Hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại cty cp vận tải và dv petrolimex hải phòng

  • Số trang: 91 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 9 |
  • Lượt tải: 0
hoangtuavartar

Đã đăng 24677 tài liệu

Mô tả:

1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO, quá trình sàng lọc và cạnh tranh lẫn nhau giữa các doanh nghiệp là tất yếu xảy ra. Để thắng trong cạnh tranh, doanh nghiệp phải hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả. Muốn vậy, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp phải đưa ra được các quyết định tối ưu trên cơ sở các thông tin tài chính được phân tích đầy đủ và kịp thời. Nhận thức rõ tầm quan trọng đó, Công ty cổ phần vận tải và dịch vụ Petrolimex Hải Phòng luôn quan tâm tới công tác phân tích tài chính. Nhờ đó, công ty đã đạt được những kết quả nhất định trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, những vướng mắc về nội dung công tác phân tích đang làm hạn chế hiệu quả phân tích tài chính, dẫn đến những đánh giá thiếu chuẩn xác và kịp thời về tình hình tài chính của công ty. Trong bối cảnh đó, hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty cổ phần vận tải và dịch vụ Petrolimex Hải Phòng là một yêu cầu bức thiết. Đề tài “Hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty cổ phần vận tải và dịch vụ Petrolimex Hải Phòng” được lựa chọn nghiên cứu nhằm góp phần đáp ứng đòi hỏi trên của thực tiễn. 2. Mục đích nghiên cứu: - Hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về nội dung công tác phân tích tài chính doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. - Đánh giá thực trạng công tác phân tích tài chính tại công ty cổ phần vận tải và dịch vụ Petrolimex Hải Phòng và phân tích nguyên nhân gây nên hạn chế trong công tác phân tích tài chính của công ty cổ phần vận tải và dịch vụ Petrolimex Hải Phòng. - Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại công ty cổ phần vận tải và dịch vụ Petrolimex Hải Phòng. 2 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu: Những nội dung cơ bản về công tác phân tích tài chính của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Phạm vi nghiên cứu: Công tác phân tích tài chính trên giác độ của nhà quản lý và các chủ sở hữu tại công ty cổ phần vận tải và dịch vụ Petrolimex Hải Phòng. 4. Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình thực hiện luận văn, những phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng là: - Phương pháp duy vật lịch sử, biện chứng, thống kê, phân tích, tổng hợp,… - Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế - Sử dụng bảng biểu, đồ thị minh hoạ 5. Kết cấu luận văn Ngoài lời mở đầu, mục lục, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục chữ viết tắt, phụ lục, luận văn có bố cục như sau: Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về công tác phân tích tài chính doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng công tác phân tích tài chính tại công ty cổ phần vận tải và và dịch vụ Petrolimex Hải Phòng Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại công ty cổ phần vận tải và và dịch vụ Petrolimex Hải Phòng 3 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.1. Vai trò của công tác phân tích tài chính doanh nghiệp 1.1.1. Khái quát hoạt động tài chính doanh nghiệp Khái niệm và phân loại doanh nghiệp Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động kinh doanh trên thị trường nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu Theo luật doanh nghiệp năm 2005: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Các loại hình doanh nghiệp bao