Khủng hoảng tài chính hiện nay

  • Số trang: 38 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 27 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

Khủng hoảng tài chính Nhóm 9 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM Môn học TÀI CHÍNH QUỐC TẾ Đề Tài: KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH HỆN NAY Nhóm thực hiện: nhóm 9 GV: Diệu Thảo 1 Khủng hoảng tài chính Nhóm 9 DANH SÁCH NHÓM 9 1. Huỳnh Phước Nguyên – 0864032066 2. Nguyễn Vĩnh Cường – 0864032007 3. Phạm Đức Hạnh – 0864032022 4. Trần Hồng Nhân – 40783257 5. Đinh Gia Nam – 0864032053 6. Lê Vũ Trọng Tài – 0864032084 7. Đặng Trần Toàn – 40661518 8. Lưu Công Định – 40563087 9. Dương Văn Trí – 40603264 10. Trần Thị Hoài Nhung – 40603158 11. Lê Thị Thùy Yến – 40603309 12. Nguyễn Hùng Cường – 0864032006 13. Nguyễn Phương Đông - 40561255 2 Khủng hoảng tài chính Nhóm 9 MỤC LỤC Phần 1 - Toàn cảnh cuộc khủng hoảng tài chính 2007 -2008 1.1- Diễn tiến của cuộc khủng hoảng. 1.2- Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng. 1.2.1 – Cho vay dưới chuẩn 1.2.2 – Bong bóng thị trường bất động sản 1.2.3 – Thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ 1.2.4 - Khủng hoảng niềm tin 1.2.5 – Tâm lý ỷ lại 1.2.6 – Mua bán khống 1.3- Tác động của cuộc khủng hoảng. 1.3.1 – Tác động đến với Mỹ 1.3.2 – Tác động đến với các quốc gia khác 1.4- Phản ứng của Mỹ và các quốc gia. 1.4.1 – Phản ứng của chính phủ Mỹ 1.4.2 – Phản ứng của các khu vực, các quốc gia khác Phần 2 - Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng đến Việt Nam. 2.1- Tác động đến Việt Nam 2.2- Các chính sách ngăn chặn suy giảm và kích thích kinh tế của Việt Nam Phần 3 – Kết luận Tài liệu tham khảo 3 Khủng hoảng tài chính Nhóm 9 PHẦN 1 TOÀN CẢNH CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH 2007 -2008 1.1- Diễn tiến của cuộc khủng hoảng Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007 – 2008 bắt nguồn từ tình trạng bong bóng của thị trường nhà đất ở Mỹ (tình trạng này diễn ra trong khoảng năm 2005-2006) với những khoản vay dưới chuẩn có nguy cơ rủi ro cao và các khoản thế chấp có lãi suất điều chỉnh. Từ vài năm trước đó, giá nhà tăng cao cùng với việc được phép vay với điều kiện rất đơn giản, nhiều khách hàng đã tranh thủ tiền của các ngân hàng đầu tư để đầu cơ vào bất động sản với hy vọng kiếm được nhiều tiền từ các khoản mua bán chênh lệch. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007 - 2008 tại Mỹ lần này thực chất là biểu hiện rõ nét nhất của một quá trình “khủng hoảng” rất lâu trước đó. Điểm lại những mốc sự kiện chính trong chuỗi này để thấy khủng hoảng đã diễn ra như thế nào:  Tháng 6/2007: Hai quỹ phòng hộ (hedge fund - một loại quỹ có tính đại chúng thấp và không bị quản chế quá chặt) của Bear Stearns - ngân hàng đầu tư lớn thứ 5 của Mỹ - quỵ ngã sau khi đánh cược vào các chứng khoán được đảm bảo bằng các khoản cho vay bất động sản dưới chuẩn ở Mỹ.  Ngày 15/10/2007: Citigroup - Tập đoàn ngân hàng hàng đầu nước Mỹ - công bố lợi nhuận Quý 3 bất ngờ giảm 57% do các khoản thua lỗ và trích lập dự phòng lên tới 6,5 tỷ USD. Giám đốc điều hành Citigroup Charles Prince từ chức vào ngày 4/11.  Ngày 11/1/2008: Bank of America - ngân hàng lớn nhất nước Mỹ về tiền gửi và vốn hoá thị trường - đã bỏ ra 4 tỉ USD để mua lại Countrywide Financial sau khi ngân hàng cho vay thế chấp địa ốc này thông báo phá sản do các khoản cho vay khó đòi quá lớn.  16-17/3/2008: Bear Stearns được bán cho Ngân hàng Đầu tư Mỹ JP Morgan Chase với giá 2 đôla một cổ phiếu.  29/4/2008: Deutsche Bank lần đầu tiên trong năm năm công bố một khoản thua lỗ trước thuế sau khi buộc phải trích lập dự phòng 4,2 tỷ USD cho các khoản nợ xấu và các chứng khoán được đảm bảo bởi các khoản thế thấp bất động sản. 4 Khủng hoảng tài chính Nhóm 9  11/7/2008: Chính quyền liên bang Mỹ đoạt quyền kiểm soát Ngân hàng IndyMac Bancorp. Đây là một trong những vụ đóng cửa ngân hàng lớn nhất từ trước tới nay sau khi những người gửi tiền đã rút ra hơn 1,3 tỷ USD trong vòng 11 ngày.  31/7/2008: Deutsche Bank công bố khoản trích lập dự phòng tiếp theo là 3,6 tỷ USD, nâng tổng số tiền ngân hàng này mất lên 11 tỷ USD. Deutsche Bank trở thành một trong 10 nạn nhân lớn nhất của cuộc khủng hoảng tín dụng toàn cầu.  7/9/2008: Cục Dự trữ Liên bang (Fed) và Bộ Tài chính Mỹ đoạt quyền kiểm soát hai tập đoàn chuyên cho vay thế chấp Fannie Mae và Freddie Mac nhằm hỗ trợ thị trường nhà đất Mỹ.  11/9/2008: Lehman Brothers tuyên bố đang nỗ lực tìm kiếm đối tác để bán lại chính mình. Cổ phiếu của ngân hàng đầu tư này tụt giảm 45%.  14/9/208: Bank of America cho biết sẽ mua Merrill Lynch với giá 29 USD/cp sau khi từ chối đề nghị mua lại của Lehman Brothers.  