Luận văn Ngành vận tải biển Việt nam, thực trạng và giải pháp phát triển

  • Số trang: 46 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 58 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

Đề án: Hình thức TTKDTM ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp LỜI MỞ ĐẦU Tiền mặt đã xuất hiện từ lâu và là một phương thức thanh toán không thể thiếu ở bất cứ một quốc gia nào. Tuy nhiên, sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển đã kéo theo các phương thức thanh toán phát triển, phương thức này là sự kế thừa và phát triển của phương thức trước đó. Khắc phục những nhược điểm của phương thức thanh toán bằng tiền mặt (TTBTM), thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) là phương thức thanh toán mới ưu việt hơn, đáp ứng một cách tốt hơn cho yêu cầu của sự phát triển kinh tế. Hiện nay ở rất nhiều nước trên thế giới việc TTKDTM đã trở nên quen thuộc với mỗi người dân, trong khi đó ở Việt Nam khối lượng TTKDTM còn chiếm tỷ lệ rất hạn chế. TTKDTM chưa được người dân chấp nhận rộng rãi, thậm chí nhiều người còn chưa nhìn thấy tờ séc, tấm thẻ tín dụng bao giờ. Có thể nói mỗi một chúng ta chưa phát huy được tính ưu việt của TTKDTM và như vậy chúng ta chưa tận dụng hết các điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của nền kinh tế. Hiện nay khi mà thanh toán bằng tiền mặt đang là phổ biến thì việc tìm ra giải pháp cho sự phát triển của TTKDTM là rất cần thiết tuy rằng điều đó không đơn giản. Nó đòi hỏi phải có sự quan tâm, nghiên cứu một cách đầy đủ, phải có cái nhìn sâu hơn, rộng hơn. Với mong muốn các hình thức TTKDTM sẽ ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn nữa tại Việt Nam, tôi đã chọn đề tài : “Hình thức thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp” Nội dung chính của đề tài bao gồm: Chương 1: Hình thức thanh toán không dùng tiền mặt Chương 2: Thực trạng về các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam trong thời gian qua Chương 3:Giải pháp phát trển các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam Đề án: Hình thức TTKDTM ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp Chương 1: HÌNH THỨC THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT 1.1 Lưu thông tiền tệ 1.1.1 Khái niệm lưu thông tiền tệ Lưu thông tiền tệ là sự vận động của tiền tệ trong nền kinh tế để thực hiện các quan hệ thương mại, hàng hóa, phân phối thu nhập, hình thành nguồn vốn và phúc lợi xã hội. Có thể nói sự lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế đóng vai trò như hệ thống mạch máu trong một cơ thể sống, nếu hệ thống mạch máu này hoạt động tốt thì cơ thể sẽ khỏe mạnh và phát triển, ngược lại nếu hệ thống mạch máu này hoạt động trục trặc hoặc hơn thế nữa là bị tắc nghẽn thì cơ thể sẽ ốm yếu và sẽ không thể phát triển bình thường. 1.1.2 Hai hình thức lưu thông tiền tệ - Lưu thông bằng tiền mặt Khái niệm : Là sự vận động của tiền mặt trong nền kinh tế phục vụ cho các quan hệ thương mại với quy mô nhỏ và trong nội bộ dân cư là chính. Đây là hình thức trong đó tiền tệ và hàng hóa đồng thời vận động với nhau. Ưu điểm: Đấy là hình thức đơn giản, chu chuyển nhanh, không gây ách tắc trong chu chuyển và nó có hiệu quả kinh tế cao đối với người tham gia lưu thông. Nhược điểm: Hình thức lưu thông này tốn kém về mặt chi phí lưu thông tiền tệ như in ấn, bảo quản, tổ chức lưu thông...và gây ra những hiện tượng tiêu cực xã hội như trộm cắp, rửa tiền, trốn thuế và nạn tiền giả. - Lưu thông không dùng tiền mặt Khái niệm: Là hình thức lưu thông trong đó tiền tệ và hàng hóa vận động tương đối độc lập với nhau, đáp ứng cho nhu cầu thanh toán với quy mô lớn, thông thường là các doanh nghiệp. Nhược điểm: Hình thức này đòi hỏi phải có trình độ nhất định mới tham gia được, mọi thanh toán phải thông qua ngân hàng, trang bị cơ sở vật chất ban đầu khá tốn kém, ngoài ra vấn đề bảo mật cũng phải quan tâm nhiều. Ưu điểm: Lưu thông không dùng tiền mặt khắc phục được một phần chi phí lưu thông, tăng cường khả năng kiểm soát của nhà nước, của ngân hàng, tạo ra sự văn minh lịch sự trong thanh toán. Đề án: Hình thức TTKDTM ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp 1.2 Thanh toán tiền tệ Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ thanh toán chi trả lẫn nhau phải dùng hình thức tiền tệ. Vì vậy, thanh toán tiền tệ là một yêu cầu tất yếu khách quan, là điều kiện cần thiết để phục vụ cho quá trình tái sản xuất xã hội. Tương ứng với hai hình thức lưu thông tiền tệ ta có hai hình thức thanh toán tiền tệ: Thanh toán bằng tiền mặt và thanh toán không dùng tiền mặt. 1.2.1 Thanh toán dùng tiền mặt - Khái niệm: Thanh toán tiền mặt là việc chi trả trực tiếp bằng tiền mặt trong các quan hệ thanh toán thu chi giữa nhân dân với nhau, giữa các xí nghiệp, tổ chức kinh tế, cơ quan nhà nước với nhân dân. - Đặc điểm