gồm: Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên: Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyền phát hành cổ phần. Công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên: Công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp, trong đó: • Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá năm mươi; • Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp 4 Công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên không được quyền phát hành cổ phần Công ty cổ phần: Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: • Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần • Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa • Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp Công ty cổ phần có quyền phát hiện chứng khoán các loại để huy động vốn Công ty hợp danh: Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó: • Phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh); ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn; • Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty • Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty Công ty hợp danh không được quyền phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào Doanh nghiệp tư nhân: Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. 5 Doanh nghiệp tư nhân không được quyền phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Hoạt động tài chính doanh nghiệp Hoat động tài chính của doanh nghiệp là hoạt động nhằm giải quyết các mối quan hệ tài chính (mối quan hệ biểu hiện dưới hình thái tiền tệ) phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh. Các quan hệ tài chính doanh nghiệp chủ yếu bao gồm: Quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước: Đây là mối quan hệ phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, khi Nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp. Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính: Thị trường tài chính là thị trường giao dịch các loại tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu,...Thành phần tham gia giao dịch trên thị trường tài chính bao gồm: hộ gia đình, doanh nghiệp, các tổ chức tài chính trung gian và chính phủ là những người tham gia mua và bán các loại tài sản tài chính – hàng hoá của thị trường tài chính. Như vậy, doanh nghiệp có thể mua và bán các loại hàng hoá của thị trường tài chính như cổ phiếu, trái phiếu,... để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn, dài hạn hoặc đầu tư số tiền tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng đến. Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường đầu vào và đầu ra về hàng hoá, dịch vụ: Trong nền kinh tế, doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp khác trên thị trường hàng hóa, dịch vụ. Đây là những thị trường mà tại đó doanh nghiệp tiến hành mua sắm vật tư, máy móc thiết bị, nhà xưởng, tìm kiếm lao động,…Điều quan trọng là thông qua thị trường, doanh nghiệp có thể xác định được nhu cầu hàng hóa và dịch vụ cần thiết cung ứng. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp hoạch định ngân sách đầu tư, kế hoạch sản xuất, tiếp thị nhằm thỏa mãn nhu cầu thị trường. 6 Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp: Đây là quan hệ giữa các bộ phận sản xuất kinh doanh, giữa cổ đông và người quản lý, giữa cổ đông và chủ nợ, giữa quyền sử dụng vốn và quyền sở hữu vốn. Các mối quan hệ này được thể hiện thông qua hàng loạt chính sách của doanh nghiệp như: chính sách cổ tức (phân phối thu nhập), chính sách đầu tư, chính sách về cơ cấu vốn, chi phí,… 1.1.2. Vai trò của công tác phân tích tài chính doanh nghiệp 1.1.2.1. Khái niệm và quy trình công tác phân tích tài chính Phân tích tài chính là quá trình thu