Giải pháp nâng cao nhận thức về bhxh cho người viêt nam

  • Số trang: 25 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 11 |
  • Lượt tải: 0
hoangtuavartar

Đã đăng 24677 tài liệu

Mô tả:

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI I. Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm xã hội ở Việt Nam. BHXH ra đời vào những năm giữa thế kỷ XIX, khi nền công nghiệp và kinh tế hàng hóa đã bắt đầu phát triển mạnh mẽ ở các nước Châu Âu. Từ năm 1883, ở nước Phổ (CHLB Đức ngày nay) đã ban hành luật bảo hiểm y tế. Một số nước Châu Âu và Bắc Mỹ mãi đến cuối năm 1920 mới có đạo luật về BHXH. Ở Việt Nam, BHXH đã có mầm mống dưới thời phong kiến Pháp thuộc. Sau cách mạng Tháng 8-1945, chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ban sắc lệnh 29/SL ngày 12/03/1947 thực hiện bảo hiểm ốm đau, tai nạn lao động và hưu trí. Các chế độ này được thực hiện đối với những người làm việc trong các cơ quan từ cơ sở đến trung ương. Sau hòa bình lập lại, ngày 27/12/1961, nhà nước ban hành Nghị định 128/CP của chính phủ về “Điều lệ tạm thời thực hiện các chế độ BHXH đối với công nhân viên chức” nhưng bộc lộ nhiều hạn chế. Do đó ngày 18/09/1985, chính phủ ban hành nghị định 236/HDBHNT về việc sửa đổi, bổ sung chính sách và chế độ bảo hiểm xã hội đối với người lao động. Nội dung chủ yếu của nghị định này là điều chỉnh mức đóng và hưởng. Tuy nhiên, chính sách BHXH ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế không phù hợp với cơ chế mới. Ngày 22/06/1993 chính phủ đã ban hành nghị định 43/CP quy định tạm thời về các chế độ BHXH áp dụng cho các thành phần kinh tế, đánh dâu bước đổi mới của BHXH Việt Nam. Tuy vậy, chỉ khi bộ luật lao động được thông qua ngày 15/06/1994 về BHXH theo nghị định 12/CP của chính phủ và nghị định 45/CP cho các đối tượng BHXH là công nhân viên chức và lực lượng vũ trang, BHXH Việt Nam mới thực sự đổi mới nội dung, phương thức hoạt động cũng như tổ chức quản lý. II. Khái niệm và bản chất của bảo hiểm xã hội. 1. Khái niệm: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội. 2. Bản chất: - BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội, nhát là trong xã hội mà sản xuất hàng hóa hoạt động theo cơ chế thị trường. Kinh tế càng phát triển thì BHXH càng đa dạng và hoàn thiện. Vì thế có thể nói kinh tế là nền tảng của BHXH hay BHXH không vượt quá trạng thái kinh tế của mỗi nước. 1 - Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động và diễn ra giữa 3 bên: bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH. - Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong BHXH có thể là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan của con người như: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp… Hoặc cũng có thể là những trường hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên như: tuổi già, thai sản… Đồng thời những biến cố đó có thể xảy ra trong và ngoài quá trình lao động. - Phần thu nhập của người lao động bị giảm hoặc mất đi khi gặp phải những biến cố, rủi ro sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ một nguồn quỹ tiền tệ tập trung được tồn tích lại. Nguồn quỹ này do bên tham gia BHXH đóng góp là chủ yếu, ngoài ra còn được sự hỗ trợ từ phía nhà nước. - Mục tiêu của BHXH là nhằm thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu của người lao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm. Cụ thể: + Đền bù cho người lao động những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo nhu cầu sinh sống thiết yếu của họ. + Chăm sóc sức khỏe và chống bệnh tật. + Xây dựng điều kiện sống đáp ứng nhu cầu của dân cư và đáp ứng nhu cầu đặc biệt của người già, người tàn tật và trẻ em. III. Đối tượng của bảo hiểm xã hội. Mặc dù ra đời cách đây đã lâu nhưng đối tượng của BHXH vẫn có nhiều quan điểm chưa thống nhất. Đôi khi vẫn có sự nhầm lẫn giữa đối tượng BHXH và đối tượng tham gia BHXH. BHXH là một hệ thống nhằm đảm bảo khoản thu nhập bị giảm hoặc bị mất đi do người lao động bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm vì các nguyên nhân như: ốm đau, tai nạn, già yếu… Vì vậy đối tượng của BHXH chính là thu nhập của người lao động bị biến động giảm hoặc mất đi do bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm của những người lao động tham gia BHXH. Đối tượng tham gia BHXH là người lao động và sử dụng lao động. Tuy vậy tùy theo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước mà đối tượng có thể là tất cả hoặc một bộ phận những người lao động nào đó. Hầu hết các nước khi mới có chính sách BHXH đều thực hiện đối với các viên chức nhà nước, những người làm công hưởng lương. Việt Nam cũng không vượt ra khỏi thực tế này, mặc dù biết rằng như vậy là không bình đẳng giữa tất cả người lao động. Nếu xem xét trên mối quan hệ ràng buộc trong BHXH, ngoài người lao động còn có người sử dụng lao động và cơ quan BHXH, dưới sự bảo trợ của nhà nước. Người sử dụng lao động đóng góp vào quỹ BHXH là trách nhiệm của họ để bảo hiểm cho người lao động mà họ sử dụng. Còn cơ quan BHXH nhận sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động phải có trách nhiệm quản lý, sử dụng quỹ để thực hiện mọi công việc về BHXH đối với người lao 2 động. Mối quan hệ ràng buộc này chính là đặc trưng riêng của BHXH. Nó quyết định sự tồn tại, hoạt động và phát triển của BHXH một cách ổn định và bền vững. IV. Chức năng và tính chất của bảo hiểm xã hội. 1. Chức năng: BHXH có những chức năng chủ yếu sau: - Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động tham gia bảo hiểm khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do mất khả năng lao động hoặc mất việc làm. Sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp này chắc chắn sẽ xảy ra vì suy cho cùng mất khả năng lao động sẽ đến với tất cả mọi người lao động khi hết tuổi lao động theo các điều kiện quy định của BHXH. Còn mất việc làm và mất khả năng lao động tạm thời làm giảm thu nhập hoặc mất thu nhập, người lao động cũng sẽ được hưởng trợ cấp BHXH với mức hưởng phụ thuôc vào các điều kiện cần thiết, thời điểm và thời hạn được hưởng phải đúng quy định. Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức hoạt động của BHXH. - Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH. Tham gia BHXH không chỉ có người lao động mà cả người sử dụng lao động. Các bên tham gia đều phải đóng góp vào quỹ BHXH. Quỹ này dùng để trợ cấp cho một số người lao động tham gia khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập. Số lượng những người này thường chiếm tỉ lệ nhỏ trong tổng số những người tha gia đóng góp. Như vậy theo quy luật số đông bù số ít, BHXH thực hiện phân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang. Phân phối lại giữa những người lao động có thu nhập cao và thu nhập thấp, giữa những người khỏe mạnh đang làm việc với những người ốm đau phải nghỉ việc… Thực hiện chức năng này có nghĩa là BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội. - Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất nâng cao năng suất lao động xã hội. Khi khỏe mạnh tham gia lao động sản xuất, người lao động được chủ sử dụng lao động trả lương hoặc tiền cồn. Khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hoặc khi về già đã có BHXH trợ cấp thay thế nguồn thu nhập bị mất. Vì thế cuộc sống của họ và gia đình luôn được đảm bảo ổn định và có chỗ dựa. Do đó người lao động luôn yên tâm, gắn bó tận tình với công việc, với nơi làm việc. Từ đó họ rất tích cực lao động sản xuất nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế. Chức năng này biều hiện như một đòn bẩy kinh tế kích thích người lao động nâng cao săng suất lao động cá nhân và kéo theo là năng suất lao động xã hội. - Gắn bó lợi ích giữa người lao động với người sử dụng lao động, giữa người lao động và xã hội. Trong thực tế lao động sản xuất, người lao động và người sử dụng lao động vốn có những mâu thuẫn nội tại, khách quan về tiền công, tiền lương, thời gian lao động… Thông qua BHXH, những mâu thuẫn đó sẽ được điều hòa và giải quyết. Đặc biệt cả hai giới này đều thấy nhờ có BHXH mà mình có lợi và được bảo vệ. Từ đó làm cho họ hiểu nhau hơn và gắn bó lợi ích được với nhau. Đối với nhà nước và xã hội, chi cho BHXH là cách thức phải chi ít nhất và có hiệu quả nhất nhưng vẫn giải quyết được khó khăn về đời sống cho 3 người lao động và gia đình họ, góp phần làm cho sản xuất ổn định, kinh tế chính trị và xã hội phát triển an toàn hơn. 2. Tính chất của bảo hiểm xã hội. - Tính khách quan tất yếu trong đời sống xã hội.Trong quá trình lao động sản xuất, người lao động có thể gặp nhiều biến cố, rủi ro. Khi đó người sử dụng lao động cũng rơi vào tình cảnh khó khăn vì: sản xuất kinh doanh bị gián đoạn, vấn đề tuyển dụng và hợp đồng lao động luôn phải đặt ra vấn đề thay thế… Sản xuất càng phát triển, những rủi ro đối với người lao động và những khó khăn đối với người sử dụng lao động càng nhiều và trở nên phức tạp, đã đến mối quan hệ chủ - thợ ngày càng căng thẳng. Để giải quyết vấn đề này, nhà nước phải đứng ra can thiệp thông qua BHXH. Vì vậy BHXH ra đời hoàn toàn mang tính khách quan trong đời sống xã hội của mỗi nước. - BHXH có tính ngẫu nhiên, phát sinh không đồng đều theo thời gian và không gian. Tính chất này thể hiện rất rõ ở những nội dung cơ bản của BHXH. Từ thời điểm hình thành và triển khai, đến mức đóng góp của các bên tham gia để hình thành qũ BHXH. Từ những rủi ro phát sinh ngẫu nhiên theo thời gian và không gian đến mức trợ cấp BHXH theo từng chế độ cho người lao động… - BHXH vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội, đồng thời còn mang tính dịch vụ. + Tính kinh tế thể hiện rõ nhất ở chỗ quỹ BHXH muốn được hình thành, bảo toàn và tăng trưởng phải có sự đóng góp của các bên tham gia và bải được quản lý chặt chẽ, sử dụng đúng mục đích. Mức đóng góp của các bên phải được tính toán rất cụ thể dựa trên xác suất phát sinh thiệt hại của tập hợp người lao động tham gia BHXH. Quỹ BHXH chủ yếu dùng để trợ cấp cho người lao động theo các điều kiện của BHXH. Thực chất phần đóng góp của mỗi người lao động là không đáng kể, nhưng quyền lợi nhận được là rất lớn khi gặp rủi ro. Đối với người sử dụng lao động, việc tham gia đóng góp vào quỹ BHXH là để bảo hiểm cho người lao động mà mình sử dụng. Xét dưới góc độ kinh tế, họ cũng có lợi vì không phải bỏ ra một khoản tiền lớn để trang trải cho những người lao động bị mất hoặc giảm khả năng lao động. Với nhà nước BHXH góp phần làm giảm gánh nặng cho ngân sách, đông thời quỹ BHXH còn là nguồn đầu tư đáng kể cho nền kinh tế quốc dân. + BHXH là bộ phận chủ yếu của hệ thống đảm bảo xã hội, vì vậy tính xã hội của nó thể hiện rất rõ. Xét về lâu dài, mọi người lao động trong xã hội đều có quyền tham gia BHXH. Và ngược lại, BHXH phải có trách nhiệm bảo hiểm cho mọi người lao động và gia đình họ, kể cả khi họ còn đang trong độ tuổi lao động. Tính xã hội của BHXH luôn gắn chặt với tính dịch vụ của nó. Khi nền kinh tế - xã hội ngày càng phát triển thì tính dịch vụ và tính chất xã hội hóa vủa BHXH ngày càng cao. 4 V. Nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm xã hội. BHXH ở hầu hết các nước trên thế giới đều dựa trên các nguyên tắc sau: - Nguyên tắc số đông bù số ít: Đây là nguyên tắc bất di bất dịch và bất kỳ loại hình bảo hiểm hiểm nào cũng phải tuân theo bởi lẽ để đảm bảo tính an toàn cho nguồn quỹ chi trả, phải có số đông người tham gia đóng góp. Nguồn quỹ này sẽ được sử dụng để chi trả cho một ít người tham gia bảo hiểm không may gặp rủi ro trong lao động và trong cuộc sống. - Nguyên tắc bắt buộc kết hợp với nguyên tắc tự nguyện: theo nguyên tắc này phần lớn các đối tượng tham gia đều phải thực hiện dưới hính thức bắt buộc nhằm đảm bảo cho chính sách được duy trì bền vững. Song do nguyên tắc số đông bù số ít chi phối, vì vậy cần phải kết hợp với hình thức tự nguyện. Sự kết hợp này không chỉ đáp ứng được mục đích của người tham gia (nhất là những người có thu nhập cao) mà còn góp phần làm tăng trưởng nguồn quỹ. - Nguyên tắc xác định mức hưởng tối thiểu trong các chế độ BHXH: Mức hưởng này phải được kết cấu vào tiền lương tối thiểu trong các cơ quan doanh nghiệp. Có như vậy mới hình thành được nguồn quỹ đóng góp BHXH. Cơ sở để xác định mức hưởng tối thiểu trong các chế độ BHXH là nhu cầu tối thiểu đảm bảo tái sản xuất sức lao động và phù hợp với giá trị tiền lương, tiền công trên thị trường lao động. Nếu xác định không chính xác sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người lao động và gia đình họ, đồng thời còn ảnh hưởng đến việc tạo nguồn quỹ bảo hiểm, giá thành sản phẩ, hợp đồng lao động… - Nguyên tắc công bằng trong BHXH: Đây là nguyên tắc rất quan trọng, song cũng rất phức tạp trong chính sách BHXH. BHXH là một loại quan hệ lao động, song lại được thực hiện cả trong và ngoài quá trình lao động. Trong những khoảng cách về thời gian đó có rất nhiều diễn biến xảy ra đối với cuộc đời của một người lao động. Chẳng hạn cùng tỷ lệ đóng góp như nhau nhưng có doanh nghiệp đóng nhiều, có doanh nghiệp đóng ít do kết quả sản xuất chi phối. Hoặc cũng có người lao động đóng nhiều do thu nhập vao và có người đóng ít do thu nhập thấp… Vì vậy nguyên tắc này phải được giải quyết một cách thỏa đáng kể cả trong quá trình đóng góp cũng như mức hưởng. - Nguyên tắc thống nhất và liên tục: Đây cũng là một trong những nguyên tắc rất quan trọng, Nếu vi phạm nguyên tắc này sẽ dẫn đến phá vỡ quan hệ trong BHXH. Bởi vì trong cơ chế thị trường, việc di chuyển lao động là điều không tránh khỏi, về mặt quan hệ lao động có sự biến động rất lớn. Nhưng BHXH lại luôn phải duy trì và thực hiện trong suốt quãng đời của người lao động. Nếu để khuyến khích ổn định đội ngũ lao động, đặc biệt là lao động lành nghề có trình độ kỹ thuật cao thì chính sách BHXH phải thiết kế như thế nào để người lao động ổn định làm việc ở một doanh nghiệp nào đó sẽ có lợi khi xét các mức hưởng BHXH. 5 VI. Mối quan hệ giữa BHXH với phát triển và tăng cường kinh tế. BHXH là sản phẩm của nền kinh tế thị trường, do đó nó thực sự phát triển và phát huy tác dụng trong cơ chế thị trường. Điều đó được minh