Công ty cổ phần theo luật doanh nghiệp việt nam năm 2005 trong quan hệ so sánh với công ty cổ phần theo luật thương mại nhật bản

  • Số trang: 86 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 18 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG KHOA KINH TẾ NGOẠI THƢƠNG --------- --------- KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI: CÔNG TY CỔ PHẦN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM NĂM 2005 TRONG QUAN HỆ SO SÁNH VỚI CÔNG TY CỔ PHẦN THEO LUẬT THƢƠNG MẠI NHẬT BẢN Họ và tên sinh viên : Dƣơng Thị Mến Lớp : A14 Khoá : 41 Giáo viên hƣớng dẫn : GS. TS. Nguyễn Thị Mơ HÀ NỘI – 11/ 2006 Khoá luận tốt nghiệp LỜI CẢM ƠN Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp, em đã nhận được sự hướng dẫn và chỉ bảo nhiệt tình của GS.TS. Nguyễn Thị Mơ. Em xin gửi tới cô lời cảm ơn chân thành nhất. Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo của trường đại học Ngoại Thương Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô thuộc khoa Kinh Tế Ngoại Thương đã dạy dỗ và chỉ bảo em trong suốt bốn năm học vừa qua tại trường. Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể bạn bè, gia đình và người thân-những người đã động viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khoá luận. Hà Nội, tháng 11 năm 2006 Dương Thị Mến 1 Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT. Khoá luận tốt nghiệp MỤC LỤC Danh mục các chữ viết tắt .......................................................................... 04 Lời nói đầu .................................................................................................. 05 Chƣơng 1: Một số vấn đề chung về công ty cổ phần và pháp luật về công ty cổ phần của Việt Nam và Nhật Bản ...................................................... 08 I/ Tổng quan về công ty cổ phần và pháp luật về công ty cổ phần ............. 08 1.Khái niệm về công ty cổ phần .................................................................... 08 1.1. Nền kinh tế Việt Nam và sự hình thành, phát triển các công ty cổ phần. 08 1.2. Công ty cổ phần và đặc điểm của công ty cổ phần ở Việt Nam.............. 15 1.3. Vị trí, vai trò của công ty cổ phần ở Việt Nam....................................... 18 2. Pháp luật về công ty cổ phần .................................................................... 20 2.1. Sự cần thiết phải ban hành pháp luật điều chỉnh hoạt động của công ty cổ phần ............................................................................................................. 20 2.2. Những nội dung chủ yếu của pháp luật về công ty cổ phần ................... 21 II/ Pháp luật về công ty cổ phần theo luật doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 và theo Bộ luật thương mại Nhật Bản.............................................. 22 1. Pháp luật Việt Nam về công ty cổ phần ................................................... 22 1.1. Từ luật Công ty năm 1990 đến Luật Doanh nghiệp năm 2005 ............... 22 1.2. Những quy định chủ yếu về công ty cổ phần ......................................... 26 2. Pháp luật về công ty cổ phần của Nhật Bản ............................................. 30 2.1. Đặc điểm về luật điều chỉnh của Nhật Bản ............................................ 30 2.2. Những quy định chủ yếu về công ty cổ phần ......................................... 31 Chƣơng 2: Một số điểm khác biệt về công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 và Bộ luật Thƣơng mại Nhật Bản sửa đổi năm 2002 ..................................................................................................... 32 I. Khác biệt về thủ tục thành lập công ty cổ phần ...................................... 33 2 Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT. Khoá luận tốt nghiệp 1. Khác biệt về những quy định liên quan đến sáng lập viên ....................... 33 2. Khác biệt về những quy định liên quan đến bản Điều lệ .......................... 38 3. Khác biệt về các bước liên quan đến thủ tục thành lập ............................. 41 II. Khác biệt về cơ cấu tổ chức, bộ máy của công ty cổ phần ..................... 42 1. Đại hội đồng cổ đông - cơ quan lãnh đạo của công ty cổ phần ................ 43 2. Khác biệt về các quy định liên quan đến Ban giám đốc ........................... 48 3. Khác biệt về các quy định liên quan đến Ban kiểm soát ........................... 56 III. Một số khác biệt khác ........................................................................ 58 1. Khác biệt về luật điều chỉnh ..................................................................... 58 2. Khác biệt về quy chế phát hành cổ phiếu của công ty cổ phần ................ 