thập và xử lý các dữ liệu và sự kiện tài chính thông qua các kỹ thuật và công cụ thích hợp để tạo ra thông tin tài chính có giá trị nhằm rút ra các kết luận hoặc ra các quyết định tài chính. Nói ngắn gọn, phân tích tài chính là một quá trình bao gồm năm khâu cơ bản: (1) Xác định mục tiêu phân tích tài chính (2) Thu thập dữ liệu (3) Xác định phương pháp phân tích (4) Thực hiện phân tích (5) Đánh giá công tác phân tích tài chính và đưa ra quyết định tài chính 1.1.2.2. Vai trò của công tác phân tích tài chính doanh nghiệp Phân tích tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý tài chính doanh nghiệp, nó giúp các đối tượng quan tâm nắm bắt được tình hình tài chính doanh nghiệp, từ đó đưa ra các quyết định kịp thời và đúng đắn. Trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đều bình đẳng trước pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh. Do vậy sẽ có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính doanh nghiệp như: Chủ doanh nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp, khách hàng,…kể cả các cơ quan quản lý Nhà Nước và người làm công. Mỗi đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các giác độ khác nhau. 7 Phân tích tài chính đối với nhà quản lý doanh nghiệp Như đã đề cập ở trên, phân tích tài chính là quá trình thu thập và xử lý nhằm đem lại thông tin cho nhà quản lý để nhà quản lý có thể ra quyết định. Và mục tiêu của việc ra các quyết định là nhằm mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp là tối đa hoá giá trị cho chủ sở hữu. Như vậy, thông tin tài chính không những cung cấp cho nhà lãnh đạo doanh nghiệp cái nhìn tổng quát về sức khoẻ tài chính của doanh nghiệp mà còn giúp lãnh đạo doanh nghiệp đưa các quyết định đầu tư, tài trợ và phân phối lợi nhuận kịp thời và đúng đắn. Phân tích tài chính đối với nhà đầu tư vào doanh nghiệp. Đối với nhà đầu tư, cũng như lãnh đạo doanh nghiệp, mục tiêu cuối cùng của họ là tối đa hoá giá trị của chủ sở hữu và thông tin tài chính với các chỉ tiêu giá trị thị trường của doanh nghiệp và cụ thể hơn là giá trị của cổ phiếu công ty trên thị trường, nếu doanh nghiệp là công ty có cổ phiếu được giao dịch trên thị trường chứng khoán; khả năng sinh lời của doanh nghiệp sẽ giúp nhà đầu tư đưa ra được các quyết định đầu tư hiệu quả vào doanh nghiệp. Phân tích tài chính đối với các chủ nợ của doanh nghiệp Chủ nợ của doanh nghiệp luôn quan tâm đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp và thông tin tài chính, cụ thể là thông tin về khả năng thanh toán và khả năng sinh lời của doanh nghiệp sẽ giúp chủ nợ của doanh nghiệp đưa ra các quyết định cho vay hợp lý với tình hình tài chính của doanh nghiệp. Phân tích tài chính đối với các cơ quan quản lý Nhà nước Dựa vào các thông tin tài chính, các cơ quan quản lý của Nhà Nước đánh giá, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp có tuân thủ theo đúng chính sách, chế độ và pháp 8 luật quy định không, tình hình hạch toán và thực hiện nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước như thế nào. Phân tích tài chính đối với người lao động Người lao động trong doanh nghiệp cũng rất quan tâm tới các thông tin tài chính của doanh nghiệp, đặc biệt là khả năng sinh lời. Bởi vì kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh có tác động trực tiếp tới tiền lương của người lao động. Ngoài ra trong những doanh nghiệp cổ phần người lao động tham gia góp vốn mua cổ phần, như vậy họ cũng là những người chủ doanh nghiệp nên có quyền lợi và trách nhiệm gắn với doanh nghiệp Như vậy ta thấy được tầm quan trọng của phân tích tài chính đối với các thành phần khác nhau có liên quan đến doanh