chứng qua lịch sử phát triển BHXH ở các nước có nền kinh tế thị trường ở trình độ cao. Cho đến nay, theo thông báo của Tổ chức lao động quốc tế có khoảng 170 nước ký vào công ước Giơnevơ - công ước BHXH cho người lao động. Tuy mức độ thự hiện ở các nước có khác nhau nhưng đều thống nhất mục tiêu, phương pháp tiến hành, đều nhất quán vai trò quan trọng của BHXH, đều thống nhất nhận định tác động của BHXH đến nền kinh tế và ngược lại. Nền kinh tế càng phát triển, đời sống người dân càng cao thì nhu cầu BHXH càng lớn và hoạt động BHXH càng mở rộng. BHXH có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế và ngược lại. BHXH tác động rất lớn ddeeens sự phát triển nền kinh tế quốc dân, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia. Điều đó thể hiện: - BHXH góp phần bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho người lao động, phục hồi năng lực làm việc và khả năng sang tạo của người lao động. Điều đó có tác động trực tiếp tới việc tăng năng suốt lao động cá nhân, năng suất lao động xã hội, làm tăng tổng giá trị sản xuât (GO), tổng thu nhập quốc gia (GNI), tổng sản phẩm trong nước (GDP) cho nền kinh tế. Trên cơ sở đó tăng thu nhập cho người lao động nhằm ổn định đời sống của bản thân và gia đình họ. Các chế độ BHXH đồng bộ với cơ cấu đa dạng hóa hợp đồng sẽ tạo thêm thuận lợi cho người lao động có khả năng di chuyển sức lao động khi cần thiết nhằm duy trì và phát triển công ăn việc làm, hạn chế thất nghiệp và làm cho nền kinh tế phát triển. - BHXH đã tạo nguồn vốn đáng kể để đầu tư cho các chương trình phát triển và tăng trưởng kinh tế xã hội. Thông qua thị trường tài chính, phần quỹ BHXH chưa sử dụng đến sẽ được đầu tư vào sản xuất kinh doanh để sinh lợi. Thường là đầu tư ngắn hạn và dài hạn vào các lĩnh vực nhuwL xây dựng cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục, nhà ở ít tiền… cho phù hợp với phương hướng, chính sách phân phối lại thu nhập. Quỹ BHXH còn là một nguồn tiết kiệm quan trọng góp phần thực hiện chính sách tiết kiệm quốc gia. Đối tượng BHXH càng được mở rộng thì tác dụng này của BHXH càng lớn. - BHXH đóng vai trò là người bảo vệ, che chắn cho người sử dụng lao động, tạo điều kiện cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ được ổn định và liên tục phát triển. Bởi vì người sử dụng lao động khi đóng BHXH cho người lao động sẽ tránh được những thiệt hại kinh tế do phải chi trả một khoản tiền lớn trong cùng một thời gian khi người lao động của mình gặp rủi ro, từ đó giúp họ giảm phần tiền lương, tiền công trong thời gian người lao động gặp rủi ro phải nghỉ việc. Đông thời BHXH góp phần giảm bớt tình trạng tranh chấp và kiến tạo sự gần gũi trong quan hệ chủ - thợ làm cho người lao động yên tâm và có trách nhiệm hơn trong sản xuất. Đồng thời BHXH còn giúp người lao động ổn định cuộc sống, duy trì và sang tạo sức lao động, góp phần đảm bảo an toàn xã hội. 6 - Trong cơ chế thị trường, khía cạnh kinh tế của BHXH có tác động tất lớn đến thị trường lao động. Bởi vì xét về bản chất BHXH cũng là một quan hệ lao động trong thị trường lao động và có quan hệ chắt chẽ với các chính sách về lao động, tiền lương… Nếu chính sách BHXH được ban hành và được thực hiện nghiêm túc thì các chính sách về lao động, tiền lương sẽ được thực hiện đầy đủ và có tác dụng đến nhiều vấn đề trong nền kinh tế, đặc biệt góp phần ổn định và tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng kinh tế cũng có tác động trở lại rất lớn đến BHXH: - Trước hết một nước có mức tăng trưởng kinh tế cao có nghĩa là tăng GNI và GDP trên cơ sở phát triển sản xuất sản phẩm vật chất và sản phẩm dịch vụ. Tốc độ tăng trưởng kinh tế càng cao thì thu nhập bình quân đầu người cang lớn, và như vậy thu nhập của người lao động cũng tăng. Từ đó khả năng đóng góp vào quỹ BHXH càng lớn bởi vì sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động phụ thuộc chủ yếu và thu nhập. Mặt khác, tăng trưởng kinh tế làm cho ngân sách nhà nước dồi dào, từ đó sự hỗ trợ của nhà nước cho quỹ BHXH cũng ngày một tăng. - Tăng trưởng kinh tế đạt đến tiềm năng thì việc làm của người lao động đạt mức thỏa mãn cao nhất. Song theo kinh nghiệm của các nước, kinh tế phát triển theo chu kỳ có lúc hưng thịnh, có lúc suy thoái. Khi nền kinh tế suy thoái thì thất nghiệp sẽ tăng nhanh từ đó làm cho mức trợ cấp BHTN cũng ngày một tăng. Chế độ trợ cấp thất nghiệp không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn có ý nghĩa về an toàn xã hội. Nó giúp cho người thất nghiệp giảm bớt khó khăn, yên tâm sản xuất, làm giảm các tệ nạn xã hội và tình trạng nghèo đói. Thực tế cho thấy khi nền kinh tế tăng trưởng thì tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống và ngược lại. Điều này đặt ra vấn đề cần phải giải quyết trong mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thất nghiệp và BHXH. - Tăng trưởng kinh tế làm cho thu nhập được nâng cao, làm cho mức sống của người dân tăng lên, do đó thể lực của người lao động cũng khá hơn đãn đến tuổi thọ tăng. Điều này làm cho chi phí y tế giảm, từ đó tiết kiệm được các khoảng chi từ quỹ BHXH. - Kinh nghiệm của các quốc gia cho thấy khi nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao thì tốc độ tăng trưởng dân số giảm xuống. Do đó phần chi trả cho chế độ trợ cấp thai sản của người lao động nữ trong BHXH cũng giảm xuống. Bên cạnh đó quỹ BHXH luôn chịu ảnh hưởng của yếu tố lạm phát. Nền kinh tế tăng trưởng sẽ hạn chế được lạm phát, do đó quỹ BHXH sẽ được bảo toàn. - Nền kinh tế tăng trưởng thì người lao động nói riêng và dân chúng nói chung càng có khả năng và điều kiện để nâng cao trình độ dân trí. Điều đó cũng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của BHXH. Bởi vì khi trình độ dân trí được nâng cao thì nhận thức của người dân về BHXH sẽ đầy đủ và đúng đắn hơn, họ sẽ tự nguyện và hăng hái tham gia BHXH. Từ phân tích trên có thể khẳng định rằng tăng trưởng kinh tế có tác động rất lớn và trên nhiều góc độ khác nhau tới hoạt động BHXH. 7 CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ CHẾ ĐỘ VÀ NHẬN THỨC ĐỐI VỚI BHXH Ở VIỆT NAM I.Thực trạng về chế độ chính sách bảo hiểm xã hội ở Việt Nam. 5 năm qua (2006 – 2010), BHXH Việt Nam đã phát động nhiều phong trào thi đua, phấn đấu hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chính trị được giao. Toàn ngành đã đổi mới trong thực hiện giải quyết chế độ chính sách BHXH, BHYT, thi đua phục vụ ngày càng chu đáo, tận tình người tham gia và thụ hưởng các chế độ. Đ ến nay, tất cả BHXH các tỉnh, thành phố và các quận, huyện, thành phố trực thuộc tỉnh đã thực hiện cơ chế “một cửa” trong công tác xét duyệt hồ sơ hưởng BHXH; tập trung bố trí cán bộ có chuyên môn, am hiểu về chế độ, chính sách vào bộ phận trực tiếp giải quyết chế độ chính sách cho người lao động, đồng thời phân cấp công việc này cho BHXH các tỉnh thành phố xét duyệt và ra quyết định chi trả cho người hưởng BHXH. Việc đổi mới này được triển khai áp dụng trong toàn hệ thống, giúp các đơn vị sử dụng lao động khi đến giải quyết chế độ chính sách cho người