58 3. Khác biệt về quyền của cổ đông ............................................................... 62 IV. Nhận xét về một số tồn tại của Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 trong các quy định về công ty cổ phần ....................................................... 64 Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm tăng cƣờng thực thi các quy định về công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 ................ 67 I. Nhóm giải pháp đối với Nhà nước........................................................... 67 1. Tiếp tục sửa đổi và bổ sung các quy định về công ty cổ phần trong Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 ....................................................... 67 2. Khẩn trương ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp năm 2005 về công ty cổ phần ............................................................ 69 3. Tăng cường phổ biến về công ty cổ phần và Luật Doanh nghiệp năm 2005 về công ty cổ phần ............................................................................... 70 II. Nhóm giải pháp đối với các công ty cổ phần ......................................... 71 1. Nâng cao nhận thức về vấn đề cổ phần hóa và pháp luật về công ty cổ phần......................................................................................................... 71 2. Đổi mới cơ chế quản lý hoạt động ............................................................ 71 III. Nhóm giải pháp khác ............................................................................ 72 1. Nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường chứng khoán....................... 72 2. Đánh giá đúng hiệu quả thực tế của các công ty cổ phần ........................ 75 Kết luận....................................................................................................... 76 3 Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT. Khoá luận tốt nghiệp Tài liệu tham khảo ..................................................................................... 78 Phụ lục ...................................................................................................... 80 4 Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT. Khoá luận tốt nghiệp DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CNXH Chủ nghĩa xã hội DNNN Doanh nghiệp Nhà nước TBCN Tư bản chủ nghĩa TNHH Trách nhiệm hữu hạn WTO Tổ chức thương mại thế giới XHCN Xã hội chủ nghĩa 5 Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT. Khoá luận tốt nghiệp Lêi nãi ®Çu 1. Tính cấp thiết của đề tài Đường lối đổi mới từ Đại hội VI do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã khơi dậy và phát huy được những tiềm năng vật chất, tinh thần to lớn của toàn dân tộc, đem lại những thành tựu có ý nghĩa vô cùng quan trọng, tạo tiền đề kinh tế xã hội đưa nước ta sang thời kì mới - đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong các quan điểm của Đảng, đổi mới về mặt kinh tế là một trong những vấn đề được ưu tiên hàng đầu vì nó được coi là bước đệm, là đòn bẩy cho quá trình đổi mới sâu sắc, toàn diện trên mọi lĩnh vực. Do vậy, việc chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam từ chỗ vận hành theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước đề ra tại đại hội Đảng VI được coi là một bước đi hoàn toàn hợp lý. Thực tiễn gần 20 năm đổi mới ở Việt Nam cũng cho thấy chúng ta phải áp dụng nhiều hình thức kinh tế tư bản, coi đó là hình thức kinh tế trung gian quá độ, là con đường dẫn dắt nền tiểu sản xuất đi lên CNXH một cách hữu hiệu nhất. Mô hình công ty cổ phần là một hình thức tổ chức kinh tế phổ biến của nền kinh tế TBCN khi lực lượng sản xuất đạt trình độ xã hội hóa cao. Ra đời đầu tiên ở vương quốc Anh vào đầu thế kỷ XVII, với những lợi thế của mình trong việc huy động và sử dụng vốn có hiệu quả, công ty cổ phần đang ngày càng trở nên phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia. Nhận thức được tính tất yếu của việc xây dựng mô hình công ty cổ phần trong nền kinh tế, Luật Công ty năm 1990 của Việt Nam được ban hành nhằm điều chỉnh hoạt động của các loại hình doanh nghiệp, trong đó có công ty cổ phần. Tiếp đó là sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 1999 và 2005, nhằm sửa đổi, bổ sung những hạn chế của các luật ban hành trước đó. Tuy nhiên, do hình thức kinh doanh này vẫn còn khá mới 6 Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT. Khoá luận tốt nghiệp mẻ ở nước ta nên so với pháp luật về công ty cổ phần của nhiều nước, pháp luật về công ty cổ phần của Việt Nam vẫn còn có những