Hoàn thiện công tác tổ chức quản lý tiền lương tại công ty may thăng long

  • Số trang: 59 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 11 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

Luận văn Hoàn thiện công tác tổ chức quản lý tiền lương tại Công ty may Thăng Long 1 LỜI NÓI ĐẦU * LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Trong nền sản xuất xã hội của bất kỳ một quốc gia nào, tiền lương luôn luôn là một vấn đề “ Cần bàn cần nói”. Nó hàm chứa trong đó nhiều muối quan hệ giữa sản xuất – phân phối, trao đổi, giữa tích luỹ – tiêu dùng, giữa thu nhập – nâng cao của các thành phần dân cư. Vào những thập niên 90, khi nền kinh tế nước ta chuyển từ kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, các doanh nghiệp phải tự chủ trong sản xuất kinh doanh. Tự hoạch toán chi phí mà trong khi đó tiền lương cũng là một khoản chi phí phải tính vào giá thành sản phẩm, do đó tiền lương càng trở thành vấn đề quan trọng trong các doanh nghiệp hiện nay. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, tổ chức lao động tiền lương là nội dung quan trọng trong công tác quản trị kinh doanh của doanh nghiệp, nó là một trong những nhân tố rất quan trọng quyết định sự sống còn của doanh nghiệp bởi con người luôn luôn là nhân tố trung tâm của sản xuất, dù máy móc có hiện đại đến đâu thì vẫn phải cần sự trợ giúp của con người lao động. Tổ chức tốt công tác tiền lương giúp cho việc quản lý lao động của doanh nghiệp ngày càng hoàn thiện hơn, thúc đẩy người lao động hăng say làm việc hơn và chấp hành tốt kỳ luật lao động nhằm tăng năng xuất và hiệu quả công việc, đồng thời cũng tạo cơ sở tính lương đúng với nguyên tắc phân phối theo lao động: Trả lương ngang nhau cho những lao động như nhau, đảm bảo tăng năng xuất lao động nhanh hơn tăng tiền lương bình quân và muối quan hệ hợp lý về tiền lương giữa những người làm các ngành nghề khác nhau. Nếu tổ chức tốt công tác tiền lương, quản lý tốt quỹ lương và đảm bảo trả lương, trợ cấp, BHXH theo đúng quy định chính sách sẽ tạo cơ sở cho việc phân bổ chi phí nhân công vào giá thành được chính xác, đặc biết đối với doanh nghiệp có quy mô và số lượng cán bộ công nhân viên lớn. Công ty may Thăng Long là một doanh nghiệp Nhà nước thuộc Bộ Thương Mại. Hoạt động chính Công ty 2 là sản xuất những mặt hàng may mặc phục vụ cho người tiêu dùng trong và ngoài nước. Tiến hành kinh doanh và nhập khẩu trực tiếp, gia công các sản phẩm may mặc có chất lượng cao theo đơn đặt hàng của khách hàng. Do đó yêu cầu đặt ra đối Công ty là xây dựng được một nền tảng vững chắc trong đó công tác tổ chức quản lý tiền lương cũng không nhằm ngoại lệ để đảm bảo tốt cho hoạt động sản xuất kinh doanh và tạo cho Công ty chỗ đứng vững chắc trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh nóng bỏng hiện nay. Thông qua việc nghiên cứu, thực tập tình hình thực tế tại Công ty may Thăng Long, bằng những kiến thức đã được trang bị trong quá trình học tập tại trường em đã chọn chuyên đề tốt nghiệp về vấn đề: “Hoàn thiện công tác tổ chức quản lý tiền lương tại Công ty may Thăng Long” * MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Sau một thời gian thực tập tại Phòng Hành chính tổng hợp thuộc Công ty may Thăng Long bằng những kiến thức tổng hợp cơ sở lý luận kết hợp với tìm hiểu, phân tích công tác tổ chức tiền lương tại Công ty. Trên cơ sở đó nhằm chỉ ra những ưu điểm, nhược điểm còn tồn tại và nguyên nhân gây ra để đề ra những biện pháp hoàn thiện hơn việc sử dụng hình thức trả lương linh hoạt cho người lao động. * PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Trong quá trình thực tập tại Công ty may Thăng Long em đã tìm hiểu lần lượt từ qúa trình hình thành và phát triển của Công ty và công tác tổ chức quản lý tiền lương cùng với các hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty dưới các phương pháp như: - Phương pháp tiếp cận hệ thống - Phương pháp logic - Phương pháp tiếp cận thực tiễn các vấn đề lý luận 3 - Phương pháp thống kê - Phương pháp lịch sử - Tham khảo ý kiến của các bộ công nhân viên làm việc trực tiếp trong Phòng Tổ Chức … Cùng với hệ thống lý thuyết đã được học ở trường để từ đó tiếp cận hiểu được công tác tổ chức quản lý tiền lương tại Công ty. Cuối cùng để đưa ra các biện pháp hoàn thiện hơn nữa công tác tổ chức quản lý tiền lương góp phần đưa Công ty ngày càng phát triển lớn mạnh không ngừng. * Để phù hợp với mục đích nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu, em chia kết cấu bài chuyên đề thực tập này thành 3 phần chính sau: Phần một: Cơ sở lý luận chung về tiền lương Phần hai: Công tác tổ chức quản lý tiền lương tại Công ty may Thăng Long Phần ba: Một số kiến nghị về chế độ tiền lương hiện nay của Công ty 4 PHẦN MỘT CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TIỀN LƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TIỀN LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP Tiền lương được hiểu là số tiền mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động trả cho tương ứng với số lượng và chất lượng lao động mà họ đã tiêu hao trong quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Như vậy tiền lương được biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá sức lao động. 1. Bản chất của tiền lương Để tiến hành quá trình sản xuất kinh doanh, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng cần phải có các yếu tố cơ bản như: Lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động. Trong đó lao động luôn luôn là yếu tố chính và có tính chất quyết định nhất. Lao động không có giá trị riêng biệt mà lao động là hoạt động tạo ra giá trị. Trong cơ chế thị trường và sự hoạt động của thị trường sức lao động, cái mà người ta mua bán không phải là lao động mà là sức lao động. Khi sức lao động trở thành hàng hoá thì giá trị của nó được đo bằng lao động kết tinh trong sản phẩm sản xuất ra. Khi người lao động bán sức lao động và nhận được giá trị của sức lao động dưới hình thái tiền lương. Do vậy Tiền lương chính là giá cả của sức lao động. Theo quan điểm trên thì tiền lương chính là số lượng tiền tệ mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để hoàn thành công việc theo chức năng, nhiệm vụ. Mặt khác do tính chất đặc biệt của hàng hoá sức lao động mà tiền lương còn là vấn đề Xã hội rất quan trọng, liên quan đến đời sống trật tự Xã hội. Đồng thời chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế trong đó có quy luật cung cầu, quy luật giá trị… 5 Trong điều kiện của một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần như nước ta hiện nay, phạm trù tiền lương được thể hiện cụ thể trong từng thành phần và khu vực kinh tế. Trong thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, cũng như các loại giá cả hàng hoá khác trên thị trường, tiền lương và tiền công của người lao động ở khu vực sản xuất kinh doanh này dù vẫn nằm trong khuôn khổ pháp luật và theo nhữn chính sách của Chính Phủ nhưng chỉ mờ nhạt mà tiền lương bị chịu sự tác động, chi phối rất lớn của thị trường và thị trường lao động. Nguồn tiền lương và thu nhập của người lao động bắt nguồn từ kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh và do hai bên thoả thuận. Sự quản lý vĩ mô của Nhà nước về lĩnh vực này là bắt buộc các doanh nghiệp phải đảm bảo cho người lao động có mức thu nhập thấp nhất phải lớn hơn hoặc bằng mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định. Trong thành phần kinh tế Nhà nước và khu vực hành chính sự nghiệp, tiền lương là số tiền là