lao động chỉ cần làm việc duy nhất với một đầu mối thay vì phải đi lại nhiều lần và làm việc với nhiều phòng chức năng khác nhau trong cùng cơ quan BHXH như trước đây và rút ngắn được thời gian chờ đợi của đối tượng. Từ năm 2006 - 2010, BHXH Việt Nam đã giải quyết kịp thời, đúng chế độ chính sách cho trên 22 triệu lượt người hưởng chế độ BHXH, gồm hưởng chế độ hưu trí, trợ cấp một lần, TNLĐ, BNN và trợ cấp ốm đau, thai sản, dưỡng sức phục hồi sức khỏe… Mặt khác BHXH Việt Nam đã chỉ đạo BHXH các tỉnh, thành phố phối hợp chặt chẽ với các cơ sở y tế, tổ chức tốt công tác khám chữa bệnh BHYT; xây dựng các quy định, quy trình giám định để tạo thuận lợi cho người bệnh, nâng cao chất lượng phục vụ ngày càng chu đáo, tận tình cho người tham gia và thụ hưởng. Mặc dù khối lượng công việc ngày càng lớn, số người hưởng BHXH, BHYT không ngừng tăng, lượng chi trả lớn và chủ yếu bằng tiền mặt, song toàn ngành luôn chủ động nguồn kinh phí, xây dựng quy trình và tổ chức các hình thức chi trả, đảm bảo kịp thời, thuận lợi, đúng chế độ chính sách và an toàn đến từng người nhận lương hưu và trợ cấp. Với các hình thức chi trả trực tiếp, gián tiếp hoặc thông qua tổ chức ngân hàng, chi qua thẻ ATM… BHXH các tỉnh, thành phố luôn chủ động trong việc quản lý quỹ, đảm bảo an toàn tiền mặt và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho đối tượng và người lao động được hưởng BHXH. Bên cạnh việc đảm bảo tốt công tác chi trả lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho trên 2,3 triệu đối tượng, BHXH các tỉnh, thành phố đã thực hiện tốt việc chi trả các chế độ ốm đau, thai sản và dưỡng sức phục hồi sức khoẻ …cho gần 20 triệu lượt người, số tiền chi trong 5 năm là 119.000 tỷ đồng; kịp thời thanh toán với các cơ sở khám chữa bệnh để đảm bảo quyền lợi cho trên 407 8 triệu lượt người đi khám và chữa bệnh BHYT với số tiền là 58.714 tỷ đồng. Thực hiện mục tiêu thi đua thu đúng, thu đủ, thu kịp thời, mở rộng, tăng nhanh số người tham gia BHXH, BHYT, trong 5 năm qua BHXH Việt Nam đã không ngừng cải tiến, hoàn thiện, nâng cao chất lượng bằng nhiều biện pháp hữu hiệu. Số đối tượng tham gia BHXH, BHYT tăng mạnh qua các năm: đến năm 2010 ước có 9,5 triệu đối tượng tham gia BHXH, gấp 1,4 lần so với năm 2006 và 52,5 triệu người tham gia BHYT, chiếm 65,6% dân số. Thông qua việc thực hiện các phong trào thi đua gắn với nhiệm vụ chuyên môn được giao, đã xuất hiện nhiều gương điển hình tiên tiến, nhiều cán bộ công chức, viên chức mẫn cán với công việc, thái độ và tác phong lao động cần cù, sáng tạo, đồng thời tạo dựng tinh thần yêu nghề, hăng say học tập, rèn luyện phẩm chất, năng lực của người công chức BHXH. Thực hiện Chỉ thị số 39-CT/TW ngày 21/5/2004 của Bộ Chính trị về Tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết nhân rộng điển hình tiên tiến; trong 5 năm 2011 – 2015, BHXH Việt Nam thi đua thực hiện thắng lợi, toàn diện nhiệm vụ chính trị được giao, bằng mọi biện pháp phấn đấu tăng nhanh số người tham gia BHXH, BHYT ở mọi thành phần kinh tế. Phấn đấu đến năm 2014 thực hiện BHYT toàn dân, thực hiện BHXH cho mọi người lao động vào những năm tiếp theo; giải quyết đúng, đủ chế độ, chính sách, chi trả đầy đủ, kịp thời lương hưu, trợ cấp BHXH cho người lao động; phối kết hợp chặt chẽ với các cơ sở y tế đảm bảo quyền lợi về khám chữa bệnh cho người tham gia BHYT theo quy định của pháp luật; triển khai thực hiện thành công mục tiêu phát triển ngành BHXH giai đoạn 2011-2015. II. Thực trạng về thực hiện chế độ BHXH ở nước ta hiện nay. 1. Tình hình thu phí bảo hiểm của chế độ BHXH Việt Nam bảo hiểm xã hội bao gồm ba phần chính: 1.Bảo hiểm hưu trí và thừa kế; 2.Thai sản và lợi ích tai nạn lao động; 3.Bảo hiểm y tế. Việc thanh toán tổng số tiền lên tài khoản cho 23% tiền lương của nhân viên, trong đó dành 17% công ty và cá nhân đủ khả năng 6%. Bảo hiểm được thanh toán của công ty thay mặt cho nhân viên và số tiền sẽ được trừ vào tiền lương của người lao động. Vì vậy, các mức phí cơ bản là mức lương cơ bản của nhân viên (không bao gồm trợ cấp, tiền thưởng và phụ cấp làm thêm ...). Các cơ sở phí bảo hiểm của người lao động trong hầu hết các nhà máy sản xuất được tính dựa trên mức lương cơ bản tối thiểu. Theo Luật an ninh xã hội Việt Nam ban hành trong năm 2007, tỷ lệ số tiền đã trả cho người lao động sẽ được tăng 1% mỗi hai năm từ năm 2010 cho đến khi đạt đến 8%. Các tỷ lệ thất nghiệp bảo hiểm xã hội thuế sẽ bị đánh thuế từ ngày 1 tháng 1 2009, và được trả ở mức 1% một cách riêng biệt của doanh nghiệp và nhân viên. Vì vậy, bảo hiểm xã hội cao nhất cho hợp tác nước ngoài. Tại Việt Nam là 18% và cá nhân là 9%. Nhưng các nhân viên nước ngoài có thể được miễn loại thuế. Một phần của nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào ngày trước đó mong muốn đạt được lợi nhuận bằng cách thiết lập các nhà máy, hoàn toàn bỏ qua Luật Lao 9 động Việt Nam và Luật An sinh Xã hội hay với sự nhiệt tình chút để tuân theo luật pháp (trả ít hoặc không trả tiền đúng thời hạn). Nó luôn luôn gây ra một số rối loạn và đình công, một lần báo cáo của các phương tiện truyền thông, hình phạt nặng nề từ chính phủ sẽ làm theo. Đầu tư nước ngoài sẽ gặp vấn đề hơn nữa môi trường quen thuộc như vậy. Do đó, các nhà đầu tư nước ngoài phải tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật trong khi việc kinh doanh tại Việt Nam để tránh các vấn đề và khó khăn. 2. Tình hình chi trả cho chế độ BHXH. Từ năm 1995 đến nay đã giải quyết hơn 3 triệu lượt người nghỉ ốm, 7 vạn lượt người hưởng trợ cấp tai nạn lao động và hệnh nghề nghiệp, hơn 30 vạn lượt người nghỉ thai sản, 51 vạn người hưởng lương hưu hàng tháng và trợ cấp 1 lần nhưng chưa để xảy ra trường hợp nào vi phạm chế độ. Song song với chi trả trực tiếp là hình thức chi trả gián tiếp. Trước hết phải nói đến hiệu quả của chi trả gián tiếp qua các đại lý ở các xã, thị trấn. Những địa bàn thực hiện chi trả qua đại lý hầu hết là các xã vùng sâu, vùng xa, giao thông khó khăn, đối tượng sống không tập trung. Đại lý chi trả là người được lựa chọn trong số cán bộ hưu trí và do UBND xã, thị trấn giới thiệu, đảm bảo có phẩm chất đạo đức, trung thực, có tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình với công việc. Theo định kỳ hàng tháng, các đại lý có trách nhiệm đến BHXH huyện nhận tiền chi trả trên cơ sở danh sách, mức trợ cấp của đối tượng được giao quản lý, sau đó về tổ chức chi trả trong khoảng 3-5 ngày và thực hiện quyết toán với BHXH huyện. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 47 xã thực hiện việc chi trả qua đại lý với tổng số đối tượng là 2.983 người và số tiền chi trả hàng tháng trên 4 tỷ đồng. Từ thực tiễn hoạt động của các đại lý chi trả có thể khẳng định rằng đây là một hình thức chi trả hỗ trợ tích cực cho mô hình chi trả trực tiếp, đồng thời phát huy được các yếu tố thuận lợi cho công tác quản lý đối tượng và tổ chức chi trả các chế độ BHXH. Bên cạnh việc chi trả qua các đại lý, các đơn vị BHXH còn thực hiện hình thức chi trả gián tiếp qua tài khoản ATM. Về thực chất, Ngân hàng quản lý tài khoản thẻ ATM là đại lý chi trả chính. Hiện nay hình thức này đang được lựa chọn như một giải pháp chi trả tuyệt đối an toàn, tiện lợi, nhờ đó đối tượng có thể chủ động thời gian lĩnh lương hưu và trợ cấp. Ngoài hai mô hình chi trả chủ yếu trên, BHXH còn chi trả các chế độ BHXH ngắn hạn cho người lao động thông qua đơn vị sử dụng lao động. Đặc biệt, từ khi thực hiện Luật BHXH, việc để lại 2% chi trợ cấp ngắn hạn đã giúp các đơn vị sử dụng lao động chủ động hơn trong việc thanh quyết toán trợ cấp BHXH ngắn hạn cho người lao động. Cơ quan BHXH từ thành phố, tỉnh đến các huyện, BHXH đã thực hiện việc xét duyệt, thẩm định hồ sơ hưởng trợ cấp BHXH ngắn hạn được thực hiện đúng quy định, cấp kinh phí chi trợ cấp BHXH ngắn hạn kịp thời, đảm bảo quyền lợi cho người lao động, an toàn nguồn quỹ…Từ việc vận dụng linh hoạt hai mô hình chi trả chế độ BHXH phù hợp với đặc điểm đã từng bước thực hiện hiệu quả mục tiêu tăng dần tỷ lệ chi trả trực tiếp, nâng cao chất lượng phục vụ đối tượng, góp phần chăm lo đời sống của hàng vạn người lao 10 động. Thông qua đó khẳng định tính ưu việt của chế độ chính sách BHXH của Nhà nước ta trong thực tiễn cuộc sống và củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng. 3. Quản lý quỹ. a. Trước Nghị định 43/CP/1993 Trong giai đoạn này BHXH Việt Nam hoạt động dựa trên các sắc lệnh của nhà nước và điều lệ BHXH cho công nhân viên chức kèm theo nghị định 218/CP ngày 27/12/1961. Vì vậy việc thu, chi và quản lý quỹ cũng phải dựa trên các văn bản này. Trong thời gian này quỹ BHXH hầu như có thể nói là tồn tại trên danh nghĩa, nó nằm trong ngân sách nhà nước và được ngân sách nhà nước bảo hộ hoàn toàn. Điều này có thể khẳng định bởi nguồn thu chủ yếu của quỹ là từ các doanh nghiệp và nhà nước đóng góp, người lao động không phải đóng. Tuy nhiên đây là thời kỳ bao cấp nên các doanh nghiệp này đều là doanh nghiệp nhà nước được nhà nước bao cấp hoàn toàn. Vì vậy nhìn chung quỹ BHXH nằm trong ngân sách nhà nước và được bảo hộ hoàn toàn. Theo nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 thì hệ thống BHXH của nước ta bao gồm 6 chế độ là: thai sản, ốm đau, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, huu trí, tử tuất. Chính sách BHXH gắn chặt với chính sách tiền lương và đan xen với nhiều chính sách xã hội khác, chính vì vậy việc chi BHXH cho các chế độ này có nhiều tiêu cực và bất hợp lý, đặc biệt là chế độ mất sức lao động và hưu trí. Do có nhiều cơ quan cugf tham gia quản lý và thực hiện BHXH (Bộ công đoàn, Bộ lao động, Bộ tài chính) nên việc quản lý được tiến hành chồng chéo lên nhau, kém hiệu quả, chi phí quản lý bị đẩy lùi lên cao. Do bộ máy quản lý cồng kềnh, kém năng lực, điều này khiến cho chi BHXH là một gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Khi nước ta bắt đầu chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN (1986). Các đơn vị sản xuất kinh doanh trong cả nước không còn được bao cấp, phải tiến hành hạch toán độc lập. Lúc này hệ thống BHXH Việt Nam nói chung và việc quản lý quỹ BHXH nói riêng đã bộc lộ ra nhiều khuyết điểm lớn. Thu BHXH từ các doanh nghiệp trong cả nước là không đáng kể. Việc chi BHXH phần lớn vẫn do ngân sách nhà nước đảm nhận (năm 1987 97,23% do ngân sách nhà nước đảm nhận, chỉ thu được 2,77%). Điều này đòi hỏi một nhu cầu rất bức thiết đó là phải đổi mới các chính sách về BHXH nói chung và việc tổ chức thu, chi và quản lý quỹ nói chung nhằm đảm bảo được tính kinh tế và tính xã hội của BHXH. b. Sau Nghị định 43/CP/1993. Nhằm phù hợp với điều kiện đất nước trong nền kinh tế thị trường, Đảng và nhà nước đã tiến hành đổi các chính sách BHXH mà sự thay đổi đầu tiên bắt đầu từ nghị định 43/CP ra ngày 22/06/1993. Tiếp đó là một sự ra đời cảu điều lệ BHXH kèm theo nghị định 12/CP ra ngày 26/01/1995. 11 Cùng với sự thay đổi này thì việc thu, chi quản lý quỹ BHXH cũng được thay đổi theo. Theo điều lệ BHXH hiện hành, quỹ BHXH Việt Nam được hình thành từ các nguồn sau: - Người sử dụng lao động đóng góp 15% so với tổng quỹ lương của những người tham gia BHXH trong đơn vị, trong đó 10% để chi cho chế độ hưu trí, tử tuất; 5% cho các chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, ốm đau, thai sản. - Nguồn lao động đóng góp 5% tiền lương. - Các nguồn thu khác: các cá nhân, tổ chức từ thiện giúp đỡ, lãi đầu tư vốn nhàn rỗi. Quỹ BHXH được sử dụng với 2 mục đích: - Chi quản lý hành chính sự nghiệp. - Chi trợ cấp cho các chế độ. Hiện nay việc quản lý quỹ theo điều lệ BHXH hiện hành thống nhât giao cho hệ thống BHXH Việt Nam thuộc Bộ lao động thương binh xã hội. Với sự thay đổi này việc thu chi và quản lý quỹ đã được tiến hành một cách ổn định, giảm bớt sự chồng chéo, gánh nặng về BHXH cho ngân sách nhà nước cũng được giảm đi, đời sống cảu người lao động cũng được ổn định hơn và an toàn xã hội được đảm bảo. III. Nhận thức về BHXH của người Việt Nam. 1. Giai đoạn 1: Thời kỳ trước khi có Điều lệ tạm thời về bảo hiểm xã hội (trước 1961) Ngay từ khi thành lập chính quyền nhân dân và suốt trong thời kỳ kháng chiến, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn về mọi mặt, song Chính phủ đã luôn chăm lo cải thiện đời sống của nhân dân lao động nói chung và riêng đối với công nhân, viên chức Nhà nước. Ngoài việc ban hành chế độ tiền lương, Chính phủ đã ban hành các chế độ phụ cấp, trợ cấp xã hội mà thực chất là các chế độ BHXH như: trợ cấp ốm đau, sinh đẻ, tai nạn lao động, trợ cấp già yếu, trợ cấp cho cá nhân và gia đình công nhân, viên chức khi chết và xây dựng các khu an dưỡng, điều dưỡng, bệnh viện, nhà trẻ… Song do hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, trong kháng chiến và kinh tế khó khăn nên Nhà nước chưa nghiên cứu chi tiết và thực hiện được đầy đủ các quyền lợi về bảo hiểm xã hội cho công nhân viên chức, mà các chế độ chủ yếu mang tính cung cấp, bình quân với tinh thần đồng cam cộng khổ. Về nội dung chưa thống nhất giữa khu vực hành chính và sản xuất, giữa công nhân kháng chiến và công nhân sản xuất dân dụng, các khoản chi về bảo hiểm xã hội lẫn với tiền lương, chính sách đãi ngộ mà chưa xây dựng theo nguyên tắc hưởng theo lao động, ngoài ra các văn bản lại chưa hoàn thiện và đồng bộ, ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện. Một số vấn đề quan trọng, cấp thiết đến đời sống của đông đảo công nhân viên chức như chế độ hưu trí, trợ cấp mất sức lao động, thôi việc, chế độ trợ cấp bệnh nghề nghiệp chưa được quy định. Chính vì thế, trong giai đoạn này, việc người dân không thể hiểu hoặc chỉ hiểu “mang máng” về vai trò của BHXH là tất yếu. 12 2. Giai đoạn 2: Thời kỳ thực hiện điều lệ bảo hiểm xã hội tạm thời (từ 1961 đến 12/1994): Để phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước, đáp ứng yêu cầu không ngừng cải thiện đời sống của công nhân viên chức Nhà nước, các chế độ trợ cấp xã hội cần được bổ sung và sửa đổi cho phù hợp với thời kỳ xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam. Tại Điều 32 Hiến pháp năm 1959 quy định rõ: quyền của người lao động được giúp đỡ về vật chất