15/9/2008: Đây là ngày tồi tệ nhất tại Phố Wall kể từ khi thị trường này mở cửa trở lại sau vụ khủng bố 2 toà tháp đôi tại Mỹ vào Tháng 9 năm 2001. Lehman Brothers sụp đổ đánh dấu vụ phá sản lớn nhất tại Mỹ; Merrill Lynch bị Bank of America Corp thâu tóm; American International Group - tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới mất khả năng thanh toán do những khoản thua lỗ liên quan tới nợ cầm cố.  16/9/2008: Ngân hàng trung ương các nước trên thế giới đã đổ hàng tỉ USD vào các thị trường tiền tệ với nỗ lực hạ nhiệt tình trạng căng thẳng và ngăn chặn sự đóng băng của hệ thống tài chính toàn cầu. Cổ phiếu AIG giảm gần một nửa. Fed công bố kế hoạch bơm 85 tỷ USD vào AIG và nắm giữ 80% cổ phần. Ngân hàng Barclays của Anh mua lại một phần tài sản tại Bắc Mỹ của Lehman với trị giá 1,75 tỷ USD.  17/9/2008: Cổ phiếu của Goldman Sachs và Morgan Stanley giảm mạnh; Tập đoàn Lloyds TSB của Anh mua lại đối thủ HBOS; Uỷ ban Chứng khoán Mỹ kiềm chế tình trạng bán khống.  19/9/2008: Các thị trường chứng khoán thế giới tăng vọt sau khi Mỹ công bố kế hoạch mua lại tài sản của các tập đoàn tài chính đang gặp khó khăn, giúp làm thanh sạch hệ thống tài chính.  20-21/9/2008: Công bố các chi tiết bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD. Hai ngân hàng Goldman Sachs và Morgan Stanley được chuyển đổi thành tập đoàn ngân hàng đa năng, đánh dấu sự kết thúc mô hình ngân hàng đầu tư tại Phố Wall. 5 Khủng hoảng tài chính Nhóm 9  22/9/2008: Tập đoàn Nomura Holdings của Nhật trả 525 triệu USD để thâu tóm hoạt động của Lehman tại châu Á. Sau đó, Nomura cũng mua lại Lehman tại châu Âu và Trung Đông. Mitsubishi UFJ Financial đồng ý mua 20% cổ phần Morgan Stanley.  25/9/2008: Washington Mutual Inc. (WaMu), một trong những ngân hàng lớn nhất Mỹ đã sụp đổ cũng do đã đánh cược rất lớn vào thị trường cho vay thế chấp. Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi liên bang Mỹ (FDIC) đã đoạt quyền kiểm soát WaMu và sau đó bán các tài sản của ngân hàng tiết kiệm lớn nhất Mỹ cho JPMorgan Chase & Co. với giá 1,9 tỷ USD. Với 307 tỷ USD tổng tài sản, WaMu đã trở thành ngân hàng bị phá sản lớn nhất trong lịch sử Mỹ. Trong khi đó tại Washington D.C., các thành viên chủ chốt trong quốc hội đã đồng ý về những điều khoản chính trong kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD.  29/9/2008: Hạ viện bất ngờ không thông qua kế hoạch giải cứu thị trường tài chính Mỹ. Phản ứng ngay lập tức với quyết định trên, chỉ số công nghiệp Dow Jones tụt giảm gần 780 điểm - mức giảm trong một ngày mạnh nhất từ trước tới nay.  1/10/2008: Thượng viện Mỹ thông qua bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD (tỷ lệ 74-25) với một số điểm đã được thay đổi, bao gồm: gia hạn đạo luật cắt giảm thuế thu nhập cho doanh nghiệp và cá nhân (dự tính sẽ làm ngân sách thất thu 149 tỷ USD); tăng hạn mức bảo hiểm tiền gửi tại Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi Liên bang từ 100.000 USD lên 250.000 USD.  3/10/2008: Sau 3 giờ thảo luận và thuyết phục nhau, Hạ viện Mỹ đã bỏ phiếu lần thứ hai và thông qua dự luật giải cứu với tỷ lệ phiếu 262-171. Không đầy 2 giờ sau đó, Tổng thống Mỹ đặt bút ký để chính thức chuyển kế hoạch thành đạo luật.  8/10/2008: Trong một nỗ lực phối hợp chưa từng có tiền lệ, Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed), Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và 4 ngân hàng trung ương các nước khác đã đồng loạt cắt giảm lãi suất nhằm giảm ảnh hưởng nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại suy thoái năm 1930.  14/10/2008: Chính phủ Mỹ công bố dành 250 tỉ USD trong gói giải cứu 700 tỉ USD để rót vào các ngân hàng lớn, đổi lại sẽ nhận được cổ phiếu ưu đãi của các ngân hàng này. Đây là bước thay đổi lớn trong chiến lược giải cứu, vì trong kế hoạch ban đầu Chính phủ vẫn hướng đến giải pháp mua lại nợ xấu ngân hàng, không mua cổ phần. 6 Khủng hoảng tài chính Nhóm 9  25/11/2008 : Cục Dự trữ liên bang Mỹ công bố sẽ sử dụng khoảng 800 tỷ USD để cải thiện thị trường tín dụng cho những người mua nhà, người tiêu dùng và các doanh nghiệp nhỏ  11/12/2008: giới tài chính quốc tế phải xôn xao vì vụ gian lận tài chính lên tới 50 tỷ USD ở Phố Wall, mà “tác giả” lại chính là một trong những nhà giao dịch chứng khoán huyền thoại của nước Mỹ, đồng thời là một cựu chủ tịch của sàn chứng khoán Nasdaq - ông Bernard L. Madoff.  17/02/2009 : Tổng thống Mỹ đã ký Luật tái đầu tư và phục hồi Mỹ (ARRA) với tổng trị giá 787 tỉ USD. Mục tiêu của gói kích thích kinh tế thứ 2 này là nhằm tạo 3,5 triệu việc làm, giảm nhẹ tác động bất lợi của cuộc khủng hoảng đối với người thu nhập thấp; kích thích đầu tư và tiêu dùng để phục hồi tăng trưởng kinh tế trong 2 năm tới. 65% giá trị của gói kích thích này là đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và 35% là giảm thuế. 1.2 - Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng Năm 2008 không ai có thể ngờ nước Mỹ- một tượng đài, một đầu tầu kinh tế thế giới lại có thể suy sụp nhanh đến như vậy. Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế thì cuộc khủng hoảng này xảy ra bởi các nguyên nhân sâu xa sau: 1.2.1 - Cho vay dưới chuẩn Các ngân hàng đầu tư Mỹ đã sử dụng nghiệp vụ chứng khoán hóa (securitisation) để biến các khoản cho vay mua bất động sản thành các gói trái phiếu có gốc bất động sản (MBS, CDO) đầy rủi ro cung cấp cho thị trường Khi nền kinh tế đi xuống, người vay tiền mua nhà không trả được các khoản vay mua nhà thì rủi ro tín dụng được chuyển sang các gói trái phiếu có các danh mục tín dụng bất động sản làm tài sản đảm bảo. Khủng hoảng càng gia tăng thì việc phát mại tài sản càng tăng làm giá bất động sản càng giảm. Điều này có nghĩa giá trị tài sản đảm bảo của trái phiếu càng giảm và rủi ro tín dụng càng tăng. Vòng xoáy khủng hoảng cứ tiếp tục như vậy, làm cho giá chứng khoán sụt giảm mạnh. Các ngân hàng đầu tư mặc dù không nắm giữ toàn bộ rủi ro nhưng cũng trực tiếp hoặc gián tiếp duy trì một số danh mục chứng khoán liên quan đến bất động sản. Hậu quả là hàng loạt ngân hàng đầu tư lần lượt báo cáo các khoản lỗ kinh doanh. 1.2.2- Bong bóng thị trường bất dộng sản 7 Khủng hoảng tài chính Nhóm 9 Nguyên nhân trực tiếp và rõ ràng nhất của cuộc khủng hoảng tài chính lần này là sự suy sụp của thị trường bất động sản. Ở Mỹ, hầu hết người dân khi mua nhà là phải vay tiền ngân hàng và trả lại lãi lẫn vốn trong một thời gian dài sau đó. Do đó, có một sự liên hệ rất chặt chẽ giữa tình hình lãi suất và tình trạng của thị trường bất động sản. Khi lãi suất thấp và dễ vay mượn thì người ta đổ xô đi mua nhà, đẩy giá nhà cửa lên cao, khi lãi suất cao thì thị trường giậm chân, người bán nhiều hơn người mua, đẩy giá nhà xuống thấp. Có 3 yếu tố chính đã khởi tạo nên bong bóng trong thị trường bất động sản: - Thứ nhất, bắt đầu từ năm 2001, để giúp nền kinh tế thoát khỏi trì trệ, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) đã liên tục hạ thấp lãi suất, dẫn đến việc các ngân hàng cũa hạ lãi suất cho vay tiền mua bất động sản (mặc dù những loại lãi suất cho vay mua nhà do các ngân hàng thương mại ấn định bao giờ cũng cao hơn nhiều so với lãi suất cơ bản của FED, nhưng mức độ cao hay thấp của chúng bao giờ cũng phụ thuộc vào lãi suất cơ bản). Vào giữa năm 2000, lãi suất chủ đạo (lãi suất cơ bản) của FED là trên 6%/năm nhưng sau đó lãi suất này liên tục được cắt giảm, đến giữa 2003 thì chỉ còn 1%/năm. - Thứ hai, về phương diện sở hữu nhà ở, chính sách chung của chính phủ lúc bấy giờ là khuyến khích và tạo điều kiện cho người dân nghèo và các nhóm người dân da màu được vay tiền dễ dàng hơn từ các định chế tài chính để mua nhà ở. Khoản cho vay này phần lớn được thể hiện thông qua hai công ty được bảo trợ bởi chính phủ là Fannie Mae và Pređie Mac. Hai công ty này giúp đổ vốn vào thị trường bất động sản bằng cách mua lại các khoản cho vay của ngân hàng thương mại, biến chúng thành các loại chứng tứ được bảo đảm bằng các khoản vay thế chấp (mortage-backed securities – MBS), rồi bán lại cho các nhà đầu tư ở phố Wall, đặc biết là các ngân hàng đầu tư khổng lồ như Bear Stearns và Merrill Lynch. - Thứ ba, như đã trình bày ở trên, vì có sự biến đổi các khoản cho vay thành các công cụ đầu tư nên thị trường tín dụng để phục vụ cho thị trường bất động sản không còn là sân chơi duy nhất của các ngân hàng thương mại hoặc các công ty chuyên cho vay thế chấp bất động sản nữa. Nó đã trở thành một sân chơi mới cho các nhà đầu tư, có khả năng huy động dòng vốn từ khắp nơi đổ vào, kể cả dòng vốn ngoại quốc. Điểm đặc biệt ở đây là bởi vì việc hình thành, mua bán, và bảo hiểm MBS vô cùng phức tạp nên nó diễn ra gần như ngoài tầm kiểm soát thông thường của chính phủ. Bởi vì thiếu sự kiểm soát cần thiết nên lòng tham và tính mạo hiểm đã trở nên phổ biến ở các nhà đầu 8 Khủng hoảng tài chính Nhóm 9 tư. Bên cạnh đó, vì có thể bán lại phần lớn các khoản vay để các công ty biến chúng thành MBS, các ngân hàng thương mại đả trở nên mạo hiểm hơn trong việc cho vay, bất chấp khả năng trả nợ của người vay. 1.2.3 - Thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ Có tiền, các công ty “thoải mái” cho khách hàng vay bằng tiền của các ngân hàng đầu tư cung cấp thông qua việc mua lại danh mục cho vay của các công ty này. Các ngân hàng này, trên cơ sở danh mục cho vay vừa mua lại, sẽ phát hành chứng khoán để vay tiền. Danh mục cho vay được chia ra thành các mục như rủi ro ít, rủi ro cao,… tùy định mức tín nhiệm, nhà đầu tư tha hồ lựa chọn theo sự mạo hiểm của mình. Có loại chứng khoán không cần định mức tín nhiệm, có thể thu lãi cao nhưng rủi ro cũng lớn. Như vậy, rủi ro trong việc cho vay đã được chuyển từ bên cho vay là công ty tài chính sang ngân hàng đầu tư. Nhà đầu tư trên thế giới đổ tiền mua các chứng khoán này, nhờ vậy, chính họ đã cung cấp một lượng vốn khổng lồ cho thị trường