số tiền mà các cơ quan trả cho người lao động theo cơ chế chính sách của Nhà nước và được thể hiện trong hệ thống thang bảng lương được Nhà nước quy định. Trong các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, sức lao động là yếu tố mang tính quyết định. Do đó có thể nói tiền lương là phạm trù của sản xuất, yêu cầu phải tính đúng, tính đủ trước khi trả hoặc cấp phát cho người lao động. Cũng chính vì sức lao động là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất cần phải được bù đắp sau khi đã hao phí, nên tiền lương cũng phải được thông qua quá trình phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân dựa trên hao phí, hiệu quả lao động. Và ở đây tiền lương lại thể hiện là một phạm trù phân phối. Sức lao động là hàng hoá cũng như các loại hàng hoá khác nên tiền lương cũng là phạm trù trao đổi. Nó đòi hỏi phải ngang giá với giá cả của các tư liệu tiêu dùng, sinh hoạt cần thiết nhằm tái sản xuất sức lao động… Khi ta nhắc đến tiền lương ta cần phải phân biệt giữa tiền lương và thu nhập từ hoạt động lao động sản xuất kinh doanh của người lao động. Thu 6 nhập bao gồm: Tiền lương (lương cơ bản), phụ cấp, tiền thưởng và phúc lợi xã hội. Mặt khác ta cần phải phân biệt giữa tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế giữa chúng có mối quan hệ qua lại với nhau. Trong thực tế tiền lương thực tế không chỉ phụ thuộc vào tiền lương danh nghĩa mà còn phụ thuộc vào giá cả của các loại hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ cần thiết. * Như vậy tiền lương là một phạm trù kinh tế gắn liền lao động, tiền tệ và nền sản xuất hàng hoá. Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá sức lao động mà người lao động sử dụng để bù đắp hao phí lao động đã bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh. Mặt khác, về hình thức, trong điều kiện tồn tại của nền sản xuất hàng hoá và tiền tệ thì tiền lương là một bộ phận cấu thành nên giá trị sản phẩm do lao động tạo ra. Tuỳ theo lĩnh vực quản lý mà tiền lương có thể được xác định là một bộ phận của chi phí sản xuất cấu thành nên giá thành sản phẩm hay là một bộ phận của thu nhập. 2. Chức năng của tiền lương Trong quá trình hoạt động sản xuất, tiền lương là một nhân tố hết sức quan trọng của quá trình quản lý công tác sản xuất. Có thể kể ra một số chức năng cơ bản của tiền lương như sau: a. Đối với người lao động - Duy trì đời sống: Tiền lương là thu nhập từ quá trình lao động của họ, phần thu nhập chủ yếu đối với đại đa số người lao động trong xã hội nó có ảnh hưởng trực tiếp đến mức sống của họ. - Kích thích lao động (tạo động lực), gắn trách nhiệm của người lao động vào sản phẩm: Chức năng này nhằm duy trì năng lực làm việc lâu dài có hiệu quả, dựa trên cơ sở tiền lương phải đảm bảo bù đắp sức lao động đã hao phí để khuyến khích tăng năng suất. Về mặt nguyên tắc, tiền lương phải đảm bảo lợi ích kinh tế cho người lao động, tạo niềm hứng khởi trong công việc, phát huy tinh thần sáng tạo tự học hỏi để nâng cao trình độ nghiệp vụ, chuyên 7 môn để từ đó giúp họ làm việc với hiệu quả cao nhất và mức lương nhận được thoả đáng nhất. - Tích luỹ: Với mức tiền lương nhận được, người lao động không những duy trì cuộc sống hàng ngày mà còn để dự phòng cho cuộc sống sau này khi họ đã hết khả năng lao động hoặc gặp rủi ro bất ngờ. - Phân phối lại thu nhập trong Xã hội, giảm bớt sự đói nghèo. b. Đối với các doanh nghiệp - Đối với các doanh nghiệp, tiền lương là một phần chi phí cấu thành chi phí sản xuất – kinh doanh vì vậy tiền lương luôn được tính toán và quản lý chặt chẽ. - Giám sát lao động: Giúp nhà quản trị tiến hành kiểm tra, theo dõi, giám sát người lao động làm việc theo kế hoạch của mình nhằm đạt được những mục tiêu mong đợi, đảm bảo tiền lương chi ra phải