khi già yếu, mất sức lao động, bệnh tật. Năm 1960 Hội đồng Chính phủ có Nghị quyết trong đó đã xác định “đi đôi với việc cải tiến chế độ tiền lương, cần cải tiến và ban hành các chính sách cụ thể về bảo hiểm xã hội và phúc lợi cho công nhân viên chức, cán bộ”. Thực hiện Nghị quyết trên, các Bộ Lao động, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ Y tế và Tổng Công đoàn Việt Nam đã phối hợp nghiên cứu xây dựng Điều lệ tạm thời về bảo hiểm xã hội trình Hội đồng Chính phủ ban hành. Ngày 14/12/1961 Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn, Chính phủ đã ra Nghị định số 218/CP ngày 27/12/1961 ban hành kèm theo Điều lệ tạm thời về các chế độ bảo hiểm xã hội đối với công nhân viên chức Nhà nước. Trong suốt thời kỳ lịch sử của đất nước từ khi Nhà nước Cộng hoà dân chủ Việt Nam ra đời đến hết năm 1994, tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng giai đoạn, chế độ chính sách bảo hiểm xã hội nói chung, công tác tổ chức thực hiện chế độ chính sách bảo hiểm xã hội nói riêng cũng luôn thay đổi, bổ sung, sửa đổi cho phù hợp, song nhìn chung trong cơ chế quản lý tập trung, bao cấp, việc tham gia bảo hiểm xã hội được xác định bằng thời gian công tác hay gọi là thời gian cống hiến thì việc xây dựng các chính sách bảo hiểm xã hội luôn được lồng ghép cùng với các chính sách xã hội, chính sách kinh tế. Về cơ bản, chính sách bảo hiểm xã hội trong thời kỳ này đã hoàn thành cơ bản nhiệm vụ và sứ mệnh của mình trong một thời kỳ dài, nó đã góp phần ổn định cuộc sống, đảm bảo thu nhập cho hàng triệu cán bộ công nhân viên chức đang làm việc được yên tâm công tác, chiến đấu và bảo vệ Tổ quốc; hàng triệu người lao động khi già yếu được đảm bảo về vật chất và tinh thần, cũng như gia đình họ bằng trợ cấp bảo hiểm xã hội hoặc lương hưu, đồng thời góp phần to lớn trong việc đảm bảo ổn định xã hội và an toàn xã hội. Tuy nhiên, qua nhiều năm các văn bản pháp quy và văn bản hướng dẫn quá nhiều nên không tránh khỏi sự chồng chéo, trùng lắp hoặc có những vấn đề không được quy định, khó khăn cho việc thực hiện chế độ; có nhiều cơ sở cho việc vận dụng gây nên mất công bằng xã hội; các văn bản tính pháp lý chưa thật cao, chủ yếu mới ở dạng Nghị định, Điều lệ tạm thời, Quyết định, Thông tư. Về tổ chức bộ máy thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội chưa tách chức năng quản lý Nhà nước ra khỏi chức năng hoạt động sự nghiệp của bảo hiểm xã hội, còn phân tán, hoạt động kém hiệu quả, sự phối hợp để giải quyết các vướng mắc cho đối tượng gặp nhiều khó khăn, mỗi cơ quan, đơn vị, ngành chỉ giải quyết một vài công việc hoặc khâu công việc. Quỹ bảo hiểm xã hội thu không đảm bảo đủ chi, 13 việc chi trả lương hưu và các khoản trợ cấp bảo hiểm xã hội thường xuyên bị chậm, ảnh hưởng lớn đến đời sống của người hưởng chế độ bảo hiểm xã hội. Chính vì những lý do trên, tuy BHXH trong giai đoạn này đã cải thiện được hình ảnh của mình trong mắt người dân nhưng vẫn chưa thực sự thể hiện được khả năng của mình trong việc giúp ổn định cuộc sống nhân dân. 3. Giai đoạn 3: Thời kỳ từ 1/1995 đến nay: Từ sau Đại hội Đảng lần thứ 6 với chủ trương đổi mới quản lý Nhà nước từ nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, chính sách bảo hiểm xã hội cũng được xem xét, nghiên cứu thay đổi sao cho phù hợp không những so với tình hình đổi mới kinh tế của đất nước mà dần hoà nhập với những quy định, những nguyên tắc của bảo hiểm xã hội thế giới và nhất là các nước trong nền kinh tế chuyển đổi. Từ năm 1995, thi hành những quy định trong Bộ Luật lao động về bảo hiểm xã hội, Chính phủ đã ban hành Điều lệ bảo hiểm xã hội kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/1/1995 và Nghị định số 45/CP ngày 15/7/1995 áp dụng đối với công chức, công nhân viên chức Nhà nước, người lao động theo loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc và sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ quân đội nhân dân và công an nhân dân. Nội dung của Điều lệ bảo hiểm xã hội này đã đã được đổi mới cơ bản và khắc phục được những nhược điểm, tồn tại mà Điều lệ bảo hiểm xã hội tạm thời ban hành những năm trước đây, đó là: - Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc không chỉ bao gồm lao động trong khu vực Nhà nước mà người lao động trong các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có sử dụng từ 10 lao động trở lên cũng có quyền tham gia bảo hiểm xã hội. - Đề cập đến vấn đề bảo hiểm xã hội tự nguyện và vấn đề tham gia đóng góp vào Quỹ bảo hiểm xã hội của người sử dụng lao động, người lao động và hình thành Quỹ bảo hiểm xã hội. - Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý thống nhất, tập trung trong cả nước, độc lập với ngân sách Nhà nước. Quỹ bảo hiểm xã hội được Nhà nước bảo trợ, cơ chế quản lý tài chính được thực hiện theo quy định của Nhà nước. - Về các chế độ bảo hiểm xã hội, quy định 5 chế độ là ốm đau, thai sản, tai nạn lao động- bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất, không còn chế độ trợ cấp mất sức lao động mà những người mất khả năng lao động được quy định chung trong chế độ hưu trí với mức hưởng lương hưu thấp. Trong từng chế độ có quy định cụ thể hơn về điều kiện hưởng, thời gian và mức hưởng. - Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội được cấp sổ bảo hiểm xã hội, sổ bảo hiểm xã hội ghi chép, phản ánh quá trình tham gia bảo hiểm xã hội, mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội và các chế độ bảo hiểm xã hội đã được hưởng. - Đối với lực lượng vũ trang cũng đã có quy định riêng về bảo hiểm xã hội (Nghị định số 45/CP của Chính phủ). 14 - Tài chính bảo hiểm xã hội được đổi mới cơ bản, tập trung ở những nội dung chủ yếu sau: + Quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành trên cơ sở sự đóng góp của người sử dụng lao động và người lao động là chính, Nhà nước hỗ trợ cho nguồn Quỹ bảo hiểm xã hội là thứ yếu khi cần thiết. Mức đóng góp hàng tháng được quy định bắt buộc thuộc trách nhiệm của cả người lao động và người sử dụng lao động. Với quy định về mức đóng góp rõ ràng đã làm cho người lao động và người sử dụng lao động thấy được quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong việc đóng góp vào Quỹ bảo hiểm xã hội. + Quỹ bảo hiểm xã hội được tách khỏi ngân sách Nhà nước, hạch toán độc lập; quỹ bảo hiểm xã hội được thực hiện các biện pháp để bảo tồn và tăng trưởng. Quỹ bảo hiểm xã hội đảm bảo thu đủ để chi và có phần kết dư, bảo đảm tính chất của bảo hiểm xã hội đoàn kết, tương trợ giữa tập thể người lao động và giữa các thế hệ, đồng thời đảm bảo cho việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội luôn được ổn định lâu dài. Như vậy, từ năm 1995 chính sách bảo hiểm xã hội đã gắn quyền lợi hưởng bảo hiểm xã hội với trách nhiệm đóng góp bảo hiểm xã hội của người lao động, xác định rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động, tạo được Quỹ bảo hiểm xã hội độc lập với ngân sách Nhà nước. + Mức chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội được quy định cụ thể, hợp lý, phù hợp với mức đóng góp