Hoàn thiện chiến lược marketing tại công ty tnhh thành công

  • Số trang: 98 |
  • Loại file: DOCX |
  • Lượt xem: 13 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

Nguyễn Thị Thu Trang 1 Lớp: Luật kinh doanh K46 LỜI MỞ ĐẦU Nền kinh tế nước ta đang ngày càng phát triển theo xu hướng hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà Nước đã và đang thực hiện chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Để đạt được mục tiêu đó Nhà nước cần chú trọng phát huy nội lực đất nước, trong bối cảnh này, hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản được đánh giá là ngành kinh tế kỹ thuật hết sức quan trọng, bởi nó liên quan đến nhiều lĩnh vực kinh tế, lại sử dụng nguồn tài chính và nhân lực hết sức to lớn. Thực tế cho thấy tại nước ta hoạt động đấu thầu trong xây dựng hết sức phổ biến và có vai trò đặc biệt quan trọng. Đấu thầu trong xây dựng tuy còn mới, nhưng qua nhiều bước hoàn thiện đã chứng tỏ sự phù hợp và tất yếu cần áp dụng trong nền kinh tế, nó thực sự mang lại hiệu quả kinh tế to lớn, tiết kiệm chi phí đầu tư xây dựng, thúc đẩy sự hoàn thiện của bản thân nhà thầu về năng lực và tổ chức để đảm bảo đáp ứng được yêu cầu của chủ đầu tư về chất lượng công trình cũng như tiến độ thực hiện. Pháp luật về đấu thầu đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc thực thi hiệu quả công tác đấu thầu. Nhìn chung Nhà nước ta đã rất nỗ lực trong việc ban hành và từng bước hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực đấu thầu nói chung và đấu thầu xây lắp nói riêng để góp phần nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước nhưng có thể nói tư duy luật chưa đạt yêu cầu, các văn bản được ban hành liên tiếp và thay đổi liên tục, có khi cùng một lúc áp dụng nhiều văn bản khác nhau, có khi một văn bản mới ban hành đã sửa đổi, điều này gây khó khăn cho việc áp dụng cũng như trong công tác kiểm soát hoạt động đấu thầu. Là một thành phố Thủ đô, Hà Nội luôn là một trong những thành phố đi đầu trong việc phát triển thương mại, thị trường Hà Nội đã và đang có những tiến bộ mới. Để đáp ứng nhu cầu đó, Thành phố Hà Nội luôn quan tâm đến việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng. Hiện nay Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội đang chú trọng chuyển đổi mô hình quản lý kinh doanh khai thác chợ trên địa bàn Nguyễn Thị Thu Trang 2 Lớp: Luật kinh doanh K46 thành phố. Tại các quận nội thành, chủ trương thành phố chủ yếu thực hiện chuyển đổi mô hình kết hợp với đầu tư xây dựng lại, thu hút vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế. Trong số các dự án đó có dự án đầu tư xây dựng chợ Hôm thuộc quận Hai Bà Trưng thành trung tâm thương mại Chợ Hôm – Đức Viên. Dự án này được đưa ra đấu thầu năm 2007 nhưng cho tới hiện nay vẫn chưa khởi công được do phải tổ chức đấu thầu lại. Trong thời gian thực tập tại phòng Thanh tra – Sở Thương mại Hà Nội, tôi được tiếp xúc nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước về thương mại trên địa bàn thành phố Hà Nội, nhận thức được vai trò của đấu thầu nói chung và đấu thầu xây lắp nói riêng, nhận thức được thực tiễn áp dụng pháp luật đấu thầu xây lắp trong việc đấu thầu dự án đầu tư xây dựng Trung tâm thương mại Chợ Hôm – Đức Viên, trong phạm vi khóa luận này tôi viết về “Pháp luật về đấu thầu xây lắp và thực tiễn áp dụng trong dự án đầu tư xây dựng Trung tâm thương mại chợ Hôm – Đức Viên”. Khóa luận này gồm các nội dung chính sau: Chương 1: Lý luận chung về đấu thầu và đấu thầu xây lắp Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật đấu thầu xây lắp trong dự án đầu tư xây dựng Trung tâm thương mại Chợ Hôm – Đức Viên - Nhìn từ góc độ Sở Thương mại Hà Nội. Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về đấu thầu xây lắp, kiến nghị nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về đấu thầu xây lắp. Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo Ths NGUYỄN HỮU MẠNH và Ths ĐỖ KIM HOÀNG đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành bài viết này. Và khóa luận của tôi cũng không thể hoàn thành nếu không có sự giúp đỡ của các cán bộ phòng Thanh tra – Sở Thương mại Hà Nội. Do kiến thức có hạn, khả năng tiếp xúc và nhận thức thực tiễn còn hạn chế nên khóa luận này không tránh khỏi những sai sót, kính mong quý vị góp ý để bài viết của tôi hoàn chỉnh hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn! Nguyễn Thị Thu Trang 3 Lớp: Luật kinh doanh K46 Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẤU THẦU VÀ ĐẤU THẦU XÂY LẮP I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẤU THẦU 1. Khái niệm đấu thầu Trên thực tế hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về đấu thầu. Theo từ điển tiếng Việt thì “đấu thầu là việc tổ chức cuộc đọ sức công khai ai nhận làm, ai bán với điều kiện tốt nhất thì được chấp