đạt hiệu quả cao. Hiệu quả của việc chi trả lương không chỉ tính theo tháng, quý mà còn được tính theo từng ngày, từng giờ trong toàn doanh nghiệp hoặc ở các bộ phận khác nhau. - Điều hoà lao động: Đảm bảo vai trò điều phối lao động hợp lý, theo nguyên tắc người lao động giỏi sẽ hưởng lương cao và ngược lại. ở đây người sử dụng lao động sẽ dùng mức lương để điều phối lao động. - Là cơ sở, nền tảng tính toán cho các chiến lược phát triển sau này của doanh nghiệp. c. Những nguyên tắc cơ bản của tổ chứuc tiền lương Để xây dựng được một cơ chế trả lương, quản lý tiền lương và chính sách thu nhập thích hợp trong cơ chế thị trường hiện nay thì ta cần đảm bảo những nguyên tắc sau: - Trả lương ngang nhau cho những lao động như nhau. Đây là một nguyên tắc rất quan trọng vì nó đảm bảo được sự công bằng, đảm sự bình đẳng trong trả lương. Nó được dùng như là một thước đo 8 đánh giá, so sánh và thực hiện trả lương. Điều này sẽ có tác dụng khuyến khích rất lớn đối với người lao động - Đảm bảo tăng năng suất lao động tăng nhanh hơn tiền lương bình quân. Năng xuất lao động không ngừng tăng lên đó là một quy luật. Đồng thời tiền lương của người lao động tăng lên không ngừng. Giữa tăng năng suất lao động và tăng tiền lương có liên quan chặt chẽ với nhau qua công thức sau: Z = Itlbq -1 Iw Theo công thức trên khi tiền lương bình quân tăng thì dẫn đến chi phí tăng, tăng năng xuất lao động lại giảm chi phí. Khi năng xuất lao động tăng nhanh hơn tiền lương bình quân thì chi phí cũng không tăng và ngược lại. - Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương giữa những người lao động làm các nghề khác nhau trong nền kinh tế quốc dân. Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương giữa những người lao động làm việc trong các ngành nghề khác nhau nhằm tạo sự công bằng, bình đẳng trong sự trả lương cho người lao động. Nguyên tắc này dựa trên: Trình độ lành nghề bình quân của người lao động ở mỗi ngành, điều kiện lao động, ý nghĩa kinh tế của ngành trong nền kinh tế quốc dân và sự phân bố trong khu vực sản xuất. 3. Quỹ tiền lương, các hình thức trả lương và các loại tiền thưởng: 3.1 Quỹ tiền lương trong doanh nghiệp. Căn cứ vào kết quả thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, đơn giá do cơ quan có thẩm quyền theo phân cấp quản lý thẩm định. Các doanh nghiệp xác định nguồn quỹ lương tương ứng để trả cho người lao động. Nguồn này bao gồm: - Quỹ tiền lương theo đơn giá tiền lương được giao - Quỹ tiền lương bổ xung theo chế độ quy định của Nhà nước. 9 - Quỹ các khoản phụ cấp lương và các khảon trợ cấp khác nếu có. - Quỹ tiền lương từ các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ khác ngoài đơn giá tiền lương được giao. - Quỹ tiền lương dự phòng từ năm trước chuyển sang.  Là tổng quỹ tiền lương. Như vậy cán bộ công nhân viên sẽ được nhận tiền lương phụ cấp từ quỹ tiền lương của doanh nghiệp. Trong doanh nghiệp việc quản lý quỹ lương đòi hỏi phải hết sức chặt chẽ, hợp lý, hiệu quả và việc cấp phát lương phải đảm bảo nguyên tắc phân phối theo lao động, tốc độ tăng xuất lao động phải nhanh hơn tốc độ tăng tiền lương bình quân... nhằm tăng năng suất lao động và hạ giá thành sản phẩm. Quản lý và kiểm tra việc thực hiện quỹ lương ở các doanh nghiệp phải do cơ quan chủ quản của doanh nghiệp tiến hành trên cơ sở đối chiếu, so sánh thường xuyên quỹ lương thực hiện với quỹ lương kế hoạch của doanh nghiệp, kiểm soát việc chi trả quỹ lương trong mối quan hệ với việc thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Mặt khác, thực hiện việc quản lý tiền lương là xác định mối quan hệ giữa người sử dụng lao động với người lao động và Nhà nước. Việc xác định giá trị hao phí sức lao động cho một đơn vị sản phẩm, cho 1 đơn vị doanh