Người tham gia thanh toán là nhân dân, các tổ chức kinh tế, các cơ quan nhà nước, những người không có tài khoản mở tại ngân hàng, thanh toán bằng tiền mặt không có sự xuất hiện của nhân vật thứ ba. Thanh toán tiền mặt thích hợp với vai trò của tiền tệ làm vật mô giới trong quá trình lưu thông. Sau khi xuất chuyển hàng hóa hay cung ứng dịch vụ cho người mua, người bán nhận được tiền ngay. Và quá trình thanh toán cũng chấm dứt ngay tại đó. Khi sản xuất và trao đổi phát triển đến một trình độ cao hơn, thì việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt không còn tỏ ra là một phương thức duy nhất nữa. Sự hạn chế của nó biểu hiện ở chỗ, muốn thực hiện một khối lượng lớn tổng giá cả hàng hóa thì phải có lượng tiền mặt lớn, điều đó làm cho chi phí lưu thông tiền tệ tăng lên, việc tổ chức lưu thông tiền mặt thêm phức tạp, tốc độ luân chuyển vốn chậm. Ngược lại, nếu vì một lý do nào đó không có tiền tệ, thì quá trình thanh toán không giải quyết được, từ đó quá trình tái sản xuất không thể tiếp tục được. Những bất tiện của việc sử dụng tiền mặt trong thanh toán đòi hỏi phải có thêm những hình thức thanh toán thuận lợi hơn. Bên cạnh đó, với sự phát triển vượt bậc của hệ thống ngân hàng, các dịch vụ, các công cụ thanh toán đã được ngân hàng nghiên cứu đưa ra để khách hàng lựa chọn cho mình một hình thức thanh toán thích hợp thay cho thanh toán tiền mặt. TTKDTM phát sinh từ đó và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Đề án: Hình thức TTKDTM ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp 1.2.2 Thanh toán không dùng tiền mặt - Khái niệm: TTKDTM là thanh toán qua ngân hàng, là tổng hợp các mối quan hệ chi trả tiền tệ được thực hiện bằng cách trích chuyển từ tài khoản của người này sang tài khoản của người khác tại ngân hàng với sự kiểm soát của ngân hàng mà không cần dùng tiền mặt. - Đặc điểm: So sánh với thanh toán tiền mặt, TTKDTM có những đặc trưng sau: Trong TTKDTM, sự vận động của vật tư hàng hóa độc lập với sự vận động của tiền tệ cả về thời gian lẫn không gian, thường không ăn khớp với nhau. Nếu như trong thanh toán bằng tiền mặt, vận động của hàng hóa gắn liền với vận động của tiền tệ, thì trong TTKDTM người bán có thể thu được tiền trước hoặc sau khi xuất hàng hóa cho người mua. Sự tách rời về mặt thời gian và không gian trong quá trình thanh toán đặt ra yêu cầu cho ngân hàng khi tổ chức hệ thống TTKDTM là phải rút ngắn khoảng cách giữa tiền và hàng. Trong TTKDTM, vật trung gian trao đổi (tiền mặt) không xuất hiện như thanh toán bằng tiền mặt theo kiểu hàng - tiền - hàng (H-T-H), mà chỉ xuất hiện dưới hình thức tiền tệ kế toán (tiền ghi sổ) và được ghi chép trên các chứng từ sổ sách. Mỗi bên tham gia thanh toán (chủ yếu là người mua) phải mở tài khoản tại ngân hàng (trừ một vài hình thức thanh toán như ngân phiếu thanh toán của Việt Nam). Vì một lẽ rất đơn giản, nếu không như vậy thì việc thanh toán không thể tiến hành. Khác với thanh toán bằng tiền mặt chỉ là quan hệ trực tiếp giữa người mua và người bán, trong TTKDTM, ngoài chủ thể chịu trách nhiệm thanh toán và chủ thể được hưởng, còn có sự tham gia của ít nhất một ngân hàng. Quá trình TTKDTM được diễn ra tại ngân hàng, nên ngân hàng có một vai trò lớn và không thể “vắng mặt” trong thanh toán qua ngân hàng, vừa là người tổ chức,vừa là người thực hiện các khoản thanh toán 1.3 Nguồn gốc và vai trò của các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt 1.3.1 Nguồn gốc của thanh toán không dùng tiền mặt Trong xã hội loài người, nếu còn sản xuất hàng hóa và lưu thông hàng hóa, thì sự tồn tại của mối quan hệ Tiền - Hàng là một tất yếu khách quan. Đó là mối quan hệ biện chứng và tác động lẫn nhau. Đề án: Hình thức TTKDTM ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp Theo tiến trình lịch sử hình thành tiền tệ, đồng tiền đã có những bước phát triển từ thấp đến cao. Trong nền kinh tế tư nhiên khép kín, do nhu cầu còn rất đơn giản, con người tự sản xuất được những gì mình cần và do đó họ không có nhu cầu trao đổi. Khi xã hội phát triển và mở rộng hơn, họ thấy rằng mình không thể tự sản xuất mọi thứ mà mình cần do nhiều lý do, lúc này nhu cầu trao đổi xuất hiện và vấn đề trao đổi là như thế nào. Vấn đề trùng lặp nhu cầu trao đổi xuất hiện. Nhưng không phải lúc nào và ở đâu cũng có sự trùng lặp nhu cầu. Muốn trao đổi được hàng hóa thì người ta nghĩ tới một hàng hóa mà nhiều người cùng cần, đó là vật đứng ra làm vật ngang giá chung hình thức đầu tiên của tiền tệ. Lúc đầu vật ngang gía chung rất đơn giản, nó có thể là vỏ sò, hến hay con bò miếng đồng ...Do yêu cầu thuận tiện trong trao đổi người ta thấy rằng cần phải có vật ngang giá chung thế nào đó dễ vận chuyển, dễ chia nhỏ, không hao mòn và có thể tích trữ dùng cho sau này. Con người đã chọn vàng. Sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển, hàng