bất động sản ở Mỹ tăng nóng. Theo Giáo sư kinh tế Joseph Stiglitz, người được giải thưởng Nobel kinh tế 2001: “Hệ thống tài chính của Mỹ đã không thực hiện được hai trách nhiệm chính của mình, đó là quản lý rủi ro và phân chia vốn. Cả hệ thống tài chính Mỹ đà không làm những gì mà nó đáng ra phải làm – như tạo ra các sản phẩm để giúp người Mỹ quản lý được những rủi ro nguy hiểm nghiêm trọng của mình, như là giữ lại được nhà khi mức lãi suất cho vay tăng cao hoặc khi giá nhà sụt giảm mạnh” 1.2.4 - Khủng hoảng niềm tin Theo Giáo sư Joseph Stiglitz, cuộc khủng hoảng bắt đầu từ sự sụp đổ thảm khốc của niềm tin. Các ngân hàng đánh đố lẫn nhau về mức độ cho vay cũng như tài sản. Những giao dịch phức tạp được tạo ra để loại bỏ rủi ro và che giấu những trượt giá giá trị tài sản thực của ngân hàng. Đây là một trò chơi mà khi người ta bắt đầu cảm nhận “mùi vị” của sự thua lỗ và nhìn vào hệ thống tài chính, khi đó thua lỗ sẽ xuất hiện, cả thị trường xuống dốc và tất cả “người chơi” đều thua lỗ. Thị trường tài chính xoay quanh trục nguyên tắc độ tin cậy, và độ tin cậy đó đã bị xói mòn, xuống cấp. Sự sụp đổ của Lehman là biểu tượng đánh dấu mức độ tin cậy xuống một mức thấp mới và dư âm của nó sẽ còn tiếp tục. 1.2.5 - Tâm lý ỷ lại 9 Khủng hoảng tài chính Nhóm 9 Các tập đoàn tài chính tận dụng hình thức đòn bẩy tài chính, khi chứng khoán mua vào được sử dụng làm vật thế chấp để vay mua chứng khoán khác, cứ thế một đồng đô la tài sản thật sẽ được biến hóa thành hàng trăm đồng đô la tài sản sản ảo chỉ hiện diện trên sổ sách. Chừng nào lãi suất còn ở mức thấp thì các tập đoàn tài chính này vẫn còn báo lãi nhưng một khi lãi tiền vay cao hơn chênh lệch mua bán thì họ bắt đầu chuỗi ngày dài lỗ nặng. Trong trường hợp của Lehman, giá trị tài sản gấp 31 lần vốn chủ sở hữu cho nên nếu giá trị tài sản chỉ cần giảm 3% thì toàn bộ vốn chủ sở hữu sẽ mất tiêu! Các tập đoàn tài chính này có biết rủi ro rất cao nhưng chính vì những khoản tiền thưởng hậu hĩ cho những ai mua bán, giao dịch nhiều càng làm các giới quản lý bất chấp trách nhiệm, liều lĩnh lao vào vòng xoáy mua bán chứng khoán. Dù sao, họ vững tin, nếu có chuyện gì, chính phủ sẽ phải cứu để toàn bộ thị trường khỏi sụp đổ và quan trọng hơn hết, nếu phá sản, chỉ có giới đầu tư chịu còn họ đã yên tâm với khoản lương thưởng hàng trăm triệu đô la hàng năm. Chính vì tâm lý ỷ lại này mà họ không quan tâm tới hậu quả. 1.2.6 - Mua bán khống Khi giới đầu cơ đoán chắc rằng cổ phiếu của những tập đoàn dính líu đến cho vay dưới chuẩn sẽ sụt giảm, họ ồ ạt vay những cổ phiếu này rồi ồ ạt bán ra, tạo nên một áp lực giảm giá lốn không gì cứu vãn nổi. Sau khi giá giảm đến một mức nào đó, giới đầu cơ sẽ mua và trả lại nơi cho vay cộng thêm một ít phí, còn bao nhiêu tiền chênh lệch họ sẽ hưởng trọn. Thậm chí, một số nhà đầu cơ còn áp dụng cách thức mua bán khống đến 2 lần (naked short sale) tức là không vay chứng khoán nữa mà cứ ra lệnh bán theo kiểu “đánh xuống” vì lợi dụng khe hở, mua bán ba ngày sau mới giao cổ phiếu. Thực trạng này đã khiến Bộ trưởng Tư pháp bang New York, Andrew Cuomo phải thốt lên “Họ giống như kẻ hôi của sau một cơn bão!”. 1.3 - Tác động của cuộc khủng hoảng 1.3.1 - Tác động đến Mỹ: Theo thống kê của chính phủ Mỹ, nền kinh tế Mỹ mất 605000 việc làm trong 8 tháng đầu năm 2008, đẩy tỉ lệ thất nghiệp lên 6.1% , đến tháng 2/2009 con số này là 7.6%, cao nhất trong vòng 17 năm trở lại đây. Sự mất giá của các tài sản nhà đất cũng sẽ đẩy tỉ lệ nợ trên tài sản sở hữu của người tiêu dùng Mỹ lên cao hơn con số 18% hiên 10 Khủng hoảng tài chính Nhóm 9 nay, bắt buộc họ phải thắt chặt hầu bao. Tổng số nợ của người tiêu dùng Mỹ đã lên tới 2.500 tỉ đô la (trung bình 8.500 đô la một người), tương đương khoảng 18% giá trị tài sản sở hữu theo đầu người. Tỉ lệ tiết kiệm của người Mỹ trong vài năm qua đã xuống chỉ số âm, tức là mỗi người Mỹ tiêu nhiều hơn thu nhập làm ra. Khoản tiền cứu trợ 700 tỉ đô la, chưa kể hàng trăm tỉ đô la chính phủ Mỹ đã chi trong năm qua nhằm cứu nguy cho các công ty bất động sản, tài chính và ngân hàng, sẽ là gánh nặng lớn đối với ngân sách của chính phủ Mỹ trong nhiệm kì tới. Hiện tại, chưa kể những khoản tiền cứu trợ này, thâm hụt ngân sách trong năm 2008 đã ước tính lên tới con số 482 tỉ đô, cao nhất trong lịch sử, và số tiền nợ của chính phủ Mỹ đã lên tới con số kỉ lục trên 9.600 tỉ đô là, tương đương khoảng 60% Tổng thu nhập Quốc dân của Mỹ. Gánh nặng ngân sách và đòi hỏi phải cấp tốc cải cách bộ máy chính quyền, phục hồi hệ thống tài chính – ngân hàng, sẽ hạn chế chính phủ mới của Mỹ trong việc theo đuổi các chương trình quốc nội và các cam kết quốc tế, đặc biệt là khả năng duy trì hai cuộc chiến tranh tại Afghanistan và Iraq. Kể từ tháng 8 năm 2007 đến hết tháng 8 năm 2008, trên 770000 căn nhà ở Mỹ bị ngân hàng xiết nợ do các gia đình không đủ khả năng