của người lao động. Đặc biệt mức hưởng lương hưu được quy định là 45% so với mức tiền lương nghạch bậc, lương hợp đồng cho người có 15 năm làm việc và đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm được thêm 2% và cao nhất là 75% cho người có 30 năm tham gia bảo hiểm xã hội. Ngoài ra, người lao động nếu có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội từ năm thứ 31 trở lên thì mỗi năm thêm được được hưởng trợ cấp một lần bằng 1/2 tháng tiền lương, tối đa không quá 5 tháng tiền lương. Với quy định này đã từng bước cân đối được thu- chi bảo hiểm xã hội. Do có tổ chức thống nhất quản lý, bảo tồn, phát triển quỹ và thực hiện chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội cho các đối tượng hưởng bảo hiểm xã hội đã đảm bảo cho việc chi trả đầy đủ, kịp thời và đúng quy định; khắc phục được những tồn tại trước đây. Tuy nhiên, với các quy định của Điều lệ bảo hiểm xã hội thực hiện từ năm 1995 còn một số điểm tồn tại cần được nghiên cứu hoàn thiện như: - Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội còn hạn hẹp, Nhà nước mới quy định lao động làm việc trong các doanh nghiệp mà có từ 10 lao động trở lên mới thuộc diện bắt buộc tham gia bảo hiểm xã hội, vì vậy đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tuy đã được mở rộng hơn so với quy định trước đây, nhưng so với tổng số lao động xã hội thì còn chiếm tỷ trọng thấp, mới chỉ có khoảng 14% số người trong độ tuổi lao động tham gia bảo hiểm xã hội. Điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến số người lao động trong xã hội được hưởng quyền lợi về bảo hiểm xã hội, đồng thời quy mô quỹ bảo hiểm xã hội bị hạn chế. 15 - Chế độ chính sách bảo hiểm xã hội vẫn còn đan xem một số chính sách xã hội. Trong quá trình thực hiện theo những quy định của Điều lệ bảo hiểm xã hội từ năm 1995 đến nay, chính sách bảo hiểm xã hội đã có những sửa đổi, bổ sung.Với những sửa đổi, bổ sung về chính sách bảo hiểm xã hội, có ảnh hưởng nhiều đến việc quản lý quỹ và cân đối quỹ bảo hiểm xã hội. Ngoài ra, từ năm 1995 đến nay với 3 lần thay đổi mức tiền lương tối thiểu vào các năm 1997 (Từ mức 120.000 đồng lên mức 144.000 đồng); năm 2000 (Từ mức 144.000 đồng lên mức 180.000 đồng) và năm 2001 đến nay lên mức 210.000 đồng. Với thay đổi này thì thu bảo hiểm xã hội đối với người lao động tham gia bảo hiểm xã hội theo thang bảng lương Nhà nước vẫn thực hiện theo mức tiền lương tối thiểu cũ, nhưng khi giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội thì được thực hiện theo mức tiền lương tối thiểu mới tại thời điểm giải quyết chế độ cũng như điều chỉnh theo mức tăng của mức tiền lương tối thiểu đối với người đang hưởng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, điều này không những ảnh hưởng đến quỹ bảo hiểm xã hội về cân đối thu- chi mà phần lãi suất đầu tư cũng bị giảm. Nhờ những chính sách kể trên, BHXH ngày càng phát huy sức mạnh to lớn của mình, giúp cho người dân nhận thức một cách rõ ràng hơn về vai trò của BHXH trong cuộc sống. IV. Những đánh giá về thuận lợi và khó khăn cho sự phát triển của chế độ BHXH. 1. Thuận lợi. Bản chất của BHXH là sự bảo đảm bù đắp một phần hoặc thay thế thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết trên cơ sở đóng góp vào quỹ BHXH do Nhà nước tổ chức thực hiện. Vai trò của chính sách BHXH, BHYT đối với an sinh xã hội ngày càng được thể hiện rõ ràng ở các mặt: Thực hiện chính sách BHXH, BHYT nhằm ổn định cuộc sống người lao động, trợ giúp người lao động khi gặp rủi ro, ốm đau, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp... sớm trở lại trạng thái sức khỏe ban đầu cũng như sớm có việc làm; góp phần ổn định cuộc sống của người lao động khi hết tuổi lao động hoặc không còn khả năng lao động; ổn định và nâng cao chất lượng lao động, bảo đảm sự bình đẳng về vị thế xã hội của người lao động trong các thành phần kinh tế khác nhau, thúc đẩy sản xuất phát triển; góp phần vào việc phân phối lại thu nhập quốc dân một cách công bằng, hợp lý giữa các tầng lớp dân cư, đồng thời giảm chi cho ngân sách Nhà nước, bảo đảm an sinh xã hội bền vững. Cùng với sự phát triển kinh tế là sự lớn mạnh không ngừng của hệ thống an sinh xã hội, đặc biệt là chính sách BHXH, BHYT đã phát huy vai trò trụ cột trong hệ thống an sinh xã hội, góp phần tích cực vào việc ổn định xã hội, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Trong đó, hệ thống BHXH giữ vai trò trụ cột, bền vững nhất. Phát triển BHXH sẽ là tiền 16 đề và điều kiện để thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Công tác thông tin tuyên truyền về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong công tác BHXH đã tạo được sự chuyển biến đáng kể trong nhận thức của cán bộ, đảng viên, người lao động, người sử dụng lao động và đông đảo các tầng lớp nhân dân trong xã hội về chính sách BHXH. Phạm vi và đối tượng tham gia BHXH từng bước được mở rộng; số thu BHXH tăng nhanh qua từng năm; công tác cấp, quản lý sổ, thẻ BHXH, BHYT và giải quyết các chế độ BHXH, BHYT thực hiện chặt chẽ, đúng quy định; công tác chi trả lương hưu, các chế độ trợ cấp kịp thời, đầy đủ, an toàn và thuận tiện cho người thụ hưởng BHXH, khắc phục sự chậm trễ, thiếu hụt trước đây. Hình thành quỹ BHXH tập trung, thống nhất, độc lập với ngân sách Nhà nước, có số tồn tích ngày càng lớn, tạo điều kiện cho BHXH Việt Nam chủ động trong chi trả các chế độ BHXH, đồng thời tạo khả năng bảo đảm chi ổn định các chế độ BHXH, giảm dần sự cấp phát từ ngân sách Nhà nước. Công tác kiểm tra việc thực hiện chính sách BHXH đã có tác dụng tích cực trong việc phát hiện, uốn nắn, ngăn chặn kịp thời các sai phạm, tiêu cực trong thực hiện chính sách BHXH. Công tác cải cách thủ tục hành chính của ngành đã tạo được sự chuyển biến đáng kể trong quan hệ về thủ tục giải quyết chế độ BHXH, tạo thuận tiện cho công dân và tổ chức tham gia BHXH, vừa có tác dụng ngăn chặn tệ cửa quyền, sách nhiễu và tham nhũng. 2. Khó khăn. Tuy nhiên, công tác thực hiện BHXH, BHYT còn rất nhiều hạn chế, trong đó công tác tuyên truyền chưa đáp ứng với yêu cầu. Nhiều doanh nghiệp và người lao động chưa thật sự hiểu hết những lợi ích mà BHXH, BHYT mang lại; Các văn bản liên quan việc thực hiện còn chậm đi vào cuộc sống, chính sách về BHXH, BHYT còn phức tạp khiến người dân không nhiệt tình tham gia. Thứ nhất, việc thực hiện chính sách BHXH, BHYT tại địa phương, đặc biệt là tại xã, phường, thị trấn vẫn còn những tồn tại, bất cập, cùng với những khó khăn, vướng mắc cả ở mặt khách quan lẫn chủ quan, cả ở cơ chế cũng như trong tổ chức thực hiện. Thực tiễn hoạt động của ngành những năm qua cho thấy, đối tượng hưởng lương hưu và trợ cấp hàng tháng chủ yếu sống ở xã, phường, thị trấn. BHXH Việt Nam đã ký hợp đồng với các đại lý để chi trả cho đối tượng. Bình quân số kinh phí chi ở cấp xã chiếm 80% tổng chi toàn ngành. Nhưng đến nay Nhà nước chưa có quy định tổ chức ở cấp xã để thực hiện nhiệm vụ này. Công tác BHXH tại cấp xã của ngành hiện nay còn là một trong những khâu bất cập trong tổ chức và hoạt động của hệ thống BHXH cần