hóa đưa vào lưu thông ngày càng nhiều đòi hỏi phải có thêm lượng tiền đưa vào đáp ứng nhu cầu của hàng hóa đưa vào lưu thông. Hơn nữa người ta thấy rằng trong mua bán chịu, tờ giấy ghi nợ cũng có giá trị như tiền vậy. Tiền giấy ra đời và giúp cho việc trao đổi hàng hóa diễn ra thuận lợi hơn rất nhiều. Nhưng sản xuất không ngừng phát triển, khối lượng tiền được đưa vào lưu thông ngày một lớn, đặc biệt là khi có lạm phát. Tiền giấy bộc lộ những hạn chế nhất định như chi phí in ấn, bảo quản, tiền giả, kiểm đếm... Hơn nữa, trong nền kinh tế phát triển như ngày nay khối lượng tiền trong giao dịch là rất lớn, nếu thanh toán bằng tiền mặt thì rõ ràng là bất tiện. Như vậy, đòi hỏi phải có phương thức thanh toán mới ưu việt hơn khắc phục được những hạn chế trên, phù hợp với một giai đoạn phát triển kinh tế mới. TTKDTM xuất hiện như một tất yếu, thể hiện bước phát triển và hoàn thiện ở đỉnh cao của lịch sử phát triển tiền tệ. 1.3.2 Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt - Vai trò của TTKDTM đối với nền kinh tế TĐKDTM góp phần giảm tỉ trọng tiền mặt lưu thông, từ đó có thể tiết kiệm được chi phí lưu thông như in ấn, phát hành, bảo quản, vận chuyển…Mặt khác, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kế hoach hoá và lưu thông tiền tệ. Đề án: Hình thức TTKDTM ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp TĐKDTM tạo điều kiện tập trung nguồn vốn lớn cho xã hội vào NH để tái đầu tư cho nền kinh tế, phát huy vai trò điều tiết, kiểm tra của Nhà nước vào hoạt động tài chính ở tầm vĩ mô và vi mô, góp phần ngăn chặn lạm phát. - Vai trò của TKDTM đối với các ngân hàng thương mại (NHTM) Các nhà tổ chức thực hiện hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường đều quan tâm đến vấn đề thanh toán là: an toàn - tiện lợi - quay vòng số nhanh. NH trở thành trung tâm tiền tê - tín dụng – thanh toán trong nền kinh tế. TDKDTM góp phần không nhỏ vào thành công đó của NH. TTKDTM tạo điều kiện cho hoạt động huy động vốn của ngân hàng. TDKDTM không những làm giảm được chi phí lưu thông mà còn bổ sung nguồn vốn cho NH thông qua hoạt động mở tài khoản thanh toán của các tổ chức và cá nhân. Như vậy, NH sẽ luôn có một lượng tiền nhất định tạm thời nhàn rỗi trên các tài khoản này với chi phí thấp. Nếu sử dụng nguồn vốn này thi NH không chỉ kiếm được lợi nhuận, giành thắng lợi trong cạnh tranh mà còn mang lại lợi ích rất lớn cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân. TDKDTM còn thúc đẩy quá trình cho vay. Nhờ có nguồn vốn tiền gửi không kì hạn, NH còn có cơ hội để tăng lợi nhuận cho mình bằng cách cấp tín dụng cho nền kinh tế. NH thu hút được nguồn vốn với chi phí thấp nên trên cơ sở đó hạ lãi suất tiền vay, khuyến khích các doanh nghiệp, cá nhân vay vốn NH để đầu tư, phát triển sản xuất, kinh doanh có lãi. Mặt khác, thông qua TDKDTM, NH có thể đánh giá được tình hình sản xuất kinh doanh, kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp. Từ đó giúp NH an toàn trong kinh doanh, góp phần hạn chế rủi ro và nâng cao được hiệu quả hoạt động đầu tư tín dụng, thúc đẩy sản xuất kinh doanh. TDKDTM giúp cho NHTM thực hiện chức năng tạo tiền. Trong thực tế nếu thanh toán bằng tiền mặt, thì sau khi lĩnh tiền mặt ra khỏi NH, số tiền đó không còn nằm trong phạm vi kiểm soát của NH. Nhưng nếu TDKDTM thì NH thực hiện trích chuyển tiền từ tài khoản tiền gửi của người phải trả sang cho người thụ hưởng hoặc bù trừ giữa các tài khoản của các NHTM với nhau. Như vậy, thực chất của cơ chế tạo tiền của hệ thống NH là tổ chức thanh toán qua NH và cho vay bằng chuyển khoản. Vì vậy, khi TDKDTM càng phát triển thì khả năng tạo tiền càng lớn, tạo cho NH lợi nhuận đáng kể. TDKDTM góp phần mở rộng đối tượng thanh toán, tăng doanh số thanh toán. Đề án: Hình thức TTKDTM ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp TDKDTM tạo điều kiện thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ một cách an toàn, hiệu quả, chính xác, tin cậy và tiết kiệm được thời gian, chi phí. Trên cơ sở đó tạo niềm tin cho công chúng vào hoạt động của hệ thống NH, thu hút người dân và doanh nghiệp tham gia thanh toán qua NH. Như vậy, TDKDTM giúp NH thực hiện việc mở rộng đối tuợng thanh toán, phạm vi thanh toán (trong và ngoài nước) và tăng doanh số thanh toán, làm tăng lợi nhuận, tăng năng lực cạnh tranh của NH. - Vai trò của TTKDTM đối với Ngân hàng trung ương (NHTW) TTKDTM tăng cường hoạt động lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế, tăng cường vòng quay của đồng tiền, khơi thông các nguồn vốn khách nhau, tạo điều kiện quan trọng cho việc kiểm soát khối lượng giao dịch thanh toán của dân cư và của cả nền kinh tế. Qua đó, tạo tiền đề cho việc tính toán lưọng tiền cung ứng và điều hành thực thi chính sách tiền tệ có hiệu quả. - Vai trò TDKDTM đối với cơ quan tài chính Tăng