Giải pháp quản lý chất lượng ở công ty cổ phần bánh kẹo hải châu

  • Số trang: 57 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 11 |
  • Lượt tải: 0
hoangtuavartar

Đã đăng 24838 tài liệu

Mô tả:

LỜI MỞ ĐẦU Việt Nam đang trong thời kỳ của sự mở cửa hội nhập nền kinh tế thế giới. Trong bối cảnh khu vực hoá, quốc tế hoá nền kinh tế toàn cầu, lại một lần nữa các doanh nghiệp chúng ta có thêm vận hội và thời cơ mới trong việc mở rộng sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường, chuyển giao công nghệ hiện đại cũng như phương pháp tổ chức quản lý tiền tiến. Nhờ đó năng suất, chất lượng sản phẩm không ngừng được nâng cao. Hàng hoá có chất lượng cao đang tràn ngập trên thị trường với giá rẻ, mẫu mã lịch sự, sang trọng chất lượng xem như hoàn hảo đã và sẽ lấn lướt các sản phẩm trong nước. Để doanh nghiệp ta không bị thua ngay trên sân nhà thì sản phẩm của ta phải đạt chất lượng tức phải có sự quản lý chất lượng một cách hết sức nghiêm túc. Sự tiến bộ không ngừng của khoa học - kỹ thuật, hàng ngày có cả trăm phát minh, sáng chế mới ra đời và đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, tạo ra những sản phẩm có hàm lượng khoa học kỹ thuật cao. Với các nhân tố đó tất sẽ dẫn tới cuộc chạy đua chất lượng và vì thế chất lượng sản phẩm sản xuất ra sẽ hoàn thiện lên. Những doanh nghiệp yếu kém về năng lực sản xuất, vốn ít, tổ chức quản lý kém làm sao có thể tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao để lưu thông trên thị trường. Mức sống của con người ngày một cao nhu cầu ngày một đa dạng và phong phú. Họ luôn có xu hướng tiêu dùng những sản phẩm có giá trị sử dụng, giá trị thẩm mỹ cao chứ không phải sản phẩm có giá rẻ, chất lượng thấp. Lại một lần nữa khẳng định sự cần thiết phải nâng cao chất lượng sản phẩm cho các doanh nghiệp. Nhận thức sâu sắc về vấn đề trên, các doanh nghiệp đã tìm cho mình những bước đi thận trọng với hàng loạt các chiến lược, chính sách và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm của mình để tăng năng lực cạnh tranh, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình. Hoà chung dòng chảy đó, Công ty CP bánh kẹo Hải Châu cũng không phải là một ngoại lệ. Ban lãnh đạo Công ty đã đưa ra các chính sách chất lượng hợp lý luôn coi chất lượng sản phẩm là trên hết, chất lượng sản phẩm có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, em đã mạnh dạn chọn đề tài: "Giải pháp quản lý chất lƣợng ở Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu ". Nội dung của đề tài được trình bày qua 3 chương: Chương I- Cơ sở lý luận về quản lý chất lượng của doanh nghiệp. Chương II- Phân tích thực trạng quản lý chất lượng của Công ty CP bánh kẹo Hải Châu . Chương III- Giải pháp hoàn thiện quản lý chất lượng Công ty CP bánh kẹo Hải Châu. CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƢỢNG CỦA DOANH NGHIỆP I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHẤT LƢỢNG SẢN PHẨM 1. Chất lƣợng là gì ? Nhìn chung theo quan điểm triết học chất lượng là một phần tồn tại bên trong của các sự vật hiện tượng. Còn trong từ điển Tiếng Việt thì chất lượng là cái tạo nên phẩm chất giá trị của một con người, một sự vật, một sự việc. Điều này cho thấy chất lượng mang một ý nghĩa rất rộng và bao trùm lên mọi hình thái tồn tại của thế giới vật chất, kể cả hữu hình và vô hình. 2. Quan niệm về chất lƣợng sản phẩm. Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội không ai phủ nhận tầm quan trọng của chất lượng sản phẩm. Nó là một yếu tố góp phần đảm bảo sự thành công của một doanh nghiệp nói riêng và cả một nền kinh tế nói chung. Vậy chất lượng là thước đo mức độ hữu ích của giá trị sử dụng biểu thị toàn bộ giá trị sử dụng của sản phẩm hàng hoá. Có thể đưa ra khái niệm tương đối khái quát như sau: “Chất lượng sản phẩm hàng hoá là tổng hợp các đặc tính của sản phẩm tạo nên giá tri sử dụng, thể hiện khả năng mức độ thoả mãn nhu cầu tiêu dùng với hiệu quả cao, trong những điều kiện sản xuất, kinh tế xã hội nhất định”. 