sớm được tháo gỡ để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài. Với số lượng hơn một vạn xã, phường, thị trấn trong cả nước như hiện nay thì tình trạng thiếu sự phối hợp thống nhất đối với hoạt động BHXH ở cấp xã giữa cơ quan BHXH và chính quyền địa phương, thiếu quy định về cơ chế hoạt động, về quyền lợi cũng như về trách nhiệm của người làm công tác BHXH ở cấp này cần sớm được khắc phục. Những hình thức tổ chức thực hiện chế độ, chính sách BHXH, BHYT tại 17 cấp xã được xem là những giải pháp tình thế mà ngành đã kế thừa hoặc tự tìm tòi, tự tổ chức, bản thân nó tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi ro đã không thể đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra trong giai đoạn phát triển mới. Thứ hai, việc phân định chức năng, nhiệm vụ giữa các đơn vị trực thuộc và thực hiện phân cấp giữa Trung ương và địa phương, giữa tỉnh và huyện cũng cần được rà soát để điều chỉnh cho phù hợp hơn với tiến trình cải cách hành chính của Nhà nước. Thứ ba, năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của BHXH các địa phương và của các đơn vị trực thuộc BHXH Việt Nam cũng còn nhiều bất cập, đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ để nâng cao chất lượng, đủ sức đảm đương yêu cầu nhiệm vụ khi đối tượng tham gia BHXH, BHYT ngày càng tăng nhanh theo lộ trình tiến tới BHYT toàn dân và mở rộng đối tượng tham gia BHXH đến mọi người lao động thuộc các thành phần kinh tế. 18 CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ BHXH CHO NGƯỜI VIỆT NAM I. Kiến nghị về chế độ chính sách. Về chính sách bảo hiểm y tế (BHYT), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cũng chỉ rõ: “Thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ; đổi mới cơ chế chính sách viện phí, có chính sách trợ cấp và bảo hiểm y tế cho người nghèo, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân”. Những quan điểm, định hướng lớn về chính sách BHXH, BHYT được Đảng, Nhà nước ta nhất quán khẳng định trong các văn bản quan trọng của mình; biểu thị sự quyết tâm cao của Đảng và Nhà nước về phát triển BHXH phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Phương thức quản lý BHXH thủ công nên đã chi phối hầu hết các quy trình, tác nghiệp quản lý. Các quy trình quản lý BHXH được thực hiện thủ công và vì vậy phần nào bị chi phối ý chí chủ quan của chúng ta. Các thông tin quản lý được lưu trữ tách biệt, các cứ, không thể chia sẻ, khai thác và sử dụng một cách có hiệu quả. Các mối quan hệ (bao gồm cả quan hệ ngang và dọc) trong quá trình quản lý đều chưa được liên kết, liên thông một cách chặt chẽ để trao đổi, chia sẻ thông tin nhằm phục vụ cho hoạt động quản lý của tổ chức Bảo hiểm xã hội các cấp. Phương thức quản lý thủ công là một trong những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trên các lĩnh vực công tác của ngành như: Quản lý thu BHXH, quản lý đối tượng tham gia BHXH; quản lý chế độ chính sách BHXH; quản lý chi BHXH; quản lý Phiếu khám chữa bệnh và chi phí khám chữa bệnh, quản lý tài chính BHXH… Đẩy mạnh cải cách hành chính trong toàn ngành. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra trong thời kỳ mới, nhất là công tác đào tạo, bồi dưỡng, chú trọng giáo dục về phẩm chất đạo đức, ý thức trách nhiệm, chuyển đổi tác phong làm việc từ hành chính sang phục vụ đối tượng để mỗi cán bộ, công chức, viên chức có thái độ phục vụ đúng đắn. Xác định rõ nội dung, khối lượng công việc cụ thể của từng tổ chức, đơn vị, trên cơ sở đó xác định cơ cấu ngạch công chức phù hợp; xây dựng tiêu chuẩn chức danh cụ thể cho từng cấp, từng đơn vị, làm căn cứ cho việc tuyển dụng, bố trí, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, quy định cụ thể về trách nhiệm của người đứng đầu, đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. II. Kiến nghị về đối tượng và phạm vi của BHXH. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn và yêu cầu nhiệm vụ đặt ra trong thời gian tới, cần nghiên cứu xây dựng về tổ chức thực hiện BHXH ở xã, phường, thị trấn; quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người làm công tác BHXH ở cấp này để đáp ứng được yêu cầu từng bước mở rộng đối tượng tham 19 gia BHXH đến mọi người lao động, mọi tầng lớp nhân dân, thực hiện BHXH tự nguyện và BHYT toàn dân. Đối tượng, phạm vi BHXH đang được mở rộng theo Bộ Luật Lao động bổ sung, sửa đổi và Nghị định số 01/2003/NĐ-CP ngày 09/01/2003 của Chính phủ. Đối tượng tham gia BHYT cũng đang được Chính phủ nghiên cứu sửa đổi theo hướng đồng bộ với đối tượng tham gia BHXH và từng bước mở rộng phạm vi nhằm thực hiện lộ trình BHYT toàn dân. Sự gia tăng về đối tượng đã mở ra hướng phát triển mới đầy triển vọng cho Bảo hiểm xã hội ViệtNam đồng thời là lời giải của bài toán cân đối Quỹ BHXH trong chiến lượng phát triển dài hạn. Nhưng bên cạnh đó chúng ta phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức khi mở rộng đối tượng, phạm vi BHXH. áp lực của sự gia tăng về đối tượng tham gia BHXH sẽ làm cho bộ máy quản lý vận hành gặp nhiều khó khăn, nặng nề nếu không có sự chuyển đổi thích ứng. Để đáp ứng yêu cầu mở rộng đối tượng, phạm vi BHXH, bên cạnh nhiều giải pháp quan trọng thì việc nâng cao năng lực quản lý của bộ máy BHXH là một trong những giải pháp then chốt. Dưới tác động của xu thế hội nhập, cơ chế thị trường và hiệu ứng lan toả hiệu quả của những dịch vụ công, đối tượng đang tham gia và hưởng BHXH đòi hỏi sự cung cấp, bảo đảm những dịch vụ tốt nhất từ phía tổ chức BHXH. Đó là đòi hỏi khách quan, phù hợp thời đại. Để phát triển, hội nhập, nâng cao vị thế của mình và vì an sinh xã hội, tổ chức BHXH phải đáp ứng sự đòi hỏi của đối tượng đang tham gia và hưởng BHXH; coi việc cung cấp, bảo đảm những dịch vụ tốt nhất cho đối tượng đang tham gia và hưởng BHXH là một trong những phương châm hoạt động để phát triển. Để thực hiện tốt chính sách BHXH của Đảng và Nhà nước, chúng ta phải nâng cao hiệu quả quản lý BHXH trên cơ sở cải thiện các bất cập nêu trên. Điều đó có nghĩa phải thay đổi phương thức quản lý từ hành chính thủ công sang phương thức quản lý hiện đại, chuyên nghiệp hơn phù hợp với đặc thù của ngành là tổ chức sự nghiệp công. III. Kiến nghị vế thu chi, mức hưởng và cách tính trợ cấp. Về công tác thu, BHXH Việt Nam cần tập trung và áp dụng nhiều biện pháp tổ chức thực hiện thu, đảm bảo thu đầy đủ, đúng đối tượng, kịp thời và tuân thủ đúng qui định của Nhà nước, góp phần làm căn cứ giải quyết chế độ cho người tham gia được đầy đủ, kịp thời, chính xác. Về chi BHXH, đến nay, ngành BHXH đang tổ chức chi trả cho hàng triệu lượt người hưởng trợ cấp một lần. Số tiền chi trả mỗi năm là hàng chục nghìn tỷ đồng. (Năm 2009, chi trả 54.403 tỷ đồng). Cần tiếp tục mở rộng quyền lợi cho người tham gia qua đó số lượt người khám, chữa bệnh BHYT và chi phí khám, chữa bệnh BHYT tăng nhanh.Việc giải quyết hưởng các chế độ BHXH, BHYT phải đảm bảo đầy đủ, kịp thời, đúng qui định của pháp luật và từng bước cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động cũng như đơn vị sử dụng lao động. 20
- Xem thêm -