trả nợ tiền vay mua nhà. Cuộc khủng hoảng bất động sản cũng khiến hàng trăm ngàn người mất việc làm. Một số ngân hàng Mỹ vẫn đối diện nguy cơ phá sản cho dù có gói cứu trợ tài chính 700 tỷ USD mà chính phủ đã đưa ra. Các tổ chức tài chính bị phá sản hoặc phải sáp nhập trong cuộc khủng hoảng Mỹ: do IRIC tổng hợp 1 2 11 Tên Quy mô Thiệt hại Giải pháp Lehman Brothers Tổng tài sản: 639 tỷ đôla Tổng vốn góp cổ phần: $22490 tỷ đôla Số lượng nhân viên: 26200 người Là một trong 4 ngân hàng đầu tư lớn nhất của Hoa Kỳ Nợ ngân hàng: 613 tỷ đôla Nợ trái phiếu: 155 tỷ đôla Cổ phiếu mất giá trên 90% vào ngày 15/09/2008 15/09/2008: nộp đơn phá sản theo chương 1 Luật Phá sản Mỹ Là vụ phá sản lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ Merrill Lynch Tổng tài sản: 1,02 nghìn tỷ đôla Số lượng nhân viên: 60.000 người Thua lỗ quý IV/2007: 9,83 tỷ đô Bán cho ngân hàng Mỹ (BoA) với giá 50 tỷ đôla Thua lỗ ròng quý I/2008: 1,97 tỷ đôla Khủng hoảng tài chính Xếp thứ 32 trong mất giá tài sản danh sách Global (2007): 16,7 tỷ đôla 2000 (các công ty lớn nhất thế giới) Nhóm 9 3 AIG Tổng tài sản: 1,05 nghìn tỷ đôla Tổng vốn góp ổ phần 78,09 tỷ đôla Số lượng nhân viên: 116.000 người Xếp thứ 6 trong danh sách Global 2000 (các công ty lớn nhất thế giới) Cổ phiếu mất giá 60% vào ngày 16/09/2008 Thua lỗ 6 tháng đầu năm 2008: 13,2 tỷ đôla 16/09/2008: Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) cấp tín dụng 80 tỷ tương đương 79,9 % cổ phần 4 Tổng tài sản: 211 tỷ đôla Là tập đoàn chiếm 20% tổng thế chấp của Mỹ, tương đương Countrywide 3,5 GDP Tổ chức tiết kiệm và Financial cho vay lớn thứ 3, đồng thời là ngân hàng có tốc độ phát triển nhanh nhất trong lịch sử nước Mỹ Thua lỗ (2007): 2,5 tỷ đôla Mất giá tài sản (2007): 1 tỷ đôla 01/07/2008: Bán cho ngân hàng Mỹ với giá 4,1 tỷ đôla 5 Tổng tài sản: 350,4 tỷ đôla Tổng vốn góp cổ phần: 66,7 tỷ đôla Bear Stearns Số lượng nhân viên: 15.500 người Là công ty chứng khoans lớn thứ 7 thế giới Thiệt haiij quý IV/2007: 859 triệu đôla Mất giá tài sản (2007): 1,9 tỷ đôla 30/05/2008: Bán cho JP Morgan Chase với giá 1,1 tỷ đôla 6 IndyMac Tổng tài sản: 32 tỷ đô Là tổ chức cho vay và gửi tiết kiệm lớn nhất ở Los Angeles. Đồng thời là tổ chức thế chấp lớn thứ 7 ở Hoa Kỳ 7 Tổng tài sản: 794,4 tỷ Freddie Mac đôla Tổng vốn góp cổ phần: 26,7 tỷ đôla 12 Tiền gửi khách hàng: 19 tỷ đô Chi phí 8,9 tỷ đô cho 11/07/2008: Tập đoàn Bảo bảo hiểm tiền gửi hiểm Tiền gửi Liên bang Chi phí 541 triệu đô Mỹ FDIC tiếp quản cho các khoản tiền gửi vượt mức bảo hiểm Thua lỗ (2007): 4,6 tỷ đôla Thua llox quý II/2008: 821 triệu 07/09/2008: FED kí hợp đồng bỏ ra 1 tỷ đô hỗ trợ cho Freddie Mac, đổi lại giành quyền kiểm soát các Khủng hoảng tài chính Số lượng nhân viên: đôla 5.281 ngườich Là công ty công lớn thứ 20 trên thế giới là công ty tài chính lớn thứ 2 về thế chấp tại Mỹ Tổng tài sản: 882,5 tỷ đôla Tổng vốn góp cổ phần: 44 tỷ đôla Là tổ chức hàng đầu trong thị trường thế chấp dưới chuẩn của Mỹ 8 Fannie Mae 9 Tổng thu nhập (năm 2006): 417 triệu đôla Giá bán trên thị New Century trường: 1,75 tỷ đôla Financial Số lượng ngân viên: Corp 7.200 người Là tập đoàn cho vay dưới chuẩn lớn nhất của Mỹ 10 11 12 13 13 Nhóm 9 cổ phiếu ưu đãi đặc biệt của công ty này. Thua lỗ (2007): 2 tỷ 07/09/2008: cùng với đôla Freddie Mac bị FED tiếp Thua lỗ quý II/2008: quản 2,3 tỷ đôla Cổ phiếu mất 90% giá trị (tháng 03/2007) Giá trị thị trường giảm xuống còn 55 triệu đôla Nộp đơn phá sản theo chương 11 Luật Phá sản Mỹ Ameri Bank Tổng tài sản: 115 triệu đôla Tiền gửi khách hàng: 102 triệu đôla 19/09/2008: Tập đoàn Bảo Chi phí 42 triệu đôla hiểm Tiền gửi Liên Bang cho quỹ bảo hiểm Mỹ FDIC tiếp quản tiền gửi Washington Mututal Inc Tổng tài sản: 307 tỷ đôla Washington Mutual là ngân hàng tiết kiệm lớn nhất Mỹ Thua lỗ 53 tỷ đôla để từ tháng 6 và 17 tỷ đôla trong 2 tuần gần đây Wachovia Giá cổ phiếu của Wachovia đã sụt Là ngân hàng lớn thứ giảm tới 81,6%, còn 30/09/2008: bị bán lại cho 6 ở Mỹ 1,84 USD/ cổ phiếu Citi Group với giá 2,16 tỷ Tổng tài sản: 327,9 tỷ Thua lỗ 9,7 tỷ đôla đôla đôla trong nửa đầu năm nay Thornburg Mortgage Thua lỗ lên tới 2,75 tuyên bố phá sản theo Giá trị tài sản 36,5 tỷ tỷ USD trong 3 quý chương 11 vào ngày USD đầu tiên của năm 1/5/2009 2008 26/09/2008: Chính phủ tiếp quản và sau đó bán lại cho JP Morgan Chase & Co với giá 1,9 tỷ đôla Khủng hoảng tài chính Nhóm 9 Đánh giá thiệt hại của cuộc khủng hoảng bất động sản – tài chính. Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF ước lượng thiệt hại đối với các tập đoàn tài chính – ngân hàng có thể lên tới 945 tỉ đô là. Con số này chưa tính đến thiệt hại trực tiếp đối với người tiêu dùng Mỹ.  