nhận”1. Theo quan niệm này thì đấu thầu được hiểu là cuộc đọ sức công khai giữa các tổ chức, cá nhân về kỹ thuật và tài chính, nó giống như một sân chơi mà trong đó người cung ứng điều kiện tốt nhất sẽ chiến thắng. Xét trên khía cạnh pháp luật thì tại Việt Nam từ trước tới nay cũng đã có một số văn bản pháp luật nêu định nghĩa về đấu thầu: Theo quan niệm của bên mời thầu cũng như theo Quy chế đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định số 88/1999/NĐ-CP của Chính phủ ngày 1/9/1999 về ban hành quy chế đấu thầu thì đấu thầu được hiểu là “quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng được yêu cầu của bên mời thầu trên cơ sở cạnh tranh giữa các nhà thầu”. Theo quan niệm của nhà thầu thì đấu thầu giống như một phương thức kinh doanh mà thông qua đó nhà thầu với các điều kiện và năng lực về tài chính, kỹ thuật đáp ứng được các yêu cầu của bên mời thầu có cơ hội dành được hợp đồng thực hiện các công việc trong gói thầu. Quan niệm này thể hiện rõ tính chất của đấu thầu là việc các nhà thầu cạnh tranh công bằng với nhau trên cơ sở năng lực về tài chính cũng như kỹ thuật và uy tín thực tế của mình để được bên mời thầu chấp nhận giao gói thầu cho mình thực hiện. Qua đây cũng thể hiện đấu thầu là một lĩnh vực nhạy cảm, sau mỗi cuộc đấu thầu có nhà thầu trúng thầu và có nhà thầu không trúng thầu. 1 Viện ngôn ngữ học, 2003, Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng – Từ điển học, tr 302 Nguyễn Thị Thu Trang 4 Lớp: Luật kinh doanh K46 Như vậy, đứng trên quan điểm của bên mời thầu và nhà thầu thì đấu thầu được hiểu là cuộc thi tuyển giữa các nhà thầu để thỏa mãn yêu cầu của chủ đầu tư, từ đó lựa chọn nhà thầu thích hợp nhất. Theo Luật Đấu thầu năm 2005 thì đấu thầu được hiểu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu để thực hiện gói thầu thuộc các dự án quy định của pháp luật trên cơ sở bảo đảm tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế. Các dự án đó bao gồm: - Dự án sử dụng vốn Nhà nước từ 30% trở lên cho mục tiêu đầu tư phát triển, bao gồm: + Dự án đầu tư xây dựng mới, nâng cấp mở rộng các dự án đã đầu tư xây dựng; + Dự án đầu tư để mua sắm tài sản kể cả thiết bị, máy móc không cần lắp + Dự án quy hoạch phát triển vùng, quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch đặt; xây dựng đô thị, nông thôn; + Dự án nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, hỗ trợ kỹ thuật; + Các dự án khác cho mục tiêu đầu tư phát triển; - Dự án sử dụng vốn Nhà nước để mua sắm tài sản nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; - Dự án sử dụng vốn Nhà nước để mua sắm tài sản nhằm phục vụ việc cải tạo, sửa chữa lớn các thiết bị, dây chuyền sản xuất, công trình, nhà xưởng đã đầu tư của doanh nghiệp nhà nước. Tóm lại, có nhiều quan niệm khác nhau về đấu thầu nhưng về cơ bản thì có thể hiểu đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng được các yêu cầu của bên mời thầu trên cơ sở đảm bảo tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế của gói thầu. Nguyễn Thị Thu Trang 5 Lớp: Luật kinh doanh K46 2. Đặc điểm đấu thầu Từ các quan niệm chung về đấu thầu, có thể thấy đấu thầu có những đặc điểm sau: Thứ nhất, chủ thể tham gia đấu thầu gồm có: Phía bên tổ chức đấu thầu gồm: (1) Bên mời thầu: có thể là chủ đầu tư hoặc tổ chức chuyên môn có đủ năng lực và kinh nghiệm được chủ đầu tư sử dụng để tổ chức đấu thầu theo các quy định của pháp luật về đấu thầu; (2) Chủ đầu tư: là người sở hữu vốn hoặc được giao trách nhiệm thay mặt chủ sở hữu, người vay vốn trực tiếp quản lý và thực hiện dự án cần đấu thầu; (3) Người có thẩm quyền: là người được quyền quyết định dự án theo quy định của pháp luật; (4) Tổ chuyên gia; (5) Tư vấn Các chủ thể trên thực hiện những công việc nhất định trong quá trình lựa chọn nhà thầu Phía bên tham gia lựa chọn nhà thầu gồm có: + Nhà thầu: là các tổ chức, có thể là cá nhân, tổ chức trong nước hoặc nước ngoài, thông thường là các doanh nghiệp và phải đáp ứng được những điều kiện nhất định theo pháp luật đấu thầu quy định. Nhà thầu gồm có nhà thầu chính, nhà thầu phụ, có thể là nhà thầu độc lập, nhà thầu liên danh Thứ hai, mục đích của việc đấu thầu là tuyển chọn nhà thầu có đủ năng lực đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu. - Thứ ba, việc lựa chọn nhà thầu theo yêu cầu của bên mời thầu và phải tuân theo một trình tự nhất định do pháp luật quy định. Mỗi hình thức đấu thầu khác nhau có một trình tự cũng như điều kiện áp dụng khác nhau … 3. Phân loại đấu thầu Có nhiều cách thức phân loại đấu thầu, như phân loại theo nội dung đấu thầu, phân loại theo phương thức đấu thầu, phân loại theo hình thức lựa chọn nhà thầu, phân loại theo phạm vi chủ thể tham gia đấu thầu … Nếu xét theo nội dung Nguyễn Thị Thu Trang 6 Lớp: Luật kinh doanh K46 đấu thầu thì có thể phân loại