hạn chế nhất định, chưa hoàn toàn tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho loại hình doanh nghiệp này ở Việt Nam. Vì vậy, việc học tập kinh nghiệm của các nước phát triển trong việc xây dựng hành lang pháp lý cho công ty cổ phần hoạt động có thể được coi là một công việc rất cần thiết. Nhật Bản, một quốc gia cũng thuộc vùng Châu Á- Thái Bình Dương, có một số nét tương đồng về điều kiện tự nhiên, lịch sử và xã hội với Việt Nam nhưng lại là một trong những cường quốc kinh tế lớn nhất của thế giới. Để đạt được sự cường thịnh của nền kinh tế Nhật Bản có sự đóng góp không nhỏ của các công ty cổ phần. Song để loại hình công ty này có điều kiện phát triển tất yếu phải kể đến những quy định pháp lý rõ ràng, hợp lý trong Bộ Luật Thương mại Nhật Bản (The Commercial Code of Japan) ban hành năm 1899, điều chỉnh hoạt động của các công ty cổ phần trong hơn 100 năm qua. Vì lẽ đó, việc xem xét, nghiên cứu và so sánh để nhận ra những điểm hay trong bộ luật này nhằm áp dụng vào việc xây dựng luật của Việt Nam là điều nên làm. Đặc biệt trong thời điểm Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 mới chỉ có hiệu lực từ ngày 1/7/2006 thì ta càng nên nhìn nhận nó trong tương quan với Bộ luật Thương mại Nhật Bản để tìm ra những điểm tiến bộ mà luật của Việt Nam đã đạt được với vị thế là người đi sau cũng như những gì cần phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung để Luật Doanh nghiệp của Việt Nam được thực thi có hiệu quả. Xuất phát từ những căn cứ ấy tôi đã chọn vấn đề : “Công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 trong quan hệ so sánh với công ty cổ phần theo Luật Thƣơng mại Nhật Bản” làm đề tài cho khoá luận tốt nghiệp của mình. 2. Mục đích nghiên cứu 7 Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT. Khoá luận tốt nghiệp Trên cơ sở tìm hiểu về sự hình thành, phát triển công ty cổ phần và pháp luật về công ty cổ phần của Việt Nam và Nhật Bản, so sánh để tìm ra những khác biệt, những mặt tích cực, phù hợp của pháp luật về công ty cổ phần của Nhật Bản cũng như tìm ra những điểm tiến bộ và cả những hạn chế còn tồn tại của Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 về công ty cổ phần, khoá luận đề xuất những giải pháp nhằm thực thi có hiệu quả Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005. 3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các quy định về công ty cổ phần trong pháp luật Việt Nam và Nhật Bản.  Về phạm vi nghiên cứu, khoá luận chỉ tập trung nghiên cứu Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005-phần điều chỉnh về công ty cổ phần - và tiến hành so sánh với phần về công ty cổ phần theo Bộ luật thương mại Nhật Bản sửa đổi năm 2002. 4. Phương pháp nghiên cứu Nền tảng chung của khoá luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Ngoài ra, để phục vụ nghiên cứu đề tài, khóa luận này được viết theo phương pháp nghiên cứu tổng hợp như phân tích, hệ thống hóa và diễn giải. Bên cạnh đó, khi nghiên cứu khóa luận cũng sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu, đi sâu vào phân tích, sau đó tổng hợp lại, đồng thời nghiên cứu lí luận kết hợp với thực tiễn. 5. Bố cục của khoá luận Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của khoá luận gồm ba chương: Chương 1: Một số vấn đề chung về công ty cổ phần và pháp luật về công ty cổ phần của Việt Nam và Nhật Bản. 8 Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT. Khoá luận tốt nghiệp Chương 2: Một số điểm khác biệt về công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 và Bộ luật Thương mại Nhật Bản sửa đổi năm 2002. Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường thực thi các quy định về công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005. 9 Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT. Khoá luận tốt nghiệp CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN CỦA VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN I/ Tổng quan về công ty cổ phần và pháp luật về công ty cổ phần 1. Khái niệm về công ty cổ phần Nền kinh tế Việt Nam và sự hình thành, phát triển của các công ty cổ phần Nền kinh tế thị trường ở nhiều nước trên thế giới đã tạo điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của các loại hình công ty như: công ty hợp danh, công ty giao vốn, công ty TNHH, công ty cổ phần...Các công ty này đã và đang có những đóng góp quan trọng đối với hoạt động thương mại cũng như đối với nền kinh tế của riêng từng nước và của toàn thế giới . Trong các loại hình công ty đó, đáng chú ý hơn cả là sự vươn lên mạnh mẽ của các công ty cổ phần. Công ty cổ phần đầu tiên trên thế giới ra đời vào năm 1602 là công ty