Dạy học các tác phẩm thơ nguyễn khuyến, tú xương ở trung học phổ thông theo hướng tiếp cận thi pháp

  • Số trang: 105 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 17 |
  • Lượt tải: 1
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

MỤC LỤC Trang Lời cảm ơn........................................................................................................ i MỤC LỤC........................................................................................................ ii MỞ ĐẦU......................................................................................................... 1 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI................................................ 7 1.1. Một số vấn đề thi pháp học ...................................................................... 7 1.1.1. Khái niệm về Thi pháp học..................................................................... 7 1.1.2. Các bình diện thi pháp cơ bản trong sáng tạo văn học ……………..... 8 1.2. Thi pháp văn học trung đại ……………………………………….……... 12 1.2.1. Tính ước lệ …………………………………………………….……... 13 1.2.2. Tính quy phạm ……………………………………………………... ... 14 1.2.3. Tính phi ngã ……………………………………………….………….. 14 1.2.4. Thiên nhiên trong thơ văn trung đại ………………………………...... 14 1.2.5. Không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật trong văn học trung đạị………………………………...……………..………………… 15 1.2.6 Con người trong văn thơ trung đại …….………...……………….…… 16 1.3 Một số vấn đề về thi pháp thơ Nguyễn Khuyến và thi pháp thơ Tú Xương ……………………………………………………………….….. 18 1.3.1. Một số vấn đề về thi pháp Nguyễn Khuyến……………………….….. 18 1.3.2. Một số vấn đề về thi pháp Tú Xương .…………............................….. . 26 Chƣơng 2: THỰC TRẠNG DẠY HỌC THƠ TRUNG ĐẠI TRONG NHÀ TRƢỜNG PHỔ THÔNG HIỆN NAY VÀ ĐỊNH HƢỚNG ĐỔI MỚI TỪ HƢỚNG TIẾP CẬN THI PHÁP……………………………..… 39 2.1 Thực trạng dạy học thơ trung đại trong nhà trường phổ thông hiện nay…. 39 2.1.1. Thực trạng học thơ trung đại nói chung trong nhà trường phổ thông hiện nay……………………………………………..……………. 2.1.2. Thực trạng dạy học “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến và 4 39 “Thương vợ” của Tú Xương…………….………………………………….. . 41 2.2. Những định hướng đổi mới khi giảng dạy hai bài thơ “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến và “Thương vợ” của Tú Xương từ hướng tiếp cận thi pháp………………………………………………………………….. 43 2.2.1.Dạy bài “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến và “Thương vợ” của Tú Xương từ hướng tiếp cận thi pháp thơ trung đại……………………..…… 43 2.2.2.Dạy bài Thu điếu của Nguyễn Khuyến và Thương vợ của Tú Xương theo đặc điểm thi pháp tác giả……………………………………. 45 2.2.3. Kết hợp một cách hợp lí với các phưong pháp dạy học các tác phẩm văn chương…………………………………………………………. 66 Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM DẠY BÀI “THU ĐIẾU” (NGUYỄN KHUYẾN) VÀ “THƢƠNG VỢ” (TÚ XƢƠNG) TỪ HƢỚNG TIẾP CẬN THI PHÁP……………………………………………………………... 72 3.1 Mục đích thực nghiệm…………………………………………………….. 72 3.2 Những khó khăn, thuận lợi đặt ra khi dạy “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến và “Thương vợ” của Tú Xương theo hướng tiếp cận thi pháp……… 72 3.2.1 Khó khăn……………………………………………………………….. 72 3.2.2 Thuận lợi …………………………………………………………….… 75 3.3 Thiết kế giáo án thực nghiệm dạy học bài “Thu điếu” củaNguyễn Khuyến và “Thương vợ” của Tú Xương ………………………… ……..… 76 3.3.1 Bài “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến………………………………. … 76 3.3.2. Bài “Thương vợ” của Tú Xương ………………………………….… 87 3.4. Tổ chức thực nghiệm……………………………………………..….... 96 3.4.1. Chọn lớp thực nghiệm……………………………………………….. 96 3.4.2. Dạy thực nghiệm ……………………………………………………... 96 3.5. Kết quả thực nghiệm ……………………………………………...……. 97 3.5.1 Tiến hành khảo sát và tổng hợp kết quả với đối tượng khảo sát là giáo viên ………………………………………………………...…….. 97 3.5.2. Tiến hành khảo sát và tổng hợp kết quả với đối tượng khảo 5 sát là học sinh…………………………………………………………….…. 98 3.5.3. Đánh giá kết quả…………………………………………………....... 99 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ …………………….……….………… 101 TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………..