giờ đây dựa trên lợi thế so sánh động và ngoài dựa vào lợi thế so sánh như trong TMQT cổ điển thì ngày nay xuất khẩu còn dựa trên nhiều lý do khác nhau như: kinh tế theo quy mô, xuất khẩu nhằm đáp ứng và thoả mãn nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng trên khắp thế giới. Thông qua các công ty đa quốc gia, các nhà xuất khẩu tận dụng tối đa sự độc quyền của mình. Ngoài ra, xuất khẩu còn nhằm mục đích tránh các rào cản kỹ thuật tại nước bản địa.  Vai trò của hoạt động xuất khẩu Xuất khẩu là hoạt động kinh tế đối ngoại đem lại hiệu quả đột biến cao hoặc có thể gây hại. Hơn bao giờ hết, xuất khẩu hàng hóa thực sự có vai trò quan trọng, cụ thể là: - Hoạt động xuất khẩu tạo nguồn vốn ngoại tệ quan trọng để đảm bảo nhu cầu nhập cầu. - Hoạt động xuất khẩu phát huy được các lợi thế của đất nước. - Hoạt động xuất khẩu góp phần làm chuyển dịch cơ cấu sản xuất, định hướng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. - Giải quyết công việc, tạo thu nhập và tăng mức sống cho người lao động. - Tạo điều kiện doanh nghiệp mở rộng thị trường, tiêu thụ sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra. Nhờ có xuất khẩu mà tên tuổi của doanh nghiệp không chỉ được các khách hàng trong nước biêt đến mà còn cả ở thị trường nước ngoài. SV: Nguyễn Thuý Quỳnh- K43E5 Trường Đại học Thương Mại GVHD: Th.S Phan Thu Giang Chuyên đề tốt nghiệp - Phát huy tính năng động sáng tạo của cán bộ xuất nhập khẩu và các doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu. - Hoạt động xuất khẩu nâng cao uy tín nước ta trên thị trường thế giới, tăng cường quan hệ kinh tế đối ngoại.  Các loại hình xuất khẩu: - Xuất khẩu gián tiếp Hình thức xuất khẩu này thường phù hợp với công ty mà mục tiêu mở rộng ra thị trường nước ngoài hạn chế. Nếu như bán hàng quốc tế được xem như là cách thức sử dụng hết công cụ dư thừa của sản xuất thì việc sử dụng các đại lý là phù hợp. Các công ty lựa chọn hình thức hình thức xuất khẩu này thường có nguồn lực hạn chế giành cho mở rộng thị trường quốc tế, muốn xâm nhập dần dần, thử nghiệm thị trường trước khi đầu tư các nguồn lực và cố gắng phát triển một tổ chức xuất khẩu. - Hợp tác xuất khẩu: Với một công ty mong muốn kiểm soát ở mức độ nào đó hoạt động xuất khẩu nhưng lại hạn chế nguồn lực hoặc khối lượng bán không đủ lớn để thiết lập một bộ phận xuất khẩu thì hợp tác xuất khẩu cũng là một sự lựa chọn thích hợp. trong trường hợp này công ty thỏa thuận hợp tác với một công ty khác để phối hợp các hoạt động nghiên cứu, xúc tiến thương mại, vận tải, phân phối và các hoạt động khác liên quan đến thị trường xuất khẩu. - Xuất khẩu trực tiếp: Khi khối lượng xuất khẩu đủ lớn và công ty mong muốn tập trung nguồn lực của mình vào phát triển thị trường quốc tế thì việc thiết lập tổ chức xuất khẩu là thích hợp. Tổ chức này có thể bố trí ở trong nước hoặc thị trường nước ngoài. Trường hợp này, tổ chức xuất khẩu đảm nhiệm tất cả các chức năng xuất khẩu, từ việc xác định thị trường tiềm năng, phân đoạn thị trường, thu xếp thủ tục, chứng từ xuất khẩu, vận tải cho đến hoạch định, triển khai kế hoạch marketing cho thị trường quốc tế.  