Một số biện pháp hoàn thiện quản lý chi phí sản xuất của công ty cổ phần xây dựng và thương mại tân phương

  • Số trang: 59 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 38 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

Trƣờng ĐH Thƣơng Mại 1 Luận văn tốt nghiệp CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI MỘT SỐ BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI PHÍ SẢN XUẤT CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ THƢƠNG MẠI TÂN PHƢƠNG 1.1 Tính cấp thiết của đề tài : Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất tạo ra cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên ở nước ta năng lực của ngành này còn hạn chế cả về quản lý và thi công, trong đó quản lý chi phí là hoạt động hết sức quan trọng. Chi phí trong doanh nghiệp xây lắp rất lớn có thể lên tới hang ngàn tỷ đồng , sử dụng và quản lý sao cho hợp lý và tiết kiệm mà vẫn đảm bảo chất lượng công trình là yêu cầu hết sức cần thiết đối với tất cả doanh nghiệp nói chung và Công ty Cổ phần xây dựng và thương mại Tân Phương. Để tài : “Một số biện pháp hoàn thiện quản lý chi phí sản xuất của Công ty CP xây dựng và thương mại Tân Phương” đi sâu tìm hiểu công tác quản lý và đề xuất một số biện pháp hoàn thiên công tác quản lý chi phí tại công ty. 1.2 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu trong đề tài : Từ yêu cầu cấp thiết của công tác quản lý chi phí tại doanh nghiệp và nhất là doanh nghiệp xây lắp, em đã chọn đề tài : “Một số biện pháp hoàn thiện quản lý chi phí sản xuất của Công ty cổ phần xây dựng và thƣơng mại Tân Phƣơng” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình. SV : Giang Thị Minh Yến Lớp K5 – HK1D Trƣờng ĐH Thƣơng Mại 2 Luận văn tốt nghiệp Mục tiêu nghiên cứu đề tài : 1.3 Lựa chọn đề tài với mục đích tìm tòi, học hỏi, trau dồi kiến thức nhằm hiểu sâu hơn về vai trò của công tác quản lý chi phí trong doanh nghiệp xây lắp nói chung và Công ty CP xây dựng & thương mại Tân Phương nói riêng : - Về lý luận : nghiên cứu lý luận về chi phí và quản lý chi phí tại doanh nghiệp xây lắp - Về thực tiễn : - Tìm hiểu thực trạng quản lý chi phí sản xuất tại Công ty CP xây dựng & thương mại Tân Phương. - Một số biện pháp hoàn thiện công tác quản lý chi phí sản xuất tại Công ty CP xây dựng & thương mại Tân Phương. Phạm vi nghiên cứu : 1.4 - Nội dung : Công tác quản lý chi phí sản xuất và một số biện pháp hoàn thiện công tác quản lý chi phí tại Công ty cổ phần xây dựng và thương mại Tân Phương . - Thời gian nghiên cứu : Từ năm 2006 đến năm 2009 - Không gian : Công ty Cổ phần xây dựng & thương mại Tân Phương Kết cấu luận văn tốt nghiệp : 1.5 Ngoài phần mở đầu, tóm lược, danh mục bảng biểu,sơ đồ, hình vẽ, danh mục tài liệu tham khảo…..Luận văn gồm 4 chương : - Chương 1 : Tổng quan nghiên cứu đề tài : “ Một số biện pháp hoàn thiện quản lý chi phí sản xuất tại Công ty cổ phần xây dựng & thương mại Tân Phương”. - Chương 2 : Lý luận cơ bản về chi phí và quản lý chi phí sản xuất . - Chương 3 : Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng quản lý chi phí tại Công ty cổ phần xây dựng & thương mại Tân Phương . - Chương 4 : Kết luận và đề xuất nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi phí tại Công ty cổ phần xây dựng và thương mại Tân Phương. SV : Giang Thị Minh Yến Lớp K5 – HK1D Trƣờng ĐH Thƣơng Mại 3 Luận văn tốt nghiệp CHƢƠNG 2 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 2.1 Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất trong DN xây lắp: 2.1.1 Khái quát chi phí sản xuất : Sản xuất gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của loài người. Quá trình sản xuất là sự kết hợp của 3 yếu tố cơ bản: đối tượng lao động, tư liệu lao động và lao động sống. Lao động là hoạt động một cách có ý thức của người lao động tác động một cách có mục đích lên đối tượng lao động và tư liệu lao động, qua quá trình biến đổi sẽ tạo ra sản phẩm, lao vụ. Đó chính là sự tiêu hao ba yếu tố trên. Trong xã hội tồn tại quan hệ hàng hóa - tiền tệ, hao phí yếu tố nguồn lực cho sản xuất, kinh doanh được biểu hiện dưới hình thức giá trị, gọi là chi phí sản xuất, kinh doanh. - Khái niệm : Chi phí