tỉ trọng TDKDTM không chỉ có ý nghĩ tiết kiệm chi phí lưu thông mà còn giúp cho công tác quản lý tài sản của doanh nghiệp được tốt hơn. Nếu các giao dịch trong nền kinh tế được thực hiện chủ yếu bằng chuyển khoản thì tiền chỉ chuyển từ tài khoản người này sang tài khoản người khác, từ tài khoản của doanh nghiệp này sang tài khoản của doanh nghiệp khác, từ NH này sang NH khác nên tiền tệ vẫn nằm trong hệ thống NH. Do đó, tổn thất tài sản Nhà nước và tổn thất tài sản của người dân sẽ được hạn chế. Như vậy, trên cơ sở tài khoản tiền gửi và các tài khoản thanh toán qua NH đã giúp cho doanh nghiệp và cơ quan quản lý như bộ chủ quản, cơ quan thuế…có điều kiện để kiểm tra, theo dõi doanh thu, chi phí, xác định kết quả kinh doanh chính xác. Do đó giảm thiểu các tác động tiêu cực của các hoạt động “kinh tế ngầm”, tăng cường tính chủ đạo của Nhà nước trong việc điều tiết nền kinh tế và điều hành các chính sác kinh tế tài chính quốc gia, góp phần làm lành mạnh hoá nền kinh tế – xã hội. 1.4 Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt Theo quyết định 22/NH 21/01/1994 do thống đốc ngân hàng nhà nước ban hành, các hình thức TTKDTM được áp dụng trong hệ thống ngân hàng bao gồm: Séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thư tín dụng, ngân phiếu thanh toán, thẻ thanh toán. Gần đây nhất theo quyết định số 235/2002/QĐ-NHNN ngày 27/03/2002 của thống đốc ngân hàng nhà nước về việc chấm dứt việc phát hành trái phiếu thanh toán. Đề án: Hình thức TTKDTM ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp Theo đó kể từ ngày 1/4/2002 NHNN sẽ không phát hành ngân phiếu thanh toán nữa. Vậy nên nội dung chính của đề tài sẽ không đề cập đến hình thức thanh toán bằng ngân phiếu thanh toán. 1.4.1 Thanh toán bằng Séc 1.4.1.1 Khái niệm Séc là một tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do một khách hàng của ngân hàng ra lệnh cho ngân hàng trích một số tiền nhất định trên tài khoản của mình mở tại ngân hàng để trả cho người cầm séc hoặc cho người được chỉ đinh trên tờ séc (tổ chức kinh tế hay cá nhân) Séc là một mệnh lệnh chứ không phải là một yêu cầu do đó khi nhận được séc ngân hàng chấp nhận vô điều kiện, trừ trường hợp tài khoản của người phát hành không đủ hoặc không có tiền trả. 1.4.1.2 Phương thức thanh toán bằng Séc Có 3 người liên quan đến tờ Séc: - Người phát hành - Ngân hàng - Người thụ hưởng séc Phương thức thanh toán bằng séc được thể hiện qua các sơ đồ sau. Sơ đồ 1: Vận hành Séc qua một ngân hàng Người phát hành (1) Người thụ hưởng (3) (2) Ngân hàng thụ lệnh (1) Người phát hành kí phát Séc và giao người thụ hưởng (2) Người thụ hưởng xuất trình Séc cho ngân hàng thụ lệnh để đòi được trả tiền (3) Ngân hàng thụ lệnh gửi giấy báo về tình trạng tài khoản cho người phát hành. Đề án: Hình thức TTKDTM ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp Sơ đồ 2: Lưu thông Séc qua 2 Ngân hàng Ngân hàng bên bán (4) Ngân hàng bên mua (5) (3) (7) (6) Người bán (1) Người mua (2) (1) Bán giao hàng cho Mua (2) Mua phát hành Séc giao cho Bán (3) Bán nộp Séc vào NH để nhờ thu hộ tiền trên Séc (4) NH bên bán thu hộ tiền qua ngân hàng bên mua (5) NH trả tiền cho người hưởng lợi qua NH bên bán (6) Thanh tóan tiền cho bên Bán (7) NH quyết toán Séc với người mua 1.4.1.3 Các loại Séc đang áp dụng tại các ngân hàng Việt Nam Séc chuyển khoản: Là lệnh trả tiền của người phát hành séc đối với NH về việc trích nộp một khoản tiền nhất định từ tài khoản của mình để trả cho người thụ hưởng có tên trên tờ séc. Séc chuyển khoản không được phép lĩnh tiền mặt, chỉ được thanh toán trong phạm vi giữa khách hàng có tài khoản ở cùng một chi nhánh NH (một kho bạc) hoặc khác chi nhánh NH (khác kho bạc) nhưng các NH, các kho bạc này có tham gia thanh toán bù trừ (TTBT) trên địa bàn tỉnh thành phố. Thời gian hiệu lực thanh toán của mỗi tờ séc là 15 ngày kể từ ngày ký phát hành, đến ngày nộp vào NH. Người phát hành séc phải ghi đầy đủ các yếu tố quy định trên tờ séc. Người thụ hưởng khi nhận séc phải kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp của tờ séc. Séc bảo chi: Séc bảo chi là tờ séc chuyển khoản thông thường nhưng được NH bảo đảm chi trả bằng cách trích trước số tiền ghi trên tờ séc từ tài khoản của bên trả tiền đưa vào một tài khoản riêng (TK tiền ký gửi bảo đảm thanh toán séc) được NH làm thủ tục bảo chi và đánh dấu bảo chi séc trước khi giao séc cho KH Đề án: Hình thức TTKDTM ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp Sổ séc định mức: Là một hình thức bảo chi toàn bộ sổ Séc, tức là không bảo chi từng tờ séc. Mỗi sổ Séc định mức chỉ được áp dụng để chi trả cho môt hoặc một số người được thụ hưởng thuộc cùng một đơn vị chủ quản. Séc chuyển tiền: Loại này tương tự loại séc ngân hàng đang áp dụng trên thế giới. Loại séc này được dùng để thanh toán chuyển khoản hoặc rút tiền mặt. Séc cá nhân: được áp dụng đối với khách hàng có tài khoản tiền gửi đứng tên cá nhân tại ngân hàng để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ và các khoản thanh tóan khác. Hiện nay theo quy định của ngân hàng, Séc cá nhân có số tiền trên 5 triệu phải làm thủ tục bảo chi séc, người thụ hưởng phải yêu cầu người phát séc xuất trình CMTND để kiểm tra và chi nhận séc do đích thân người có tên trên và sau tờ Séc và phải kí tên tại chỗ. Tất cả các loại séc trên đều được áp dụng thanh toán trong phạm vi giữa khách hàng có tài khoản ở cùng một chi nhánh NH (một kho bạc) hoặc khác chi nhánh NH (khác kho bạc) nhưng các NH, các kho bạc này có tham gia thanh toán bù trừ (TTBT). 