Hoạt động xuất khẩu có thể bị tác động bởi: - Các nhân tố về Luật pháp- Chính trị và Văn hoá- Xã hội. - Tình trạng kinh tế của các quốc gia nhập khẩu. - Các nhân tố kỹ thuật, công nghệ, hạ tầng cơ sở và các yếu tố tự nhiên. - Khả năng tài chính của doanh nghiệp. - Tiềm năng con người và trình độ quản lý, tổ chức của doanh nghiệp. SV: Nguyễn Thuý Quỳnh- K43E5 Trường Đại học Thương Mại GVHD: Th.S Phan Thu Giang - Chuyên đề tốt nghiệp Vị trí địa lý… Trong đó bị tác động bởi tình trạng kinh tế của các quốc gia là khá quan trọng. Vì vậy, khi các quốc gia lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế thì hoạt động xuất khẩu cũng rơi vào tình trạng khó khăn. 1.5.3 Giải pháp hạn chế ảnh hưởng của suy thoái kinh tế tới kinh doanh xuất khẩu 1.5.3.1 Ảnh hưởng của suy thoái tới hoạt động xuất khẩu Mỗi cuộc suy thoái đều có tác động nhất định tới các lĩnh vực của đời sống, kinh tế, chính trị, xã hội…Ảnh hưởng của nó được xét dưới hai mặt trực tiếp và gián tiếp như sau:  Ảnh hưởng trực tiếp Ảnh hưởng trực tiếp dễ nhận thấy nhất của các cuộc suy thoái kinh tế tới hoạt động xuất khẩu là sự suy giảm của sản lượng sản xuất toàn cầu. Dù khủng hoảng kinh tế xảy ra do nguyên nhân nào thì tăng trưởng kinh tế thế giới trong thời kỳ này đều giảm sút nghiêm trọng. Hầu hết các hoạt động sản xuất đều bị đình trệ, sản phẩm làm ra không tiêu thụ được, các nhà sản xuất lâm vào tình trạng khó khăn. Hoạt động xuất khẩu cũng không nằm ngoài những tác động đó, thị trường xuất khẩu thu hẹp, số lượng các đơn đặt hàng giảm mạnh, nguồn vốn bị thâm hụt nghiêm trọng. Nguyên do sâu xa của việc này là cầu giảm mạnh- sức tiêu dung của người dân giảm sút trầm trọng. Điều này dễ hiểu bởi trong giai đoạn suy thoái các Chính phủ, Quốc gia thắt chặt chi tiêu dẫn tới việc tiêu dùng của người dân cũng giảm sút theo. Họ chỉ chi cho các khoản nhu yếu phẩm là chủ yếu. Chính bởi lý do đó, hoạt động xuất khẩu cũng như nhiều hoạt động sản xuất khác trong thời kỳ này đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng.  Ảnh hưởng gián tiếp Ngoài ảnh hưởng trực tiếp nêu trên, hoạt động xuất khẩu còn bị tác động bởi các yếu tố gián tiếp như nhu cầu tiêu thụ, tỷ giá hối đoái, giá cả hàng hoá và đầu tư. - Trước hết, do tác động của cuộc khủng hoảng, người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu khiến cầu tiêu dùng giảm mạnh. Họ cắt giảm các khoản chi không cần thiết, chỉ chi cho các khoản thiết yếu. Do đó, đầu ra của hoạt động xuất khẩu trên thế giới bị ngưng trệ, khó khăn là điều tất yếu. - Thứ hai, sự biến động của tỷ giá hối đoái trên thị trường cũng tác động tiêu cực đến xuất khẩu. Cán cân thanh toán quốc gia bị tham hụt nặng nề khiến tiền bị mất giá, các nhà xuất khẩu dù có bán được hàng nhưng cũng bị rơi vào tình trạng lãi giả lỗ thực. SV: Nguyễn Thuý Quỳnh- K43E5 Trường Đại học Thương Mại GVHD: Th.S Phan Thu Giang Chuyên đề tốt nghiệp Đồng tiền các quốc gia mất giá trầm trọng. Các khoản thu từ hoạt động xuất khẩu có được thì tính ra cũng không bù đắp nổi khoản mà doanh nghiệp đã bỏ ra. - Thứ ba, do sức ép của hàng hoá bị tồn đọng nhiều khiến cho giá cả hàng hoá hạ xuống mức thấp nhất có thể. Thường thì các doanh nghiệp không thể có lượng hàng đáp ứng tức thì của các đơn đặt hàng, chính vì vậy nên họ phải trữ hàng. Và thời điểm trữ hàng thì họ mua nó với giá khác nhưng khi bán đi thì trong giai đoạn suy thoái hầu hết các mặt hàng đều bị hạ giá. Tình cảnh này khiến cho nhà xuất khẩu bán được hàng nhưng cũng không có lãi mà thậm chí là lỗ. - Tác động cuối cùng là đầu tư. Hoạt động xuất khẩu nhiều khi phụ thuộc vào nguồn vốn của nước ngoài. Khi gặp khó khăn, trong khi hoạt động kinh doanh cần thêm vốn thì các nhà đầu tư lại tìm mọi cách để rút vốn về vì chính họ cũng đang gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh của họ. Việc