thu hay lợi nhuận là hết sức quan trọng và cần thiết. Đó là chi phí được tính trong giá thành, là công cụ để Nhà nước quản lý tiền lương và thu nhập trong các doanh nghiệp. Cụ thể, Nhà nước quyết định đơn giá tiền lương của các sản phẩm trọng yếu, đặc thù, các sản phẩm còn lại thì doanh nghiệp tự tính giá tiền lương theo hướng dẫn chung (Thông tư số 05/TT-BLĐTBXH ban hành ngày 29/01/2001). Doanh nghiệp sẽ tự quyết định đơn giá tiền lương nhưng phải đăng ký với cơ quan chủ quản. Việc xác định đơn giá tiền lương có thể dựa trên các chỉ tiêu sau: - Tổng sản phẩm (kể cả sản phẩm quy đổi) bằng hiện vật. - Tổng doanh thu. - Tổng thu trừ tổng chi trong tổng chi khôngcó lương 10 - Lợi nhuận. Doanh nghiệp sẽ xác định đơn giá tiền lương căn cứ vào tính chất, đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh, cơ cấu tổ chức và chỉ tiêu kinh tế gắn với việc trả lương có hiệu quả của doanh nghiệp. Sử dụng tổng quỹ tiền lương: Để đảm bảo quỹ tiền lương không vượt chi so với quỹ tiền lương được hưởng, dồn chi quỹ tiền lương vào các tháng cuối năm hoặc để dự phòng quỹ tiền lương quá lớn cho năm sau, có thể quy định phân chia tổng quỹ tiền lương theo các quỹ sau: - Quỹ tiền lương trả trực tiếp cho người lao động theo lương khoán, lương sản phẩm, lương thời gian: ít nhất bằng 76% tổng quỹ lương. - Quỹ khen thưởng từ quỹ lương đối với người lao động có năng suất chất lượng cao, có thành tích tốt trong công tác tối đa không quá 10% tổng quỹ tiền lương. - Quỹ khuyến khích người lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, tay nghề giỏi: tối đa không quá 2% tổng quỹ tiền lương. - Quỹ dự phòng cho các năm sau: tối đa không vượt quá 12% tổng quỹ lương 3.2 Các hình thức trả lương. Hiện nay trong các doanh nghiệp sản xuất và hành chính sự nghiệp người ta thường áp dụng hai hình thức trả lương chủ yếu sau:  Trả lương theo thời gian. Hình thức tiền lương theo thời gian là hình thức tiền lương mà số tiền trả cho người lao động căn cứ vào thời gian làm việc và tiền lương của một đơn vị thời gian ( giờ hoặc ngày). Như vậy tiền lương theo thời gian phụ thuộc vào 2 yếu tố: - Mức tiền lương trong một đợn vị sản phẩm. - Thời gian đã làm việc. Tiền lương trả theo thời gian chủ yếu áp dụng đối với những người làm công tác quản lý, còn đối với công nhân sản xuất chỉ nên áp dụng ở những bộ 11 phận không thể tiến hành định mức một cách chặt chẽ và chính xác hoặc vì tính chất hạn chế do việc trả công theo sản phẩm sẽ không đảm bảo được chất lượng sản phẩm, không đem lại hiệu quả thiết thực. Tuỳ theo yêu cầu và đặc thù sản xuất việc tính và trả lương theo thời gian có thể thực hiện theo hai cách: a. Trả lương theo thời gian giản đơn: ( giờ, ngày, tháng...) Chế độ trả lương theo thời gian giản đơn là chế độ trả lương mà tiền lương nhận được của mỗi người công nhân do mức lương cấp bậc cao hay thấp và thời gian làm việc thực tế ít hay nhiều quyết định. Tiền lương trả cho người lao động được tính theo công thức: L = LCB x T Trong đó: L: Lương nhận được. LCB: Lương cấp bậc. T: Thời gian làm việc thực tế. Chế độ trả lương này chỉ áp dụng ở những nơi khó định mức lao động, khó đánh giá công việc một cách chính xác. Có 3 loại tiền lương theo thời gian đơn giản: - Lương giờ: Tính theo mức lương cấp bậc và số giờ làm việc. - Lương ngày: Tính theo mức lương cấp bậc và số ngày làm việc thực tế. - Lương tháng: Tính theo mức lương cấp bậc tháng. + Ưu điểm của hình thức này là: Đơn giản, dễ tính toán. Hơn nữa người công nhân có thể tự tính được tiền công mà mình được lĩnh. + Nhược điểm là: Bên cạnh những ưu điểm, hình thức trả lương này còn mang tính chất bình quân nên không khuyến khích việc sử dụng hợp lý 12 thời gian làm việc, tiết kiệm nguyên vật liệu, không tập trung