Tốc độ tăng trưởng GDP Vào quý 3/2008, nền kinh tế Mỹ bắt đầu nhận thấy rõ ràng nhất ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tín dụng lên nền kinh tế vật chất. Tốc độ tăng trưởng GDP của quý 3/2008 so với quý 2/2008 giảm 0,5%. Nền kinh tế Mỹ chính thức bước vào giai đoạn suy thoái. Và kết quả công bố sắp tới của quý 4/2008 cũng như 2 quý đầu năm 2009, chúng ta sẽ còn chứng kiến sự suy giảm mạnh mẽ hơn nữa của nền kinh tế lớn nhất thế giới này. Theo nhiều dự đoán,. 2 quý đầu năm 2009 sẽ tiếp tục chứng kiến sự suy giảm của nền kinh tế, tính chung cả năm 2009, dự đoán kinh tế Mỹ suy giảm khoảng -0,8%. 1.3.2 - Tác động đến các quốc gia khác * Châu Âu: Hầu hết các nền kinh tế lớn của Châu Âu đều có tốc độ tăng trưởng GDP âm vào quý 3/2008, duy nhất Pháp là nước có tốc độ tăng trưởng GDP dương 0,1%. Trong đó Anh là có nước có mức sụt giảm mạnh nhất -0,6% và là quý đầu tiên trong 7 quý gần nhất nền kinh tế này chứng kiến mức suy giảm GDP. Thụy sĩ, một nền kinh tế có sức đề kháng mạnh cũng không thể tránh khỏi sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu. Qúy 3/2008, nền kinh tế này không tăng trưởng và là mức thấp nhất trong vòng 10 năm qua.. 14 Khủng hoảng tài chính Nhóm 9 Các Ngân hàng ở Anh cũng chịu ảnh hưởng lớn nhất từ cuộc khủng hoảng tín dụng thứ cấp cho vay nhà ở tại Mỹ và nay là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tại Mỹ. Điển hình trong số đó là Ngân hàng Northern Rock Bank bị khoản nợ xấu đến hết tháng 7-2008 lên tới 191,6 tỷ USD. Trong tháng 9-2007, tại thời điểm mới xảy ra cuộc khủng hoảng tín dụng nhà ở tại Mỹ hơn 2 tháng, Ngân hàng TW Anh BOE đã phải bơm 27 tỷ Bảng để cứu Northern Rock Bank trong tình trạng tổn thất tín dụng ngày càng gia tăng. Không chỉ các Ngân hàng ở Anh bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tín dụng thứ cấp nhà ở tại Mỹ, mà chính thị trường nhà đất của Vương quốc Anh cũng bị ảnh hưởng và trên đà đi xuống, giá giảm, giao dịch trầm lắng. Ngày 2-9-2008, Chính phủ Anh đã phải thông qua góp giải pháp trị giá 1 tỷ Bảng Anh, tương đương 1,78 tỷ USD nhằm cứu vãn thị trường nhà đất tại Anh đang xuống dốc. Ngày 29-9-2008, Bộ Tài chính Anh đã chính thức tuyên bố quốc hữu hóa Tập đoàn cho vay kinh doanh bất động sản lớn nhất nước này là Bradford & Bingley Plc nhằm bảo vệ khách hàng của tập đoàn này do thua lỗ lớn liên quan đến cuộc khủng hoảng tín dụng thứ cấp tại Mỹ và không có khả năng trụ vững. Tổng giá trị sổ sách các khoản thế chấp và vay là 50 tỷ Bảng Anh, tương đương 91 tỷ USD. Đây là ngân hàng lớn thứ 3 tại Anh. 15 Khủng hoảng tài chính Nhóm 9 Ngày 13-10-2008, 3 ngân hàng lớn nhất Anh là Royal Bank of Scotland, Lloyds TSB và HBOS công bố tiếp nhận khoản hỗ trợ từ Chính phủ trị giá 37 tỷ Bảng, tương đương 63 tỷ USD để đảm bảo thanh toán. Tiếp theo ngân hàng nói trên của Anh, cuối tháng 9-2008 có thêm một số ngân hàng lớn khác tại Châu Âu như: Fortis (Bỉ và Luxemburg), Dexia (Bỉ và Pháp); đầu tháng 10-2008 là Hypo Real Estate (Đức) cũng lâm vào khủng hoảng được Chính phủ các nước đó cứu trợ bằng biện pháp tài chính. Ngày 20-10-2008, Chính phủ Hà Lan cũng phải bơm trên 13,4 tỷ USD vào tập đoàn Ngân hàng ING Bank. Hệ thống ngân hàng, thị trường chứng khoán, và thị trường tài chính của Nga cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Đợt sụt giảm trên thị trường chứng khoán Nga diễn ra trong tháng 9-2008 đã làm bốc hơi 800 tỷ USD giá trị cổ phiếu. Chính quyền Nga cũng phải bơm vào hàng chục tỷ USD để cứu vãn thị trường tài chính và hệ thống ngân hàng nước này. Cho đến ngày 7-10-2008, thị trường chứng khoán Nga đã 2 lần phải tạm đóng cửa, chỉ số chứng khoán giảm mạnh. Chỉ trong quý II và III 2008, các nhà đầu tư nước ngoài đã rút khoảng gần 50 tỷ USD từ Nga; trong đó tính riêng tháng 8-2008 số vốn các nhà đầu tư nước ngoài đã rút khoảng 5 tỷ USD và tháng 9-2008 rút 30 tỷ USD. Chỉ trong thời gian ngắn khoảng 3 tuần cuối tháng 9 và đầu tháng 10-2008, NHTW Nga đã phải tung ra thị trường 170 tỷ USD để cứu các ngân hàng và công ty tài chính. Đến ngày 10-10-2008, 3 ngân hàng lớn nhất Iceland đã tuyên bố phá sản và chuyển giao cho chính phủ quản lý. * Nhật Bản: GDP 2007 của Nhật là 4.384 tỷ USD, tăng 0,2 % so với 4.375 tỷ USD của năm 2006. Quý 1 năm 2008 GDP Nhật tăng trưởng 0,6 % so với quý trước, tuy nhiên liên tiếp 3 quý tiếp sau con số tăng trưởng này đã bị âm. Cụ thể quý 2/2008 GDP tăng trưởng -0,1% so với quý 1/2008, quý 3 con số này là -0,5% và quý 4/2008 dự báo tăng trên -3,2%. Nhật Bản chính thức bước vào thời kỳ suy thoái kinh tế trong năm 2008 và năm 2009 (bắt đầu tính từ 01/04/2009 theo năm tài khóa của Nhật) các dự báo tăng trưởng GDP của Nhật là 0% (theo Chính phủ Nhật) và -0,1 % (theo WB ). Bộ Tài chính Nhật Bản ngày 9/3 công bố nền kinh tế Nhật Bản đã bị thâm hụt tài khoản vãng lai ở mức kỷ lục 172,8 tỷ yen (tương đương 1,8 tỷ USD) trong tháng 1/2009. * Châu Mỹ Latinh: 16 Khủng hoảng tài chính Nhóm 9 Cơn bão tài chính Mỹ như một căn bệnh dịch lan sang các hệ thống tiền tệ toàn