3. Sự hình thành của chất lƣợng sản phẩm. Trong sản xuất kinh doanh, mục đích lớn nhất đó là phải sản xuất ra những hàng hoá đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Mà điều cốt lõi là khách hàng luôn muốn tìm cho mình một sản phẩm có chất lượng cao giá cả hợp lý đây là một điều không dễ dàng gì đối với các nhà cung ứng. Để tạo ra một sản phẩm có chất lượng không chỉ đơn thuần quan tâm đến một vài công đoạn của việc sản xuất ra sản phẩm mà bất cứ một sản phẩm nào cũng được hoàn thành theo một trình tự nhất định với nhiều nghiệp vụ khác nhau mà nếu một sự yếu kém bất kỳ nào trong trình tự ấy sẽ trực tiếp làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm. Điều này đã được các học giả phân tích một cách chi tiết các công đoạn phải được quản lý, thực hiện theo một chu trình khép kín, vì sản xuất bắt nguồn từ nhu cầu thị trường và cũng quay trở về thị trường để kiểm chứng và tất nhiên chất lượng sản phẩm cũng được hình thành trong chu trình đó. 4. Những đặc điểm cơ bản của chất lƣợng sản phẩm Nhìn chung, mỗi sản phẩm khác nhau đều có đặc điểm riêng quy định cho chất lượng sản phẩm. Song qua khái niệm về chất lượng sản phẩm chúng ta có thể đưa ra một số đặc điểm sau: - Chất lượng được đo bằng mức độ thoả mãn của người tiêu dùng. - Chất lượng sản phẩm là một khái niệm mang tính tương đối. - Chất lượng sản phẩm có thể được lượng hoá. - Chất lượng là vấn đề luôn được đặt ra ứng với mọi trình độ sản xuất. Từ các đặc điểm trên ta thấy sự cần thiết phải đánh giá đúng mức chất lượng sản phẩm, so sánh với nhu cầu của người tiêu dùng để sản phẩm luôn mang lại tối đa lợi ích cho người tiêu dùng và lợi nhuận thu được là lớn nhất. Đồng thời phải xem xét đến sự thay đổi của môi trường ngành kinh tế - kỹ thuật để có mức chất lượng hợp lý. 5. Sự phân loại chất lƣợng sản phẩm - ý nghĩa và mục đích. 5.1. Chất lượng thiết kế Chất lượng thiết kế được thể hiện ở chỗ sản phẩm hoặc dịch vụ đó được thiết kế tốt như thế nào để đạt được mục tiêu. Các sản phẩm có tính năng tác dụng, hình mẫu khác nhau như thế nào đều phụ thuộc vào quá trình thiết kế ra chúng. 5.2. Chất lượng thực tế. Chất lượng thực tế của sản phẩm là giá trị các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm thực tế đạt được do các yếu tố chi phối như: nguyên vật liệu, máy móc, phương pháp quản lý... Do vậy nó phản ánh khá chính xác khả năng sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp. 5.3. Chất lượng chuẩn Chất lượng chuẩn là giá trị các chỉ tiêu đặc trưng được cấp có thẩm quyền phê chuẩn. Chất lượng thiết kế phải dựa trên cơ sở của chất lượng chuẩn đã được doanh nghiệp, Nhà nước quy định để có các chỉ tiêu về chất lượng của sản phẩm hàng hoá hợp lý. 5.4. Chất lượng cho phép. Để xác định chính xác chất lượng cho phép nhà sản xuất phải căn cứ vào năng lực sản xuất thực tế, phương pháp tổ chức quản lý của doanh nghiệp và các yếu tố vĩ mô khác. 5.5. Chất lượng tối ưu. Chất lượng tối ưu là giá trị các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm đạt được mức độ hợp lý nhất trong điều kiện kinh tế xã hội nhất định, hay nói cách khác sản phẩm hàng hoá đạt mức chất lượng tối ưu là các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm thoả mãn nhu cầu người tiêu dùng, có khả năng mang lại hiệu quả kinh doanh cao. 6. Các nhân tố ảnh hƣởng tới chất lƣợng sản phẩm. Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm bao gồm cả các yếu tố vi mô và các yếu tố vĩ mô. Sẽ không thể có quản lý chất lượng sản phẩm tốt, có các biện pháp để nâng cao chất lượng sản phẩm nếu như chúng ta không biết chất lượng sản phẩm tốt hay xấu là do đâu. 6.1. Một số yếu tố ở tầm vĩ mô. Các yếu tố này có tác động rất lớn tới chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp, khi nó mang tính tích cực sẽ làm cho doanh nghiệp có vị thế hơn trên thương trường, sản phẩm của họ có sức cạnh tranh cao và ngược lại. 6.2. Các nhân tố tác động tới chất lượng sản phẩm ở tầm vi mô. Sản phẩm là kết quả của một quá trình biến đổi, do vậy chất lượng sản phẩm cũng là kết quả của quá trình. Mà một quá trình sản xuất lại gồm nhiều các công đoạn khác nhau. Trong mỗi công đoạn đó nó đều chịu sự chi phối của các nhân tố cơ bản như: Con người; phương pháp tổ chức quản lý; thiết bị công nghệ; nguyên, nhiên vật liệu- đó là điều ta không thể phủ nhận. 7. Các chỉ tiêu phản ánh chất lƣợng sản phẩm. Trong thực tiễn ta gặp rất ít sản phẩm chỉ có một chỉ tiêu chất lượng, mà thường có rất nhiều chỉ tiêu khác nhau. Ta có thể tập hợp một số chỉ tiêu sau để đánh gía chất lượng sản phẩm: - Nhóm chỉ tiêu sử dụng: Đây là nhóm chỉ tiêu chất lượng sản phẩm mà người tiêu dùng khi mua hàng hay sử dụng để kiểm tra, đánh giá chất lượng sản phẩm hàng hoá. - Nhóm chỉ tiêu kỹ thuật- công nghệ. Bằng cách nào ta có thể kiểm tra, đánh giá về giá trị sử dụng của sản phẩm. Ta sẽ không có kết luận gì về chất lượng sản phẩm hàng hoá nếu như không nghiên cứu một số chỉ tiêu quan trọng sau: + Chỉ tiêu về cơ lý hoá như khối lượng, thông số kỹ thuật, các thông số về độ bền, độ tin cậy, độ chính xác, an toàn khi sử dụng và sản xuất... mà hầu như mọi sản phẩm đều có. Các chỉ tiêu này thường được quy định trong văn bản tiêu chuẩn của cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp, hợp đồng kinh tế... + Chỉ tiêu về sinh hoá như mức độ ô nhiễm đến môi trường, khả năng toả nhiệt, giá trị dinh dưỡng, độ ẩm, độ mài mòn,...Tuỳ vào từng mặt hàng cụ thể và thành phần mỗi chỉ tiêu chiếm mà ta tiến hành kiểm tra các chỉ tiêu này ở một mức độ nhất định, đặc biệt chú ý đến các chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm. - Nhóm chỉ tiêu hình dáng trang trí thẩm mỹ. Các chỉ tiêu này bao gồm: chỉ tiêu về hình dạng sản phẩm, sự phối hợp các yếu tố tạo hình, tính chất đường nét, hoa văn, màu sắc thời trang... Đây là nhóm các chỉ tiêu mà chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của nhiều người, khó được lượng hoá và vì vậy đòi hỏi cán bộ kiểm nghiệm hay người tiêu dùng phải có kinh nghiệm, am hiểu thẩm mỹ. Phần lớn các sản phẩm mang đặc trưng này là các sản phẩm về nghệ thuật, tranh ảnh, quần áo thời trang, đồ trang sức... - Nhóm các chỉ tiêu kinh tế. Các chỉ tiêu kinh tế, nhóm này bao gồm chi phí sản xuất, chi phí cho quá trình sử dụng, chi phí cho quá trình bảo trì bảo dưỡng, giá cả.... Đây là chỉ tiêu quan trọng luôn được nhà sản xuất và người tiêu dùng sử dụng để đánh giá chất lượng sản phẩm hàng hoá. 8. Vấn đề cơ bản của đảm bảo và cải tiến nâng cao chất lƣợng sản phẩm Khi chúng ta coi chất lượng là trên hết sẽ làm cho chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp đẩy lên ở mức cao, nó cũng đem lại năng suất lao động lớn, đến lượt nó lại tạo thuận lợi cho việc giảm chi phí, tăng thu nhập. Đảm bảo chất lượng của sản phẩm phải đáp ứng các yêu cầu của người tiêu dùng mà họ đã tin tưởng, mua và sử dụng sản phẩm hàng hoá của công ty. Đây chính là trách nhiệm của các nhà sản xuất đối với người tiêu dùng. Để có được sự tín nhiệm của khách hàng về sản phẩm của mình phải mất rất nhiều thời gian hoạt động đảm bảo chất lượng sản phẩm có khi đến hàng chục năm. 9. Lợi ích của việc nâng cao chất lƣợng sản phẩm hàng hoá. Trong điều kiện khi mà đời sống của con người đã tăng cao, khi người tiêu dùng muốn loại trừ những phiền hà, cản trở do sản phẩm kém chất lượng gây ra thì vấn đề phải được giải quyết trước hết là chất lượng sản phẩm. Để thu hút được người tiêu dùng, các hãng sản xuất phải tập trung mọi nỗ lực để giải quyết vấn đề chất lượng. Có thể nói chất lượng là yếu tố hàng đầu trong cuộc cạnh tranh, giá cả chỉ là yếu tố sau nó. Việc đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với nhà sản xuất, người tiêu dùng. II. VẤN ĐỀ QUẢN LÝ CHẤT LƢỢNG SẢN PHẨM Ở DOANH NGHIỆP Chất lượng sản phẩm mang ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp, hiểu rõ, hiểu sâu về chất lượng sản phẩm không chưa đủ nói lên điều gì vì không phải cứ sản xuất sản phẩm ra là đã có chất lượng mà điều tối quan trọng là chúng ta phải tác động vào nó, quản lý nó theo đúng mục tiêu đã định. Vậy quản lý chất lượng là gì ? Và quản lý như thế nào cho có hiệu quả lại la vấn đề rất phức tạp và cũng có không ít các quan điểm, các trường phái khác nhau nhìn nhận về cùng một vấn đề này. Mà chính lý do đó mà quản lý chất lượng ngày một hoàn thiện hơn tương xứng với tầm quan trọng của chất lượng sản phẩm. Ta hãy nghiên cứu vấn đề này qua các nội dung sau. 1. Trƣớc hết ta phải hiểu quản lý chất lƣợng là gì ? Và vì sao phải tiến hành quản lý chất lƣợng sản phẩm?. 1.1. Quản lý chất lượng sản phẩm. Cũng như chất lượng sản phẩm, quản lý chất lượng sản phẩm cũng có nhiều cách nhìn khác nhau do nó phụ thuộc vào đặc điểm của đối tượng quản lý, và vị trí của chủ thể quản lý đối với đối tượng vật chất. Mục tiêu then chốt của quản lý chất lượng sản phẩm là tạo ra những sản phẩm thoả mãn nhu cầu xã hội. Thoả mãn thị trường với chi phí xã hội thấp nhất nhờ các hoạt động bảo đảm chất lượng của đồ án thiết kế sản phẩm, tuân thủ đồ án ấy trong quá trình sản xuất cũng như sử dụng sản phẩm. Một mục tiêu có thể có nhiều phương pháp khác nhau để cùng đạt được mục tiêu đó. “ Quản lý chất lượng là một hoạt động của chức năng quản lý chung nhằm đề ra các chính sách, mục tiêu và trách nhiệm và thự hiện chúng bằng các biện pháp như hoạch định chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ hệ thống chất lượng”. 