1.4.2 Thanh toán bằng thẻ 1.4.2.1 Khái niệm về thẻ thanh toán Theo điều 24 thể lệ TTKDTM ban hành theo quyết định 22-QĐ/NH1 ra ngày 21/02/1994, thẻ thanh toán được định nghĩa như sau: “Thẻ thanh toán do ngân hàng phát hành và bán cho khách hàng sử dụng để trả tiền hàng hoá dịch vụ, các khoản thanh toán khác và rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý thanh toán hay các quầy trả tiền mặt tự động” 1.4.2.2 Phân loại thẻ thanh toán Có nhiều cách để phân loại thẻ thanh toán: phân loại theo công nghệ sản xuất, theo chủ thể phát hành, theo tính chất thanh toán của thẻ, theo phạm vi lãnh thổ... - Phân loại theo công nghệ sản xuất: Có 3 loại Thẻ khắc chữ nổi (EmbossingCard): dựa trên công nghệ khắc chữ nổi, tấm thẻ đầu tiên được sản xuất theo công nghệ này. Hiện nay người ta không còn sử dụng loại thẻ này nữa vì kỹ thuật quá thô sơ dễ bị giả mạo. Thẻ băng từ (Magnetic stripe): dựa trên kỹ thuật thư tín với hai băng từ chứa thông tin đằng sau mặt thẻ. Thẻ này đã được sử dụng phổ biến trong 20 năm qua , nhưng đã bộc lộ một số nhược điểm: do thông tin ghi trên thẻ không tự mã hoá được, Đề án: Hình thức TTKDTM ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp thẻ chỉ mang thông tin cố định, không gian chứa dữ liệu ít, không áp dụng được kỹ thuật mã hoá, bảo mật thông tin... Thẻ thông minh (Smart Card): đây là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán, thẻ có cấu trúc hoàn toàn như một máy vi tính. - Phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ: Có 3 loại Thẻ tín dụng (Credit Card): là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất, theo đó người chủ thẻ được phép sử dụng một hạn mức tín dụng không phải trả lãi để mua sắm hàng hoá, dịch vụ tại những cơ sở kinh doanh, khách sạn, sân bay ... chấp nhận loại thẻ này. Gọi đây là thẻ tín dụng vì chủ thẻ được ứng trước một hạn mức tiêu dùng mà không phải trả tiền ngay, chỉ thanh toán sau một kỳ hạn nhất định. Cũng từ đặc điểm trên mà người ta còn gọi thẻ tín dụng là thẻ ghi nợ hoãn hiệu (delayed debit card) hay chậm trả. Thẻ ghi nợ (Debit card): đây là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn liền với tài khoản tiền gửi. Loại thẻ này khi đợc sử dụng để mua hàng hoá hay dịch vụ, giá trị những giao dịch sẽ được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ thông qua những thiết bị điện tử đặt tại cửa hàng, khách sạn ... đồng thời chuyển ngân ngay lập tức vào tài khoản của cửa hàng, khách sạn... Thẻ ghi nợ còn hay được sử dụng để rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động. Thẻ ghi nợ không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuôc vào số dư hiện hữu trên tài khoản của chủ thẻ. Thẻ rút tiền mặt (Cash card): là loại thẻ rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động hoặc ở ngân hàng. Với chức năng chuyên biệt chỉ dùng để rút tiền, yêu cầu đặt ra đối với loại thẻ này là chủ thẻ phải ký quỹ tiền gởi vào tài khoản ngân hàng hoặc chủ thẻ được cấp tín dụng thấu chi mới sử dụng được. - Phân loại theo chủ thể phát hành: Thẻ do Ngân hàng phát hành (Bank Card): là loại thẻ do ngân hàng phát hành giúp cho khách hàng sử dụng một số tiền do Ngân hàng cấp tín dụng. Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành: là loại thẻ du lịch và giải trí của các tập đoàn kinh doanh lớn hoặc các công ty xăng dầu lớn, các cửa hiệu lớn... phát hành như Diner's Club, Amex... Đề án: Hình thức TTKDTM ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp 1.4.2.3 Phương thức thanh toán bằng thẻ thanh toán Các chủ thể có liên quan đến việc phát hành và sử dụng thẻ: - Ngân hàng phát hành thẻ - Ngân hàng đại lý thanh toán thẻ - Cơ sở tiếp nhận thẻ - Chủ sở hữu thẻ Sơ đồ 3: Thanh toán bằng thẻ thanh toán Ngân hàng phát hành (6) Ngân hàng đại lý (NH thanh toán) (7) (1a) (1b) (8) Người sử dụng thẻ ATM (3) (2) (5) (4) Cơ sở tiếp nhân thẻ (1a) Các đơn vị cá nhân đến ngân hàng phát hành xin được sử dụng thẻ (kí quỹ hoặc vay) (1b) Ngân hàng cung cấp thẻ cho người sử dụng và thông báo cho ngân hàng đại lý và cơ sở tiếp nhận thanh toán thẻ. (2) Người sử dụng thẻ mua hàng hoá dịch vụ và giao thẻ cho