này dẫn tới việc các doanh nghiệp phụ thuộc vào vốn đầu tư nước ngoài thiếu vốn để tái sản xuất kinh doanh, bù đắp những khoản lỗ do suy thoái. Trong giai đoạn này, sự đình trệ, phá sản của hoạt động xuất khẩu là điều khó tránh khỏi nếu không có các biện pháp thích hợp và linh hoạt. Tóm lại, khi toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ thì việc xuất khẩu vào thị trường các nước trên thế giới càng trở lên dễ dàng hơn nhưng những ảnh hưởng của nó ngược lại cũng không nhỏ. Một khi khủng hoảng kinh tế toàn cầu xảy ra thì chính hoạt động xuất khẩu phải gánh chịu tác động nặng nề nhất. 1.5.3.2 Giải pháp hạn chế ảnh hưởng của suy thoái kinh tế tới xuất khẩu Suy thoái kinh tế đã tác động rất lớn tới nền kinh tế của các nước trên Thế giới, đặc biệt là trong lĩnh vực xuất nhập khẩu. Vì vậy, chúng ta cần có những giải pháp để hạn chế ảnh hưởng của nó tới hoạt động xuất nhập khẩu. Dưới đây là một vài giải pháp được các doanh nghiệp xuất khẩu áp dụng trong giai đoạn suy thoái kinh tế toàn cầu: - Khai thác và mở rộng thị phần tại thị trường nội địa là một trong những giải pháp hữu hiệu giúp các doanh nghiệp hạn chế được sự tác động bất lợi từ bên ngoài. Trong điều kiện suy thoái kinh tế toàn cầu sản xuất hướng tới thị trường trong nước trở thành xu hướng phổ biến đối với những quốc gia có thị trường nội địa rộng lớn. Vì vậy, các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu nên chuyển hướng tập trung vào thị trường trong nước. Cách chuyển hướng này là cần thiết không những để duy trì sản xuất kinh doanh khi xuất khẩu gặp khó khăn mà còn là cơ hội để thâm nhập và mở rộng thị trường trong nước đầy tiềm năng. Hơn nữa cần nâng cao khả năng cạnh tranh của SV: Nguyễn Thuý Quỳnh- K43E5 Trường Đại học Thương Mại GVHD: Th.S Phan Thu Giang Chuyên đề tốt nghiệp hàng trong nước giúp người dân bỏ tâm lý “ sính hàng ngoại” bằng cách nâng cao chất lượng, công nghệ chế biến, tăng kích cầu nội địa, cũng như xây dựng hàng rào kỹ thuật quản lý chất lượng đối với hàng hoá nhập khẩu. - Đa dạng hoá và chuyển hướng xuất khẩu sang thị trường khác ít bị ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế. Đây là hướng giải quyết mà nhiều doanh nghiệp xuất khẩu lựa chọn trong giai đoạn suy thoái. Tuy nhiên, việc khai thác các thị trường mới cũng có nhiều khó khăn và rủi ro tiềm ẩn, vì vậy việc nghiên cứu thị trường một cách nghiêm túc và kỹ lưỡng, lựa chọn đối tác phù hợp, có uy tín và có khả năng thanh toán là rất quan trọng đối với các doanh nghiệp xuất khẩu. - Nâng cao năng lực sản xuất các sản phẩm công nghiệp phụ trợ, các sản phẩm đầu vào quan trọng của hàng hoá xuất khẩu Đầu tiên, cần phát triển sản xuất các loại sản phẩm công nghiệp phụ trợ có nhu cầu lớn, có ảnh hưởng nhiều đến sản xuất trong nước như: sắt, thép, dầu khí, chi tiết linh kiện phức tạp của công nghiệp ô tô, xe máy, điện tử dân dụng…các phụ kiện cho công nghiệp dệt may, giày dép. Thứ nữa là cần phải tập trung đổi mới công nghệ theo hướng hiện đại hoá, mở rộng quy mô sản xuất cho các cơ sở nguyên liệu phụ liệu có nhu cầu lớn như ngành công nghiệp sợi, dệt, chỉ khâu, sản xuất phôi thép… và một số loại phụ kiện cho công nghiệp ô tô, xe máy. - Đổi mới hoạt động xúc tiến thương mại gắn với nhiệm vụ tăng trưởng xuất khẩu hàng hoá Trong giai đoạn suy thoái kinh tế, khó khăn lớn nhất của hầu hết các doanh nghiệp là tìm đầu ra cho sản phẩm, vì vậy các hỗ trợ của chính phủ trong vấn đề này là đặc biệt quan trọng. Các chương trình xúc tiến thương mại cần có sự điều chỉnh cả về hình thức tổ chức và hệ thống các cơ quan tham gia theo hướng Nhà nước nên tập trung vào các chương trình lớn, được nghiên cứu và tổ chức bài bản, cũng như tập trung vào các thị trường lớn và nhiều tiềm năng. Hơn nữa, cần tăng cường phối hợp giữa 3 cấp tham gia vào công tác này là: Chính phủ, các tổ chức xúc tiến thương mại, và các doanh nghiệp xuất khẩu, lấy hợp tác và cạnh tranh làm cơ sở nền tảng để hình thành và phát triển mạng lưới. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng cần phải chủ động hơn trong công tác này, không nên chỉ trông chờ vào kinh phí hỗ trợ từ phí chính phủ như hiện nay. - Các giải pháp khác SV: Nguyễn Thuý Quỳnh- K43E5 Trường Đại học Thương Mại GVHD: Th.S Phan Thu Giang Chuyên đề tốt nghiệp Để góp phần tháo gỡ khó khăn do thị trường xuất khẩu bị thu hẹp, các doanh nghiệp cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu và dự báo thị trường để chủ động trong sản xuất và xuất khẩu hàng hoá, cũng như đưa ra các chiến lược phù hợp với tình hình hội nhập kinh tế như hiện nay. Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt thì các doanh nghiệp cần tập trung nguồn lực vào đầu tư nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, cải tiến kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng cao năng suất lao động, tạo ra những mặt hàng xuất khẩu có hàm lượng giá trị cao. Tóm lại, để vượt qua những khó khăn và trở ngại của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, duy trì và tiếp tục đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng hoá, bên cạnh các biện pháp khai thác hợp lý tiềm năng nội lực để phát triển sản xuất, gia tăng khối lượng và chất lượng hàng hoá, còn cần phải áp dụng một cách đồng bộ các biện pháp này với việc đẩy mạnh xuất khẩu theo từng thị trường và khách hàng hợp lý. Song song với nỗ lực của doanh nghiệp cũng cần có sự quan tâm của ban ngành lãnh đạo các cấp và Chính phủ. SV: Nguyễn Thuý Quỳnh- K43E5 Trường Đại học Thương Mại GVHD: Th.S Phan Thu Giang Chuyên đề tốt nghiệp Chương II Phương pháp nghiên cứu và thực trạng ảnh hưởng của suy thoái kinh tế tới kinh doanh xuất khẩu gạch ngói của CTCP Viglacera Hạ Long sang thị trường các nước châu Á 2.1 Phương pháp nghiên cứu các vấn đề 2.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp qua phỏng vấn Chuyên đề xây dựng bảng câu hỏi phỏng vấn bao gồm 6 câu hỏi và phỏng vấn 3 người là Tổng giám đốc của công ty, người đưa ra các quyết định, cũng như đưa ra phương hướng hoạt động cho công ty. Người được phỏng vấn tiếp theo là Giám đốc xuất nhập khẩu của công ty- người trực tiếp chỉ đạo các hoạt động của phòng Xuất nhập khẩu và cuối cùng là Giám đốc kế hoạch- kỹ thuật, người tham mưu cho Tổng giám đốc về phương hướng hoạt động, công tác quản lý… Các câu hỏi phỏng vấn tập trung vào việc tìm hiểu hoạt động xuất khẩu gạch ngói sang thị trường các nước châu Á trong giai đoạn suy thoái vừa qua và một số giải pháp khắc phục những tác động của nó. Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp qua phiếu điều tra Khi xây dựng phiếu điều tra, chuyên đề tiến hành xây dựng 10 câu hỏi đóng mở để có thể dễ dàng phân tích tổng hợp các thông tin thu được. Do cần một số những thông tin liên quan đến thực trạng xuất khẩu của công ty hiện nay nên chuyên đề đã điều tra 10 phiếu tập trung vào tìm hiểu mức độ tác động của suy thoái kinh tế thế giới tới hoạt động của công ty nói chung và tình hình xuất khẩu nói riêng. Những người được phỏng vấn là các chuyên viên phòng xuất nhập khẩu và phòng kế hoạch kỹ thuật. 