……………… 103 6 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Văn học có vị trí quan trọng đặc thù trong việc bồi đắp tâm hồn, hình thành nhân cách học sinh. Văn học trang bị những cảm xúc nhân văn, giúp con người hướng tới chân - thiện - mỹ. Nhờ có văn học mà đời sống tinh thần của con người ngày càng giàu có, phong phú, tinh tế hơn. Tâm hồn trở nên bớt chai sạn, thờ ơ, bàng quan trước những số phận, cảnh đời diễn ra xung quanh mình hàng ngày, trước thiên nhiên và tạo vật. Điều này càng quan trọng khi chúng ta đang sống trong guồng quay hối hả của cuộc sống hiện đại, văn học bồi đắp cho học sinh lòng yêu nước, thái độ trân trọng truyền thống, và ngôn ngữ mẹ đẻ... Thời nào cũng vậy, tác phẩm văn học chân chính có khả năng kì diệu là thanh lọc tâm hồn con người, làm người “gần người hơn”. Mặc dầu có vị trí, chức năng quan trọng đặc biệt như vậy nhưng trong thời đại của nền kinh tế thị trường nhu cầu nhân lực, do tâm lí thực dụng của học sinh hiện nay trong việc chọn ngành, nghề cho mình có thu nhập cao, nên hiện nay đang xuất hiện tình trạng nhiều học sinh không thích học môn Ngữ văn. Các em coi các môn khoa học tự nhiên, ngoại ngữ, Tin học là những hành trang bước vào thế kỷ. Với thực tế trên đã khiến cho nhiều học sinh vốn đã không thích học môn Ngữ văn, đặc biệt là những học sinh thi các khối thi có các môn khoa học tự nhiên, càng có “cớ” để lạnh nhạt, hờ hững với môn học này nhất là khi học các tác phẩm khó như các tác phẩm thơ trung đại. Vì vậy, chất lượng môn Văn ngày càng đi xuống ở tình trạng báo động. Học sinh rất chán học văn, giáo viên không còn tâm huyết để dạy, đặc biệt là trong những giờ học tác phẩm văn học trung đại. Xét về lịch sử phát triển văn học, giai đoạn văn học trung đại Việt Nam là một giai đoạn có vị trí hết sức quan trọng trong tiến trình vận động của nền văn học nước nhà. Những nền móng vững chắc của văn học dân tộc được xây dựng và và gìn giữ ngót mười thế kỉ là một tài sản hết sức quý báu đối với các thời kì phát triển tiếp sau của kiến trúc thượng tầng xã hội. Và trong nhà trường trung học phổ thông văn học trung đại chiếm một dung lượng khá lớn. Dù vậy, vẫn còn không ít 7 những khía cạnh của văn học trung đại cho đến ngày nay không khỏi làm cho chúng ta băn khoăn, trăn trở. Để góp phần rút ngắn con đường khám phá giá trị của văn học trung đại, theo xu hướng chung hiện nay là tiếp cận theo hướng thi pháp học. Hiện nay, trong các nhà trường phổ thông đang tiến hành đổi mới phương pháp dạy học một cách tích cực trong đó việc dạy học văn từ hướng tiếp cận thi pháp đang diễn ra sâu rộng. Dạy văn theo hướng tiếp cận thi pháp học đang thấm vào từng tiết học và bước đầu đã có những kết quả. Việc vận dụng phương pháp này vào dạy văn ở nước ta hiện nay có nhiều điều kiện tốt để thực hiện. Việc phổ biến tri thức thi pháp học trong nhà trường đã có bề dày khoảng 20 năm. Từ những vấn đề trên, kết hợp khát khao muốn khám phá cái hay, cái đẹp trong văn học trung đại qua những tác phẩm của Nguyễn Khuyến và Tú Xương – là hai cây đại thụ lớn của văn học trung đại, sáng tác của hai ông đã kết tinh nhiều giá trị thời đại, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Dạy học các tác phẩm thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương ở trung học phổ thông theo hướng tiếp cận thi pháp. Với đề tài này, chúng tôi muốn tìm đến một cách dạy thích hợp, mang tính khoa học và nghệ thuật, góp phần nâng cao hiệu quả một giờ giảng dạy văn chương, hình thành khả năng cảm thụ văn chương một cách toàn diện, từ đó bồi dưỡng cho học sinh tình yêu đời với môn học này, chúng tôi mong muốn đề tài sẽ góp một phần nhỏ vào quá trình hiện đại hóa việc dạy học môn Ngữ văn hiện nay. 2. Lịch sử nghiên cứu Đề tài “Dạy học các tác phẩm thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương ở trung học phổ thông theo hướng tiếp cận thi pháp” được chúng tôi xem xét và nghiên cứu lịch sử vấn đề theo hai hướng chính sau: Thứ nhất: tìm hiểu những tài liệu nghiên cứu liên quan đến thi pháp học. Thứ hai: tìm hiểu các tài liệu nghiên cứu liên quan đến con người và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Khuyến và Tú Xương. 8 2.1. Thi pháp học Một số tác giả nghiên cứu phương pháp giảng văn theo quan điểm tiếp cận thi pháp thể loại, thể tài của tác phẩm. Có thể kể đến các công trình: Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể (Trần Thanh Đạm - Chủ biên), Mấy vấn đề phương pháp giảng dạy - nghiên cứu văn học dân gian (Hoàng Tiến Tựu), Mấy vấn đề phương pháp dạy thơ văn cổ Việt Nam (Nguyễn Sĩ Cẩn), Tác phẩm trữ tình và phương pháp giảng dạy (Nguyễn Thanh Hùng), Phân tích tác phẩm văn học từ góc độ thi pháp (Nguyễn Thị Dư Khánh),... Nhìn bao quát, những công trình này đều chủ yếu giới thiệu cách vận dụng đặc trưng thi pháp thể loại, thể tài vào phân tích hình tượng, kết cấu, ngôn ngữ để làm sáng tỏ tư tưởng chủ đề và giá trị nghệ thuật của tác phẩm trong khi giảng văn. Các tác giả nêu lên những phương pháp, biện pháp giảng dạy cụ thể như: đọc, phân tích, giảng giải, rút ra các khâu, các bước trong quá trình tìm hiểu, phân tích một tác phẩm thuộc thể loại nhất định, còn cách thức trình bày trước học sinh chưa được nói đến. Cũng có một vài tác giả cũng có chú ý tiếp cận, phân tích giảng văn trên bình diện thi pháp tác phẩm nhưng chỉ như là gợi ra một hướng mở. 2.2. Nguyễn