là biểu hiện bằng tiền của các chi phí về vật chất, về lao động, về tiền vốn liên quan phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp cho hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) thông thường của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. (theo Bài giảng Tài chính doanh nghiệp thương mại –Trường ĐH Thương Mại). Chi phí sản xuất là toàn bộ khoản chi phí phát sinh tại các phân xưởng, tổ, đội, bộ phận sản xuất gắn liền với hoạt động sản xuất chế tạo sản phẩm của doanh nghiệp. (theo Bài giảng Kế toán doanh nghiệp thương mại – ĐH Thương Mại). Dưới mỗi góc nhìn khác nhau chí phí đều được hiểu theo một hình thức khác nhau, nhưng tựu chung lại chí phí được hiểu một cách chung nhất : Chi phí là biểu hiện bằng tiền về toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp đã chi để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trong một thời kỳ nhất định. SV : Giang Thị Minh Yến Lớp K5 – HK1D Trƣờng ĐH Thƣơng Mại 4 Luận văn tốt nghiệp Chi phí sản xuất xây lắp là toàn bộ các chi phí sản xuất phát sinh trong lĩnh vực hoạt động sản xuất xây lắp, nó là bộ phận cơ bản để hình thành giá thành sản phẩm xây lắp. 2.1.2 Phân loại chi phí sản xuất trong doanh ngiệp xây lắp : 2.1.2.1. Phân loại chi phí trong DNXL Do đặc điểm sản phẩm của ngành xây dựng được xây lắp cố định tại nơi sản xuất làm phát sinh thêm một số khoản mục chi phí như: chi phí vận chuyển máy thi công đến công trường, chi phí huy động nhân công, chi phí lán trại cho công nhân, chi phí kho nhà xưởng bảo quản vật tư trong quá trình thi công, chi phí đảm bảo giao thông đi lại thuận lợi cho con người và các phương tiện lưu thông trên đường. Do đó chi phí trong các doanh nghiệp xây lắp ( DNXL) cũng có những đặc điểm khác biệt so với những nghành sản xuất khác. Trong quá trình hoạt động kinh doanh chi phí ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh, vì vậy vấn đề quan trọng được đặt ra cho nhà quản lý là phải kiểm soát chi phí của DN. Chi phí được sử dụng theo nhiều hướng, cho nhiều mục đích khác nhau, trong đó phân loại theo cách ứng xử chi phí rất được quan tâm. Riêng DNXLGT có thể phân loại theo các cách sau đây:  Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động: Chi phí phát sinh trong các doanh nghiệp sản xuất, xét theo công dụng của chúng, hay nói một cách khác, xét theo từng hoạt động có chức năng khác nhau trong quá trình SXKD mà chúng phục vụ, được chia thành hai loại lớn: chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất. Ngành xây dựng chi phí phát sinh chủ yếu tại các công trình dự án nên chi phí sản xuất bao gồm các khoản mục như sau: - Chi phí sản xuất: + Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Gồm nguyên vật liệu, vật liệu kết cấu, đã tiêu hao cho các công trình xây lắp như đất, đá, cát, sắt thép, xi măng.... Các vật liệu này đa số mua ngoài, riêng đá và bê tông nhựa, bê tông xi măng có thể SV : Giang Thị Minh Yến Lớp K5 – HK1D Trƣờng ĐH Thƣơng Mại 5 Luận văn tốt nghiệp tự sản xuất. Chi phí nguyên vật liệu chiếm tỷ lệ rất lớn trong toàn bộ chi phí xây lắp ( khoảng 60 đến 70% tổng chi phí ) + Chi phí máy thi công : Gồm các chi phí phục vụ cho máy thi công công trình như: nhiên liệu, chi phí bảo dưỡng sửa chữa máy, chi phí huy động vận chuyển máy đến công trình, tiền lương và các khoản trích theo lương của công nhân vận hành máy. Tuỳ thuộc vào từng công trình thi công bằng máy hay bằng thủ công mà chi phí máy sẽ chiếm tỷ trọng cao hay thấp trong tổng chi phí xây lắp công trình… + Chi phí nhân công trực tiếp: Chi phí này bao gồm tiền lương, tiền phụ cấp và các khoản trích theo lương của bộ phận công nhân trực tiếp tham gia thi công xây lắp. Thông thường trong các DNXL hiện nay khoản mục này chiếm khoảng 15% đến 20% tổng chi phí tuỳ theo từng công trình sử dụng nhiều lao động kĩ thuật, lao động phổ thông hay sử dụng máy, cách thức trả lương hiện nay của các DNXL chủ yếu là theo sản lượng thi công hoàn thành. + Chi phí công cụ dụng cụ: Trong các DNXL công cụ, dụng cụ thường được sử dụng là các loại máy cao đạc, thí nghiệm vật liệu, xe rùa, các dụng cụ cầm tay cho lao động phổ thông di chuyển vật liệu, đà