1.2. Sự cần thiết phải quản lý chất lượng sản phẩm. Quản lý chất lượng sản phẩm sẽ cho chúng ta một cách sử dụng hợp lý nhất, tiết kiệm nhất các nguồn lực của doanh nghiệp. Quản lý tốt các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm sẽ làm giảm hàng kém phẩm chất làm ra hàng có chất lượng tốt hơn, làm giảm giá thành sản phẩm. Ta có thể nhận thấy giữa vấn đề giảm giá thành sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm là không mâu thuẫn và hoàn toàn có thể thực hiện được nhờ công tác quản lý chất lượng. Quy luật cạnh tranh vừa là đòn bẩy để các doanh nghiệp tiến lên đà phát triển, hoà nhập với thị trường khu vực và thế giới song nó cũng gây sức ép lớn cho các doanh nghiệp. Trong kinh doanh nếu như đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu thì tất về lâu dài doanh nghiệp sẽ nằm ra ngoài quỹ đạo của thị trường. Đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp ta có thể sử dụng nhiều chỉ tiêu khác nhau song chỉ tiêu chất lượng sản phẩm là quan trọng nhất. Vậy nên, quản lý chất lượng chính là phương thức mà doanh nghiệp cần tiếp cận và hoàn thiện hệ thống của mình. Có như vậy doanh nghiệp mới có khả năng thắng lợi trên thương trường. 2. Đặc điểm của công tác quản lý chất lƣợng sản phẩm. Thực tế cho thấy, sự thành công của các doanh nghiệp trên thương trường đặc biệt là các doanh nghiệp ở Nhật đều bắt nguồn từ một nguyên nhân quan trọng đó là họ khởi nguồn mọi hành động là chất lượng, phương châm là chất lượng. Điều đó giải thích tại sao sản phẩm của Nhật luôn được người tiêu dùng tín nhiệm,nó mang lại sức cạnh tranh to lớn bên cạnh những sản phẩm được sản xuất ở một số ước Tây Âu, Bắc Mỹ… Quản trị chất lượng là công việc, trách nhiệm của tất cả mọi thành viên trong doanh nghiệp. Quản trị chất lượng phải được thực hiện ở cấp lãnh đạo cao nhất của công ty với ý nghĩa chiến lược, đồng thời phải quán triệt quản lý tác nghiệp ở từng phân xưởng, tổ đội sản xuất vì thế có các nguồn thông tin hai chiều. Quản trị nói chung và quản lý chất lượng nói riêng không có thông tin thì không thể thực hiện quản ý và thông tin trong mối quan hệ tương tác đòi hỏi phải chính xác, kịp thời, đầy đủ, có như thế cán bộ lãnh đạo quản lý chất lượng mới có các quyết định đúng đắn. Quản lý chất lượng phải được các cấp trong doanh nghiệp thấm nhuần các mục đích,vai trò, ý nghĩa của nó đối với hãng và chính bản thân các nhân viên. Các doanh nghiệp phải tổ chức các chương trình đào tạo, có thể đào tạo trong hoặc ngoài công việc cho ban giám đốc hãng, các thành viên của ban quản lý, trưởng phòng, đốc công, công nhân, thiết lập lên nhu cầu các nhóm hoạt động vì chất lượng. 3. Những yêu cầu chủ yếu trong quản trị chất lƣợng sản phẩm ở doanh nghiệp Quản lý chất lượng sản phẩm phải chú ý tới con người, ta đã tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm và khẳng định con người là nhân tố cơ bản nhất quyết định đến việc tạo ra chất lượng sản phẩm cao hay thấp. Từ giám đốc cho tới người công nhân đều phải thấy được trách nhiệm của mình về vấn đề chất lượng. Quản lý chất lượng sản phẩm tập trung vào các quá trình, quản lý hệ thống. Nâng cao tính linh hoạt và không ngừng nâng cao chất lượng của toàn bộ hệ thống và các quá trình từ thiết kế đến sản xuất, tiêu thụ và tiêu dùng sản phẩm. Đồng thời xác định những nguyên nhân gây ra trục trặc về chất lượng sản phẩm và có biện pháp tác động nhằm ngăn chặn những nhân tố đó. Trong đó cần sử dụng vòng tròn chất lượng và các công cụ thống kê để đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá. Phát triển và tập trung ưu tiên cho những vấn đề quan trọng nhất trong công tác quản lý. 4. Các chức năng của công tác quản lý chất lƣợng sản phẩm. Quản lý chất lượng sản phẩm được hiểu một cách rộng rãi và toàn diện, báo quát mọi chức năng cơ bản của quá trình quản lý. Nó được tiến hành theo trình tự: Nghiên cứu nhu cầu – thiết kế – thi công- chế tạo… đến lưu thông sử dụng sản phẩm. - Chức quy định (hoạch định) chất lượng sản phẩm: Chức năng hoạch định mang tính quyết định đến hoạt động quản lý chất lượng sản phẩm. Hoạt động này cho phép doanh nghiệp có một mục tiêu chất lượng, và phương châm hành động vì chất lượng cũng như sử dụng hợp lý nhất các nguồn lực mà doanh nghiệp có thể khai thác. Từ đó doanh nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất và thị trường. - Chức năng quản lý chất lượng sản phẩm gồm mọi hoạt động các khâu từ sản xuất đến tiêu dùng, hay chi tiết hơn đó là từ khi chuẩn bị nguyên, nhiên vật liệu chế tạo thử sản xuất đại trà và chuyển sang mạng lưới lưu thông phân phối rồi sử dụng sản phẩm. - Chức năng đánh giá chất lƣợng sản phẩm: Để chất lượng sản phẩm hoàn hảo đòi hỏi việc đánh giá chất lượng sản phẩm phải thực hiện chi tiết và tổng hợp có nghĩa là đánh giá từ các yếu tố đầu vào, sản xuất cho tới chất lượng sản phẩm được chế tạo ra. - Chức năng cải tiến và điều chỉnh. 