đấu thầu thành 3 loại: đấu thầu tuyển chọn tư vấn, đấu thầu mua sắm hàng hóa, đấu thầu xây lắp. 3.1. Đấu thầu tuyển chọn tư vấn Đấu thầu tuyển chọn tư vấn là quá trình tuyển chọn các nhà tư vấn có đủ năng lực, kinh nghiệm chuyên môn trong việc xem xét, quyết định, kiểm tra quá trình chuẩn bị và thực hiện dự án. Nhà thầu tham gia đấu thầu tuyển chọn tư vấn là các nhà thầu tư vấn, tham gia đấu thầu để cung cấp các sản phẩm của dịch vụ tư vấn, nó bao gồm các hoạt động sau: - Dịch vụ tư vấn chuẩn bị dự án: bao gồm những công việc sau + Lập, đánh giá, báo cáo quy hoach + Tổng sơ đồ phát triển, kiến trúc + Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi + Báo cáo nghiên cứu khả thi - Dịch vụ tư vấn thực hiện dự án: bao gồm những công việc sau + Khảo sát, lập thiết kế, lập tổng dự toán + Lập hồ sơ mời thầu + Đánh giá hồ sơ dự thầu + Giám sát thi công xây dựng và lắp đặt thiết bị - Dịch vụ tư vấn điều hành quản lý dự án, thu xếp tài chính, đào tạo, chuyển giao công nghệ và các dịch vụ tư vấn khác 3.2. Đấu thầu mua sắm hàng hóa Đấu thầu mua sắm hàng hóa là phương thức đấu thầu nhằm tuyển chọn nhà cung cấp hàng hóa, thiết bị công nghệ phù hợp, đáp ứng yêu cầu của dự án đầu tư. Tham gia đấu thầu mua sắm hàng hóa là các nhà thầu cung cấp, họ tham gia đấu thầu, nhận các gói thầu để cung cấp hàng hóa, bao gồm máy móc, thiết bị, nguyên Nguyễn Thị Thu Trang 7 Lớp: Luật kinh doanh K46 vật liệu, hàng tiêu dùng và các dịch vụ không phải là dịch vụ tư vấn, ví dụ dịch vụ vận chuyển, kiểm dịch. 3.3 Đấu thầu xây lắp Đấu thầu xây lắp là phương thức đấu thầu nhằm lựa chọn nhà thầu thực hiện những công việc xây dựng và lắp đặt các công trình, hạng mục công trình, cải tạo, sửa chữa lớn. Tham gia đấu thầu xây lắp là các nhà thầu xây lắp, tùy từng dự án khác nhau mà nhà thầu tham dự phải đáp ứng được những điều kiện nhất định. Những vấn đề pháp lý liên quan đến đấu thầu xây lắp sẽ được trình bày trong phần II dưới đây. II. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẤU THẦU XÂY LẮP 1. Khái niệm đấu thầu xây lắp và pháp luật về đấu thầu xây lắp 1.1 Khái niệm về đấu thầu xây lắp Đấu thầu xây lắp được hiểu là hình thức đấu thầu lựa chọn nhà thầu để thực hiện những công việc xây dựng và lắp đặt các công trình, hạng mục công trình, cải tạo, sửa chữa lớn. Thực chất của đấu thầu xây lắp là việc áp dụng phương pháp xét hiệu quả thực tế trong việc lựa chọn đơn vị thi công xây dựng. Phương pháp này đòi hỏi sự so sánh giữa các đơn vị tham gia đấu thầu trên cùng một phương diện (như kỹ thuật, uy tín của đơn vị tham dự đấu thầu, tài chính…) để chọn lấy một nhà thầu có đủ khả năng để thực hiện gói thầu. Về bản chất đấu thầu xây lắp cũng giống như hoạt động mua bán, tuy nhiên nó khác những hợp đồng mua bán khác là hàng hóa ở đây là công việc, và chỉ có một người bán nhưng lại có nhiều người mua. Người bán là chủ đầu tư, người mua là các nhà thầu, người bán lựa chọn người mua theo nhiều tiêu chí khác nhau như năng lực thực hiện. Trước đây việc lựa chọn nhà thầu phụ thuộc nhiều vào giá mà người mua đưa ra tuy nhiên cho đến nay mức giá không ảnh hưởng đến việc lựa Nguyễn Thị Thu Trang 8 Lớp: Luật kinh doanh K46 chọn nhà thầu, mà chủ yếu là xét đến yếu tố kỹ thuật, năng lực của nhà thầu, còn mức giá có thể thương lượng sau đó. Trên thực tế thấy rằng việc lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng là một công việc quan trọng bởi có lựa chọn được nhà thầu tốt, có đầy đủ năng lực thì mới hoàn thành tốt, chất lượng công trình mới được đảm bảo. Trong mỗi một dự án có những phần việc khác nhau như thiết kế, xây dựng, lắp đặt thiết bị …, việc tổ chức đấu thầu có thể chia làm nhiều gói thầu khác nhau và tổ chức lựa chọn nhà thầu thích hợp để thực hiện những gói thầu đó. Mặt khác, việc lựa chọn nhà thầu còn nhằm tìm được nhà thầu có đủ điều kiện, năng lực để phù hợp với từng công trình, tuy nhiên nhà thầu chính có thể giao một phần công việc của hợp đồng đấu thầu cho các nhà thầu phụ, nhà thầu phụ này cũng phải có đầy đủ năng lực trong xây lắp, có thể thực hiện tốt phần việc mà nhà thầu chính giao cho, việc này cần phải có sự chấp nhận của chủ đầu tư, nhà thầu phụ không được giao toàn bộ hoặc phần việc chính trong hợp đồng đấu thầu cho nhà thầu phụ khác. Để lựa chọn được nhà thầu tốt nhất thì việc đấu thầu phải đảm bảo những yêu cầu sau: - Đáp ứng được hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng công trình, - Chọn được nhà thầu có đủ điều kiện, năng lực hoạt động xây dựng, năng lực ngành nghề xây dựng (vấn đề này được trình bày cụ thể trong phần 2.2 dưới đây) - Khách quan, công bằng, công khai, minh bạch. 1.2. Pháp luật về đấu thầu xây lắp Pháp luật về đấu thầu xây lắp bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình tổ chức đấu thầu, thực hiện hợp đồng đấu thầu và quá trình