2.1.2 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp Bên cạnh việc thu thập dữ liệu sơ cấp còn thu thập những dữ liệu thứ cấp thông qua số liệu báo cáo kết quả kinh doanh của công ty qua các năm 2007, 2008, 2009 và 2010. Ngoài ra, chuyên đề còn thu thập thông tin từ báo chí và website của công ty. Sau khi đã thu thập được dữ liệu tiến hành xử lý dữ liệu đó bằng các phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp để đưa ra kết luận về tình hình xuất khẩu của doanh nghiệp trong giai đoạn suy thoái kinh tế vừa qua. SV: Nguyễn Thuý Quỳnh- K43E5 Trường Đại học Thương Mại GVHD: Th.S Phan Thu Giang Chuyên đề tốt nghiệp 2.2 Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng của nhân tố môi trường tới hoạt động xuất khẩu của CTCP Viglacera Hạ Long 2.2.1 Nhân tố bên ngoài 2.2.1.1 Bối cảnh kinh tế thế giới Cuộc khủng hoảng kinh tế 2008 vừa qua được châm ngòi từ khủng hoảng thị trường tài chính Mỹ và tác động đến tất cả các nền kinh tế trên thế giới. Khủng hoảng kinh tế toàn cầu xảy ra làm tổng sản lượng hàng hoá trên thế giới giảm mạnh. Một số mặt hàng bị ảnh hưởng nghiêm trọng như: sản lượng thép thế giới trong năm 2008 giảm 1,2 % với năm 2007 xuống còn 1.329,7 triệu tấn. Năm 2009 nó còn bị giảm 7,6 % so với năm 2008 xuống còn 1.229 tỷ tấn. Sản lượng này bị giảm đáng kể trong 2 năm liên tiếp. Nhưng cho đến năm 2010- nền kinh tế thế giới trên đà phục hồi, sản lượng thép tăng 15% so với năm 2009 đạt 1.414 tỷ tấn. Và tính đến quý I năm 2011 thì sản lượng này đã đạt được 372 triệu tấn- tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước. Các sản phẩm nông nghiệp cũng có sản lượng giảm… Trong giai đoạn suy thoái kinh tế đó, thương mại toàn cầu sụt giảm: lạm phát gia tăng, cầu về các loại hàng hoá giảm, tiêu dùng tư nhân, đầu tư của các công ty và các hoạt động sản xuất cùng giảm, dẫn tới sụt giảm trong nhập khẩu các loại hàng hoá trên thị trường. Hai đầu máy của kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại là cho cầu của các loại hàng hoá như dầu, thực phẩm và khoáng sản sụt giảm mạnh. Điều này tất yếu sẽ tác động tiêu cực tới xuất khẩu và tăng trưởng của các nước xuất khẩu các mặt hàng này ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ- Latinh. Tăng trưởng kinh tế ở các nước lớn như Mỹ và Nhật Bản ở mức thấp nhất 7 năm qua. Các nền kinh tế đang phát triển chỉ đạt mức tăng trưởng 6,6% thấp hơn so với mức 8% năm 2007. Trong bối cảnh suy thoái, các gói giải pháp theo hướng bơm tiền vào nền kinh tế được áp dụng rộng khắp. Nhiều gói có quy mô lớn như gói giải pháp 800 tỷ USD của Mỹ, gói phục hồi kinh tế 260 tỷ USD của EU. Các nhà phân tích nhận định rằng năm 2009 là năm đầu tiên toàn cầu bị suy thoái trầm trọng kể từ sau cuộc Đại suy thoái hồi thập niên 1930 của thế kỷ XX. Đến năm 2010 thì mức tăng trưởng kinh tế thế giới đạt 4,2%, các nước phát triển là 2,3%, thị trường mới nổi và các nước đang phát triển là 6,3%- nền kinh tế toàn thế giới đang dần phục hồi. Năm 2011 kinh tế thế giới tiếp tục tăng trưởng, nhưng ở mức khiêm tốn, chưa có bước đột phá, vẫn tiềm ẩn nguy cơ tái khủng hoảng... Vì thế, khách quan đòi hỏi các nước trên thế giới phải có có sự SV: Nguyễn Thuý Quỳnh- K43E5 Trường Đại học Thương Mại GVHD: Th.S Phan Thu Giang Chuyên đề tốt nghiệp phối hợp với nhau cao hơn nữa thì mới có thế cân bằng, tạo cơ sở phục hồi và phát triển bền