nghiệp. Phân tích tài chính giúp người sử dụng thông tin từ các góc độ khác nhau vừa đánh giá toàn diện, tổng hợp, khái quát lại vừa xem xét một cách chi tiết hoạt động tài chính doanh nghiệp, tìm ra những điểm mạnh điểm yếu về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để nhận biết, phán đoán, dự báo và đưa ra những quyết định tài chính, quyết định tài trợ và đầu tư phù hợp. 1.2. Nội dung công tác phân tích tài chính doanh nghiệp 1.2.1. Mục tiêu phân tích Phân tích tài chính nhằm hai mục tiêu cơ bản: Thứ nhất, rút ra được kết luận về một thực trạng hay một tình hình tài chính. Chẳng hạn, mục tiêu của phân tích báo cáo tài chính là rút ra được kết luận rằng tình hình tài chính của doanh nghiệp như thế nào (tốt hay không tốt), hoạt động của doanh nghiệp ra sao (hoạt động hiệu quả hay không hiệu quả). Thứ hai, tạo ra thông tin phục vụ cho việc ra quyết định tài chính. Chẳng hạn, phân tích cơ cấu tài sản và cơ cấu vốn trong bảng cân đối kế toán 9 doanh nghiệp, xem xét tỷ trọng của từng loại tài sản trong tổng tài sản, nguồn tài trợ cho từng loại tài sản như vậy là hợp lý chưa và cần phải điều chỉnh như thế nào để đảm bảo sự phù hợp khi phân bổ nguồn cho các loại tài sản và tăng hiệu quả sử dụng của từng loại. 1.2.2. Thu thập dữ liệu Dữ liệu (data) là những số liệu hay sự kiện chúng ta có thể thu thập để đưa vào xử lý và phân tích nhằm tạo ra thông tin (infomation) tài chính. Nhà phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn dữ liệu có khả năng lý giải và thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính doanh nghiệp, phục vụ cho việc ra quyết định tài chính. Nó bao gồm cả những dữ liệu nội bộ doanh nghiệp đến những thông tin bên ngoài như các thông tin liên quan đến môi trường kinh tế nói chung, các dữ liệu liên quan đến ngành. 1.2.2.1. Các dữ liệu bên ngoài doanh nghiệp Các dữ liệu liên quan đến môi trường kinh tế chung Là các dữ liệu về tình hình kinh tế có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Sự suy thoái hoặc tăng trưởng của nền kinh tế có tác động mạnh mẽ đến cơ hội kinh doanh, đến sự biến động giá cả của các yếu tố đầu vào và thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu ra từ đó tác động đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Khi các tác động diễn ra theo chiều hướng có lợi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ được mở rộng lợi nhuận tăng, ngược lại khi những biến động của tình hình kinh tế là bất lợi sẽ ảnh hưởng xấu đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy để đánh giá khách quan và chính xác về tình hình hoạt động của doanh nghiệp chúng ta phải xem xét cả các dữ liệu kinh tế bên ngoài có liên quan. Các dữ liệu liên quan đến ngành Nội dung nghiên cứu trong phạm vi ngành là việc đặt sự phát triển của doanh nghiệp trong mối liên hệ với các hoạt động chung của ngành. 10 Đặc điểm ngành liên quan đến tính chất của các sản phẩm, quy trình kỹ thuật áp dụng, cơ cấu sản xuất, nhịp độ phát triển của các chu kỳ kinh tế, sự thay đổi công nghệ, chiến lược cạnh tranh, khuynh hướng tiêu dùng tương lai, … Dữ liệu theo ngành kinh tế đặc biệt là hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành là cơ sở tham chiếu để người phân tích có thể đánh giá, kết luận chính xác về tình hình tài chính doanh nghiệp 1.2.2.2. Các dữ liệu nội bộ doanh nghiệp Các dữ liệu nội bộ doanh nghiệp bao gồm hệ thống các báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán, thông tin từ hệ thống kiểm soát nội bộ và thông tin quản lý khác, … trong đó hệ thống các báo cáo tài chính doanh nghiệp là những nguồn dữ liệu đặc biệt quan trọng. Báo cáo tài chính là những báo cáo được lập dựa vào phương pháp kế toán tổng hợp số liệu từ sổ sách kế toán, theo các chỉ tiêu tài chính phát sinh tại những thời điểm hoặc thời kỳ nhất định. Các báo cáo tài chính phản ánh một cách hệ thống tình hình tài sản của đơn vị tại những thời điểm, kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình sử dụng vốn trong những thời kỳ nhất định; đồng thời được giải trình, giúp cho các đối tượng sử dụng thông tin tài chính hiểu rõ bản chất kinh tế các hoạt động của công ty và đưa ra các quyết định đúng đắn liên quan. Hệ thống báo cáo tài chính ở nước ta bao gồm: - Bảng cân đối kế toán. Mẫu số B01-DN - Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Mẫu số B02-DN - Báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Mẫu số B03-DN - Bản thuyết minh các báo cáo tài chính. Mẫu số B09-DN Bảng cân đối kế toán Khái niệm 11 Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định. (Bảng cân đối kế toán là một tóm tắt định lượng (bằng số) tình trạng tài chính của một doanh nghiệp ở một thời điểm nhất định mà chúng bao gồm các tài sản, các khoản nợ và vốn chủ sở hữu,…) Ý nghĩa Căn cứ vào Bảng cân đối kế toán có thể đánh giá sự phân bổ nguồn tài chính ngắn hạn, dài hạn của công ty có phù hợp với cơ cấu tài sản của công ty hay không? Tính thanh khoản của công ty ra sao? Từ đó đưa ra các quyết định tài chính như thế nào? Kết cấu Bảng cân đối kế toán được chia làm 2 vế: một vế là tài sản và một vế là nguồn vốn. Hai vế của bảng cân đối kế toán phải luôn cân bằng. - Vế tài sản bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn: Tài sản ngắn hạn phản ánh các khoản mục được sắp xếp theo thứ tự tính thanh khoản giảm dần. Chúng bao gồm: tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu, hàng tồn kho. Tài sản dài hạn thường ít có tính thanh khoản như: tài sản cố định, đầu tư dài hạn, tài sản dài hạn khác. - Vế nguồn vốn cho thấy nguồn tiền nào dùng để mua tài sản, bao gồm nợ phải trả và vốn chủ sở hữu. Nợ phải trả gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. Vốn chủ sở hữu gồm vốn đầu tư của chủ sở hữu, lợi nhuận giữ lại, các quỹ của doanh nghiệp,... Đặc điểm cần lưu ý của bảng cân đối kế toán xét trên góc độ tài chính Bảng cân đối kế toán không cho thấy giá trị thực và hiện tại của công ty, không cho thấy thực chất cấu trúc tài sản và nguồn lực công ty. 12 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Khái niệm Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một sự hạch toán doanh thu, chi phí và lợi nhuận ròng trong một khoảng thời gian nhất định (kỳ kế toán). Bao gồm: hạch toán doanh thu, chi phí và lợi nhuận ròng của hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính và hoạt động khác. Ý nghĩa - Cho thấy các đối tượng khác nhau tham gia tài trợ cho hoạt động của công ty. - Cho thấy quyền ưu tiên trong việc thu hồi tài sản khi công ty phá sản của các đối tượng khác nhau. - Cho thấy cấu trúc lợi nhuận được phân bổ cho các đối tượng khác nhau của công ty. - Cho thấy cấu trúc nguồn thu và nguồn chi của công ty. Kết cấu Doanh thu thuần Giá vốn hàng bán Lãi gộp Chi phí bán hang Chi phí quản lý doanh nghiệp Lợi nhuận trước thuế và lãi (EBIT) → Thuộc về công ty Lãi vay (đối tượng người cho vay) Lợi nhuận trước thuế (EBT) Thuế (Chính phủ) Lợi nhuận sau thuế (EAT) → Thuộc về chủ sở hữu Cổ tức ưu đãi (Thuộc về chủ sở hữu cổ phiếu ưu đãi) Lợi nhuận ròng sau khi trả cổ tức ưu đãi 13 Cổ tức cho cổ phiếu thường (Thuộc chủ sở hữu cổ phiếu thường) Lợi nhuận giữ lại Đặc điểm cần lưu ý của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh xét dưới góc độ tài chính - Không thể hiện được dòng tiền thực thu và thực chi - Doanh thu, chi phí bị tác động nhiều bởi phương pháp hạch toán do đó lợi nhuận hoạt động ghi trong báo cáo chưa thực sự phản ánh bản chất kinh tế lợi nhuận của công ty so với các doanh nghiệp khác. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Khái niệm Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính cung cấp những thông tin về những luồng tiền vào, ra của tiền và coi như tiền, những khoản đầu tư ngắn hạn có tính chất lưu động cao, có thể nhanh chóng và sẵn sàng chuyển đổi thành tiền. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo trình bày tình hình số dư tiền đầu kỳ, tình hình các dòng tiền thu vào, chi ra và tình hình số dư tiền cuối kỳ của công ty. Ý nghĩa - Cho thấy sự lưu chuyển tiền mặt cho 3 hoạt động chính của một doanh nghiệp, đó là hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính. - Cho thấy khả năng tạo ra tiền mặt hiện nay và trong tương lai của doanh nghiệp. - Cho thấy khả năng trả nợ và khả năng chi trả cổ tức bằng tiền mặt của doanh nghiệp. - Cho thấy sự thay đổi tài sản ròng của công ty. - Cho thấy nhu cầu tài trợ từ nguồn tài chính bên ngoài công ty 14 Kết cấu Những luồng tiền vào, ra và các khoản coi như tiền được tổng hợp và chia thành 3 nhóm: lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh, lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu tư và lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính. Doanh nghiệp phải báo cáo dòng tiền hoạt động theo một trong hai phương pháp sau: - Phương pháp trực tiếp - Phương pháp gián tiếp Còn đối với dòng tiền đầu tư và dòng tiền tài trợ thì lập theo phương pháp trực tiếp Đặc điểm cần lưu ý của báo cáo lưu chuyển tiền tệ xét dưới góc độ tài chính Tiền mặt tạo ra từ hoạt động kinh doanh chính của doanh nghiệp là đặc biệt quan trọng vì hoạt động chính tạo ra tiền mặt cho một doanh nghiệp chính là hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó, mặt khác hoạt động tài chính tạo ra tiền nhưng nếu hoạt động kinh doanh chính không tạo ra tiền mặt thì sẽ không thể tồn tại hoạt động tài chính. Thuyết minh báo cáo tài chính Khái niệm Bản thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận hợp thành không thể tách rời của báo cáo tài chính doanh nghiệp dùng để mô tả mang tính tường thuật hoặc phân tích chi tiết các thông tin số liệu đã được trình bày trong bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Ý nghĩa 15 Thuyết minh báo cáo tài chính được lập nhằm cung cấp các thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh chưa có trong hệ thống các báo cáo tài chính, đồng thời giải thích thêm một số chỉ tiêu mà trong các báo cáo tài chính chưa được trình bày, giải thích một cách rõ rang và cụ thể. Mối quan hệ giữa các báo cáo tài chính Mối quan hệ giữa bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Tài sản = Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu Tài sản = Nợ phải trả + Vốn góp + Lợi nhuận giữ lại Tài sản = Nợ phải trả + Vốn góp + Lợi nhuận ròng - Cổ tức Tài sản = Nợ phải trả + Vốn góp + Doanh thu – Chi phí - Cổ tức Mối quan hệ giữa bảng cân đối kế toán,báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền tệ - Cả 3 báo cáo tài chính này được lập dựa trên cùng một thông tin liên quan đến các giao dịch trong hoạt động của một doanh nghiệp, tuy nhiên chúng được trình bày dưới các góc độ khác nhau, chúng là một thể thống nhất, không thể thay thế nhau được, mỗi báo cáo có ý nghĩa riêng của nó. - Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ thể hiện hoạt động của một doanh nghiệp trong một thời đoạn, kết quả của các hoạt động này sẽ làm thay đổi báo cáo cân đối kế toán giữa đầu kỳ và cuối kỳ. Tuy