cơ sở tiếp nhận (3) Rút tiền ở hộp ATM hoặc ở ngân hàng đại lý (4) Trong vòng 10 ngày, cơ sở tiếp nhận nộp biên lai vào ngân hàng đại lý để đòi tiền (5) Trong vòng 1 ngày, ngân hàng đại lý trả tiền cho cơ sở tiếp nhận (6) Ngân hàng đại lý chuyển biên lai để thanh toán, lập bảng kê cho ngân hàng phát hành (7) Ngân hàng phát hành thẻ hoàn lại số tiền mà ngân hàng đại lý đã thanh toán (8) Người sử dụng thẻ muốn sử dụng nữa hoặc sử dụng hết số tiền trên thẻ thì ngân hàng phát hành hoàn tất quá trình sử dụng thẻ Đề án: Hình thức TTKDTM ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp 1.4.3 Thanh toán bằng thư tín dụng L/C 1.4.3.1 Khái niệm về thư tín dụng L/C Thư tín dụng (Letter of Credit - viết tắt là L/C) là một cam kết thanh toán có điều kiện bằng văn bản của một tổ chức tài chính (thông thường là ngân hàng) đối với người thụ hưởng L/C (thông thường là người bán hàng hoặc người cung cấp dịch vụ) với điều kiện người thụ hưởng phải xuất trình bộ chứng từ phù hợp với tất cả các điều khoản được quy định trong L/C, phù hợp với Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (UCP) được dẫn chiếu trong thư tín dụng và phù hợp với Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế dùng để kiểm tra chứng từ trong phương thức tín dụng chứng từ (ISBP). 1.4.3.2 Phương thức thanh toán thông qua thư tín dụng Sơ đồ 4: Quy trình nghiệp vụ thư tín dụng thương mại Đơn vị bán (3) (5) (4) (4) Ngân hàng bên bán (NH thanh toán) Đơn vị mua (1) (2) (7) (8) Ngân hàng bên mua ( NH mở thư tín dụng) (1) Bên mua lập giấy mở thư tín dụng gởi vào ngân hàng bên mua (2) NH bên mua gửi giấy mở thư tín dụng cho NH bên bán (3) NH bên bán gởi thư tín dụng cho bên bán biết (4) Sau khi kiểm tra thư tín dụng hợp lệ, bên bán giao hàng hoá cho bên mua (5) Ngay sau đó, bên bán lập hoá đơn giao hàng gởi NH bên bán (NH thanh toán) (6) NH bên bán sau khi kiểm tra hoá đơn giao hàng phù hợp với giấy mở thư tín dụng sẽ ghi tăng tài khoản người bán và báo Có cho người bán biết. (7) NH bên bán nợ NH bên mua (8) NH bên mua tất toán thư tín dụng và báo bên mua biết Đề án: Hình thức TTKDTM ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp 1.4.4 Ủy nhiêm thu 1.4.4.1 Khái niệm về uỷ nhiệm thu Uỷ nhiệm thu là lệnh của người bán viết trên mẫu in sẵn do đơn vị bán lập, nhờ NH phục vụ mình thu hộ tiền sau khi đã hoàn thành cung ứng hàng hoá, dịch vụ theo các chứng từ thanh toán hợp pháp, hợp lệ đã được thoả thuận. Phạm vi áp dụng của hình thức này là giữa các đơn vị mở TK ở cùng một chi nhánh NH hoặc các chi nhánh NH khác trong cùng một hệ thống hoặc khác hệ thống. 1.4.4.2 Phương thức thanh toán bằng hình thức uỷ nhiệm thu Sơ đồ 5: Trường hợp hai bên mua bán có tài khoản ở một NH Ngân hàng (4) (3) (2) Đơn vị bán (người thụ hưởng) (1) Đơn vị mua (người trả tiền) (1) Đơn vị bán giao hàng cho người mua (2) Đơn vị bán lập uỷ nhiệm thu kèm theo các hoá đơn chứng từ gởi đến NH nhờ thu hộ (3) NH ghi nợ tài khoản đơn vị mua và báo nợ cho bên mua biết (4) NH ghi có và báo có cho bên bán biết Sơ đồ 6: Trường hợp hai bên mua bán có hai tài khoản ở hai NH khác nhau Đơn vị bán (người thụ hưởng) (2) (1) (7) Ngân hàng (bên bán) Đơn vị mua (người trả tiền) (4) (6) (3) (5) Ngân hàng (bên mua) Đề án: Hình thức TTKDTM ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp (1) Đơn vị bán giao hàng cho người mua (2) Đơn vị bán lập UNT kèm theo các hoá đơn chứng từ gởi đến NH nhờ thu hộ (3) NH bán gửi uỷ nhiệm thu và hoá đơn chứng từ về NH bên mua (4) NH bên mua báo cáo cho người mua biết bên bán có giấy đòi tiền (5) Bên mua chấp nhận hay từ chối báo cáo cho NH biết (6) NH bên mua báo có về NH bên bán (7) NH bên bán chi có tài khoản cho đơn vị bán và báo có cho họ biết 1.4.5 Ủy nhiệm chi 1.4.5.1 Khái niệm uỷ nhiệm chi Uỷ nhiệm chi là lệnh viết của chủ TK yêu cầu NH phục vụ mình trích một số tiền nhất định từ TK của mình chuyển vào TK được hưởng, để thanh toán tiền mua bán, cung ứng hàng hoá, dịch vụ, nộp thuế, thanh toán nợ. UNC được áp dụng để thanh toán cho người được hưởng có TK ở cùng NH, khác hệ thống NH khác tỉnh 1.4.5.2 Phương thức thanh toán bằng hình thức uỷ nhiệm chi Sơ đồ 7: Sơ đồ thanh toán uỷ nhiệm chi - trường hợp chủ tài khoản và người thụ hưởng mở tài khoản tại một ngân hàng (1) Chủ tài khoản (người mua) Người thụ hưởng (người bán) (3) (4) (2) Ngân hàng Sơ đồ 8: Sơ đồ thanh toán uỷ nhiệm chi - trường hợp chủ tài khoản và người thụ hưởng mở tài khoản tại hai ngân hàng Người mua (2) (1) (3) Ngân hàng phục vụ người mua Người bán (5) (4) Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng Đề án: Hình thức TTKDTM ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp (1) Người thụ hưởng giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ cho chủ tài khoản (người mua) theo hợp đồng kí kết (2) Chủ tài khoản lập uỷ nhiệm chi gửi