5. Hiệu quả của công tác quản lý chất lƣợng sản phẩm trong doanh nghiệp Hiểu rõ được quản lý chất lượng, vai trò , ý nghĩa, mục đích, các phương pháp quản lý chất lượng sản phẩm và việc sử dụng linh hoạt các công cụ trong quản lý các doanh nghiệp chắc chắn sẽ gặt hái được những lợi thế. Nhờ công tác quản lý chất lượng mà công việc của bộ phận trong công ty tiến hành trôi chảy, nâng cao lòng tin của bên ngoài như các cơ quan ngân hàng, cơ quan thuế, các cơ quan hành chính… đối với công ty. CHƢƠNG II PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT LƢỢNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI CHÂU I. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CP BÁNH KẸO HẢI CHÂU 1. Sự ra đời của Công ty CP bánh kẹo Hải Châu Công ty bánh kẹo Hải Châu là một doanh nghiệp nhà nước trực thuộc tổng Công ty mía đường I- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ,do được sự giúp đỡ của hai tỉnh Thượng Hải và Quảng Châu (Trung Quốc) nên mới có tên gọi là Hải Châu. Công ty được thành lập ngày 02/09/1965, quá trình hình thành và phát triển có thể được tóm tắt như sau. 2. Những giai đoạn phát triển của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu. 2.1. Thời kỳ thành lập từ năm 1965-1975 Thời kỳ này do có chiến tranh đánh phá của đế quốc Mỹ nên công ty không còn lưu giữ được các số liệu ban đầu về vốn đầu tư của công ty. Năng lực sản xuất của công ty bao gồm 3 phân xưởng chính là: Phân xưởng bánh; Phân xưởng kẹo; Phân xưởng sản xuất mỳ sợi. Trong thời kỳ này do chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (1972) nên một phần nhà xưởng máy móc, thiết bị hư hỏng, Công ty được Bộ tách phân xưởng kẹo sang nhà máy miến Hà Nội thành lập nhà máy Hải Châu (nay là Công ty bánh kẹo Hải Châu - Bộ Công nghiệp). 2.2. Thời kỳ từ năm 1976-1985 : Sang thời kỳ này Công ty đã khắc phục những thiệt hại sau chiến tranh và đi vào hoạt động bình thường. Năm 1976 Bộ công nghiệp thực phẩm cho nhập nhà máy sữa Mậu Sơn (Lạng Sơn) thành lập phân xưởng giấy phun. Phân xưởng này sản xuất hai mặt hàng là sữa đậu nành và Bột canh. Năm 1982, do khó khăn về bột mỳ và nhà nước bỏ chế độ độn mỳ sợi thay lương thực, Công ty được Bộ công nghiệp thực phẩm cho ngừng hoạt động phân xưởng mỳ lương thực. Trong thời kỳ này, Công ty đã tận dụng mặt bằng và lao động, đồng thời đầu tư 12 lò sản xuất bánh kem xốp công suất 240kg/ca. Bánh kem xốp là sản phẩm đầu tiên ở nước ta. Số cán bộ công nhân viên chức của công ty bình quân thời kỳ này là 250 người/năm. 2.3. Thời kỳ từ năm 1986-1991 : Trong thời gian từ năm 1986-1990, tận dụng nhà xưởng của phân xưởng sấy phun, Công ty đã lắp đặt dây chuyền sản xuất bia với công suất 2000 lít/ngày. Từ 1990-1991, Công ty lắp đặt một dây chuyền sản xuất bánh quy Đài Loan nướng bằng lò điện tại khu nhà xưởng cũ, công xuất 2.5-2.8 tấn/ca . Số cán bộ công nhân viên chức của công ty bình quân thời kỳ này là 950 người/năm. 2.4. Thời kỳ từ năm 1992 đến nay : Từ năm 1993 đến năm 2004, Công ty đầu tư mua thêm một số dây chuyền máy móc thiết bị hiện đại. Công ty đã thực hiện đấu thầu thiết bị và xây dựng với giá trị thiết bị trên 47 tỷ đồng xây lắp nên 6.5 tỷ đồng công trình xây dựng lắp đặt thiết bị xí nghiệp bánh mềm cao cấp đã cơ bản hoàn thành, đang triển khai kế hoạch đưa vào sản xuất chính thức trong dịp cuối năm. Công ty dự kiến đưa sản phẩm bánh mềm cao cấp mới đầu tư cùng với sản phẩm hiện có để phục vụ nhân dân trong dịp tết Nguyên đán năm nay. Năm 2004, Công ty đã tiến hành cổ phần hoá trên cơ sở sắp xếp lại quá trình lao động hợp lý, đẩy mạnh hoạt động sản xuất của Công ty nhằm tăng doanh thu và nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên trong Công ty. 3. Tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu 3.1. Chức năng, nhiệm vụ của Công ty CP bánh kẹo Hải Châu Công ty CP bánh kẹo Hải Châu là một doanh nghiệp Nhà nước, song trong cơ chế thị trường công ty độc lập tự chủ hơn trong các vấn đề tổ chức, quản lý sản xuất hoạch toán kinh doanh từ đó làm tăng tính nhanh nhạy năng động hơn cho tổ chức. Theo quy định của Nhà nước cũng nhu các quy định của công ty về quyền hạn, chức năng nhiệm vụ thì ta thấy công ty đóng một vai trò rất quan trọng với trách nhiệm khá nặng nề đối với khu vực kinh tế Nhà nước nói riêng và nền kinh tế nói chung. Trong giai đoạn hiện nay và thời gian sắp tới công ty phải thực hiện một số chức năng nhiệm vụ chính sau: - Thứ nhất, Công ty tự chủ sản xuất và kinh doanh các loại bánh kẹo để cung cấp cho nhu cầu ngày càng tăng của thị trường trong nước và quốc tế. - Thứ hai, Công ty cùng với các liên doanh sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm sang thị trường khu vực và thế giới đồng thời nhập khẩu thiết bị ,công nghệ, máy