công suất của máy móc thiết bị để tăng năng suất lao động. b.Trả lương theo thời gian có thưởng: Theo hình thức này thì tiền lương người lao động nhận được gồm tiền lương thời gian giản đơn và một khoản tiền thưởng khi đạt được những chỉ tiêu về số lượng hoặc chất lượng đã quy định như: nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, tiết kiệm vật tư hoặc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao... Hình thức này chủ yếu áp dụng đối vói công nhân phụ, làm việc phục vụ như công nhân sửa chữa, điều chỉnh thiết bị... Ngoài ra còn áp dụng cho công nhân chính làm việc ở những khâu sản xuất có trình độ cơ khí hoá cao, tự động hoá hoặc những công việc tuyệt đối phải đảm bảo chất lượng. Chế độ trả lương này phản ánh trình độ thành tích công tác thông qua các chỉ tiêu xét thưởng đã đạt được. Do vậy nó khuyến khích người lao động quan tâm đến trách nhiệm và kết quả công tác của mình. Do đó cùng với ảnh hưởng của tiến bộ khoa học kỹ thuật chế độ tiền lương này ngày càng được mở rộng hơn.  Trả lương theo sản phẩm. Do có sự khác nhau về đặc điểm sản xuất kinh doanh, công đoạn chế biến nên các doanh nghiệp đã áp dụng rộng rãi các hình thức tiền lương theo sản phẩm với nhiều chế độ linh hoạt. Đây là hình thức tiền lương mà số tiền người lao động nhận được căn cứ vào đơn giá tiền lương, số lượng, chất lượng sản phẩm hoàn thành và được tính theo công thức: n Lsp =  ( Qi x Đgi) i 1 Trong đó: Lsp: Lương theo sản phẩm. Qi: Khối lượng sản phẩm i sản xuất ra. Đgi: Đơn giá tiền lương một sản phẩm loại i. 13 i: Số loại sản phẩm i. + Ưu điểm: Tiền lương tính theo sản phẩm căn cứ trực tiếp vào kết quả lao động sản xuất của mỗi người. Nếu họ làm được nhiều sản phẩm hoặc sản phẩm làm ra có chất lượng cao thì sẽ được trả lương cao hơn và ngược lại. Chính vì vậy nó có tác dụng khuyến khích người lao động quan tâm đến kết quả lao động sản xuất của mình, tích cực cố gắng hơn trong quá trình sản xuất, tận dụng tối đa khả năng làm việc, nâng cao năng suất và chất lượng lao động. Hơn nữa trả lương theo sản phẩm còn có tác dụng khuyến khích người lao động học tập nâng cao trình độ văn hoá kỹ thuật, tích cực sáng tạo và áp dụng khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất. Điều này tạo điều kiện cho họ tiến hành lao động sản xuất với mức độ nhanh hơn, sản xuất ra nhiều sản phẩm với chất lượng cao hơn. + Nhược điểm: Trả lương theo sản phẩm đòi hỏi phải có sự chuẩn bị nhất định như: Định mức lao động, xây dựng đơn giá tiền lương cho một sản phẩm, thống kê, nghiệm thu sản phẩm, đảm bảo ttỏ chức và phục vụ tốt nơi làm việc ... Căn cứ vào đơn giá sản phẩm và đối tượng trả công, hình thức trả lương theo sản phẩm có các loại sau: Loại 1: Trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân: Chế độ trả lương này được áp dụng rộng rãi với người trực tiếp sản xuất trong điều kiện quá trình sản xuất của họ mang tính độc lập tương đối, công việc có định mức thời gian, có thể thống kê, kiểm tra nghiệm thu sản phẩm một cách cụ thể và riêng biệt. Đơn giá tiền lương có tính chất cố định được tính theo công thức: Đg = L x T Hoặc Đg = 14 L Q Trong đó: Đ g: Đơn giá sản phẩm L: Lương theo cấp bậc công việc hoặc mức lương giờ T: Mức thời gian hoàn thành một đơn vị sản phẩm Q: Mức sản lượng của người lao động trong kỳ Khi đó tiền công của công nhân được tính theo công thức: Lcn =Đg x Q1 Trong đó: Lcn: Tiền lương của công nhân Q1 : Khối lượng sản phẩm thực tế hoàn thành + Ưu điểm nổi bật của chế độ này là: Kết hợp được mối quan hệ giữa tiền công và kết quả lao động của họ được thể hiện rõ ràng làm cho quyền lợi và trách nhiệm của người lao động gắn chặt với nhau do đó kích thích công nhân cố gắng nâng cao trình độ chuyên môn, nâng cao năng suất lao