khách hàng (3) Ngân hàng sau khi kiểm tra tính hợp lệ của uỷ nhiệm chi và số dư tài khoản đơn vị mua, ghi giảm tài khoản đơn vị mua và báo cho người mua biết (4) a. NH ghi tăng tài khoản người thụ hưởng và báo có cho người thụ hưởng (nếu chủ tài khoản và người thụ hưởng mở tài khoản tại một NH) b. NH bên chủ tài khoản (bên mua) báo có về NH phục vụ người thụ hưởng (NH bên mua) nếu cả hai mở tài khoản tại NH khác (5) NH bên bán ghi tăng tài khoản người bán và báo có cho họ biết. Đề án: Hình thức TTKDTM ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ CÁC HÌNH THỨC THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA 2.1 Thực trạng chung về các hình thức TTKDTM ở Việt Nam thời gian qua 2.1.1 Những thành tựu trong hoạt động TTKDTM ở Việt Nam thời gian qua Trong thời gian qua hoạt động TTKDTM tại các ngân hàng có sự chuyển biến mạnh mẽ. Nhiều phương tiện thanh toán và dịch vụ thanh toán mới, hiện đại, tiện ích ra đời, đáp ứng được nhiều loại nhu cầu của người sử dụng dịch vụ thanh toán, với phạm vi tiếp cận mở rộng tới các đối tượng cá nhân và dân cư. Những bước phát triển gần đây trong lĩnh vực TTKDTM tại các ngân hàng thể hiện ở những khía cạnh sau: - Những con số biết nói Tỷ trọng tiền mặt so với tổng phương tiện thanh toán có xu hướng giảm dần qua các năm, điều này ta có thể thấy rõ qua biểu đồ sau. Biểu đồ 1: Tỉ lệ tiền mặt trong tổng phương tiện thanh toán Đơn vị tính: % Từ biểu đồ trên ta thấy rằng, tỉ lệ tiền mặt trong tổng phương tiện thanh toán đã giảm qua các năm, từ mức 32.2% năm 1997, giảm xuống còn 23.7% năm 2001, 22.56% năm 2002, 22.03% năm 2003, 20.3% năm 2004, 19% năm 2005, 18.5% năm 2006, 18% năm 2007, 14.4% năm 2008 và năm 2009 chỉ còn 14%. Đây là một dấu hiệu tích cực cho nền kinh tế. Điều đó thể hiện được những thành quả mà chúng ta đã đạt được trong hoạt động TTKDTM thời gian qua. Đề án: Hình thức TTKDTM ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp Trước sự phát triển không ngừng của hình thức TTKDTM thời gian qua, Chính phủ đã đưa ra đề án phát triển TTKDTM giai đoạn 2006-2010 với mục tiêu như sau: * Đến năm 2010 tỷ lệ tiền mặt/tổng phương tiện thanh toán không quá 18%. Đến năm 2020 tỷ lệ này phấn đấu khoảng 15%. * Đạt mức 80% các khoản thanh toán giữa các doanh nghiệp với nhau thực hiện qua tài khoản tại Ngân hàng đến cuối năm 2010 và đạt 95% đến năm 2020 Tuy nhiên, thực tế đã cho thấy rằng TTKDTM của nước ta đã về đích sớm so với đề án TTKDTM giai đoạn 2006 – 2010 và định hướng đến năm 2020 đã được Thủ tướng phê duyệt, đây là một tín hiệu đáng mừng đối với nền kinh tế. - Từ nền tảng thanh toán hoàn toàn thủ công (mọi giao dịch thanh toán đều dựa trên cơ sở chứng từ giấy) chuyển dần sang phương thức xử lý bán tự động sử dụng chứng từ điện tử, đến nay các giao dịch thanh toán được xử lý điện tử chiếm tỷ trọng khá lớn. Thời gian xử lý hoàn tất một giao dịch được rút ngắn từ hàng tuần trước đây, nay chỉ còn vài phút (đối với các khoản thanh toán khác hệ thống, khác địa bàn), chỉ trong vòng vài giây hoặc tức thời (đối với các khoản thanh toán trong cùng hệ thống, hoặc cùng địa bàn); - Dịch vụ tài khoản cá nhân của hệ thống NHTM phát triển khá nhanh. Trong năm 2008, toàn hệ thống ngân hàng có khoảng 15 triệu tài khoản cá nhân, tăng 36% so với cuối năm 2007. Số lượng thẻ trong lưu thông đạt khoảng 13,4 triệu thẻ, tăng 46% so với cuối năm 2007 với 142 thương hiệu thẻ thuộc 39 tổ chức phát hành thẻ. Hệ thống máy ATM có 7.051 máy, tăng 2.238 máy so với cuối năm 2007; mạng lưới chấp nhận các phương tiện thanh toán đạt 24.760 thiết bị. Có được kết quả như trên là do nhiều yếu tố tác động như: môi trường pháp lý trong lĩnh vực thanh toán ngân hàng có những thay đổi theo hướng phù hợp hơn, mạng lưới điểm giao dịch phục vụ khách hàng của các ngân hàng được mở rộng, thanh toán điện tử liên ngân hàng được triển khai có hiệu quả,… Nhưng có một số lý do chính trực tiếp thúc đẩy sự gia tăng tài khoản cá nhân trong thời gian qua, đó là: các NHTM đã có nhiều nỗ lực trong quá trình phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc thanh toán của khách hàng; chú trọng phát triển đa dạng và phong phú các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại, đặc biệt là các dịch vụ ngân hàng bán lẻ với những ứng dụng công nghệ tin học tiên tiến; bắt đầu quan tâm đến công tác tiếp thị, tuyên truyền quảng cáo, khuyến mãi cho các sản phẩm dịch vụ của mình khi đưa ra Đề án: Hình thức TTKDTM ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp thị trường. Một số ngân hàng còn chủ động tiếp cận với các doanh nghiệp có đông nhân viên với mức thu nhập ổn định để thực hiện dịch vụ trả lương qua tài khoản ngân hàng - Đối tượng tham gia cung ứng dịch vụ thanh toán không còn giới hạn ở các ngân hàng, Kho bạc Nhà nước mà còn có cả các tổ chức khác không phải ngân hàng