cơ quan Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đấu thầu. Pháp luật về đấu thầu xây lắp bao gồm những nhóm quy định cơ bản sau: - Điều kiện áp dụng đấu thầu xây lắp Nguyễn Thị Thu Trang 9 Lớp: Luật kinh doanh K46 - Quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia đấu thầu xây lắp - Quy trình đấu thầu xây lắp Việc đấu thầu xây lắp tuân theo pháp luật xây dựng, những vấn đề không được quy định trong pháp luật xây dựng thì sẽ áp dụng pháp luật đấu thầu, đối với dự án sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (gọi tắt là ODA), việc đấu thầu được thực hiện trên cơ sở nội dung điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc thỏa thuận quốc tế mà cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết. Những vấn đề không được quy định trong các loại văn bản pháp luật trên thì áp dụng các văn bản pháp luật quy định các vấn đề chung như: Luật dân sự … Xuất phát từ yêu cầu quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, Nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về đấu thầu trong xây lắp đi liền với quá trình hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật về đấu thầu. Tại Việt Nam, đấu thầu và pháp luật đấu thầu nói chung, đấu thầu xây lắp nói riêng thực sự hình thành từ khi nền kinh tế chuyển đổi sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên trước đó cũng có những yêu cầu làm tiền đề cho việc ban hành pháp luật đấu thầu sau này. 1.2.1. Giai đoạn trước khi có Quy chế Đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định số 43/1996/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16/7/1996 về ban hành Quy chế đấu thầu  Giai đoạn 1945 – 1946 Trong những ngày đầu mới thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lưu ý Chính phủ nước Việt Nam cần phải hết sức tiết kiệm và phải lựa chọn những vật phẩm từ nguồn cung cấp thích hợp nhất để không lãng phí của cải của nhân dân. Mặc dù khái niệm đấu thầu chưa hình thành tuy nhiên việc Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý là tiền đề cho hoạt động đấu thầu sau này.  Từ năm 1946 - 1986 Nguyễn Thị Thu Trang 10 Lớp: Luật kinh doanh K46 Giai đoạn này cũng có một số văn bản liên quan đến việc lựa chọn người bán khi bán các tài sản công, tuy nhiên do đặc thù của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, chủ thể của nền kinh tế là các doanh nghiệp quốc doanh được Nhà nước thành lập và tài sản thuộc sở hữu Nhà nước. Các doanh nghiệp này không có quyền chủ động trong hoạt động kinh doanh, mọi hoạt động của doanh nghiệp đều theo kế hoạch của Nhà nước và mọi công trình xây dựng đều được thực hiện theo chỉ tiêu, pháp lệnh. Nhà nước chỉ định các đơn vị thực hiện xây lắp theo kế hoạch hoặc căn cứ vào mối quan hệ giữa các đơn vị đó với cơ quan có thẩm quyền.  Từ năm 1986 -1996 Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đã đưa đất nước bước vào thời kỳ kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa. Trong nền kinh tế mới này cạnh tranh là tất yếu, thuật ngữ “đấu thầu” đã xuất hiện tại Việt Nam và các văn bản pháp luật về đấu thầu xây lắp đã hình thành và hoàn thiện cùng với quá trình xây dựng và phát triển của hệ thống pháp luật về đấu thầu. - Đầu năm 1990, Bộ Xây dựng ban hành “Quy chế đấu thầu trong xây dựng” Kèm theo Quyết định số 24/BXD-VKT ngày 12/2/1990 nhưng trong văn bản này chưa quy định rõ ràng về điều kiện áp dụng cũng như quy trình đấu thầu xây lắp. - Ngày 7/3/1994, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 92/QĐ-TTg ngày 7/3/1994 về tăng cường quản lý chống lãng phí, thất thoát và tiêu cực trong đầu tư và xây dựng. Theo đó các dự án dùng vốn Nhà nước đều phải thông qua đấu thầu, kết quả đấu thầu có vốn đầu tư trên 10 triệu USD phải thông qua Hội đồng xét thầu quốc gia thẩm định để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét và phê duyệt. - Ngay sau Quyết định số 92/QĐ-TTg của Thủ tướng ngày 7/3/1994 về tăng cường quản lý chống lãng phí, thất thoát và tiêu cực trong đầu tư và xây dựng, ngày 30/3/1994, Bộ Xây dựng ban hành “Quy chế đấu thầu xây lắp” kèm theo Quyết định số 06/BXD-VKT ngày 17/3/1994, Quyết định này thay thế cho Quyết định 24/BXD-VKT ngày 12/2/1990 trước đây. Đây là văn bản được coi là quy chế đầu tiên quy định về đấu thầu. Nguyễn Thị Thu Trang 11 Lớp: Luật kinh doanh K46 Giai đoạn từ năm 1986 – 1996 là giai đoạn đầu tiên tại Việt Nam áp dụng đấu thầu, do đó các văn bản quy phạm pháp luật Nhà nước ban hành chưa thực sự sát với thực tế, tuy nhiên đó cũng là một khởi đầu để Nhà nước tiến tới hoàn thiện hơn pháp luật đấu thầu nói chung và đấu thầu xây lắp nói riêng. 