móc, nguyên vật liệu phục vụ cho nhu cầu sản xuất của Công ty mà Công ty không có khả năng tận dụng những vật tư đó ở trong nước. - Thứ ba, Ngoài sản xuất bánh kẹo là chính, Công ty còn kinh doanh các mặt hàng khác để không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tận dụng được vật tư, lao động đảm bảo đời sống cho người lao động. Từng bước đưa Công ty lớn mạnh trên thương trường. Ngoài các nhiệm vụ trọng yếu trên Công ty CP bánh kẹo Hải Châu còn có nhiệm vụ: - Bảo toàn và phát triển vốn được giao. - Thực hiện phân phối theo lao động, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ công nhân viên chức. Tất cả những chức năng nhiệm vụ đó đã được quán triệt tới tất cả các phòng ban, từng tổ, nhóm, người lao động để cùng phấn đấu cho mục tiêu của doanh nghiệp. Để hoàn thành được nhiệm vụ to lớn của mình, đòi hỏi công ty phải có một cơ cấu tổ chức quản lý sản xuất và cơ chế hoạt động phải gọn nhẹ, có hiệu lực và có hiệu quả. 3.2. Cơ chế hoạt động của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu Bộ máy quản lý của Công ty gồm hai cấp: Công ty và cấp phân xưởng và được bố trí theo cơ cấu trực tiếp chức năng, hệ thống này gắn các chuyên gia làm việc chức năng với các chỉ huy trực tuyến khi ra các quyết định quản trị liên quan đến chức năng mà họ phụ trách nên khắc phục được hạn chế tách rời việc chuẩn bị và ra quyết định, nhờ vậy cũng khắc phục được tình trạng tách rời người ra quyết định với người thực hiện quyết định. Bên cạnh đó còn có ưu điểm là các mệnh lệnh, nhiệm vụ và thông báo tổng hợp được chuyển lần lượt từ lãnh đạo doanh nghiệp đến cấp dưới cho đến tận cấp dưới cùng một cách trực tiếp do đó đảm bảo tính thống nhất trong quản lý. * Về cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành và kiểm soát của Công ty như sau: Đại Hội Cổ Đông (ĐHCĐ): Là cơ quan quyết định cao nhất của Công ty, ĐHĐCĐ gồm tất cả cổ đông có quyền tham dự và biểu quyết theo quy định tại Điều lệ. Hội đồng quản trị (HĐQT): Là cơ quan quản lý của Công ty, có toàn quyết quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của Công ty trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của HĐQT Tổng giám đốc (TGĐ): Là người điều hành các công việc hàng ngày của Công ty, chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và trước pháp luật về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ được giao. Tổng giám đốc có thể là thành viên Hội đồng quản trị, do hội đồng quản trị thuê hoặc bổ nhiệm: TGĐ là người đại diện pháp nhân của công ty. Phó tổng giám đốc là người giúp Tổng giám đốc điều hành một hoặc một số lĩnh vực hoạt động của Công ty theo phân công của giám đốc, chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc và pháp luật về nhiệm vụ được phân công. Đồng thời không tham gia các chức danh quản lý điều hành sản xuất ở đơn vị sản xuất kinh doanh khác. Phó giám đốc phụ trách kỹ thuật: Tham mưu cho Giám đốc về các mặt công tác: - Công tác kỹ thuật - Bồi dưỡng nâng cao trình độ công nghệ - Bảo hiểm xã hội - Kiểm tra chất lượng sản phẩm Phó giám đốc kinh doanh: Tham mưu cho Giám đốc về các mặt công tác: - Kinh doanh tiêu thụ sản phẩm - Hành chính và bảo vệ - Điều hành kế hoạch tác nghiệp của các phân xưởng. Kế toán trưởng Công ty giúp Tổng giám đốc chỉ đạo, tổ chức công tác kế toán Tài chính, thống kê của Công ty, có các quyền và nhiệm vụ theo quy định của pháp luật và quy chế tổ chức bộ máy quản lý điều hành của Công ty. * Các phòng ban:  Phòng Tổ chức: Tham mưu cho Giám đốc về các mặt công tác - Công tác tổ chức cán bộ, lao động và tiền lương - Soạn thảo các quy chế quản lý, các quyết định, công văn, chỉ thị - Tuyển dụng, điều động lao động - Công tác bảo hộ lao động - Thảo các quyết định, các chế độ, chính sách - Công tác hồ sơ nhân sự  Phòng kỹ thuật và KCS: Tham mưu cho Giám đốc về các mặt công tác: - Tiến bộ kỹ thuật - Quản lý quy trình công nghệ sản xuất và quy trình kỹ thuật - Nghiên cứu các mặt hàng mới, mẫu mã và bao bì mới - Quản lý và xây dựng kế hoạch tu sửa thiết bị - Soạn thảo các quy trình, quy phạm kỹ thuật - Giải quyết các sự cố máy móc, công nghệ sản xuất - Tổ chức đào tạo công nhân và cán bộ kỹ thuật  Phòng kế hoạch vật tư: Tham mưu cho Giám đốc về các mặt công tác: - Xây dựng kế hoạch tổng hợp (1 năm, dài hạn và kế hoạch tác nghiệp) - Kế hoạch cung ứng vật tư, nguyên vật liệu - Công tác tiêu thụ sản phẩm  Phòng kế toán - thống kê - Tài chính. - Giúp giám đốc tổ chức và chỉ đạo thực hiện toàn bộ công tác Tài chính kế toán, thông tin, kinh tế, tổ chức hạch toán trong toàn bộ Công ty và pháp luật Nhà nước và điều lệ tổ chức kế toán theo chế độ chính sách. - Tổ chức bộ máy kế toán từ Công ty đến các đơn vị trực thuộc. Tổ chức bộ máy chứng từ kế toán, tổ chức vận dụng tài khoản hệ thống kế toán phù hợp với điều hành và quản lý kinh tế ở các đơn vị và Công ty. - Phân tích hoạt động kinh tế nhằm phát huy điểm mạnh và hạn chế điểm yếu của Công ty.  