giáo ván khuôn, dụng cụ khoan đá, máy trộn bê tông loại nhỏ, các loại đầm bê tông… có giá trị dưới 10 triệu thời gian sử dụng dưới một năm do bộ tài chính qui định không phải là TSCĐ. Các chi phí này không thay đổi khi sản lượng xây lắp thay đổi. + Chi phí lãi vay: là khoản chi phí trả cho việc vay vốn, tuỳ theo nhu cầu vay vốn đầu tư của DN và cách thức huy động vốn. Theo qui định hiện nay lãi vay là một khoản chi phí tài chính và làm giảm thu nhập của doanh nghiệp. + Chi phí chung: Đó là các chi phí dùng cho quản lí thi công ở các bộ phận thi công gồm: tiền lương và các khoản trích theo lương, các chi phí khác của bộ phận quản lí thi công. SV : Giang Thị Minh Yến Lớp K5 – HK1D Trƣờng ĐH Thƣơng Mại - 6 Luận văn tốt nghiệp Chi phí ngoài sản xuất: + Chi phí khấu hao TSCĐ gồm: khấu hao máy móc thiết bị thi công, phương tiện vận tải, nhà xưởng, văn phòng. thực tế các DNXL khấu hao theo thời gian sử dụng theo theo quyết định 206/2003/QĐ-BTC của bộ tài chính. + Chi phí quản lý DN: Là các khoản chi phí liên quan gián tiếp đến bộ phận thi công xây lắp, như: các chi phí phát sinh ở bộ phận văn phòng ( chi phí điện, nước, điện thoai, fax, phí chuyển tiền, bưu phẩm, dụng cụ văn phòng, chi phí xe con, đi lại công tác văn phòng, hội nghị tiếp khách…) + Chi phí khảo sát đấu thầu công trình, chi phí nghiệm thu, quyết toán bảo hành công trình…  Phân loại chi phí theo thẩm quyền ra quyết định  Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được Một khoản chi phí được xem là chi phí có thể kiểm soát được ( controllable costs ) hoặc là chi phí không kiểm soát được ( non-controllable costs ) ở một cấp quản lí nào đó là tuỳ thuộc vào khả năng cấp quản lí này có thể ra các quyết định để chi phối, tác động đến khoản chi phí đó hay không. Như vậy, nói đến khía cạnh quản lí chi phí bao giờ cũng gắn liền với một cấp quản lí nhất định: Khoản chi phí mà ở một cấp quản lí nào đó có quyền ra quyết định để chi phối nó thì được gọi là chi phí kiểm soát được ( ở cấp quản lí đó ), nếu ngược lại là chi phí không kiểm soát được. Trong các DNXL thường có bộ phận quản lí chi phí tại phòng ban công ty hoặc phân cấp quản lí chi phí cho các nhà quản trị cấp dưới như ban điều hành dự án và các đội thi công công trình, vì vậy khi kiểm soát chi phí của các đơn vị nội bộ trong DNXL người ta cần phải phân loại chi phí của các đơn vị này thành chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được. SV : Giang Thị Minh Yến Lớp K5 – HK1D Trƣờng ĐH Thƣơng Mại 7 Luận văn tốt nghiệp Chi phí kiểm soát được là các khoản chi phí ở một đơn vị mà nhà quản trị ở cấp đó được giao quyền hạn và chịu trách nhiệm quản lí. Phạm vi chi phí kiểm soát được ở một đơn vị nội bộ phụ thuộc vào mức độ phân cấp quản lí chi phí cho nhà quản trị ở cấp đó như: chi phí nguyên nhiên vật liệu sắt thép xi măng…, chi phí máy thi công, khấu hao, chi phí nhân công lán trại kho bãi. Chi phí không kiểm soát được ở một bộ phận nào đó thường thuộc hai dạng: các khoản chi phí phát sinh ở ngoài phạm vi quản lí của bộ phận ( chẳng hạn chi phí phát sinh ở các bộ phận sản xuất ở các đơn vị thi công tại công trường mà bộ phận quản lí tại công ty không kiểm soát được: như chi phí đảm bảo giao thông an toàn cho người đi lại, chi phí hư hỏng xe máy thiết bị tại công trường, chi phí nghiệm thu các hạng mục theo giai đoạn thi công…), hoặc là các khoản chi phí phát sinh thuộc phạm vi hoạt động của bộ phận nhưng thuộc quyền chi phối và kiểm soát từ cấp quản lí cao hơn ( như chi phí khấu hao máy móc thiết bị, hoặc khảo sát phục vụ đấu thầu công trình nhưng việc kiểm soát chi phí hoặc tính khấu hao lại do bộ phận quản lí tại văn phòng thực hiện ). Việc phân chia chi phí ở đơn vị nội bộ thành chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được sẽ tạo điều kiện định hướng cho việc thực hiện chức năng kiểm soát của nhà quản trị. Khi kiểm soát tình hình thực hiện định mức, dự toán ở một đơn vị nội bộ thì đối tượng của kiểm soát phải là chi phí kiểm soát được, còn chi phí không kiểm soát được là trách nhiệm của nhà quản trị cấp trên.  Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp Trong các doanh nghiệp sản xuất, các khoản chi phí phát sinh có liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất sản phẩm hoặc thực hiện các đơn đặt hàng và do vậy có thể tính trực tiếp cho từng loại loại sản phẩm hay từng đơn đặt hàng thì được gọi là chi phí trực tiếp ( direct cost ). Ngược lại, các khoản chi phí phát sinh cho mục đích quản lí chung, liên quan đến việc sản xuất và tiêu thụ nhiều loại sản SV : Giang Thị Minh Yến Lớp K5 – HK1D Trƣờng ĐH Thƣơng Mại 8 Luận văn tốt nghiệp phẩm, nhiều đơn đặt hàng cần tiến hành phân bổ cho các đối tượng sử dụng chi phí theo các tiêu thức phân bổ được gọi là chi phí gián tiếp ( indirect cost ). + Trong DNXL chi phí trực tiếp là các chi phí phục vụ trực tiếp cho quá trình thi công dự án tại công trường như: Chi phí nguyên nhiên vật liệu, chi phí máy nhân công, chi phí lán trại kho bãi, chi phí đảm bảo giao thông, lãi vay, khảo sát lập bản vẽ thi công, nghiệm thu… + Chi phí gián tiếp là: chi phí khấu hao, chi phí quản lí chung, chi phí công cụ dụng cụ…  Chi phí trong quá trình kiểm tra và ra quyết định Ngoài ra trong quá trình kiểm tra và ra quyết định các nhà quản lí còn phải quan tâm đến các chi phí khác như: Chi phí lặn ( Sunk cost ): ( Còn gọi là khoản chi phí khác biệt ) là khoản chi phí đã bỏ ra trong quá khứ và sẽ hiển hiện ở tất cả mọi phương án với giá trị như nhau hay hiểu một cách khác, chi phí lặn được xem như là một khoản chi phí không thể tránh được cho dù người quản lí quyết định lựa chọn thực hiện theo phương án nào. Như chi phí tìm hiểu và khảo sát dự án. Chi phí chênh lệch ( Differential cost ): Xuất hiện khi so sánh chi phí gắn liền với các phương án trong quyết định lựa chọn phương án tối ưu. Chi phí chênh lệch được hiểu là phần giá trị khác nhau của các loại chi phí của một phương án này so với một phương án khác. Chi phí cơ hội ( Opportunity cost ): Chi phí cơ hội là những thu nhập tiềm tàng bị mất đi khi lựa chọn thực hiện phương án này thay cho phương án khác. Cho nhiều mục đích khác nhau, chi phí được xem xét theo nhiều khía cạnh khác nhau tuỳ vào đặc điểm SXKD mà các doanh nghiệp sẽ lựa chọn cho đơn vị mình một cách phân loại phù hợp nhất phục vụ cho công tác quản lí chi phí cũng như kiểm tra và ra quyết định tại doanh nghiệp. SV : Giang Thị Minh Yến Lớp K5 – HK1D Trƣờng ĐH Thƣơng Mại 9 Luận văn tốt nghiệp 2.2 Nội dung quản lý chi phí trong doanh nghiệp xây lắp : 2.2.1 Khái niệm và vai trò của quản lý chi phí : - Khái niệm : Quản lý chi phí là hoạt động có mục tiêu của lãnh đạo doanh nghiệp, lãnh đạo tài chính doanh nghiệp nói riêng trong việc sử dụng công cụ, hình thức và phương pháp và biện pháp nhằm tổ chức và quản lý quá trình sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp phục vụ hiệu quả nhất cho quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. - Vai trò của quản lý chi phí trong doanh nghiệp xây lắp : - Quản trị chi phí giúp doanh nghiệp có thể tập trung năng lực của mình vào các điểm mạnh, tìm ra các cơ hội hoặc các vấn đề quan trọng trong SXKD. - Quản trị chi phí giúp doanh nghiệp có thể cải thiện chất lượng sản phẩm hay dịch vụ của mình mà không làm thay đổi chi phí, tăng giá trị đồng thời giảm giá thành sản phẩm, dịch vụ. 2.2.1.1 Đặc điểm công trình xây lắp Công trình xây dựng được tiến hành khi có đơn đặt hàng (hợp đồng xây dựng) của chủ đầu tư, sản xuất xây dựng chỉ được tiến hành khi đã được chủ đầu tư chấp nhận và ký hợp đồng xây dựng. Trong quá trình xây dựng (thi công) công trình chủ đầu tư sẽ giám định kỹ thuật, chất lượng của sản phẩm. Quá trình sản xuất luôn di động, hệ số biến động lớn. Đặc điểm này làm khó khăn trong công tác tổ chức sản xuất, việc bố trí của công trình tạm phục vụ thi công, việc phối hợp các phương tiện xe máy, thiết bị nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp. Thời gian xây dựng công trình kéo dài, làm cho ứ đọng vốn sản xuất trong các khối lượng thi công dở dang của các doanh nghiệp xây dựng. Công tác tổ chức quản lý sản xuất của doanh nghiệp phải chặt chẽ, hợp lý, phải luôn tìm cách lựa SV : Giang Thị Minh Yến Lớp K5 – HK1D Trƣờng ĐH Thƣơng Mại 10 Luận văn tốt nghiệp chọn trình tự thi công hợp lý cho từng công trình và phối hợp thi công nhiều công trình để đảm bảo có khối lượng công tác gối đầu hợp lý. Sản xuất tiến hành ngoài trời nên chịu ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên nên không thể lường hết được các khó khăn từ đó đưa đến hiệu quả sản xuất giảm, một số giai đoạn của quá trình sản xuất bị gián đoạn, ảnh hưởng đến tiến độ thi công công trình và giá thành. Kỹ thuật thi công phức tạp, trang bị kỹ thuật tốn kém, trang bị kỹ thuật của sản xuất giao thông đòi hỏi những máy móc kỹ thuật phức tạp, hiện đại đắt tiền (trạm trộn bê tông nhựa, máy khoan hầm, cẩu 500T ...) 