Khuyến và Tú Xương Là hai tác gia trào phúng xuất sắc, con người và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Khuyến và Tú Xương đã trở thành đối tượng nghiên cứu của lịch sử văn học, phê bình văn học và lí luận văn học. Qua quá trình phân tích, tổng hợp, chúng tôi có thể kể đến những công trình nghiên cứu về con người cũng như sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Khuyến và Tú Xương như sau: 2.2.1. Nguyễn Khuyến Nguyễn Khuyến được biết đến với tư cách là một nhà thơ từ rất sớm, ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX. Thơ nôm của ông đã được giới thiệu trên tạp chí Nam Phong và cuốn sách: Quốc văn trích diễm của Dương Quảng Hàm xuất bản 1925 cũng đã giới thiệu 7 bài thơ nôm của Nguyễn Khuyến. Từ đó trở đi Nguyễn Khuyến luôn là một nhà thơ được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Tiếp sau Quốc văn trích diễm của Dương Quảng Hàm thì trong cuốn sách nổi 9 tiếng Việt Nam Văn học sử yếu (Nha học chính Đông Pháp xuất bản . H. 1943) đã xếp Nguyễn Khuyến vào hàng ngũ các nhà thơ trào phúng nổi tiếng của văn học dân tộc. Hay trong cuốn Văn thơ Nguyễn Khuyến (Bộ Giáo dục xuất bản. H. 1957) còn phong cho ông là một nhà thơ trào phúng Việt Nam có tiếng cười độc đáo. Bộ sách Văn học sử quan trọng nhất của văn học cổ trung đại Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam (gồm 3 tập của nhóm Lê Quý Đôn, Xây dựng xuất bản. H. 1957) đã dành 20 trang để nghiên cứu về Nguyễn Khuyến với tư cách là một nhà thơ trào phúng lớn. Bài viết của Nguyễn Huệ Chi cũng có những nhận xét về con người Tam Nguyên Yên Đổ: con người đó cũng không quên nhìn lại mình tự vấn mình như một kẻ sỹ chân chính thầm để những giọt nước mắt chảy vào trong và đành cười nhạo thân phận lơ láo tỉnh say, say tỉnh của mình. Sự đa dạng và thống nhất trên quá trình chuyển động của một phong cách và dấu hiệu chuyển mình của tư duy thơ dân tộc. Bài Nguyễn Khuyến trong bối cảnh văn hoá xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu XX của tác giả Trần Quốc Vượng ( Theo thi hào Nguyễn Khuyến đời và thơ) cho thấy sau khi chán ngán quan trường, Nguyễn Khuyến cáo quan về quê làm một cụ nghè sống cuộc đời như “phỗng đá”, “anh giả điếc”, “mù loà”, “mẹ mốc”, “gái goá”. Sống như vậy dường như nhà thơ muốn chạy trốn cuộc đời, chạy trốn giai cấp mà ông đã phục vụ quá nửa đời mình. Riêng về mảnh đất thi pháp học về tác giả, Trần Đình Sử cũng đã có bài nghiên cứu về nhà thơ Tam nguyên Yên Đỗ đăng trong tập sách “Thế giới nghệ thuật thơ” của ông. Bài viết của giáo sư Trần Đình Sử có tính chất khoa học sâu sắc và có ý nghĩa như là bước định hướng về việc nghiên cứu sâu rộng hơn tác giả Nguyễn Khuyến đối với những ai quan tâm đến tác gia văn học trung đại này. Bài viết “Thơ Nguyễn Khuyến, từ quan niệm nghệ thuật về con người đến không – thời gian nghệ thuật” của tác giả Hoàng Dục cũng tiếp cận thơ Nguyễn Khuyến từ thi pháp. 2.2.2. Tú Xương Những công trình, bài nghiên cứu chuyên luận về tiểu sử, sự nghiệp của Tú Xương như: Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII – hết thế kỷ XIX của 10 Nguyễn Lộc (phần viết về Tú Xương), Tú Xương – tác phẩm và giai thoại của Đỗ Huy Vinh, Thơ Tú Xương của Phạm Vĩnh, Trần Tế Xương về tác gia và tác phẩm của Nguyễn Văn Sỹ,… Những công trình, bài viết đánh giá, bình luận về nội dung, nghệ thuật qua các sáng tác của Tú Xương, nổi lên như: Thơ văn Trần Tế Xương – tác phẩm và lời bình của Tuấn Thành, Anh Vũ, các bài viết chuyên luận “Thơ văn Tú Xương” của Đỗ Đức Hiểu, “Nghệ thuật Tú Xương” của Trần Thanh Mai – Trần Tuấn Lộ, “Hiện thực và trữ tình trong thơ Tú Xương” của Nguyễn Tuân… Riêng về thi pháp học, tác giả Hồ Giang Long với cuốn sách Thi pháp thơ Tú Xương. Trong cuốn sách này, tác giả Hồ Giang Long đã đưa ra các phạm trù về thi pháp như quan niệm về con người, không gian nghệ thuật, giọng điệu trong thơ Tú Xương. Nhìn chung các công trình nghiên cứu cũng như chuyên luận đều mang tính khoa học cao và góp phần làm sáng lên giá trị nghệ thuật, giá trị nội dung hiện thực, trữ tình trong thơ Nguyễn Khuyến và Tú Xương. Ở đó con người và tác phẩm của Nguyễn Khuyến và Tú Xương được khẳng định và phân tích. Các công trình, bài viết nghiên cứu đã giúp tôi có định hướng để tiếp tục nghiên cứu đề tài nhằm hoàn thành đề tài có chất lượng hơn. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Với đề tài: Dạy học các tác phẩm thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương ở trung học phổ thông theo hướng tiếp cận thi pháp nhằm góp phần đổi mới phương pháp dạy học Ngữ Văn, nâng cao hiệu quả giảng dạy qua đó bồi dưỡng năng lực nhận thức và tình yêu đối với văn học của học sinh, luận văn xin đề xuất phương pháp dạy hai bài thơ cụ thể: Thu điếu (Nguyễn Khuyến) và Thương vợ (Tú Xương) trong chương trình Ngữ văn 11, ban cơ bản. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Để thực hiện được mục đích nghiên cứu, chúng tôi xác định đề tài có những nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau đây: 11 - Giải quyết một số vấn đề lý luận về thi pháp học, thi pháp thơ trung đại, thi pháp thơ Nguyễn Khuyến và thi pháp thơ Tú Xương. - Tìm hiểu thực trạng dạy học tác phẩm thơ trung đại - Đề xuất phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận thi pháp. - Thiết kế thể nghiệm giáo án bài Thu điếu của Nguyễn Khuyến và Thương vợ của Tú Xương theo hướng tiếp cận thi pháp. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu + Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những đặc trưng thi pháp học, thi pháp văn học trung đại, thi pháp Nguyễn Khuyến và thi pháp Tú Xương. + Định hướng đổi mới dạy bài Thu điếu của Nguyễn Khuyến và Thương vợ của Tú Xương. 4.2. Phạm vi nghiên cứu + Nghiên cứu lí luận về dạy học tác phẩm văn chương theo hướng tiếp cận thi pháp. + Vận dụng vào dạy Thu điếu của Nguyễn Khuyến và Thương vợ của Tú Xương. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu - Phương pháp so sánh, thống kê, phân tích. - Phương pháp khảo sát, thực nghiệm . 6. Cấu trúc luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài Chương 2: Thực trạng dạy học thơ trung đại trong nhà trường trung học phổ thông hiện nay và định hướng đổi mới từ hướng tiếp cận thi pháp Chương 3: Thực nghiệm dạy bài “Thu điếu” (Nguyễn Khuyến) và “Thương vợ” (Tú Xương) từ hướng tiếp cận thi pháp 12 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1. Một số vấn đề về thi pháp học 1.1.1. Khái niệm về thi pháp học Từ việc hiểu thi pháp theo nhiều cách khác nhau nên hiện nay cũng có rất nhiều cách hiểu về thi pháp học. Có ý kiến cho rằng thi pháp học là khoa học nghiên cứu thi pháp. Có ý kiến lại cho rằng thi pháp học nghiên cứu hình thức nghệ thuật của văn học và từ hình thức chỉ ra nội dung văn học. Hay thi pháp học là khoa học nghiên cứu văn học như một nghệ thuật. Hay "Thi pháp học là khoa học nghiên cứu thi ca (văn học) với tư cách là một nghệ thuật." (V. Girmunxki). Todorop trong công trình Thi pháp học (1975) định nghĩa thi pháp là những quy tắc chung mà người ta sử dụng để sáng tác ra tác phẩm văn học cụ thể. Vinogradop xác định “Thi pháp học là một khoa học nghiên cứu các hình thức, các dạng thức, các phương tiện, phương thức tổ chức tác phẩm sáng tác ngôn từ, các kiểu cấu trúc, các thể loại tác phẩm nhằm nắm bắt … không chỉ là các hiện tượng của ngôn từ văn học, mà còn là bản thân các phương diện hình tượng khác nhau nhất của cơ cấu tác phẩm văn học và sáng tác văn học dân gian”( Phong cách học, Lí luận ngôn từ văn học, Thi pháp học M.,1963). Trần Đình Sử đã đưa ra định nghĩa về thi pháp học như sau : “Thi pháp học là bộ môn nghiên cứu tất cả mọi phương diện của hình thức nghệ thuật, mọi nguyên tắc, phương tiện tạo thành nghệ thuật cũng như sự vận động, phát triển lịch sử của chúng” [16; 8 ]. Từ điển thuật ngữ văn học ( Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi) định nghĩa “Thi pháp học là khoa học nghiên cứu thi pháp, tức là hệ thống các phương thức, phương tiện, thủ pháp biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học. Mục đích của thi pháp học là chia tách và hệ thống hóa các yếu tố của văn bản nghệ thuật tham gia vào sự cấu thành thế giới nghệ thuật, ấn tượng thẩm mĩ và chiều sâu phản ánh của sáng tác nghệ thuật”.[6; 304] Từ những định nghĩa nêu trên, ta có thể thống nhất cách hiểu về thi pháp học như sau: thi pháp học là một bộ môn khoa học đặc thù nghiên cứu thi pháp, 13 tức nghiên cứu các phương tiện nghệ thuật tạo nên tác phẩm nghệ thuật ngôn từ trong sự thống nhất toàn vẹn của nó. 1.1.2. Các bình diện thi pháp cơ bản trong sáng tạo văn học Từ cách hiểu về thi pháp học như trên, vậy dạy một tác phẩm văn học theo hướng thi pháp học cần chú ý 6 bình diện thi pháp trong sáng tạo văn học: 1.1.2.1. Thi pháp nhân vật Nhân vật là hình tượng trung tâm của tác phẩm. Thi pháp học xem xét nhân vật ở ba khía cạnh: tính cách nhân vật, quan niệm nghệ thuật về con người, nghệ thuật tả nhân vật. + Nhân vật và sự miêu tả nhân vật: con người là đối tượng miêu tả chủ yếu của văn học trong các phương thức trữ tình, tự sự và kịch dù trực tiếp hay gián tiếp. Nhân vật có tên Kiều hoặc Kim Trọng hoặc không có tên như mụ dì ghẻ, tiểu đồng, ông quán. Nhân vật được sáng tạo, hư cấu để khái quát và biểu hiện tư tưởng, thái độ đối với cuộc sống. Ca ngợi nhân vật là ca ngợi cuộc đời, lên án nhân vật là phê phán đời. Xót xa cho nhân vật là xót xa đời. Tìm hiểu nhân vật là tìm hiểu về cuộc đời và con người, tìm hiểu tư tưởng tình cảm của tác giả đối với con người. Trong