vậy, các thông tin có được từ các báo cáo tài chính vẫn chưa đủ để các đối tượng quan tâm đưa ra quyết định vì Báo cáo tài chính chưa phản ánh đúng thực trạng kinh tế của một doanh nghiệp, bởi: - Báo cáo tài chính chỉ thể hiện các giá trị đo được bằng tiền (lý do để cần thuyết minh tài chính đi kèm) những chưa đề cập đến đội ngũ quản trị và chuyên gia giỏi, nền tảng khách hàng,… 16 - Nhiều giá trị là giá trị sổ sách không phải giá thực tế như hàng tồn kho là một ví dụ điển hình. - Nhiều giá trị có tính ước lượng như: giảm giá trị tài sản do hư hại, chi phí tái cấu trúc doanh nghiệp, phương pháp khấu hao,… - Nhiều giá trị có thể thay đổi một cách cố ý như: ghi nhận doanh thu, chọn hoặc thay đổi phương pháp kế toán (LIFO hay FIFO), chọn thời điểm thanh lý tài sản hay đóng cửa một bộ phận Do đó, bộ phận phân tích tài chính phải kết hợp nhiều nguồn thông tin: - Hệ thống báo cáo tài chính gồm: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh báo cáo tài chính - Báo kiểm toán độc lập - Thông tin từ hệ thống kiểm soát nội bộ - Các thông tin về quản lý, định hướng phát triển của doanh nghiệp, thị phần mà doanh nghiệp đang chiếm lĩnh, việc đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh, hoạt động nghiên cứu phát triển, triển vọng kinh tế ngắn, trung, dài hạn,… - Thông tin từ báo chí và tạp chí chuyên ngành - Thông tin liên quan đến môi trường kinh tế nói chung - Thông tin liên quan đến ngành 1.2.3. Phương pháp phân tích Phương pháp phân tích là các công cụ được áp dụng để xử lý và phân tích dữ liệu nhằm tạo ra thông tin tài chính. Các phương pháp được sử dụng như: phân tích tỷ số tài chính, phân tích xu hướng, phân tích cơ cấu của các báo cáo tài chính. 1.2.3.1. Phân tích tỷ số 17 Phân tích tỷ số tài chính là kỹ thuật phân tích căn bản và quan trọng nhất của phân tích báo cáo tài chính. Phân tích các tỷ số tài chính liên quan đến việc xác định và sử dụng các tỷ số tài chính để đo lường và đánh giá tình hình hoạt động tài chính của công ty. Có nhiều loại tỷ số tài chính khác nhau: - Dựa vào cách thức sử dụng số liệu để xác định, tỷ số tài chính có thể chia thành ba loại: tỷ số tài chính xác định từ bảng cân đối kế toán, tỷ số tài chính xác định từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và tỷ số tài chính xác định từ cả hai báo cáo vừa nêu trên. - Dựa vào mục tiêu phân tích, các tỷ số tài chính có thể chia thành: các tỷ số về khả năng thanh toán, các tỷ số về năng lực hoạt động kinh doanh, các tỷ số về khả năng sinh lời, … Tuy nhiên, các tỷ số tài chính tự nó không có ý nghĩa mà chỉ có ý nghĩa khi được so sánh với các tỷ số thực tế trước đây, các tỷ số chuẩn mực đã được định ra trước đó, các số tỷ số bình quân của ngành. 1.2.3.2. Phân tích xu hướng Phân tích xu hướng là kỹ thuật phân tích bằng cách so sánh các tỷ số tài chính của công ty qua nhiều năm để thấy được xu hướng tốt lên hay xấu đi của các tỷ số tài chính. Sau khi tính toán các tỷ số, thay vì so sánh các tỷ số này với bình quân ngành, chúng ta còn có thể so sánh các tỷ số của các năm với nhau và so sánh qua nhiều năm. 1.2.3.3. Phân tích cơ cấu Phân tích là kỹ thuật phân tích dùng để xác định khuynh hướng thay đổi của từng khoản mục trong báo cáo tài chính. Đối với báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, phân tích cơ cấu được thực hiện bằng cách tính và so sánh tỷ trọng của từng khoản mục so với doanh thu qua các năm để thấy được khuynh hướng thay đổi của từng khoản mục. Tương tự trong phân tích cơ cấu 18 bảng cân đối kế toán chúng ta cũng tính toán và so sánh tỷ trọng của từng khoản mục tài sản với tổng tài sản và từng khoản mục của nguồn vốn so với