2.2.1.2. Loại hình sản xuất Loại hình sản xuất trong ngành xây dựng là sản xuất kiểu dự án, công trình được thi công kéo dài dưới 1 năm, trên một năm 2 đến 3 năm. Chịu sự biến động lớn bởi sự biến động giá cả trên thị trường và sự thay đổi các cơ chế chính sách của nhà nước (tiền lương tối thiểu, thuế ...). Nhà thầu luôn tính toán và tự cân đối về vốn, các điều kiện về tự nhiên, địa hình thi công, dự đoán những biến động về giá và các thay đổi khác để hoàn thành được hợp đồng đã kí. Chủ đầu tư chủ yếu là nhà nước nên doanh nghiệp muốn bán đựơc sản phẩm thì phải có chất lượng và thẩm mỹ theo đúng yêu cầu và phải tuân thủ các qui định nghiêm ngặt của luật xây dựng cơ bản về bảo hành công trình là 12 tháng và qui định của nhà nước về quyết toán công trình. 2.2.1.3 Quy trình sản xuất : Tổ chức công trường thi công : là việc hình thành cơ cấu tổ chức. quy định chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận trong công trường, bố trí các điều kiện về cơ sở vật chất và nhân lực để đảm bảo công trường có đầy đủ điều kiện để thi công công trình, hạng mục công trình. SV : Giang Thị Minh Yến Lớp K5 – HK1D Trƣờng ĐH Thƣơng Mại 11 Luận văn tốt nghiệp Tổ chức sản xuất bao gồm các công việc : - Tổ chức bộ máy điều hành sản xuất tại công trường - Tổ chức cơ cấu bộ phận sản xuất tại công trường - Bố trí cán bộ, lao động để đảm bảo cho cơ cấu tổ chức bộ máy đó hoạt động. - Lựa chọn địa điểm, lên phương án bố trí mặt bằng công trường và tiến hành xây dựng các công trình tạm (phụ trợ) trong quá trình thi công (nhà xưởng, bãi chứa vật liệu, kho tàng ...) - Tiến hành huy động thiết bị và nhân lực đến công trường để thực hiện nhiệm vụ sản xuất. Tùy thuộc vào từng công trình, hạng mục công trình (công trình giao thông, cầu cảng, nhà máy.......) mà DN có quy trình sản xuất riêng. 2.2.2 Quản lý chi phí trong doanh nghiệp xây lắp : Doanh nghiệp xây lắp khác với các doanh nghiêp dịch vụ bởi quy trình sản xuất và đặc điểm về sản phẩm. Doanh nghiệp xây lắp quản lý chi phí theo từng công trình, hạng mục công trình theo từng khoản mục chi phí : - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp - Chi phí nhân công trực tiếp - Chi phí máy thi công - Chi phí sản xuất chung Xây dựng công trình cũng giống như sản xuất một sản phẩm công nghiệp, phải có thiết kế sản phẩm và quá trình tổ chức sản xuất ra sản phẩm theo thiết kế. Ngoài thiết kế kĩ thuật trong hồ sơ mời thầu của chủ đầu tư, các công trình chỉ có thể tiến hành xây dựng sau khi nhà thầu thiết kế bản vẽ thi công, có dự toán chi phí chi tiết theo khối lượng thực tế theo bản vẽ thi công được duyệt. SV : Giang Thị Minh Yến Lớp K5 – HK1D Trƣờng ĐH Thƣơng Mại 12 - Lập dự toán chi phí nguyên vật liệu . - Lập dự toán chi phí nhân công . - Lập dự toán chi phí máy thi công . - Lập dự toán chi phí sản xuất chung . Luận văn tốt nghiệp Khi đã có dự toán chi phí và chuẩn bị đầy đủ các yếu tố đầu vào cần thiết, đơn vị thi công tiến hành thi công và quản lý chi phí theo dự toán đã lập chi tiết theo từng công trình hạng mục công trình. * Đối với công trình công ty quản lí chi phí: Quản lý chi phí nguyên vật liệu trực tiếp trên hai yếu tố : khối lượng vật liệu dùng cho sản xuất, thi công và đơn giá vật liệu. - Lượng vật liệu cần để thi công: Là lượng vật liệu cấp cho đơn vị thi công theo dự toán nguyên vật liệu có tính thêm lượng hao hụt và độ đầm nén trong quá trình thi công. - Đơn giá vật liệu được các bộ phận cung cấp vật tư mua trực tiếp tại các nhà cung cấp theo giá thị trường trên các hóa đơn theo quy định của Bộ tài chính, sau khi