động. Đồng thời hình thức này cũng dễ hiểu nên công nhân có thể tính được số tiền nhận được khi hoàn thành nhiệm vụ sản xuất. + Nhược điểm: Tuy nhiên chế độ lương này còn làm cho người lao động dễ chạy theo số lượng mà coi nhẹ chất lượng sản phẩm, ít quan tâm đến việc sử dụng tốt máy móc thiết bị và nguyên vật liệu, ít quan tâm chăm lo đến công việc của tập thể. Loại 2: Trả lương theo sản phẩm tập thể: Chế độ trả lương này áp dụng để trả cho một nhóm lao động thường áp dụng đối với những công việc đòi hỏi tập thể công nhân cùng thực hiện, có định mức thời gian dài, khó xác định kết quả của từng cá nhân. Công thức tính đơn giá tiền lương như sau: Đg = Lcb 15 Q Nếu tổ hoàn thành một sản phẩm trong kỳ Đg = Lcb x T Trong đó: Đ g: Đơn giá tính theo sản phẩm tập thể Lcb: Tổng tiền lương theo cấp bâc công công nhân Q: Mức sản lượng của cả tổ T: Mức thời gian của cả tổ Tiền công của cả tổ, nhóm công nhân tính theo công thức: LNCN = ĐG x Q Trong đó: LNCN : tiền lương của nhóm công nhân ĐG: đơn giá tính theo sản phẩm Q: khối lượng sản phẩm sản xuất được Sau khi xác định được tiền lương cả đơn vị thì tiến hành chia lương cho từng công nhân. Tuỳ theo tính chất công việc mà doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong hai phương pháp chia lương sau: * Chia lương theo giờ – hệ số: Tiến hành qua 3 bước: - Quy đổi giờ thực tế làm việc của từng công ở từng bậc khác nhau ra số giờ làm việc của công nhân bậc nhân bậc 1. Tổng số giờ hệ số được tính bằng cách lấy giờ làm việc của công nhân nhân với hệ số cấp bậc của người đó sau đó tổng hợp cho cả tổ. - Tính tiền lương 1 giờ theo hệ số bằng cách lấy tiền lương cả tổ chia cho tổng số giờ hệ số của cả tổ đã tính đổi. - Tính tiền lương cho từng công nhân bằng cách lấy tiền lương thực tế của một giờ nhân với số giờ làm việc. * Chia lương theo hệ số điều chỉnh: Làm 3 bước: - Xác định hệ số điều chỉnh cho cả tổ bằng cách lấy tổng tiền lương thực lĩnh chia cho số tiền lương thực tế nhận được. 16 - Tính tiền lương cho từng người căn cứ vào hệ số điều chỉnh và tiền lương đã cấp bậc của mỗi người. + Ưu điểm: Hình thức này khuyến khích công nhân trong tổ, nhóm nâng cao trách nhiệm trước tập thể, quan tâm đến kết quả của tổ, đồng thời quan tâm đến nhau hơn để giúp nhau cùng hoàn thành công việc, khuyến khích các tổ lao động làm việc theo mô hình tổ chức lao động theo tổ tự quản. + Nhược điểm: Sản lượng của mỗi công nhân không trực tiếp quyết định tiền công của họ nên ít kích thích công nhân nâng cao năng suất cá nhân. Loại 3: Trả lương theo sản phẩm gián tiếp. Thực chất của hình thức này là dựa vào công nhân chính để tính lương cho công nhân phụ. Hình thức này được áp dụng trong trường hợp công việc của công nhân chính và công nhân phụ gắn liền với nhau nên không trực tiếp tính được lương sản phẩm cho các cán bộ và công nhân khác. Căn cứ vào định mức sản lượng và mức độ hoàn thành định mức của công nhân chính để tính đơn giá sản phẩm gián tiếp và tiền lương sản phẩm gián tiếp của công nhân phụ. Tiền lương theo sản phẩm gián tiếp dược tính theo hai bước: Bước 1: Tính đơn giá: Đ g= L xQ M Trong đó: Đg: Đơn giá tính theo sản phẩm gián tiếp. L: Lương cấp bậc tháng công nhân phụ, phục vụ. M: Mức phục vụ của công nhân phụ-phụ trợ. Q: Sản lượng của một công nhân chính. Bước 2: Tính lương sản phẩm gián tiếp: 17 L1 = Đgx Q TH Trong đó: L1: Tiền lương thực tế của công nhân phụ. Đg: Đơn giá tiền lương phục vụ. Q TH: Sản lượng thực hiện trong tháng của công nhân chính. Ngoài ra: Tiền lương thực tế của công nhân phục vụ còn được tính theo công thức: L= Đg x L x In M Trong đó: In: Là chỉ số hoàn thành năng xuất lao động của công nhân chính + Ưu điểm cơ bản của hình thức này: Là làm cho mọi cán bộ công nhân viên đều quan