thơ trữ tình, có nhân vật trữ tình: con người tự bộc lộ nỗi niềm trước cuộc sống. Trong kịch, con người tự bộc lộ qua hành động ngôn ngữ của mình. Trong tác phẩm tự sự (truyện, kí) nhân vật là con người được kể, tả ra bằng lời của nhà văn. Nói chung, nhân vật được miêu tả bằng các phương tiện văn học, tức bằng ngôn từ. Miêu tả bao gồm tả cảnh ngụ tình, diễn tả cảm xúc, tường thuật, kể sự việc… gọi chung là hình thức của văn học. Miêu tả trong văn học khác với miêu tả trong các khoa học khác thường chỉ cần đạt sự chính xác, khách quan. Ở đây miêu tả nhằm hai mục đích: gợi ra hiện tượng cuộc sống và gợi ra sự cảm thụ và bộc lộ cái nhìn của tác giả. Từ đó nhà văn thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người. 14 + Quan niệm nghệ thuật về con người là nguyên tắc cảm nhận thẩm mĩ khi xây dựng nhân vật. Quan niệm đó chi phối nhà văn khi miêu tả nhân vật và các bộ phận khác của tác phẩm (kể cả lời dẫn truyện.v.v..). Đây là kiểu thi pháp cơ bản nhất của văn học nghệ thuật. Thực tế có hai quan niệm về con người: một là con người như một phạm trù tư tưởng, chính trị, đạo đức xã hội; hai là con người như một phạm trù thẩm mĩ. Quan niệm thứ hai chủ yếu là quan niệm của văn nghệ sĩ. Nàng Kiều là nhân vật có nội tâm phong phú nhưng nàng chỉ biết nhớ người thân trong hiện tại, không ưa sống trong hồi tưởng và sống với quá khứ như các nhân vật tiểu thuyết hiện đại sau này. Đó là do quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Du chưa đạt tới như thời hiện đại. Nghiên cứu thi pháp nhân vật khác với công việc phân tích nhân vật. Phân tích nhân vật là chỉ ra các nội dung đựơc thể hiện trong nhân vật như tính cách, ngoại hình, phẩm chất, niềm vui, nỗi buồn, lí tưởng… Trái lại khi nghiên cứu thi pháp nhân vật, ta phải khám phá cách cảm nhận con người qua việc miêu tả nhân vật. Tất nhiên, khi ta đã tìm hiểu thi pháp nhân vật thì việc phân tích nhân vật sẽ sâu sắc hơn, toàn diện hơn. 1.1.2.2. Thi pháp không gian nghệ thuật Không gian nghệ thuật là trường nhìn được mở ra từ một điểm nhìn, cách nhìn. Mỗi tác phẩm có một không gian do tác giả lựa chọn và miêu tả. Là một hiện tượng nghệ thuật, không gian nghệ thuật mang tính ước lệ giàu ý nghĩa cảm xúc. Trong ngôn ngữ dân tộc, không gian đã được mã hoá thành ý nghĩa đời sống, chẳng hạn “cao cả, thấp hèn, nông cạn, sâu sắc, thiên vị, chính trực, ngay thẳng, quanh co, đại lượng, hẹp hòi…”. Người ta đã mượn ý niệm về không gian để miêu tả con người. Đó là không gian nghệ thuật chung của mọi người. Mỗi nhà văn nhà thơ lại chọn hoặc sáng tạo cho mình một không gian riêng. Không gian nghệ thuật gồm có: không gian sự kiện, không gian bối cảnh, không gian tâm lý, không gian kể chuyện . 1.1.2.3. Thi pháp thời gian nghệ thuật 15 Thời gian kể chuyện gồm có: thời gian được trần thuật (hình tượng thời gian), và thời gian trần thuật (thời gian kể chuyện). Tìm hiểu hình tượng thời gian, cần quan tâm ý nghĩa của các thời: quá khứ, hiện tại, tương lai, độ đo thời gian của các nhân vật… Tìm hiểu thời gian trần thuật, cần lưu ý cấp độ thời gian như: trật tự kể với thời gian sự kiện, thời lưu (độ dài các sự kiện được tính bằng câu), tần xuất (số lần lặp lại). Các thủ pháp thời gian như: trì hoãn, giãn cách, đảo tuyến, chêm xen, hoán vị, đồng hiện, bỏ lửng, che giấu, đón trước. 1.1.2.4. Thi pháp kết cấu văn bản Kết cấu tác phẩm thực chất là tác giả mở lối cho người đọc đi vào dòng sự kiện, dòng đời. Bố trí điểm nhìn cho công chúng sao cho dễ thấy được chiều rộng và chiều sâu của câu chuyện nhằm thấy được ý nghĩa nhân sinh cần thiết cho con người. Nói chung, nghệ thuật kết cấu tác phẩm văn học có mấy phương tiện sau: + Hệ thống hình tượng nhân vật, sự kiện và các chi tiết. Đó là sự sắp xếp tương quan nhân vật chính phụ, chính diện – phản diện, lựa chọn và sắp xếp chi tiết, tình tiết, hoàn cảnh, đồ vật sao cho ý nghĩa hình tượng nổi lên. + Hệ thống điểm nhìn và tổ chức văn bản. Tổ chức cái nhìn và hệ thống điểm nhìn, trước hết cho chính mình. Điểm nhìn nghĩa là: câu chuyện diễn ra dưới con mắt của ai (nhà văn/ nhân vật trữ tình/ nhân vật chính/ nhân vật phụ hoặc phối hợp hai người kể). Mỗi điểm nhìn có ý nghĩa khác nhau mặc dù cùng một câu chuyện ấy thôi. Hệ thống điểm nhìn đặt trong không gian và thời gian (nhìn từ hiện tại hay quá khứ, nhìn về quãng thời gian nào? Thậm chí còn đứng ở tương lai giả định nhìn về hiện tại hoặc quá khứ. Nhìn từ xa hay ở gần, trên cao xuống hay dưới lên… Nhìn một cách chủ quan (từ trạng thái tâm lí) hay khách quan (ghi chép, trần thuật kiểu phóng sự). Nói cách đơn giản là văn bản bắt đầu từ đâu? Có hai kiểu mở đầu: văn học dân gian thường bắt đầu câu chuyện theo trình tự tự nhiên, nhân quả. Văn học hiện đại có thể bắt đầu từ bất cứ điểm nhìn nào theo ý đồ tác giả. Sau khi xác định điểm nhìn, tức xác định chủ thể kể chuyện thì văn bản diễn ra theo ngôi thứ thích hợp (anh ấy, lão ta, hắn… ) với giọng điệu thân 16 mật hay nghiêm trang tuỳ quan hệ của người kể với nhân vật. Trong thơ trữ tình, điểm nhìn từ bên trong và còn nương theo nguyên tắc âm nhạc nữa. Hình thức kết cấu văn học rất đa dạng và cũng phụ thuộc vào thể loại, riêng đối với thơ luật thì còn phải theo kết cấu định sẵn ví dụ thơ Đường luật, lục bát, song thất lục bát. v.v… Sự tích cực chủ động sáng tạo của nhà văn làm phong phú nhiều kiểu kết cấu thú vị. 1.1.2.5. Thi pháp chi tiết nghệ thuật Mỗi hình tượng nghệ thuật được thêu dệt nên bằng nhiều chi tiết lớn nhỏ khác nhau. Những đối tượng miêu tả như nhân vật, cảnh vật, môi trường… tạo nên bằng hình dáng, đường nét, âm thanh, thuộc tính chọn lọc mà tác giả cho là cần thiết nhất, quan trọng nhất, loại bỏ những cái rườm rà không cần thiết. Chi tiết là những bộ phận nhỏ, tự nó đứng riêng thì không có ý nghĩa, nhưng khi kết lại nó biểu hiện một ý nghĩa của tác phẩm. Chi tiết chính là điểm nhìn, thể hiện quan niệm nghệ thuật và tâm hồn tác giả đối với đối tượng đó. Thi pháp học hiện đại khám phá tính quan niệm qua hệ thống các chi tiết nghệ thuật của thế giới nghệ thuật. Quan sát nhiều chi tiết cùng loại hoặc lặp đi lặp lại, ta thấy nó có một lớp ý nghĩa nào đó – bởi tác giả quan tâm và rung cảm với nó. Các chi tiết nghệ thuật bao gồm các loại màu sắc, âm thanh, đồ vật, đường nét, chất liệu…tạo thành các thế giới nghệ thuật khác nhau về chất. Chi tiết nghệ thuật biểu hiện phẩm chất thẩm mĩ của thế giới nghệ thuật và cũng biểu hiện niềm rung cảm của tác giả. 1.1.2.6. Thi pháp lời văn nghệ thuật Lời văn nghệ thuật là thứ ngôn ngữ đặc biệt, được chưng cất hiện thực ngôn ngữ toàn dân. Lời văn nghệ thuật khác với lời nói bình thường (phi nghệ thuật). Lời văn nghệ thuật có tính hình tượng, mỗi lời đều là lời sáng tạo của nhà văn nhằm hiện thực ý muốn của mình. Lời văn nghệ thuật có tính tổ chức cao, được lựa chọn theo ý thích, thói quen và khả năng của nhà văn, từ âm thanh, từ ngữ, nhịp điệu, đoạn và cả bài. Các phương diện của lời văn nghệ thuật là ngữ âm, từ vựng, cú pháp, biện pháp tu từ. 17 Đặc điểm của lờ văn nghệ thuật nhà văn có một lời văn riêng. Đó là thi pháp của tác giả, nghĩa là lời văn đã tạo ra một hệ thống lời văn độc đáo. Truyền thống thi pháp cổ khi bình giảng họ chỉ đi tìm những “nhãn tự, thần cú” – có vẻ ngẫu nhiên may mắn tác giả viết được câu hay, từ đắt mà làm cho bài thơ, văn hay. Đến thi pháp học hiện đại lại đi tìm quan niệm của lối sử dụng lời văn ấy – vì sao tác giả sáng tạo như thế? Khi phân tích ngôn ngữ thơ, cần lưu ý nhạc điệu, các phương tiện và biện pháp tu từ, cách dùng từ… Mỗi thể thơ đều có những quy định riêng về bút pháp thể hiện, ví dụ trong thơ Đường luật đặc biệt là thơ thất ngôn tứ tuyệt, do đặc trưng là dung lượng ngắn nên ngôn ngữ cực kì hàm súc, và thường có hiện tượng “nhãn tự” (con mắt thơ- từ ngữ hay, “đắt”). 1.2. Thi pháp văn học trung đại Văn học trung đại là một giai đoạn lớn trong lịch sử văn học nhân loại và dân tộc. Văn học trung đại là một giai đoạn lớn trong lịch sử văn học nhân loại và dân tộc. Văn học trung đại Việt Nam tính từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX là giai đoạn hình thành và phát triển rực rỡ nhất của văn học Việt Nam, là giai đoạn hình thành các truyền thống lớn về tưởng và nghệ thuật. Văn học trung đại Việt Nam chiếm một phần không nhỏ trong chương trình phổ thông. Việc dạy văn học trung đại sao cho có hiệu quả đang là mục tiêu phấn đấu của giáo viên các cấp. Để hiểu, truyền thụ cái hay, cái đẹp của một tác phẩm văn học trung đại là một việc không mấy dễ dàng. Để khám phá giá trị của một tác phẩm văn học trung đại đòi hỏi giáo viên và học sinh phải có một kiến thức nền về môi trường văn hoá trung đại, tư tưởng ý thức hệ chính thống thời trung đại, điển cố, điển tích, thể loại văn học v.v.. Nói như vậy, có nghĩa là để hiểu được văn học trung đại chúng ta phải tiếp cận từ thi pháp văn học trung đại. Văn học trung đại có thi pháp riêng của nó. Nắm vững thi pháp văn học trung đại không chỉ có ý nghĩa giúp ta chiếm lĩnh sâu thêm các tác phẩm văn học trung đại mà còn gián tiếp giúp ta làm sáng tỏ đặc điểm văn học cổ đại và hiện đại trong thế đối sánh. Đặc trưng của thi pháp văn học trung đại là: 18 1.2.1. Tính ước lệ Văn học nghệ thuật không hoàn toàn là đời sống thực tại, không sao chép y nguyên hiện thực. Tuy trong văn học mọi thời kì đều sử dụng ước lệ nhưng chỉ có thời kì trung đại ước lệ mới được sử dụng một cách phổ biến, phức tạp và nghiêm ngặt nên được coi là một đặc trưng về mặt thi pháp. Ước lệ là một quy ước của cộng đồng người. Họ đặt ra những biểu tượng riêng để thay