đã trừ hết các khoản hao hụt định mức cho phép, giá phế liệu thu hồi, .... Quản lý chi phí nhân công: - Lượng lao động, quỹ tiền lương : căn cứ kế hoạch dự toán đã lập theo tiến độ thi công từng công trình hạng mục công trình, bao gồm các khoản lương, các khoản phụ cấp (nếu có), chi BHXH, KPCĐ mà doanh nghiệp trả cho người lao động, để công ty cấp cho đơn vị thi công (ĐVTC). Do vậy công ty phải có trách nhiệm quản lý chặt chẽ lao động gắn với việc trả lương cũng như tiến độ thi công phù hợp, đảm bảo thời gian thi công và chất lượng công trình. SV : Giang Thị Minh Yến Lớp K5 – HK1D Trƣờng ĐH Thƣơng Mại 13 Luận văn tốt nghiệp Quản lý chi phí sử dụng máy thi công : - Số ca máy sử dụng phục vụ thi công được huy động đến công trình theo tiến độ và dự toán chi phí máy đã lập. Giám sát chặt chẽ giờ lao động cũng như công suất cho phép của máy móc thiết bị, tận dụng sử dụng công suất máy móc cho phép để tiết kiệm chi phí. - Đơn giá ca máy : số tiền phải trả cho mỗi ca máy thi công tại công trường. - Tiền lương và các khoản phụ cấp phải trả cho công nhân lái máy thi công tại công trình, hạng mục công trình. Quản lý chi phí sản xuất chung : - Chi phí quản lí gián tiếp và các chi phí khác phục vụ điều hành thi công tại dự án được cấp cho ĐVTC theo dự toán chi phí được duyệt. - Đối với cách quản lí này ban chỉ huy công trường và các bộ phận quản lí của công ty phải chịu trách nhiệm quản lí chi phí cũng như giám sát chất lượng tiến độ công trình của ĐVTC. * Đối với công trình giao cho ĐVTC quản lí chi phí: - Công ty sẽ tính toán mức lãi kế hoạch giao cho đội thi công trực tiếp quản lí từ khâu đầu vào cho đến khi kết thúc công trình, ĐVTC được quyền chủ động và cân đối về tài chính để thực hiện công việc được giao và trích nộp cho công ty phần lãi kế hoạch đã đề ra. Trong quá trình thi công ĐVTC sẽ căn cứ vào dự toán chi phí trong quá trình hoạch định dự toán để quản lí chi phí thi công công trình. - Công ty sẽ hỗ trợ về công nghệ, xe máy thiết bị vật tư khi ĐVTC yêu cầu, khi kết thúc công trình hoặc từng hạng mục công việc công ty sẽ tiến hành quyết toán giá trị thi công cho ĐVTC căn cứ vào khối lượng do ban chỉ huy công trình và chủ đầu tư nghiệm thu thanh toán sau khi khấu trừ toàn bộ kinh phí về vật tư thiết bị, chi phí khác mà ĐVTC đã nhận hoặc tạm ứng của công ty. - Đối với cách quản lí này bộ phận chỉ huy công trường không chịu trách nhiệm về quản lí chi phí mà chịu trách nhiệm rất lớn về việc giám sát và quản lí chất lượng cũng như tiến độ thi công công trình của ĐVTC. SV : Giang Thị Minh Yến Lớp K5 – HK1D Trƣờng ĐH Thƣơng Mại 14 Luận văn tốt nghiệp * Trong quá trình thi công: ban chỉ huy công trường và ĐVTC thường phải lưu ý một số vấn đề sau: + Đảm bảo giao thông đi lại thông suốt trên công trường cho đơn vị và dân cư + Bảo đảm an toàn lao động và cung cấp trang bị bảo hộ lao động cá nhân cho công nhân lao động + Tuân thủ quy trình quy phạm trong quá trình thi công về tiến độ và chất lượng công trình + Mua bảo hiểm công trình, thiết bị và công nhân lao động + Bảo quản tốt vật tư thiết bị trên công trường tránh tình trạng mất mát và hao hụt. 2.2.3 Các nhân tố ảnh hƣởng tới hiệu quả công tác quản lý chi phí của doanh nghiệp : Chi phí cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều nhân tố : 2.2.3.1 Trình độ khoa học kỹ thuật, công nghệ sản xuất: Việc áp dụng thành tựu khoa học công nghệ, tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào sản xuất ,các máy móc thiết bị, phương pháp công nghệ hiện đại được sử dụng trong sản xuất ngày càng nhiều, tạo khả năng lớn cho việc tiết kiệm chi phí lao động bằng sức người, thủ công, đạt hiệu quả sản xuất. Do vậy, doanh nghiệp nào nắm bắt và ứng dụng kịp thời các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất của mình thì doanh nghiệp đó sẽ có những lợi thế cạnh tranh do tiết kiệm được chi phí , hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm. Như vậy, các nhân tố về kỹ thuật công nghệ sản xuất có ảnh hưởng rất lớn tới quản lý chi phí của doanh nghiệp. Máy móc công nghệ hiện đại bao nhiêu thì doanh nghiệp càng có khả năng tiết kiệm các chi phí sản xuất bấy nhiêu. Ngược lại SV : Giang Thị Minh Yến Lớp K5 – HK1D Trƣờng ĐH Thƣơng Mại 15 Luận văn tốt nghiệp nếu một doanh nghiệp có máy móc, kỹ thuật sản xuất lạc hậu sẽ đẩy chi phisgias thành lên cao, giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, mục tiêu tiết kiệm chi phí hạ giá thành sẽ khó có khả năng thực hiện được. Xây lắp là loại hình kinh doanh có yêu cầu khắt khe về độ bền kỹ thuật và thẩm mỹ của sản phẩm, doanh nghiệp nào tận dụng được tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất thì sẽ có được sản phẩm có chất lượng và thẩm mỹ cao, tạo cho doanh nghiệp khả năng cạnh tranh mạnh mẽ trong ngành. 