tâm đến vấn đề nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, có tác dụng làm cho người lao động phát huy sáng kiến và tích cực cải tiến lao động để tối ưu hoá quá trình làm việc. Đồng thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp đạt được hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh. + Nhược điểm: Việc xác định đơn giá giao khoán phức tạp, nhiều khi khó chính xác, nhiều khi dẫn đến bi quan cho người lao động … Loại 4: Tiền lương theo sản phẩm luỹ tiến. Chế độ trả lương này áp dụng ở những khâu trọng yếu của sản xuất hoặc khi sản xuất đang khẩn trương mà xét thấy việc giải quyết những tồn tại ở khâu này có tác dụng thúc đẩy sản xuất ở những khâu khác có liên quan, góp phần hoàn thành vượt mức kế hoạch của doanh nghiệp. Công thức tính: Llt = Đg Q I + Đg x k( Q 1 – Q 0) Trong đó: Llt: Tổng tiền lương trả theo sản phẩm luỹ tiến. 18 Đ g: Đơn giá cố địng tính theo sản phẩm. Q 1: Sản lượng sản phẩm thựuc tế hoàn thành. Q 0: Sản lượng đạt được mức khởi điểm. k: Tỷ lệ tăng thêm để có được đơn giá luỹ tiến. + Ưu điểm của hình thức tiền lương này: Là khuyến khích công nhân tăng nhanh số lượng sản phẩm, làm cho tốc độ tăng năng suất lao động nên phạm vi áp dụng chỉ đối với khâu chủ yếu của dây chuyền hoặc vào những thời điểm nhu cầu thị trường về loại sản phẩm đó rất lớn hoặc vào thời điểm có nguy cơ không hoàn thành hợp đồng kinh tế. + Nhược điểm: Áp dụng chế độ này rễ làm cho tốc độ tăng tiền lương lớn hơn tốc độ tăng năng xuất lao động của những khâu áp dụng trả lương luỹ tiến.  Trong doanh nghiệp để hình thức tiền lương này có hiệu quả cần chú ý: - Thời gian trả lương không lên quy định quá gắn để tránh tình trạng không hoàn thành mức lao động hàng tháng mà lại được hưởng lương cao do có lương luỹ tiến. - Đơn giá nâng cao nhiều hay ít phải căn cứ mức độ quan trọng của bộ phận sản xuất đó quyết định, không lên áp dụng một cách rộng rãi tràn lan. Loại 5: Trả lương khoán. Hình thức này được áp dụng trong trường hợp không định mức được chi tiết cho từng công việc hoặc định mức được nhưng không chính xác hoặc những công việc nếu giao từng chi tiết, từng bộ phận sẽ không có lợi mà phải giao toàn bộ khối lượng công việc cho công nhân hoàn thành trong một thời gian nhất định. Công thức tính: LI = Đgk x Q I Trong đó: LI: Tiền lương thựuc tế công nhân nhận được. 19 Đ gk: Đơn giá khoán cho một sản phẩm hay công việc. Q I: Số lượng sản phẩm được hoàn thành. + Hình thức này có ưu điểm: Khuyến khích công nhân hoàn thành nhiệm vụ trước thời hạn, đảm bảo chất lượng công việc thông qua hợp đồng giao khoán. + Nhược điểm: Tuy nhiên với hình thức lương này thì khi tính toán đơn giá phải hết sức chặt chẽ, tỉ mỉ để xây dựng đơn giá tiền lương chính xác cho công nhân nhận khoán. Loại sáu: Chế độ trả lương sản phẩm có thưưỏng. Chế độ trả lương sản phẩm có thưởng thực chất tiền lương bao gồm: Một phần trả theo đơn giá cố định và lượng sản phẩm thực tế đã hoàn thành và một phần tiền thưởng dựa vào số sản phẩm hoàn thành vượt mức. Công thức tính: Lth = L + L(m.h) 100 Trong đó: Lth: Tiền lương sản phẩm có thưởng. L: Tiền lương trả theo đơn giá cố định. m: Tỷ lệ % tiền thưởng. h: Tỷ lệ % hoàn thành vựơt mức sản lưọng được tính thưởng. + Ưu điểm: Khuyến khích công nhân tích cực làm việc hoàn thành vượt mức sản lượng… + Nhược điểm: Việc xác định phân tích các chỉ tiêu tính thưởng không chính xác có thể làm tăng chi phí tiền lương, bội chi quỹ lương…  Ngoài những hình thức tiền lương chủ yếu nói trên theo Nghị định 317/ C T – HĐBT ngày 01/09/1990 các doanh nghiệp có thể áp dụng hình thức trả lương theo định mức biên chế (khoán quỹ lương). Doanh nghiệp áp dụng định mức biên chế thì quỹ lương chế độ bằng tổng lao động định mức 20
- Xem thêm -