thế cho các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống thực. Trong nghệ thuật đó là quy ước chung của nghệ sĩ và độc giả. Đó là khuynh hướng lí tưởng hoá để tạo ra một thế giới nghệ thuật riêng khác với đời sống thực tại. Cái có thật đi vào nghệ thuật được cách điệu hoá cao độ. Trong sự cách điệu hoá đó, thiên nhiên chính là chuẩn mực, là khuôn vàng thước ngọc để đánh giá vẻ đẹp. Vì vậy, các nhà văn đều lấy thiên nhiên để so sánh với con người để tôn vinh vẻ đẹp. Con người đẹp trong văn chương phải là tóc mây, mày liễu, mặt hoa, gót sen, cử chỉ, dáng điệu như nghệ sĩ trên sân khấu. Vì vậy, tả mỹ nhân thì làn thu thuỷ, nét xuân sơn, tóc như mây, da như tuyết… và người đẹp phải đẹp đến nỗi nghiêng nước nghiêng thành hay chim sa cá lặn, thậm chí Tây Thi mất vía, Hằng Nga giật mình. Cây cối trong văn chương cũng thế, phải sang trọng như mai, lan, cúc, trúc, hay liễu, tùng, bách, thông… bởi chúng là những biểu tượng để chỉ những phẩm chất, cốt cách, khí tiết của người quân tử, của bậc trượng phu; nói đến người thì ngư, tiều, canh, mục; con vật phổ biến là yến oanh, loan phượng, uyên ương, cò hạc. Nói chung văn chương thời ấy đa số ước lệ, ít tả thực. Nếu có tả thực thì chỉ dùng cho những nhân vật phàm tục, phản diện, phi mĩ học như Sở Khanh, Tú Bà. 1.2.2. Tính quy phạm Người trung đại quan niệm thời gian là tuần hoàn, đi hết một vòng rồi lại quay trở về gốc. Vì thế, người ta hết sức coi trọng quá khứ, coi trọng sự khởi đầu, coi trọng người già, người lớp trước (cổ nhân, tiền bối, tiên sinh). Xã hội hoàng kim phải là thời Nghiêu Thuấn, chuẩn mực cái đẹp và chân lý cũng nằm ở quá khứ. Vì thế, văn học trung đại đầy rẫy điển cố, điển tích. Mẫu mực của văn 19 chương là các tác giả đời trước như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị. Đó là tinh thần sùng cổ, sùng thượng, sùng ngoại, suy tôn Thánh hiền, do vậy tạo tính quy phạm trong văn học. Việc sử dụng những điển tích trên cũng nhằm mục đích lấy xưa để nói nay, dùng việc cũ, người cũ để nói việc mới, chuyện nay. Khi sáng tác, các tác giả cũng vay mượn đề tài, cốt truyện, môtip, có khi cải biên cốt truyện để tạo nên một tác phẩm mới. Đây là sự tuân theo những kiểu mẫu, khuôn mẫu sẵn có đó thành công thức. 1.2.3. Tính phi ngã Thời phong kiến ý thức cá nhân chưa phát triển. Con người luôn được đặt trong quan hệ ràng buộc với cộng đồng, họ hàng, tầng lớp. Chính vì thế, hôn nhân không phải là chuyện riêng tư, tự nguyện của hai người mà là vấn đề môn đăng hộ đối của hai gia đình, dòng họ. Người có văn hóa, giáo dục là người biết thu nhỏ, hạ thấp “cái tôi” cá nhân của mình lại. Vì thế, trong văn học, yếu tố cá nhân cũng bị dấu đi, khiến văn chương có tính phi ngã không có dấu ấn “cái tôi” cá nhân. Nhà văn hiếm khi xưng “tôi”, xưng “ta”, không bộc lộ trực tiếp cảm xúc mà dùng lối gián tiếp: tả cảnh ngụ tình. Nói chung, họ thường sử dụng các công thức có sẵn để sáng tác. Tả anh hùng thì phải râu hùm, hàm én, vai năm tấc rộng, thân mười thước cao, tả mĩ nhân thì làn thu thuỷ nét xuân sơn, hoa ghen, liễu hờn... 1.2.4. Thiên nhiên trong thơ văn trung đại Trong văn chương xưa, thiên nhiên là yếu tố rất phổ biến và đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc biểu lộ tình cảm, ý chí của con người. Người xưa coi thiên nhiên là một người bạn để họ tâm tình, thổ lộ. Thiên nhiên chưa được nhìn nhận như là một khách thể, một hiện thực khách quan của cuộc sống có vẻ đẹp, giá trị riêng. Thiên nhiên thường chỉ là công cụ, là tư liệu, là cái cớ để nhà văn ngụ ý giáo huấn: “Xuân qua trăm hoa rụng, Xuân tới trăm hoa tươi. Trước mắt việc đi mãi, Trên đầu, già đến rồi. 20 Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết, Đêm qua sân trước một nhành mai.” (Mãn Giác) Cành mai nở trước sân trong đêm cuối xuân vốn là hình ảnh rất đẹp về đường nét, màu sắc, đặc biệt là bối cảnh. Nhưng có thể đó chỉ là một hình ảnh ước lệ, một chi tiết hư cấu, một bông hoa nở từ trong tâm hồn thiền sư. Vì thế, bông hoa ấy không được miêu tả hình xác thực mà chỉ xuất hiện như một công cụ chuyển tải ý tưởng của nhà thơ: sự sống là bất diệt. Tuổi già, bệnh tật của con người cũng giống như thời khắc xuân tàn của thiên nhiên không huỷ diệt được sự sống. Từ đó dẫn đến việc miêu tả thiên nhiên theo bút pháp đặc biệt là không miêu tả hình xác của cây cỏ núi sông mà thể hiện linh hồn của chúng, tả cảnh ngụ tình. Thiên nhiên trở thành bình chứa những tượng trưng, ước lệ, ẩn ý. 1.2.5. Không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật trong văn học trung đại 1.2.5.1 Thời gian nghệ thuật Từ kinh nghiệm quan sát trực cảm thế giới người ta có hai nhận thức về thời gian: thời gian của đời người, của cuộc sống hàng ngày là thời gian tuyến tính, một đi không trở lại và thời gian của