Phòng hành chính: Tham mưu cho Giám đốc về các mặt công tác: - Hành chính quản trị - Đời sống - Y tế, sức khỏe - Nhà trẻ mẫu giáo  Phòng bảo vệ: Tham mưu cho Giám đốc về các mặt công tác: - Bảo vệ xây dựng nhà xưởng, kho tàng - Thực hiện sửa chữa nhỏ trong Công ty. Ban kiểm soát (BKS): Do ĐHĐCĐ bầu ra trong số cổ đông của Công ty. Ban kiểm soát có nhiệm vụ: - Giám sát và kiểm tra sự tuân theo điều lệ và pháp luật có liên quan của HĐQT, Tổng giám đốc, bộ máy giúp việc và các cá nhân trong Công ty. - Kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, trong ghi chép sổ sách kế toán và báo cáo Tài chính của Công ty - Thẩm định báo cáo tài chính hàng năm của Công ty, kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành hoạt động của Công ty khi xét thấy cần thiết. - Kiến nghị biện pháp bổ sung, sửa đổi, cải tiến, cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của Công ty. Sau khi tìm hiểu toàn bộ các phòng ban và nhiệm vụ của phòng ban cũng như cơ cấu số lượng công nhân viên trong Công ty ta có thể khái quát lại qua sơ đồ dưới đây: Sơ đồ 1. Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý tại Công ty bánh kẹo Hải Châu Đại hội đồng cổ đông Hội đồng quản trị (5 người) Ban kiểm soát (3 người) Chủ tịch hội đồng quản trị Tổng giám đốc điều hành Phó TGĐ sản xuất và tiêu thụ Phó TGĐ kỹ thuật Phòng Tổ chức Phòng kỹ thuật Cửa hàng giới thiệu sản phẩm Phân xưởng Bánh 1 Phân xưởng Bánh 2 Phòng TC - KT Chi nhánh tại TPHCM Phân xưởng Bánh 3 Phân xưởng bột canh Phòng Phòng Kế HCQT & hoạch BVTV vật tư Chi nhánh tại TPĐN Phân xưởng kẹo Phân xưởng in phun và cơ điện 4. Những đặc điểm kinh tế kỹ thuật có ảnh hƣởng tới CLSP của Công ty CP bánh kẹo Hải Châu Chất lượng sản phẩm như là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh trình độ và năng lực của một doanh nghiệp. Chúng ta không thể đánh giá cao tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty nếu như sản phẩm mà họ làm ra luôn ở mức chất lượng thấp. Điều đó minh chứng cho những điều bất ổn trong công tác tổ chức quản lý cũng như các yếu tố tiềm lực tài chính, đội ngũ cán bộ công nhân viên và khoa học công nghệ của hãng. Đối với Công ty CP bánh kẹo Hải Châu các mặt trên cũng có điểm mạnh và điểm yếu làm ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực tới chất lượng sản phẩm của hãng. Để hiểu rõ hơn về các đặc điểm này chúng ta cùng nghiên cứu chi tiết từng yếu tố. 4.1. Đặc điểm về hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty CP bánh kẹo Hải Châu . Nhìn chung sự hoạt động kinh doanh có hiệu quả hay không phần lớn phụ thuộc vào sản phẩm mà hãng sản xuất ra có tốt hay không, có sức cạnh tranh hay không. Song đến lượt nó, hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao sẽ là điều kiện và tiền đề cho công tác đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm của công ty. Sự tăng trưởng nhanh hay chậm của kết quả sản xuất kinh doanh thể hiện qua các chỉ tiêu như: Quy mô sản xuất, khối lượng và giá trị hàng hoátiêu thụ, tình hình thị trường của công ty cũng như sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. a) Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong những năm gần đây, đặc biệt là thời gian 3 năm 2003 đến 2005, tình hình sản xuất kinh doanh của công ty đã có những bước tiến vượt bậc cả về lượng và chất thể hiện qua các chỉ tiêu kinh tế cơ bản: Bảng 1: Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty 2003-2005 Năm Chỉ tiêu 1. Sản lượng (Tấn) 2. GTTSL (tỷđ) 3.Doanh thu (tỷđ) 4.Tổng chi phí (tỷđ) 5. Lợi nhuận(tỷđ) 6. Nộp NS (tỷđ) Mức độ tăng (giảm) 2003 2004 2005 2004/2003 2005/2004 TĐối % TĐối % 10.100,0 11.366,0 11.560,0 1236,0 12,2 224,0 2,0 187,1 214,3 230,8 27,2 14,5 16,5 7,7 167,3 203,5 212,1 36,2 21,6 8,6 4,2 166,0 201,9 210,2 35,9 21,6 8,3 4,1 3,3 3,6 3,9 0,3 23,1 0,3 18,6 18,2 22,1 25,4 3,9 21,4 3,3 14,9 Theo số liệu này, ta thấy tốc độ tăng trưởng của công ty trên những mặt cơ bản luôn tăng ở mức cao chứng tỏ khả năng đáp ứng nhu cầu, mở rộng thị trường của công ty đã tăng lên. Nhìn chung, những năm gần đây tình đây tình hình sản xuất kinh doanh của công ty đạt ở mức khá, tốc độ tăng trưởng của một số chỉ tiêu ở mức cao. Điều này thể hiện sự nỗ lực của toàn thể CBCNV của công ty, đồng thời môi trường kinh doanh