tổng nguồn vốn. Ưu điểm của phân tích cơ cấu là cung cấp cơ sở so sánh từng khoản mục của từng báo cáo hoặc so sánh giữa các công ty với nhau, đặc biệt là khi so sánh giữa các công ty có quy mô khác nhau. 1.2.3.3. Phân tích Dupont Phương pháp Dupont là phương pháp phân tích nhằm đánh giá sự tác động tương hỗ giữa các tỷ số tài chính, biến một chỉ tiêu tổng hợp thành một hàm số của một loạt các biến số. Theo phương pháp này, người phân tích có thể tách riêng, phân tích tác động của từng yếu tố (biến số) tới chỉ tiêu tài chính tổng hợp như thế nào là có lợi hay bất lợi, từ đó có thể đưa ra quyết định tài chính phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp. Vì vậy, phương pháp này còn gọi là phương pháp tách đoạn. Các tỷ số tài chính được trình bày ở trên đều ở dạng một phân số. Điều đó có nghĩa là mỗi tỷ số tài chính sẽ tăng hay giảm thuộc vào hai nhân tố: là mẫu số và tử số của phân số đó. Mặt khác, các tỷ số tài chính còn ảnh hưởng lẫn nhau. Hay nói cách khác, một tỷ số tài chính lúc này được trình bày bằng tích một vài tỷ số khác. Cụ thể, phân tích Dupont là kỹ thuật phân tích bằng cách chia tỷ số ROA và ROE thành những bộ phận có liên hệ với nhau để đánh giá tác động của từng bộ phận lên kết quả sau cùng. Kỹ thuật này thường được sử dụng bởi các nhà quản lý trong nội bộ công ty để có cái nhìn cụ thể và ra quyết định xem nên cải thiện tình hình tài chính công ty bằng cách nào. Ví dụ với chỉ tiêu doanh lợi trên vốn chủ sở hữu như sau: 19 Lợi nhuận sau thuế ROE = ROE = Vốn chủ sở hữu Lợi nhuận sau thuế Tổng tài - Tổng nợ sản bình phải trả quân bình quân Lợi nhuận sau thuế ROE = Tổng tài sản bình quân Tổng tài sản bình quân Tổng nợ phải trả bình quân Tổng tài sản bình quân ROE = Lợi nhuận sau thuế Doanh thu thuần 1 × × Doanh thu thuần Tổng tài sản bình quân 1- Hệ số nợ Như vậy, vận dụng phương pháp Dupont có thể giúp ta phân tích những nguyên nhân tác động tới doanh lợi trên tài sản đó là: Tỷ số sinh lợi trên doanh thu, hiệu suất sử dụng tổng tài sản, hiệu suất sử dụng vốn chủ sở hữu. Từ đó, có giải pháp tài chính thích hợp để tác động tới từng yếu tố gây ảnh hưởng nhằm làm tăng hệ số này. 1.2.4. Thực hiện phân tích 1.2.4.1. Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn trong doanh nghiệp 20 Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn là xem xét và đánh giá sự thay đổi các chỉ tiêu cuối kỳ so với đầu kỳ trên Bảng cân đối kế toán về nguồn vốn và sử dụng vốn của doanh nghiệp. Để tiến hành phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn trước tiên, người ta trình bày Bảng cân đối kế toán dưới dạng bảng cân đối báo cáo (trình bày 1 phía) từ tài sản đến nguồn vốn. Sau đó so sánh số liệu cuối kỳ so với đầu kỳ trong từng chỉ tiêu của bảng cân đối để xác định tình hình tăng giảm vốn trong doanh nghiệp theo nguyên tắc: + Sử dụng vốn là tăng tài sản, giảm nguồn vốn + Nguồn vốn là giảm tài sản, tăng nguồn vốn + Nguồn vốn và sử dụng vốn phải cân đối với nhau Cuối cùng tiến hành sắp xếp các chỉ tiêu về nguồn vốn và sử dụng vốn theo những trình tự nhất định tùy theo mục tiêu phân tích và phản ánh vào một bảng biểu theo mẫu sau: Biểu 1.1: Bảng kê diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn Chỉ tiêu 1. Sử dụng vốn Số tiền Tỷ trọng … Cộng sử dụng vốn 2. Nguồn vốn … Cộng nguồn vốn Nội dung phân tích này cho ta biết trong một kỳ kinh doanh nguồn vốn tăng (giảm) bao nhiêu? tình hình sử dụng vốn như thế nào? Những chỉ tiêu nào là chủ yếu ảnh hưởng tới sự tăng giảm nguồn vốn và sử dụng vốn của doanh nghiệp? Từ đó có giải pháp khai thác các nguồn vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp.
- Xem thêm -