2.2.3.2 Trình độ về mặt tổ chức sản xuất, tài chính và sử dụng ngƣời lao động của doanh nghiệp: Trong thực tế cho thấy, việc tổ chức sản xuất kinh doanh, tổ chức tài chính hợp lý, sử dụng người lao động hợp lý có tác động đến công tác quản lý chi phí của doanh nghiệp. Tổ chức sản xuất một cách hợp lý và khoa học sẽ tiết kiệm những chi phí hành chính, đảm bảo cho quá trình sản xuất được thông suốt, nhịp nhàng, liên tục, đạt hiệu quả trong sản xuất. Tiết kiệm chi phí tài chính là nhân tố hết sức quan trọng, ảnh hưởng không nhỏ tới đến khả năng quản lý chi phí và hạ giá thành sản phẩm. Việc phân phối và sử dụng nguồn vốn hợp lý, đáp ứng đầy đủ nhu cầu mua sắm vật tư sẽ tránh được những tổn thất như ngừng dây chuyền sản xuất do thiếu nguyên vật liệu.... Việc tổ chức và sử dụng lao động một cách hợp lý, hiệu quả có vai trò rất quan trọng trong việc tiết kiệm chi phí sản xuất, sử dụng lao động đúng người, đúng việc sẽ phát huy hết khả năng lao động của con người qua đó nâng cao hiệu quả sản xuất. 2.2.3.3 Các nhân tố thuộc điều kiện tự nhiên và môi trƣờng kinh doanh của doanh nghiệp: Điều kiện tự nhiên và môi trường kinh doanh có ảnh hưởng rất lớn tới công tác quản lý chi phí của doanh nghiệp sản xuất, nhất là doanh nghiệp xây lắp – loại SV : Giang Thị Minh Yến Lớp K5 – HK1D Trƣờng ĐH Thƣơng Mại 16 Luận văn tốt nghiệp hình sản xuất chịu ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện tự nhiên : khí hậu, thổ nhưỡng. Môi trường kinh doanh thuận lợi cũng tạo cho doanh nghiệp khả năng cạnh tranh lành mạnh với các DN khác trong ngành. Xây dựng là ngành sản xuất tiềm năng, tạo cho DN nhiều cơ hội cũng như thách thức, đòi hỏi doanh nghiệp biết nắm bắt cơ hội và rèn luyện khả năng cạnh tranh trong môi trường kinh doanh tiềm ẩn nhiều rủi ro và cơ hội thành công. 2.3 Tổng quan tình hình khách thể nghiên cứu đề tài : Chi phí đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của tất cả các doanh nghiệp nói riêng và toàn xã hội nói chung. Bởi vậy, đề tài về chi phí được nhiều bạn sinh viên chọn làm đề tài luận văn, chuyên đề tốt nghiệp. Trong quá trình tìm hiểu tài liệu để viết luận văn, em đã tham khảo một số luận văn, chuyên đề về chi phí : - Đề tài: “ Giải pháp tiết kiệm chi phí sản xuất của công ty cổ phần dệt may Nam Sơn” của Trần Ngọc Tính – Đại học Thương Mại. - Đề tài “ Hoàn thiện công tác quản lý chi phí sản xuất của Công ty TNHH một thành viên thuốc lá Thăng Long” của Nguyễn Thị Huyền – ĐH Thương Mại. - Đề tài : “Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi phí tại Công ty cổ phần OKI Việt Nam” của Nguyễn Thị An – ĐH Kinh tế quốc dân. Hầu hết các đề tài trên đều nghiên cứu lý luận cơ bản về chi phí và quản lý chi phí của các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Những biện pháp hoàn thiện công tác quản lý chi phí hiệu quả trong điều kiện sản xuất cho phép tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm.. Đề tài “Một số biện pháp hoàn thiện quản lý chi phí của Công ty cổ phần xây dựng và thương mại Tân Phương” sẽ nêu lên những lý luận về chi phí và những SV : Giang Thị Minh Yến Lớp K5 – HK1D Trƣờng ĐH Thƣơng Mại 17 Luận văn tốt nghiệp biện pháp hoàn thiện cong tác quản lý chi phí tại doanh nghiệp thuộc lĩnh vực xây dựng – ngành sản xuất đặc thù của nền kinh tế xã hội. 2.4 Phân định nội dung đề tài nghiên cứu : - Lý luận về chi phí và quản lý chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp - Thực trạng công tác quản lý chi phí xây lắp tại Công ty Cổ phần xây dựng và thương mại Tân Phương. - Một số