cầu, các nước láng giềng của Mỹ cũng không nằm ngoài vùng ảnh hưởng của cơn bão đó. Những ngày gần đây, thị trường tiền tệ lớn tại khu vực Mỹ Latinh cũng bị biến động mạnh, thị trường chứng khoán (TTCK) tụt dốc, tiền tệ mất giá - tình hình khiến nhiều người lo ngại. Tuy nhiên các chuyên gia kinh tế đánh giá, các nước Mỹ Latinh kiên định với các chính sách kinh tế khiến cho mức ảnh hưởng là không lớn, khả năng xảy ra nguy cơ của khủng hoảng tiền tệ là không cao, nhưng hậu quả từ khủng hoảng tiền tệ là không mấy khả quan, thậm chí còn ảnh hưởng đến cục diện chính trị. Thị trường tiền tệ biến động: Vài tháng gần đây, các TTCK lớn tại khu vực Mỹ Latinh có xu hướng giảm, TTCK Sao Paulo (Brazil), Buenos Aires (Argentina) giảm hơn 30%, giá cổ phiếu tại các TTCK chủ đạo của Mexico và Chi-lê lần lượt giảm 20% vaì 10%. Cùng với TTCK, các mệnh giá tiền tệ của khu vực Mỹ-Latinh cũng giảm so với tỷ giá đồng Đô-la. Tỷ giá các tiền Brazil, Chi-lê, Mexico, và Argentina so với đồng đôla lượt giảm 13,5 %, 6,5%, 4,64%, và 2,63%. Thị trường tiền tệ bất ổn khiến niềm tin của các nhà đầu tư giảm sút. Các loại nguyên liệu như dầu thô, khí đốt thiên nhiên, đồng, các mặt hàng nông phẩm đều chiếm tỷ trọng lớn trong ngành xuất khẩu của Mỹ Latinh, trong hoàn cảnh nền kinh tế thế giới hỗn loạn, nền kinh tế Mỹ lâm vào khủng hoảng, giá dầu giảm mạnh như hiện nay lượng thu về từ xuất khẩu giảm ảnh hưởng không nhỏ đến kinh tế Mỹ Latinh, đồng thời cũng ảnh hưởng đến tỷ giá tiền tệ của khu vực. 1.4 - Phản ứng của Mỹ và các quốc gia 1.4.1 – Phản ứng của chính phủ Mỹ Để ổn định thị trường và ngăn chặn cuộc khủng hoảng có nguy cơ lan rộng hơn nữa, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã ngay lập tức bơm vốn cho thị trường cũng như cam kết luôn trong tư thế sẵn sàng đáp ứng vốn nếu thị trường cần. Điều đáng lo ngại là dù hàng trăm tỷ USD đã được FED bơm vào hệ thống ngân hàng, tín dụng của nước Mỹ song hiệu quả không nhiều, vẫn chưa giải quyết được cơn khát vốn của những ngân hàng, tổ chức tín dụng làm ăn thua lỗ. Tính tới nay (thời điểm đến tháng 3/2008) FED đã bơm 310 tỷ USD cứu trợ khẩn cấp song vẫn còn 91 ngân hàng và tổ chức tài 17 Khủng hoảng tài chính Nhóm 9 chính xếp hàng dài xin vay . Bên cạnh đó, FED cũng đang bàn thảo với Quốc hội về các biện pháp hỗ trợ khác như tái cấp vốn và bảo lãnh các khoản nợ thế chấp thông qua Cơ quan Nhà đất Liên bang. Ngoài ra, nhằm “phá băng” thị trường nhà đất, Chính phủ Mỹ đã đề xuất một kế hoạch hỗ trợ thị trường nhà đất. Cụ thể: những người vay thế chấp nhà có đủ ba điều kiện: Một là, có rủi ro tín dụng có thể chấp nhận được; hai là có những khoản vay phát sinh từ 01/01/2005 đến 31/07/2007; ba là chứng minh được rằng: họ đang sinh sống trong nhà của mình và nếu lãi suất bị điều chỉnh cao hơn họ sẽ không có khả năng chi trả các khoản nợ, thì những người này sẽ được áp dụng mức lãi suất cố định trong kỳ hạn 5 năm . Bộ Tài chính Mỹ và FED cũng đã ban hành các qui định mới với việc khuyến cáo giám sát chặt chẽ hơn các công ty cho vay trong lãnh vực nhà đất, và đề ra các tiêu chuẩn cho vay nghiêm ngặt hơn. Mặc dù Chính phủ Mỹ, FED cũng như các Ngân hàng Trung ương (NHTW) hàng đầu trên thế giới đã có những động thái tích cực. Tuy nhiên, trong bối cảnh giá dầu leo thang (liên tiếp đạt những kỷ lục mới), đồng USD mất giá nghiêm trọng, vẫn còn nhiều lo ngại rằng cơn bão trên thị trường tài chính toàn cầu “chỉ mới bắt đầu” và “các điều kiện sẽ còn xấu hơn nữa” 1.4.2 – Phản ứng của các khu vực, các quốc gia khác Để giải cứu thị trường tài chính, ngăn chặn nguy cơ tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính này, chính phủ các nước trên thế giới đều sử dụng tổng hợp, đồng bộ nhiều biện pháp khác nhau. + Thứ nhất, sửa đổi các quy định hiện hành nhằm bảo vệ quyền lợi người gửi tiền tại các ngân hàng, ngăn chặn nguy cơ rút tiền gửi hàng loạt của người dân tại các tổ chức trung gian tài chính. Một số chính phủ quyết định nâng mức bảo hiểm tiền gửi của người dân và cam kết bảo đảm an toàn, chi trả đầy đủ tiền gửi tiết kiệm của họ tại các ngân hàng và tổ chức tài chính. Chính phủ Australia cam kết bảo đảm an toàn các khoản tiền gửi tại các ngân hàng và tổ chức tín dụng trong vòng 3 năm; đồng thời tuyên bố không giới hạn bảo hiểm tiền gửi và không giới hạn về thời hạn bảo hiểm tiền gửi. Chính phủ Mỹ nâng mức bảo hiểm tiền gửi tối đa từ 100.000 USD lên 250.000 USD. Chính phủ New Zealand cũng có hành động tương tự. Đặc khu hành chính Hồng Kông cũng dỡ bỏ mức giới hạn bảo hiểm tiền gửi hiện nay tương đương 100.000 USD. 18 Khủng hoảng tài chính Nhóm 9 Chính phủ Nhật Bản đã tuyên bố không giới hạn mức bảo hiểm tiền gửi trong vòng 2 năm... + Thứ hai, sử dụng nguồn lực tài chính mạnh mẽ để hỗ trợ thanh khoản, cứu trợ trực tiếp cho các ngân hàng và tổ chức tài chính. Chính phủ các nước trên thế giới đều sử dụng các nguồn lực tài chính trị giá hàng chục tỉ, thậm chí hàng trăm tỉ USD để bơm vào hệ thống ngân hàng, công ty tài chính và thị trường tài chính thông qua các nghiệp vụ cho vay nhằm bảo đảm vấn đề thanh khoản có tính chất khẩn cấp và tức thời; đồng thời tiến hành quốc hữu hóa, mua lại các khoản nợ xấu, mua cổ phần chi phối và nắm quyền điều hành,... Cục Dự trữ liên bang Mỹ ( FED) tăng khoản vay kỳ hạn 28 ngày và 84 ngày lên 150 tỉ USD cho mỗi kỳ hạn, có hiệu lực từ ngày 6-10-2008. Như vậy, với số tiền 300 tỉ USD mới bơm thêm vào thị trường tài chính, nâng tổng số tiền định kỳ rót theo chương trình cho vay khẩn cấp mang tên “Chương trình đấu giá cho vay kỳ hạn” (TAF) của Chính phủ Mỹ sẽ tăng lên 600 tỉ USD. Trong tháng 11-2008, số tiền các ngân hàng Mỹ được vay theo hai kỳ hạn nói trên tiếp tục được duy trì ở mức 150 tỉ USD cho mỗi kỳ hạn. Do đó tổng số tiền cho vay theo chương trình TAF đến cuối năm 2008 có khả năng lên tới 900 tỉ USD. Chính phủ Anh tung ra 50 tỉ bảng Anh, tương đương khoảng 87 tỉ USD để cứu 8 ngân hàng của nước này có nguy cơ bị phá sản. Đây là một phần trong cả gói cứu trợ gồm ba phần với tổng trị giá lên đến xấp xỉ 550 tỉ bảng Anh, tương đương trên 870 tỉ USD để bơm vào hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính Anh theo các kênh khác nhau cũng được công bố trong ngày 8-10-2008. Chính phủ Nga sử dụng khoản tài chính 950 tỉ rúp, tương đương khoảng 36,4 tỉ USD để cho các ngân hàng vay với thời hạn 5 năm; đồng thời, dùng một khoản ngân quỹ khác trị giá 50 tỉ USD để hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng và công ty tài chính của Nga. Với dự trữ ngoại tệ khổng lồ, trị giá tới 563 tỉ USD và nguồn dự trữ dầu mỏ, khí đốt dồi dào, Nga được đánh giá là một trong số các nền kinh tế có thể trụ vững trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Nước Nga cũng dự kiến cho Iceland vay 5,4 tỉ USD để cứu vãn thị trường tài chính của nước này. Chính phủ Đức đã thông qua một gói cứu trợ lên tới 480 tỉ euro, tương đương 653 tỉ USD, trong đó có 108 tỉ USD được dự kiến bơm trực tiếp vào hệ thống ngân hàng và 545 tỉ USD là tiền bảo đảm cho các khoản vay. Chính phủ Pháp đưa ra khoản 19 Khủng hoảng tài chính Nhóm 9 trợ giúp lần lượt là 320 tỉ euro và 40 tỉ euro; Chính phủ Áo: 85 tỉ euro và 15 tỉ euro; Chính phủ Tây Ban Nha: 100 tỉ euro và 50 tỉ euro. Chính phủ Hà Lan đưa ra khoản bảo đảm cho các khoản vay là 200 tỉ euro, tương tự chính phủ Bồ Đào Nha: 20 tỉ euro; Italia: 40 tỉ euro. Tính tổng cộng, chính phủ các quốc gia thuộc khu vực đồng euro và Chính phủ Anh đưa ra khoản trợ giúp lên tới 2.300 tỉ USD. Bên cạnh đó, Chính phủ Thụy Điển cũng đưa ra kế hoạch cứu trợ trị giá 1.500 tỉ Krona, tương đương 200 tỉ USD, nhằm nâng cao tính thanh khoản cho các ngân hàng và tổ chức tài chính trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu. Năm Ngân hàng Trung ương của các nền kinh tế hàng đầu thế giới trong đó có FED, ECB (Ngân hàng Trung ương châu Âu)... phát đi thông điệp “phá băng” thị trường tín dụng và tăng cường bơm vốn cho các ngân hàng. Ngân hàng Trung ương châu Âu, Ngân hàng Quốc gia Thụy Sĩ và Ngân hàng Trung ương Anh (BOE) tuyên bố sẵn sàng cung ứng một lượng vốn không giới hạn cho các tổ chức tài chính. Mười lăm quốc gia trong khu vực đồng euro cùng cam kết các khoản cho vay trên thị trường liên ngân hàng từ nay đến cuối năm 2009, thông qua việc bảo lãnh các khoản nợ của các ngân hàng tại nước mình phát hành với thời hạn tối đa lên tới 5 năm. Chính phủ cam kết sẽ cứu trợ các ngân hàng bằng giải pháp mua cổ phiếu ưu đãi. Tại châu Á, Chính phủ Nhật Bản đã bơm ra 20,7 tỉ USD vào hệ thống ngân hàng nước này để bảo đảm tính thanh khoản của thị trường tài chính và tiếp theo đưa ra kế hoạch 110 tỉ USD để cứu vãn hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính. Chính phủ ấn Độ cũng bơm 12 tỉ USD và Chính phủ Australia bơm khoảng trên 10 tỉ USD vào các ngân hàng đang có vấn đề về thanh khoản. Chính phủ Hàn Quốc cũng dành 100 tỉ USD để cứu trợ các ngân hàng và thị trường tài chính. Ngày 20-10-2008, chính quyền vùng lãnh thổ Đài Loan đã tiến hành quốc hữu hóa một tập đoàn ngân hàng đứng vào các ngân hàng lớn nhất của nước này. Một quỹ cứu trợ trị giá 350 tỉ USD cũng đã được đề xuất đối với châu á, nhằm bảo vệ hệ thống tài chính thoát khỏi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, tương đương khoảng 10% dự trữ ngoại tệ của các quốc gia trong khu vực châu á. Số tiền này do các nước trong khối ASEAN và Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc cùng đóng góp. Tại Trung Quốc, ngày 6-11-2008, Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc (ABC) cũng đã nhận được 19 tỉ USD tiền mặt cứu trợ của Chính phủ. Theo đó, thỏa thuận cứu vãn này được ABC ký kết với Tập đoàn đầu tư quốc gia Trung Quốc (CIC). Tập đoàn 20
- Xem thêm -