1.2.2. Giai đoạn áp dụng Quy chế đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định 43/1996/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16/7/1996 về ban hành Quy chế đấu thầu và Nghị định số 93/1997/NĐ-CP của Chính phủ ngày 23/8/1997 Năm 1996, Chính phủ ban hành Nghị định số 43/1996/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16/7/1996 về quy chế đấu thầu. Văn bản này mang tính pháp lý cao hơn và phạm vi điều chỉnh rộng hơn so với các Quy chế đấu thầu trước đây, theo đó “gói thầu” lần đầu tiên đã trở thành đối tượng quản lý trong công tác đấu thầu. Quy chế đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định 43/1996/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16/7/1996 về quy chế đấu thầu ra đời, quy định điều kiện đấu thầu và quy trình đấu thầu chặt chẽ hơn đã khiến cho việc thực thi pháp luật đấu thầu nói chung và đấu thầu xây lắp nói riêng đạt hiệu quả hơn. Tuy nhiên cùng với tiến trình phát triển của nền kinh tế thì nó cũng không tránh khỏi những bất cập. 1.2.3. Giai đoạn áp dụng Quy chế đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định số 88/1999/NĐ-CP của Chính phủ ngày 1/9/1999 về ban hành quy chế đấu thầu; Nghị định số 14/2000/NĐ-CP của Chính phủ ngày 5/5/2000; Nghị định số 66/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12.6.2003 Năm 1999 Chính phủ ban hành Nghị định số 88/1999/NĐ-CP ngày 1/9/1999 về quy chế đấu thầu thay thế cho Nghị định số 43/1996/NĐ-CP ngày 16/7/1996 về quy chế đấu thầu Năm 2000 Chính phủ ban hành Nghị định số 14/2000/NĐ-CP ngày 5/5/2000 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế đấu thầu kèm theo Nghị định số 88/1999/NĐ-CP của Chính phủ ngày 1/9/1999 về quy chế đấu thầu và Nghị định số 14/2000/NĐ-CP của Chính phủ ngày 5/5/2000 Nguyễn Thị Thu Trang 12 Lớp: Luật kinh doanh K46 Hai văn bản trên ra đời đã điều chỉnh lĩnh vực đấu thầu rõ ràng hơn cơ chế cũ, phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu khoa học hơn, chuẩn mực hơn … Năm 2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 66/2003/NĐ-CP ngày 12/6/2003 sửa đổi, bổ sung Quy chế đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định số 88/1999/NĐ-CP của Chính phủ ngày 1/9/1999 về quy chế đấu thầu và Nghị định số 14/2000/NĐ-CP của Chính phủ ngày 5/5/2000, với 45% số điều sửa đổi, bổ sung, Nghị định này đã tăng cường tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch trong đấu thầu, đảm bảo hiệu quả kinh tế của dự án, tăng cường một bước công tác thanh tra, quản lý hoạt động đấu thầu và thực hiện hợp đồng, nâng cao công tác quản lý thông tin về đấu thầu. Năm 2003, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Xây dựng, Luật này có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2004 thay cho Quy chế quản lý đầu tư xây dựng được ban hành kèm theo Nghị định số 52/1999/NĐ-CP của Chính phủ ngày 8/7/1999 về quy chế quản lý đầu tư xây dựng. Trong Luật xây dựng 2003 có riêng Chương 16 quy định về lựa chọn nhà thầu và hợp đồng xây dựng. Luật này ra đời đã thực sự là bước tiến cơ bản trong công tác quản lý Nhà nước về đấu thầu, tạo cho hoạt động đấu thầu ngày càng phù hợp với xu thế hội nhập hiện nay. Năm 2005, Chính phủ ban hành Nghị định số 16/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 7/2/2005 quy định về Quy chế quản lý đầu tư xây dựng. Như vậy trong giai đoạn này pháp luật đấu thầu nói chung và pháp luật đấu thầu xây lắp nói riêng đã có sự phát triển về chất lượng, hoàn thiện hơn so với giai đoạn trước, điều đó cũng thể hiện ở thực tiễn áp dụng gặp ít bất cập hơn. 1.2.4. Giai đoạn áp dụng Luật đấu thầu ngày 29.11.2005 và các Nghị định hướng dẫn thi hành (Giai đoạn hiện hành) Trong những giai đoạn trước đây đã có nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh lĩnh vực đấu thầu nói chung, đấu thầu xây lắp nói riêng, tuy nhiên nó chỉ được quy định tại những văn bản dưới luật. Năm 2005, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật đấu thầu, Luật này có hiệu lực kể từ ngày 1/4/2006 đã tạo hành lang Nguyễn Thị Thu Trang 13 Lớp: Luật kinh doanh K46 pháp lý cho các hoạt động đấu thầu sử dụng nguồn vốn Nhà nước. Văn bản này có giá trị pháp lý cao nhất về đấu thầu nhằm tạo ra sự thống nhất trong quy trình đấu thầu các dự án có sử dụng vốn Nhà nước Năm 2006, Chính phủ ban hành các văn bản: - Nghị định số 111/2006/NĐ-CP ngày 29/9/2006 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đấu thầu và lựa chọn nhà thầu theo Luật Xây dựng. - Nghị định số 112/206/NĐ-CP ngày 29/9/2006 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều Nghị định số 16/2005/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình. - Thông tư số 13/2006/TT-BXD ngày 29/11/2006 của Bộ Xây dựng về việc hướng dẫn thủ tục xuất nhập khẩu hàng hóa của nhà thầu trong nước và nhà thầu nước ngoài quy định tại Nghị định số 111/2006/NĐ-CP ngày 29/9/2006 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đấu thầu và lựa chọn nhà thầu theo Luật Xây dựng. Năm 2007, Bộ Xây dựng ban hành Thông tư số 