vững của nền kinh tế thế giới năm 2011 và những năm tiếp sau. 2.2.1.2 Thị trường châu Á trong bối cảnh suy thoái kinh tế thế giới. Có thể nói châu Á là thị trường xuất khẩu lớn- nó chiếm kim ngạch xuất khẩu lớn trong hoạt động xuất khẩu của nước ta. Hiện nay châu Á là thị trường tiêu dùng mà bất kỳ quốc gia nào cũng mơ ước- đây là nền kinh tế của hơn 4 tỷ người( chiếm hơn 60% dân số thế giới) sống trên 48 quốc gia khác nhau. Kể từ quý IV/ 2008 xuất nhập khẩu ở khu vực này bắt đầu giảm sút nghiêm trọng, GDP thực tế tăng trưởng âm ở 10/16 nền kinh tế châu Á. Mặc dù đa số các quốc gia ở châu Á đều tuyên bố tăng chi tiêu và cắt giảm thuế để thúc đẩy tăng trưởng. Nhưng trên thực tế thì thâm hụt ngân sách nhà nước vẫn xảy ra, mức thâm hụt ở năm 2008 là 1,2% GDP và đến năm 2009 thì nó đã tăng lên là 4,5% GDP. Trong quý 4/2008, kinh tế Nhật Bản sụt giảm với tốc độ 12,7%, mạnh nhất từ cú sốc dầu lửa 1974. Một nền kinh tế năng động khác của châu Á là Singapore có mức sụt giảm tăng trưởng nghiêm trọng nhất trong 33 năm qua vào quý 4/2008. Cùng kỳ, kinh tế Đài Loan tăng trưởng âm với tốc độ chưa từng có 8,36% so với cùng kỳ năm trước. Còn kinh tế Hàn Quốc rơi vào giai đoạn suy thoái đầu tiên trong một thập kỷ trở lại đây. Quý 4/2008, kinh tế Hàn Quốc co lại 5,6%, mức sụt mạnh nhất từ khủng hoảng tài chính 1998… Năm 2009 là năm xuống dốc của các đồng tiền châu Á. Hồi đầu năm 2009 tỷ giá đồng Won của Hàn Quốc đã sụt xuống mức thấp nhất 11 năm so với USD, trong khi đồng Rupiah của Ấn Độ rớt xuống mức tỷ giá thấp kỷ lục khi con số GDP đáng buồn của quý 4/2008 được công bố. Cùng với sự sụt giảm tăng trưởng và xuất khẩu, cũng như sự mất giá mạnh của các đồng tiền, thị trường chứng khoán khu vực châu Á cũng lao dốc theo. Theo tính toán thì mức lạm phát của châu Á ở mức 4,4% vào năm 2010. Tình hình mỗi lúc một thêm khó khăn này đã buộc các chính phủ châu Á công bố hàng loạt các gói kích thích kinh tế trị giá nhiều tỷ USD để thúc đẩy người dân và doanh nghiệp tăng cường chi tiêu, trong đó phải kể tới gói kích thích 586 tỷ USD của Trung Quốc. 2.2.1.3 Hoạt động xuất khẩu của Việt Nam trong bối cảnh suy thoái kinh tế Nền kinh tế Việt Nam cũng dựa khá nhiều vào hoạt động xuất khẩu. Hàng năm xuất khẩu không chỉ mang lại khản thu ngoại tệ lớn cho nước ta mà còn đem lại việc SV: Nguyễn Thuý Quỳnh- K43E5 Trường Đại học Thương Mại GVHD: Th.S Phan Thu Giang Chuyên đề tốt nghiệp làm cho người lao động. Kủng hoảng kinh tế thế giới đã tác động mạnh mẽ tới ba thị trường tài chính Hoa Kỳ, Châu Âu và Nhật Bản mà đây lại là thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam. Chính vì vậy mà khi nền kinh tế của ba khu vực này bị suy thoái, Việt Nam cũng không nằm ngoài vùng ảnh hưởng. Nhu cầu giảm mạnh và xu hướng giảm giá toàn cầu đã làm cho giá trị kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam giảm sút khá mạnh. Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã bắt đầu thể hiện trong hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam. Hầu hết các mặt hàng xuất khẩu đồng loạt giảm giá mạnh, đặc biệt ở mặt hàng dầu thô, nông sản,thủy sản… Theo báo cáo của Chính phủ ngày 18/12/2008, kim ngạch xuất khẩu những tháng cuối cùng của năm 2008 đã biểu hiện sự sụt giảm rõ nét. Kim ngạch tháng 10 giảm 3,3% so với tháng 9, và tháng 11 giảm 4,8% so với tháng 10. Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 1/2009 ước tính chỉ đạt 3,8 tỷ USD, giảm 18,6% so với tháng 12/2008 và giảm 24,2% so với cùng kỳ năm trước. So với cùng kỳ năm 2008, hầu hết các mặt hàng đều có sự giảm sút kim ngạch trong tháng 1/2009. Tác động mà khủng hoảng kinh tế gây ra trực tiếp đối với lĩnh vực xuất khẩu là do nhu cầu tiêu dùng giảm. Hàng loạt các hệ thống bán lẻ bị phá sản dẫn đến nhu cầu nhập khẩu bị giảm sút nghiêm trọng. Không chỉ có vậy mà suy thoái kinh tế còn ảnh hưởng mạnh mẽ tới cung cầu đồng USD ở Việt Nam, gây ra nhiều tác động tới tỷ giá hối đoái và làm ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu. Năm 2010 thì kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt 71,6 tỷ USD- tăng đáng kể so với năm 2009. Và tính đến hết quý I/2011 thì kim ngạch xuất khẩu thu được 19,6 tỷ USD. Quý I/2011, hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam ghi nhận sự tăng mạnh về kim ngạch trong buôn bán với các thị trường châu Á, châu Mỹ và châu Phi. 2.2.1.4 Thị trường vật liệu xây dựng Việt Nam trong bối cảnh suy thoái Đặc tính nổi bật của ngành là nhạy cảm với chu kỳ kinh doanh của nền kinh tế vĩ mô. Khi nền kinh tế tăng trưởng, doanh số và lợi nhuận của các công ty trong ngành sẽ tăng cao. Sở dĩ như vậy vì ngành vật liệu xây dựng là đầu vào của các ngành khác. Chẳng hạn như sắt, thép, xi măng là đầu vào cho các công trình nhà xưởng, cao ốc, cầu đường…của ngành xây dựng. Khi mà cuộc suy thoái diễn ra thì hầu như sự đầu tư cho xây dựng bị thu hẹp lại. Chính vì vậy mà doanh thu, cũng như lợi nhuận của các công ty sản xuất, kinh doanh mặt hàng xây dựng bị giảm sút. Năm 2009 là năm gặp không ít các khó khăn của các công ty trong ngành do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu và Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ. SV: Nguyễn Thuý Quỳnh- K43E5 Trường Đại học Thương Mại GVHD: Th.S Phan Thu Giang Chuyên đề tốt nghiệp Nhiều doanh nghiệp trong nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng phải thu hẹp sản xuất, sản phẩm bị tồn đọng trong kho. Ngay kể cả ngành sản xuất vật liệu xây dựng nói chung và sản xuất gạch ngói nói riêng cũng gặp nhiều khó khăn trong sản xuất và tiêu thu sản phẩm. Phải kể đến kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng như: gạch ốp lát, sứ vệ sinh, thủy tinh xây dựng, đá ốp lát năm 2007đạt được 283 triệu USD- con số đáng khâm phục của ngành xuất khẩu vật liệu xây dựng Việt Nam. Đến năm 2008 thì con số này tăng lên 8,2% và đạt được 306,2 triệu USD. Nhưng không nằm ngoài vòng quay của kinh tế thế giới, năm 2009 ngành bị ảnh hưởng nặng nề từ cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu, kim ngạch xuất khẩu trên bị giảm mất 11,5% so với năm 2008- tức là chỉ đạt 271 triệu USD. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp còn chịu sự cạnh tranh gay gắt về giá bán và với các sản phẩm bán dưới giá thành sản xuất. Điều này lại càng dây khó khăn cho các công ty hơn. Nói chung là nhu cầu về vật liệu xây dựng cả trong và ngoài nước trong giai đoạn suy thoái đều giảm đi. Như vậy, suy thoái kinh tế đã làm lũng đoạn thị trường vật liệu xây dựng, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực này đã gặp rất nhiều khó khăn. Trong giai đoạn phục hồi kinh tế như hiện nay thì thị trường vật liệu xây dựng dường như đã quay lại được với nhịp độ phát triển trước đây. Kim ngạch xuất khẩu năm 2010 của một số mặt hàng đã đề cập ở trên đã tăng lên đáng kể so với năm 2009 và đạt được 305,52 triệu USD. Và tính cho hết quý I/2011 thì con số này đã đạt được 79,7 triệu USD. Dự báo rằng đây sẽ là năm tăng trưởng tốt của công tác xuất khẩu vật liệu xây dựng Việt Nam. Sau giai đoạn suy thoái, đồng loạt giá của các mặt hàng vật liệu xây dựng đều tăng giá. Hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu mặt hàng này cũng sôi động hơn hẳn so với giai đoạn năm 2008, 2009. 