thiên nhiên, đất trời, vũ trụ là thời gian chu kỳ, tuần hoàn, phi thời gian. Người xưa thường đặt hai loại thời gian này trong thế đối sánh để làm nổi bật những nỗi niềm, triết lí, hoặc bi kịch của đời người. Người xưa quan niệm thời gian tuyến tính là thời gian của cuộc đời trần thế, phàm tục, chứa đầy hình ảnh, màu sắc cụ thể; thời gian chu kỳ là thời gian của cõi trời, cõi tiên, thế giới thanh cao và bất tử, thấm đẫm tính chất đạo lý, triết lý. 1.2.5.2. Không gian nghệ thuật Không gian cũng như thời gian là hình thức tồn tại của thế giới và cuộc đời. Trong ca dao, không gian chủ yếu là cảnh làng quê, bến nước, gốc đa, hàng dâm bụt, cảnh sinh hoạt gần gũi thân thiết giản dị. Trong thơ ca bác học, không gian trở nên trừu tượng hoặc ước lệ. Đó là không gian vũ trụ vô tận mà cõi trần chỉ là nhỏ bé chật hẹp. Thiếu vắng không 21 gian xã hội cộng đồng và không gian lịch sử. Họ đi tìm núi cao, đám mây trôi, một con hạc cô đơn, một tiếng chim hót báo hiệu vũ trụ, một bông hoa, một mái chùa… còn thi nhân/ nhân vật trữ tình thì cô đơn, ngồi lặng, bó gối, hoặc tưới hoa, ôm cần câu… Không gian tùy thuộc cảm hứng. Càng về sau, nhất là đến cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, không gian thơ mở rộng dần cho nhập cư thêm đủ mọi loại người bình thường, tầm thường lẫn sang trọng trong xã hội, chẳng hạn thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương. Xét về kích thước không gian trong thơ cổ điển ta có thể phân loại như sau: không gian lên cao - nơi thi nhân đến cho tâm hồn phóng khoáng, ý chí cao xa, lánh cõi tục nhất thời để được tự do tư tưởng; không gian lữ thứ - quán trọ, đường xa, cũng lánh đời, tự thử thách rèn luyện bản thân. Không gian nhỏ hẹp: phòng văn, con thuyền cô độc, tấm rèm, song mai, song trúc. Thi nhân sống một mình nhưng vẫn nghe ngóng, liên lạc với cuộc đời. 1.2.6. Con người trong văn thơ trung đại Người xưa quan niệm con người là một phần của thế giới trong trục thiên – địa – nhân. Vì thế cá nhân được thể hiện trong quan hệ với vũ trụ hơn là trong quan hệ với xã hội. Thi đề quen thuộc của thơ trữ tình là con người một mình đối diện, đàm tâm với thiên nhiên vũ trụ. Người anh hùng được nhắc đến với tầm vóc sánh ngang vũ trụ: Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu, Tam quân tì hổ khí thôn ngưu. (Phạm Ngũ Lão) Toàn bộ xã hội trung đại được nhìn nhận trong một hệ thống tôn giáo đạo đức. Cho nên con người luôn được nhìn nhận ở phương diện đạo đức luân lý. Vì thế, văn chương xưa chia xã hội làm hai tuyến: thiện – ác, tốt – xấu. Mục đích, chức năng nổi bật của văn chương xưa là giáo huấn: Trai thời trung hiếu làm đầu Gái thì tiết hạnh làm câu trau mình. (Lục Vân Tiên) 22 Chính vì vậy con người sống theo luân lý đạo đức, theo lí trí thì được coi là chân chính; còn những người sống theo xúc cảm thì bị chê trách. Vì sống theo quy tắc đạo đức nên con người ngày xưa sống rất trọng tình nghĩa. Con người thời trung đại không được sống theo cái tôi của riêng mình mà bị trói buộc bằng những qui tắc, lễ giáo xã hội. Thủ pháp thể hiện tâm lý phổ biến là thủ pháp ngoại hiện. Tiểu thuyết nặng về hành động, lời nói của nhân vật cùng với sự kiện, cốt truyện hơn là khai thác tâm lý trực tiếp. Không có ngôn ngữ nhân vật mà chỉ có lời người viết truyện đặt vào vai truyện. Độc thoại nội tâm theo nghĩa đích thực lại càng không có. Chú ý đến con người xã hội hơn con người tự nhiên, chú ý đạo đức hơn trí tuệ và bản năng. Con người do Trời sinh và chịu sự chi phối của Trời về “tính” và “mệnh”. “Tính”: con người sinh ra vốn mang tính thiện, sẵn mầm mống nhân, nghĩa, lễ, trí. Nhưng do hoàn cảnh mà nhiều khi bị nhiễm tính ác vì vậy cần tu thân để hoàn thiện. “Mệnh”: giàu nghèo, sướng khổ, sống chết là do số Trời. Nhưng con người phải tự chịu trách nhiệm về trí và ngu, có đức và vô đức. 1.3. Một số vấn đề về thi pháp thơ Nguyễn Khuyến và thi pháp thơ Tú Xƣơng Nếu Nguyễn Khuyến giống như một dấu chấm cảm thán khẳng định tính cổ điển có sức làm lay động lòng người của văn học trung đại vào giai đoạn cuối cùng của thời kỳ văn học trung đại Việt Nam thì Tú Xương là người đầu tiên và cũng là người cuối cùng, đã đưa được không khí thị dân tiền tư bản vào thơ. Là người chập chững nghiên cứu “thi pháp học”, vì vậy trong luận văn này chỉ là nghiên cứu bước đầu về thi pháp thơ Nguyễn Khuyến và thi pháp thơ Tú Xương. Vì vậy, tôi không tìm hiểu thi pháp thơ Nguyễn Khuyến và thi pháp thơ Tú Xương với tất cả những phạm trù thi pháp của nó, mà chỉ xoay quanh những phạm trù mang tính đặc trưng. 1.3.1. Một số vấn đề về thi pháp thơ Nguyễn Khuyến Là nhà thơ có tài năng về nhiều mặt đồng thời sống trong giai đoạn đất nước có nhiều biến động, nhưng tài năng thơ văn của Nguyễn Khuyến vẫn tỏa sáng trên 23
- Xem thêm -