có nhiều thận lợi. Tình hình sản xuất kinh doanh của công ty đã làm lành mạnh hoá các chỉ tiêu tài chính và tạo điều kiện thuận lợi cho công ty đầu tư nghiên cứu KH-CN mới, ứng dụng trực tiếp vào sản xuất vì thế chất lượng sản phẩm không ngừng tăng. b) Đặc điểm về thị trƣờng và nhu cầu thị trƣờng trên từng khu vực. Thị trường tiêu thụ sản phẩm luôn được sự quan tâm đặc biệt của Ban giám đốc công ty nhằm đưa ra các kế hoạch, chiến lược đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm trên từng khu vực trong nước cũng như nước ngoài. Để đáp ứng tốt nhất những nhu cầu của khách hàng về chất lượng sản phẩm ta phải nắm được một số đặc điểm chính: - Về thị trường trong nước, Công ty CP bánh kẹo Hải Châu tiêu thụ sản phẩm của mình trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam. Vì vậy việc quản lý nắm bắt, điều hành là hết sức khó khăn nếu như không có phương pháp cụ thể cho từng miền. Nhu cầu mỗi miền một khác nó quyết định đặt giá như thế nào là hợp lý, chất lượng ra sao thì thoả mãn, số lượng nên cung cấp bằng bao nhiêu... Thị trường miền Bắc, điều kiện tự nhiên ở đây đủ bốn mùa, độ ẩm cao. Điều này trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng bánh kẹo trong quá trình chế biến, cung ứng, sử dụng, các quyết định về bao gói... Bên cạnh đó còn chịu sự chi phối của điều kiện kinh tế, nhìn chung thu nhập còn thấp. Những sản phẩm có chất lượng cao thường được tiêu dùng ở những thành phố, thị xã lớn, còn ở vùng nông thôn thì người tiêu dùng ít quan tâm đến chất lượng mẫu mã với họ giá cả mới là vấn đề cần xem xét. Với thị trường Miền Trung, người tiêu dùng ở khu vực thị trường này thường hay không quan tâm đến khối lượng, bao bì mẫu mã của hàng hoá, song lại rất quan tâm tới hương vị (độ ngọt, cay), hình dạng của kẹo bánh. Một đặc điểm không thể phủ nhận là một thị trường dễ tính, nhu cầu lớn. Với năng lực của mình, Hải Châu hoàn toàn có thể gia nhập và phát triển thị trường. Trước đây, Hải Châu tập trung nhiều nhất cho thị trường Miền Bắc song một vài năm gần đây Hải Châu đã coi khu vực này là một thị trường đầy hứa hẹn và không ngừng hoàn thiện kênh phân phối tiêu thụ sản phẩm. Đặc điểm của thị trường Miền Nam: Người tiêu dùng ở đây có điều kiện thu nhập khá cao, đặc biệt ở TP.Hồ Chí Minh, Bình Dương...nên khá khó tính. Đồng thời khí hậu ở đây cũng có ảnh hưởng ít nhiều đến sở thích của người tiêu dùng. Họ không quan tâm đến khối lượng mà phần lớn là chất lượng sản phẩm. Mặt khác, người Miền Nam ưa ngọt cũng như các loại hương vị hoa quả khác nhau. Đây vừa là thế mạnh vừa là điểm yếu của công ty. Đó là, Hải Châu có ưu thế về độ ngọt song hương vị hoa quả chưa đa dạng. Hệ thống kênh phân phối xa khó điều hành quản lý trực tiếp, dân cư không đều nên hiệu quả kinh doanh trên thị trường là chưa cao. Các năm gần đây, sản phẩm của doanh nghiệp có mặt tại hầu hết trên khắp các tỉnh thành trong cả nước. Sau đây là tình hình tiêu thụ trên các khu vực thị trường trọng điểm. Bảng 2: Tình hình tiêu thụ sản phẩm trên các thị trường mục tiêu của Doanh nghiệp Đơn vị: tấn STT Thị trƣờng tiêu thụ 2001 2002 2003 2004 2005 1 Hà Nội 3011 2902 2890 2875 2880 2 Hải Dương 149 145 150 190 195 3 Hoà Bình 178 181 185 128 140 4 Sơn La 27 25 27 120 100 5 Tuyên Quang 106 110 112 350 371 6 Thái Bình 301 341 354 346 351 7 Hải Phòng 338 338 340 290 300 8 Hà Tây 298 291 299 310 297 9 Quảng Ninh 277 298 305 295 300 10 Bắc Ninh 277 277 287 80 125 11 Lai Châu 213 281 287 220 215 12 Ninh Bình 121 217 221 160 135 13 Lạng Sơn 993 133 145 800 670 14 Nghệ An 993 133 145 800 905 15 Thanh Hoá 985 910 838 840 900 16 Hà Tĩnh 260 801 750 250 310 17 Huế 93 191 214 55 121 18 Quy Nhơn 187 55 50 100 137 19 Khánh Hoà 69 131 125 30 65 20 Đà Nẵng 185 37 32 100 162 21 Quảng Ngãi 184 125 192 95 109 22 TP Hồ Chí Minh 425 104 96 120 500 23 Phú Yên 20 5 7 9 10 Chính do uy tín của công ty về CLSP, dịch vụ, giá cả mà nạn làm hàng giả đang gây hậu quả xấu đến vấn đề tiêu thụ sản phẩm của công ty cũng như làm mai một hình bóng của công ty trên thị trường truyền thống. 4.2. Đặc điểm tình hình tài chính của công ty Nguồn vốn của công ty được tài trợ bằng nguồn vốn ngân sách cấp cũng chiếm tỉ trọng khá cao trong tổng nguồn vốn doanh nghiệp. Tình hình kinh doanh có kết quả tốt đã làm nguồn vốn không ngừng tăng, chúng ta phải khẳng định rằng, sẽ chẳng có công nghệ mới, hiện đại, NVL tốt nếu như trong tay chúng ta không có vốn. Đây là điều kiện tiên quyết để chúng ta thực hiện chính sách nâng cao chất lượng sản phẩm. Tình hình tài chính của công ty trong mấy năm gần đây thể hiện qua bảng sau:
- Xem thêm -