2.2.2 Nhân tố bên trong 2.2.2.1 Khái quát chung về CTCP Viglacera Hạ Long CTCP Viglacera Hạ Long là Công ty trực thuộc Tổng công ty Thuỷ tinh và Gốm xây dựng- Bộ xây dựng đóng trên địa bàn phường Hà Khẩu- TP Hạ Long- Quảng Ninh.  Tên giao dịch : Viglacera Ha Long Jojnt-stock company  Địa chỉ : Phường Hà khẩu-Hạ Long-Quảng Ninh  Điện thoại : 84.33.3 845927  Fax : 84.33.3 846 577  Email : halongceramic@hn.vnn.vn  Website : www.halongceramic.com.vn SV: Nguyễn Thuý Quỳnh- K43E5 Trường Đại học Thương Mại GVHD: Th.S Phan Thu Giang Chuyên đề tốt nghiệp  Sơ đồ tổ chức công ty ( Phụ lục 1) Tiền thân là Nhà máy gạch Hạ Long gồm một nhà máy gạch do nước cộng hoà Ba Lan giúp xây dựng vào năm 1978. Cùng với quá trình hiện đại hoá- công nghiệp hoá đất nước thì công ty đã phát triển, mở rộng quy mô và lĩnh vực hoạt động sản xuất. Tính đến năm 2006 với chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước thì công ty đã chuyển đổi từ Công ty Nhà nước sang loại hình CTCP với tên là CTCP Viglacera Hạ Long. CTCP Viglacera Hạ Long có chức năng là chuyên sản xuất các sản phẩm gạch ngói đất sét nung cao cấp phục vụ trong nước và xuất khẩu. Nhiệm vụ của công ty là thực hiện sản xuất kinh doanh theo các chỉ tiêu kế hoạch được giao theo hướng sản xuất kinh doanh có hiệu quả, tự tích luỹ để phát triển, thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước, bảo toàn và phát triển vốn, chăm lo tới đời sống công nhân viên chức trong Công ty. Với những đóng góp to lớn trong quá trình bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước, CTCP Viglacera Hạ Long đã vinh dự được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều danh hiệu cao quý như: Danh hiệu anh hùng lao động thời kỳ đổi mới( 04/2008); Giải thưởng Quốc tế Châu Á- Thái Bình Dương 2010, Huân chương lao động hạng III- Công đoàn( 2005); Huân chương lao động hạng III- Chính quyền( 2004),…v…v… 2.2.2.2 Các nhân tố nội tại CTCP Viglacera Hạ Long là công ty chuyên sản xuất và kinh doanh sản phẩm gạch ngói đất sét nung cao cấp có kinh nghiệm và uy tín lớn ở Việt Nam, và là một thương hiệu đáng tin cậy của nhiều nước trên Thế giới. Nằm trong tốp 500 doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam, công ty được đánh giá là đơn vị hàng đầu của Tổng công ty thuỷ tinh và gốm xây dựng- Bộ xây dựng nói riêng và của ngành vật liệu xây dựng Việt Nam nói chung. Sau hơn 30 năm hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh mặt hàng gạch ngói đất sét nung cao cấp, CTCP Viglacera Hạ Long đã xây dựng được một cơ cấu mặt hàng phong phú và đa dạng về chủng loại, đáp ứng được hầu hết các yêu cầu của khách hàng. Các sản phẩm chính là gạch ngói, gạch lát, gạch xây các loại... Đó là lĩnh vực hoạt động truyền thống của công ty. Bên cạnh đó công ty còn hoạt động trong rất nhiều lĩnh vực như: Tư vấn thiết kế, ứng dụng, chuyển giao công nghệ sản xuất vật liệu xây dựng; Kinh doanh tư liệu sản xuất và tiêu dùng; Khai thác và chế biến khoáng sản; Đầu tư xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, công trình kỹ thuật hạ tần đô thị, khi công nghiệp; Hoạt động dịch vụ nông nghiệp..v...v... SV: Nguyễn Thuý Quỳnh- K43E5 Trường Đại học Thương Mại
- Xem thêm -