02/2007/TT-BXD ngày 14/02/2007 về việc hướng dẫn một số nội dung về lập, thẩm định, phê duyệt dự án đấu tư xây dựng công trình, giấy phép xây dựng và tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình quy định tại Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 và Nghị định số 112/2006/NĐ-CP ngày 29/9/2006 của Chính phủ. Trong thời gian áp dụng Nghị định số 111/2006/NĐ-CP ngày 29/9/2006 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đấu thầu và lựa chọn nhà thầu theo Luật Xây dựng, về phía cơ quan Nhà nước cũng như các chủ thể khác tham gia đấu thầu thấy văn bản này vẫn còn một số bất cấp. Ngày 5/5/2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 58/2008/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật đấu thầu và lựa chọn nhà thầu theo Luật Xây dựng. Qua đây nhiều bất cập của Nghị định 111/2006/NĐ-CP đã được sửa đổi, tuy nhiên cho đến nay thời gian áp dụng còn ngắn nên chưa thấy rõ được vai trò của nó. Những văn bản pháp lý hiện hành đã thực sự là khung khổ pháp lý quan trọng trong công tác quản lý kinh tế đầu tư xây dựng, tạo tiền đề thuận lợi cho công cuộc phát triển kinh tế đất nước và phù hợp với xu thế hội nhập hiện nay. Hệ thống Nguyễn Thị Thu Trang 14 Lớp: Luật kinh doanh K46 văn bản pháp lý hiện hành đã thể hiện được những những nỗ lực của các cơ quan Nhà nước trong việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực đấu thầu nói chung và đấu thầu xây lắp nói riêng, nó thể hiện sự hoàn thiện hơn hẳn so với thời kỳ mới áp dụng đấu thầu, tuy nhiên một điều không thể tránh khỏi cùng với tiến trình phát triển kinh tế thì việc áp dụng các văn bản pháp luật đấu thầu nói chung và đấu thầu xây lắp nói riêng vẫn còn một số bất cập, đó là lý do để các cơ quan có chức năng cần nghiên cứu thực tiễn áp dụng để ban hành những văn bản mới, tạo điều kiện tốt để phát huy hiệu quả đấu thầu. 2. Phạm vi, đối tượng áp dụng đấu thầu xây lắp 2.1 Phạm vi áp dụng đấu thầu xây lắp Đối với đấu thầu nói chung, Nhà nước ta chỉ quy định một số dự án bắt buộc phải tiến hành đấu thầu, còn các dự án khác Nhà nước khuyến khích áp dụng. Trong đấu thầu xây lắp thì các dự án sau bắt buộc phải tổ chức đấu thầu tuyển chọn nhà thầu: - Các dự án đầu tư thực hiện theo Quy chế Quản lý đầu tư và xây dựng có quy định phải thực hiện Quy chế đấu thầu - Các dự án sử dụng vốn Nhà nước từ 30% trở lên cho mục tiêu đầu tư phát triển bao gồm các dự án đầu tư xây dựng mới, nâng cấp mở rộng các dự án đã đầu tư xây dựng 2.2. Đối tượng áp dụng đầu thầu xây lắp Đấu thầu xây lắp áp dụng đối với các chủ thể sau: - Tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước tham gia hoạt động đấu thầu các gói thầu thuộc các dự án quy định tại Điều 1 Luật Đấu thầu 2005. + Đối với nhà thầu là tổ chức trong nước thì cần thỏa mãn những điều kiện sau: (1) Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đầu tư được cấp theo quy định của pháp luật hoặc có quyết định thành lập đối với các tổ chức không có đăng ký kinh doanh; (2) Hạch toán kinh tế độc lập; (3) Không bị cơ quan có Nguyễn Thị Thu Trang 15 Lớp: Luật kinh doanh K46 thẩm quyền kết luận về tình hình tài chính không lành mạnh, đang lâm vào tình trạng phá sản hoặc nợ đọng không có khả năng chi trả; đang trong quá trình giải thể. + Đối với nhà thầu là tổ chức nước ngoài, ngoài những điều kiện trên thì cần có đăng ký hoạt động do cơ quan có thẩm quyền của nước mà nhà thầu mang quốc tịch cấp. + Đối với nhà thầu là cá nhân thì cần có những điều kiện sau: (1) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định pháp luật của nước mà cá nhân đó là công dân; (2) Có đăng ký hoạt động hợp pháp hoặc chứng chỉ chuyên môn phù hợp do cơ quan có thẩm quyền cấp; (3) Không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. + Về phía bên mời thầu, cá nhân tham gia bên mời thầu cần có những điều kiện sau: (1) Am hiểu pháp luật đấu thầu; (2) Có kiến thức về quản lý dự án; (3) Có trình độ chuyên môn phù hợp với gói thầu theo các lĩnh vực kỹ thuật, tài chính, thương mại, hành chính và pháp lý; (4) Có trình độ ngoại ngữ đáp ứng được yêu cầu đối với gói thầu được tổ chức đấu thầu quốc tế, gói thầu thuộc dự án sử dụng vốn ODA.2 - Tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động đấu thầu các gói thầu thuộc các dự án quy định tại Điều 1 Luật Đấu thầu 2005, ví dụ tổ chuyên gia đấu thầu về lĩnh vực kỹ thuật, tài chính, thương mại, hành chính, pháp lý và các lĩnh vực liên quan. Thành viên tổ chuyên gia đấu thầu phải có đủ điều kiện sau: + Có chứng chỉ tham gia khóa học đấu thầu, + Có trình độ chuyên môn liên quan đến gói thầu, + Am hiểu các nội dung cụ thể tương ứng của gói thầu, + Có tối thiểu ba năm công tác trong lĩnh vực liên quan đến nội dung kinh tế, kỹ thuật của gói thầu.3 - Tổ chức, cá nhân có dự án không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật đấu thầu nhưng chọn áp dụng Luật Đấu thầu. Nếu một nhà thầu tham gia đấu thầu thì cần phải có những điều kiện sau: + Có tư cách hợp lệ theo quy định của Luật Đấu thầu, 2 Theo Điều 9.1 Luật Đấu thầu 2005 3 Theo Điều 9.2 Luật Đấu thầu 2005. Nguyễn Thị Thu Trang 16 Lớp: Luật kinh doanh K46 + Chỉ được tham gia trong một hồ sơ dự thầu đối với một gói thầu với tư cách là nhà thầu độc lập hoặc là nhà thầu liên danh. Trong trường hợp là nhà thầu liên danh thì cần phải có văn bản thỏa thuận giữa các thành viên, trong đó quy định rõ người đứng đầu liên danh, trách nhiệm chung và trách nhiệm của từng thành viên trong liên danh. + Đáp ứng được yêu cầu nêu trong thông báo mời thầu hoặc thư mời thầu của bên mời thầu, + Bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu theo quy định của Luật Đấu thầu.4 3. Hình thức, phương thức đấu thầu xây lắp 3.1. Hình thức đầu thầu xây lắp Trong đấu thầu xây lắp, có thể lựa chọn nhà thầu dưới các hình thức sau: 3.1.1. Đấu thầu rộng rãi Đấu thầu rộng rãi là hình thức đấu thầu không hạn chế số lượng nhà thầu tham dự. Trước khi phát hành hồ sơ mời thầu, bên mời thầu phải thông báo thông tin mời thầu và đăng tải trên các tờ báo về đấu thầu và trang thông tin điện tử về đấu thầu của cơ quan quản lý nhà nước về đấu thầu tối thiểu 10 ngày trước khi phát hành hồ sơ để các nhà thầu biết thông tin tham dự. Bên mời thầu phải cung cấp hồ sơ mời thầu cho các nhà thầu có nhu cầu tham gia đấu thầu. Trong hồ sơ mời thầu không được nêu bất cứ điều kiện nào nhằm hạn chế sự tham gia của nhà thầu hoặc nhằm tạo lợi thế cho một hoặc một số nhà thầu gây ra sự cạnh tranh không bình đẳng. Do tính chất “rộng rãi” nên số lượng nhà thầu tham gia đông, do đó bên mời thầu có cơ hội để lựa chọn nhà thầu có đủ tư cách, năng lực để thực hiện gói thầu. Tuy nhiên do số lượng nhà thầu tham dự đông nên chi phí đánh giá hồ sơ dự thầu cũng rất tốn kém. Hình thức đấu thầu này không thể áp dụng đối với những gói thầu có yêu cầu kỹ thuật cao, công nghệ tiên tiến. Về nguyên tắc, đã đấu thầu là phải đấu thầu rộng rãi, trong một số trường hợp cần thiết mới tổ chức đấu thầu theo hình thức 4 Theo Điều 10 Luật Đấu thầu 2005. Nguyễn Thị Thu Trang 17 Lớp: Luật kinh doanh K46 khác, nếu không chứng minh được những điều kiện cần thiết để đấu thầu theo hình thức khác thì phải tổ chức đấu thầu rộng rãi 3.1.2. Đấu thầu hạn chế Nếu như đấu thầu rộng rãi tốn kém, khó có thể lựa chọn được nhà thầu có đủ năng lực để thực hiện gói thầu có yêu cầu kỹ thuật cao thì đấu thầu hạn chế khắc phục được những nhược điểm đó. Đấu thầu hạn chế được áp dụng trong các trường hợp sau đây: + Theo yêu cầu của nhà tài trợ nước ngoài đối với nguồn vốn sử dụng cho gói thầu; + Gói thầu có yêu cầu cao về kỹ thuật hoặc kỹ thuật có tính đặc thù; gói thầu có tính chất nghiên cứu, thử nghiệm mà chỉ có một số nhà thầu có khả năng đáp ứng yêu cầu của gói thầu. Trước khi phát hành hồ sơ mời thầu, chủ đầu tư cần phải phê duyệt danh sách các nhà thầu được coi là có đủ năng lực và kinh nghiệm để mời tham gia đấu thầu. Tuy nhiên khi thực hiện đấu thầu hạn chế, phải mời tối thiểu năm nhà thầu được xác định là có đủ năng lực và kinh nghiệm tham gia đấu thầu; trường hợp thực tế có ít hơn năm nhà thầu, chủ đầu tư phải trình người có thẩm quyền xem xét, quyết định cho phép tiếp tục tổ chức đấu thầu hạn chế hoặc áp dụng hình thức lựa chọn khác. Đối với dự án đầu tư xây dựng công trình, công trình sử dụng vốn Nhà nước thì không cho phép hai doanh nghiệp trở lên thuộc cùng một công ty, tổng công ty với công ty thành viên, công ty mẹ và công ty con, doanh nghiệp liên doanh với một bên góp vốn trong liên doanh cùng tham gia đấu thầu hạn chế trong một gói thầu 5 3.1.3. Chỉ định thầu Chỉ định thầu là hình thức trực tiếp lựa chọn một nhà thầu có khả năng đáp ứng được yêu cầu của gói thầu để thương thảo và ký hợp đồng. Trước khi thực hiện 5 Điều 100 Luật Xây dựng Nguyễn Thị Thu Trang 18 Lớp: Luật kinh doanh K46 chỉ định thầu, dự toán đối với gói thầu đó phải được phê duyệt và việc chỉ định thầu phải tuân thủ quy trình do Chính phủ quy định. Chỉ định thầu trong đấu thầu xây lắp được áp dụng trong các trường hợp sau đây: - Sự cố bất khả kháng do thiên tai, địch họa, sự cố cần khắc phục ngay thì chủ đầu tư hoặc cơ quan chịu trách nhiệm quản lý công trình, tài sản đó được chỉ định ngay nhà thầu để thực hiện; trong trường hợp này chủ đầu tư hoặc cơ quan chịu trách nhiệm quản lý công trình, tài sản đó phải cùng với nhà thầu được chỉ định tiến hành thủ tục chỉ định thầu theo quy định trong thời hạn không quá mười lăm ngày kể từ ngày chỉ định thầu; - Gói thầu do yêu cầu của nhà tài trợ nước ngoài; - Gói thầu thuộc dự án bí mật quốc gia; dự án cấp bách vì lợi ích quốc gia, an ninh an toàn năng lượng do Thủ tướng Chính phủ quyết định khi thấy cần thiết. Khi áp dụng hình thức chỉ định thầu (mời trực tiếp một nhà thầu có đủ năng lực thực hiện gói thầu) thì bên mời thầu không phải lập hồ sơ mời đấu thầu mà chỉ lập bản yêu cầu đối với các gói thầu và các tài liệu có liên quan để nhà thầu xây dựng bản chào thầu với các đề xuất về giá, tiến độ và các giải pháp thực hiện gói thầu. Nếu đề xuất của nhà thầu được chấp thuận thì bên mời thầu tổ chức đàm phán, ký kết hợp đồng Theo Quyết định 49/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 11/4/2007 thì các trường hợp đặc biệt được chỉ định thầu quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 101 của Luật Xây dựng, bao gồm: + Lập đồ án quy hoạch xây dựng; + Lập dự án đầu tư xây dựng công trình và thiết kế xây dựng công trình sau khi thi tuyển phương án thiết kế kiến trúc công trình xây dựng. Sau khi có kết quả thi tuyển, chủ đầu tư và tác giả của phương án thiết kế kiến trúc được lựa chọn trực tiếp đàm phán, ký kết hợp đồng để thực hiện việc lập dự án đầu tư xây dựng công trình và thiết kế xây dựng khi tác giả của phương án thiết kế kiến trúc có đủ điều kiện năng lực theo quy định; trường hợp tác giả phương Nguyễn Thị Thu Trang 19 Lớp: Luật kinh doanh K46 án kiến trúc không đủ điều kiện năng lực thì có thể liên danh với tổ chức tư vấn thiết kế có đủ điều kiện năng lực để ký kết hợp đồng với chủ đầu tư. Nếu tác giả của phương án thiết kế kiến trúc được lựa chọn từ chối thực hiện lập dự án đầu tư xây dựng công trình và thiết kế xây dựng thì chủ đầu tư tổ chức lựa chọn nhà thầu khác theo quy định của pháp luật. 3.1.4. Tự thực hiện Hình thức tự thực hiện được áp dụng trong trường hợp chủ đầu tư là nhà thầu có đủ năng lực và kinh nghiệm để thực hiện gói thầu thuộc dự án do mình quản lý và sử dụng. Tuy nhiên khi áp dụng hình thức tự thực hiện, dự toán cho gói thầu phải được phê duyệt theo quy định. Đơn vị giám sát việc thực hiện gói thầu phải độc lập với chủ đầu tư về tổ chức và tài chính. 3.1.5. Lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt Trường hợp gói thầu có đặc thù riêng biệt mà không thể áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu như đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế, chỉ định thầu, tự thực hiện thì chủ đầu tư phải lập phương án lựa chọn nhà thầu, bảo đảm mục tiêu cạnh tranh và hiệu quả kinh tế trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. Thực tế cho thấy hiện nay số lượng dự án được đấu thầu rộng rãi chỉ chiếm tỷ lệ ít nhất, sau đó là đến đấu thầu hạn chế, và nhiều nhất là hình thức chỉ định thầu và tự thực hiện. Do bên mời thầu trong một số trường hợp chưa am hiểu chuyên môn, ít kinh nghiệm; chất lượng tư vấn đấu thầu còn hạn chế; chế tài xử phạt chưa rõ ràng và cụ thể... khiến nhiều gói thầu bị lạm dụng. Đấu thầu hạn chế được thực hiện nhiều tạo điều kiện cho các hành động tiêu cực như thông thầu, chỉ định thầu... phát sinh. 3.2. Phương thức đấu thầu xây lắp Trong đấu thầu xây lắp có các phương thức đấu thầu sau: Nguyễn Thị Thu Trang 20 Lớp: Luật kinh doanh K46 3.2.1. Đấu thầu một túi hồ sơ Đấu thầu một túi hồ sơ là phương thức đấu thầu mà nhà thầu tham gia nộp một túi hồ sơ. Theo phương thức này nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu gồm đề xuất kỹ thuật và đề xuất tài chính vào chung một túi hồ sơ, việc mở thầu chỉ được tiến hành một lần. Phương thức này áp dụng cho việc lựa chọn nhà thầu cho gói thầu xây lắp không lớn. 3.2.2. Đấu thầu hai giai đoạn Đấu thầu hai giai đoạn là phương thức đấu thầu trong đó việc thực hiện đấu thầu thông qua hai giai đoạn: + Giai đoạn một: Nhà thầu nộp hồ sơ có đề xuất kỹ thuật, tài chính nhưng chưa có giá thầu. Trong giai đoạn này các bên tham gia đấu thầu trao đổi, thảo luận và thống nhất yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật với nhau, trên cơ sở đó sẽ xác định hồ sơ mời thầu giai đoạn hai. + Giai đoạn hai: Đây là giai đoạn các nhà thầu nộp hồ sơ chính thức với đề xuất kỹ thuật đã được bổ sung hoàn chỉnh và đề xuất chi tiết về tài chính với đầy đủ nội dung về tiến độ thực hiện, điều kiện hợp đồng, giá dự thầu, biện pháp bảo đảm dự thầu. Phương thức đấu thầu hai giai đoạn áp dụng với hình thức đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế cho gói thầu xây lắp có kỹ thuật, công nghệ mới, phức tạp, đa dạng. 4. Các nguyên tắc cơ bản trong đấu thầu xây lắp Trong quá trình đấu thầu nói chung và đấu thầu xây lắp nói riêng, các chủ thể tham gia cần tuân theo một số nguyên tắc nhất định nhằm đảm bảo hoạt động đấu thầu diễn ra nhất quán theo một quy chế chung, đảm bảo công bằng cho các nhà thầu tham dự và đảm bảo tối đa lợi ích của việc tổ chức đấu thầu, đáp ứng tốt nhất các yêu cầu về tiến độ, chất lượng, tài chính của dự án, bảo đảm lợi ích chính đáng cho cả chủ đầu tư và nhà thầu tham dự.
- Xem thêm -