như Công ty dịch vụ tiết kiệm bưu điện. Thị trường dịch vụ thanh toán trở nên cạnh tranh hơn, không chỉ giữa các ngân hàng mà còn giữa ngân hàng và các tổ chức không phải ngân hàng làm dịch vụ thanh toán. Mỗi một mô hình tổ chức có những đặc trưng riêng, lợi thế riêng và chiến lược khách hàng riêng, theo đó mà các nhu cầu khác nhau của từng loại đối tượng khách hàng được đáp ứng. - Xu hướng liên doanh liên kết giữa các ngân hàng đã hình thành, giúp cho nhiều ngân hàng thương mại nhỏ vượt qua những hạn chế về vốn đầu tư vào công nghệ và trang thiết bị phục vụ cho hệ thống thanh toán. Việc liên doanh liên kết trong phát hành và thanh toán thẻ trở thành một yếu tố không nhỏ góp phần vào sự tăng trưởng lượng thẻ phát hành ra lưu thông gần đây. Đặc biệt, vào năm 2008 chúng ta đã kết nối thành công hai hệ thống thẻ liên ngân hàng là Banknetvn và Smartlink trở thành một hệ thống thẻ thống nhất trên toàn quốc. Đây là nền tảng cơ bản để hướng tới xây dựng và phát triển một hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Khi đi vào hoạt động, hai hệ thống này sẽ hỗ trợ lẫn nhau trong việc cung cấp dịch vụ tới khách hàng, đảm bảo tính ổn định và thông suốt với chất lượng dịch vụ tốt nhất 2.1.2 Những hạn chế trong thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam và các nguyên nhân 2.1.2.1 Hạn chế trong thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam - Nhìn chung, thanh toán bằng tiền mặt còn rất phổ biến trong nền kinh tế. Tiền mặt vẫn là phương tiện thanh toán chiếm tỷ trọng lớn trong khu vực doanh nghiệp và chiếm đại đa số trong các giao dịch thanh toán của khu vực dân cư. TTKDTM tuy được cải thiện, nhưng thực tế cho thấy khối lượng tiền mặt ngoài lưu thông ngày càng tăng. Theo báo cáo kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2009 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy: dư nợ tín dụng 6 tháng đầu năm 2009 tăng 17,01% so với năm 2008, kéo theo lượng tiền mặt trong lưu thông cũng tăng lên 19,3%, tiền mặt lưu thông ngoài ngân hàng ước đạt 306 ngàn tỷ đồng, đây là con số đầu tiên được công bố từ một cơ Đề án: Hình thức TTKDTM ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp quan không phải là NHNN. Đúng như ông Bùi Quang Tiên, trưởng ban thanh toán NHNN nhận định “Tiền mặt vẫn là phương thức thanh toán chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong khu vực công, doanh nghiệp và dân cư. Chất lượng, tiện ích mới trong TTKDTM còn hạn chế, các tiện ích thiết thực và phổ biến (như thanh toán tiền điện, nước, điện thoại, truyền hình cáp) chưa được triển khai mạnh trên thực tế. Các dịch vụ thanh toán trực tuyến như Mobile Banking, Internet Banking, Ví điện tử… mới chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ hẹp, chưa triển khai trên diện rộng để đáp ứng nhu cầu thanh toán nhỏ lẻ của khách hàng”. - Thời gian qua, tuy tỷ trọng TTKDTM hàng năm đã giảm nhưng còn ở mức cao hơn so với thế giới. Tỷ trọng này ở các nước tiên tiến như Thụy Điển là 0,7%, Na Uy là 1%, còn Trung Quốc là nước phát triển trung bình nhưng cũng chỉ ở mức là 10%. - Số người sử dụng dịch vụ ngân hàng chủ yếu là các doanh nghiệp lớn, lao động ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, nhân viên công sở có thu nhập cao và ổn định. Đại đa số dân cư, công chức, viên chức thuộc khu vực chính phủ, lao động thuộc các doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa tiếp cận với các phương tiện và dịch vụ thanh toán. - Hạ tầng cơ sở và trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho hoạt động thanh toán còn nghèo nàn và kém hiệu quả. Năm 2009, nước ta có 7.051 ATM số lượng phân bổ chủ yếu ở các thành phố lớn, các khu công nghiệp. Với dân số nước ta hiện nay là hơn 85 triệu dân thì bình quân 12.055 dân có 1 ATM. Lượng ATM như vậy quá thấp nếu so với các quốc gia láng giềng ( Singapore: 2.638 dân/ATM). Hơn nữa, các máy ATM lại chỉ có khả năng phục vụ cho một nhóm nhỏ ngân hàng, chứ không có khả năng sử dụng chung cho nhiều ngân hàng như thực tế ở nhiều nước hiện nay, làm cho mạng lưới máy rút tiền tự động càng hạn chế phạm vi phục vụ. Với các thiết bị tại điểm bán (POS) cũng chung tình trạng như vậy. Luôn có tình trạng một đơn vị chấp nhận thẻ cùng tồn tại nhiều thiết bị POS của các ngân hàng khác nhau để phục vụ cho các giao dịch bằng thẻ. Điều này thu hẹp đáng kể phạm vi sử dụng các phương tiện TTKDTM so với nhiều quốc gia trong khu vực hiện nay, ngay cả khi mật độ thiết bị tương đương như ở các nước đó. - Chất lượng, tiện ích và tính đa dạng về dịch vụ TTKDTM chưa phong phú. Khả năng đáp ứng nhu cầu của nhiều loại đối tượng sử dụng còn hạn chế. Các phương tiện TTKDTM chưa đạt được tính tiện ích và phạm vi thanh toán để có thể thay thế cho tiền mặt. Phương thức giao dịch chủ yếu tiếp xúc trực tiếp và mặt đối mặt. Để được
- Xem thêm -