biện pháp hoàn thiện công tác quản lý chi phí xây lắp tại Công ty Cổ phần xây dựng và thương mại Tân Phương. SV : Giang Thị Minh Yến Lớp K5 – HK1D Trƣờng ĐH Thƣơng Mại 18 Luận văn tốt nghiệp CHƢƠNG 3 PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI PHÍ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ THƢƠNG MẠI TÂN PHƢƠNG 3.1 Phƣơng pháp nghiên cứu : 3.1.1 Phƣơng pháp thu thập dữ liệu : - Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp : Là phương pháp thu thập dữ liệu chưa qua xử lý, trong quá trình tìm hiểu đề tài cũng như điều kiện doanh nghiệp, em chọn phương pháp điều tra trắc nghiệm để thu thập dữ liệu cho bài luận văn tốt nghiệp của mình. Phương pháp thu thập dữ liệu được tiến hành như sau : 1. Căn cứ vào đề tài : “ Một số biện pháp hoàn thiện quản lý chi phí tại Công ty Cổ phần xây dựng và thương mại Tân Phương” xây dựng phiếu điều tra gồm những câu hỏi liên quan tới công tác quản lý chi phí tại công ty. 2. Đối tượng và số lượng phiếu điều tra : - Đối tượng : nhân viên phòng tài chính kế toán, phòng kế hoạch dự án. - Số lượng : 5 phiếu điều tra. 3. Tiến hành điều tra : - Phương pháp điều tra : điều tra thông qua phiếu điều tra trắc nghiệp. 4. Thu thập và tổng hợp kết quả điều tra trắc nghiệm. - Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp : Là phương pháp thu thập số liệu đã qua xử lý : báo cáo tài chính, bảng cân đối kế toán và các số liệu cần thiết liên quan tới công tác quản lý chi phí tại công ty. SV : Giang Thị Minh Yến Lớp K5 – HK1D Trƣờng ĐH Thƣơng Mại 19 Luận văn tốt nghiệp 3.1.2 Phƣơng pháp xử lý số liệu : Dữ liệu thu thập được tổng hợp và phân tích bằng phương pháp so sánh giữa chi phí thực tế với chi phí dự toán của công trình, hạng mục công trình. 3.2 Kết quả phân tích thực trạng quản lý chi phí tại Công ty Cổ phần xây dựng và thƣơng mại Tân Phƣơng. 3.2.1 Khái quát chung về Công ty Cổ phần xây dựng và thƣơng mại Tân Phƣơng. - Tên doanh nghiệp : Công ty cổ phần xây dựng và thương mại Tân Phương - Địa chỉ : Kim Đức – TP. Việt Trì – T. Phú Thọ - Loại hình doanh nghiệp : Công ty cổ phần - Người đại diện theo pháp luật : Giám đốc : Vũ Đức Chính Được thành lập năm 1999, là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng cơ bản đóng tại địa bàn tỉnh Phú thọ. Trong những năm đầu thành lập, công ty gặp không ít khó khăn về mọi mặt cả về tài chính và năng lực thi công, doanh nghiệp mới thành lập nên việc tìm đối tác không phải dễ. Bên cạnh đó, bộ máy quản lý của Công ty vẫn chưa hoàn thiện nên công tác quản lý cũng như đội ngũ thi công của công ty vẫn còn nhiều hạn chế. Tuy nhiên cán bộ và công nhân viên của công ty đã không ngừng lao động, phấn đấu tạo dựng tên tuổi công ty, xây dựng uy tín và có vị thế cạnh tranh trong ngành xây lắp. Trải qua hơn 11 năm xây dựng và phát triển, công ty luôn giữ vững kỷ cương và mục tiêu trở thành Công ty xây dựng uy tín với thiết bị công nghệ hiện đại, năng lực thi công tốt. Chúng ta có thể thấy sự tăng trưởng của công ty qua một số chỉ tiêu tài chính sau : SV : Giang Thị Minh Yến Lớp K5 – HK1D Trƣờng ĐH Thƣơng Mại Bảng 1.1 Luận văn tốt nghiệp 20 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần xây dựng và thương mại Tân Phương. STT Chỉ tiêu Năm 2006 1 Vốn chủ sở hữu 2 Tổng tài sản 3 4 5 6 Năm 2008 3.652.005.737 3.652.005.737 3.652.005.737 86.547.939.283 89.078.994.284 70.453.502.516 95.189.833.010 66.551.669.522 80.498.012.756 99.502.727.950 83.212.856.185 1.000.000.000 Tổng doanh thu (tr.đồng) Lợi nhận trước thuế (tr.đồng) Năm 2007 (1.499.871.701) 930.469.786 5.389.655.078 6.545.474.876 9.106.153.649 211 204 Thuế và các khoản phải nộp NSNN Tổng số 206 Năm 2009 19.689.515 (8.585.494.126) 7.505.081.366 212 CBCNV  ngành nghề kinh doanh chính : - Xây dựng công trình giao thông, cầu cảng. - Xây dựng công trình dân dụng, công nghiệp. - Xây dựng công trình thuỷ lợi. - Xây dựng các công trình ngầm dưới nước và trong lòng đất. - Vận chuyển vật tư, thiết bị, cấu kiện phục vụ thi công - Đào, đắp đất, đá, san lấp mặt bằng, tạo bãi.  Nhiệm vụ : - Xây dựng theo quy hoạch, kế hoạch giao nhận thầu trực tiếp của ngành SV : Giang Thị Minh Yến Lớp K5 – HK1D
- Xem thêm -