Đông Ấn của Anh quốc. Sự ra đời của loại hình công ty này xuất phát từ nhu cầu khách quan của đời sống kinh tế xã hội. Khi mà nền kinh tế hàng hoá ngày càng phát triển, cạnh tranh ngày càng khốc liệt thì sự tồn tại của các công ty nhỏ lẻ là hết sức khó khăn. Nhu cầu về mở rộng quy mô kinh doanh cũng như là quy mô huy động và sử dụng vốn có hiệu quả đã buộc các thương nhân phải liên kết nhau lại để lập nên một loại hình công ty mới- công ty cổ phần. Hơn nữa, một trong những quy luật tất yếu của kinh tế thị trường là lợi nhuận lớn thường đi kèm với độ rủi ro cao, do vậy, để chia sẻ bớt rủi ro các nhà kinh doanh cũng cần có sự liên kết với nhau. Tuy có nhiều ưu điểm như vậy, song phải đến đầu thế kỷ XX, dưới sự tác động mạnh mẽ của cách mạng khoa học kỹ thuật làm cho lực lượng sản 10 Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT. Khoá luận tốt nghiệp xuất phát triển cùng với sự phổ biến ngày càng rộng rãi của các loại hình tín dụng, các công ty cổ phần mới trỗi dậy mãnh liệt ở các nước tư bản phát triển và các nước công nghiệp mới. Ở Việt Nam, trước năm 1986, do thực hiện cơ chế quản lý quan liêu bao cấp nên hình thức công ty cổ phần cũng như các loại hình công ty thương mại khác không tồn tại. Chỉ từ khi nghị quyết đại hội Đảng VI được thông qua (1986) trong đó nhấn mạnh đường lối đổi mới nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế thị trường đã thực sự là chìa khoá mở cửa cho các loại hình doanh nghiệp phát triển. Đối với công ty cổ phần, hiện nay ở Việt Nam đang tồn tại ba loại hình được điều chỉnh bởi Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005, đó là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động theo hình thức công ty cổ phần (bao gồm các công ty cổ phần của nước ngoài vào Việt Nam hoạt động và các công ty của nước ngoài hoạt động ở Việt Nam được chuyển đổi thành công ty cổ phần), công ty cổ phần mới thành lập (gồm cả công ty của Nhà nước và công ty của các tổ chức, cá nhân ngoài Nhà nước) và công ty cổ phần do cổ phần hoá DNNN. Tất cả các loại hình công ty cổ phần trên mới chỉ thực sự bắt đầu có mặt ở Việt Nam từ những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước hoặc là mới có gần đây xong đã có những đóng góp không nhỏ cho nền kinh tế Viêt Nam. Tuy nhiên trong bài khoá luận này, tác giả xin được đề cập sâu hơn về loại hình công ty cổ phần ra đời do cổ phần hoá DNNN-một chủ trương lớn đã và đang dành được rất nhiều sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong suốt những năm vừa qua. Quá trình cổ phần hoá các DNNN ở Việt Nam có thể được chia làm ba giai đoạn chủ yếu là: giai đoạn thí điểm cổ phần hoá (1992 - 1996), giai đoạn mở rộng thí điểm cổ phần hoá (1996 - 1998) và giai đoạn thực hiện cổ phần hoá trên diện rộng (1998 – nay). Kết quả thực hiện cổ phần hoá các DNNN qua các giai đoạn được thể hiện qua bảng dưới đây: 11 Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT. Khoá luận tốt nghiệp Kết quả thực hiện cổ phần hoá các DNNN qua các giai đoạn Giai đoạn Số lượng DNNN cổ Luỹ kế cuối mỗi giai phần hoá đoạn 6/1992 – 5/1996 5 5 5/1996 – 6/1998 25 30 6/1998 – 12/1999 340 370 2000 212 582 2001 204 786 2002 164 946 2003 318 1264 2004 978 2242 (Nguồn: Trung tâm thông tin doanh nghiệp – Bộ kế hoạch và đầu tư) Như chúng ta đã biết, chủ trương thí điểm cổ phần hoá đã được đề cập dến ngay trong Quyết định số 217/HĐBT ngày 14/11/1987 về đổi mới kế hoạch hoá và hạch toán kinh doanh XHCN, quyền tự chủ đối với DNNN và được cụ thể hoá trong Quyết định số 143/HĐBT ngày 10/5/1990 về chủ trương thí điểm cổ phần hoá DNNN, thực hiện mô hình khoán, cho thuê ngoài quốc doanh. Cũng trong năm 1990, Luật Công ty đầu tiên của Việt Nam được ban hành nhằm tạo ra hành lang pháp lý cho công ty TNHH và công ty cổ phần hoạt động. Tuy nhiên, trong vòng 5 năm (1987-1992) không có DNNN nào được chuyển sang mô hình CTCP. Ngày 8/6/1992 Chủ tịch hội đồng bộ trưởng ra quyết định số 202/CT chỉ đạo tiếp tục triển khai việc tiến hành cổ phần hoá DNNN bằng việc thí điểm chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần. Thời điểm này được coi là cái mốc để nước ta bước vào thí điểm cổ phần hoá DNNN. Tuy nhiên tốc độ 12 Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT. Khoá luận tốt nghiệp trong gần 4 năm (6/1992 – 5/1996) thực hiện thí cổ phần hoá các DNNN là rất chậm, chỉ có 5 doanh nghiệp thực hiện thành công việc chuyển đổi này. Hơn thế nữa, 5 doanh nghiệp này trong thực tế đều là các DNNN mới được thành lập, có quy mô vừa và nhỏ, chủ yếu sản xuất hàng hoá và dịch vụ trong những lĩnh vực không quan trọng. Để khắc phục tình trạng trên, Chính phủ đã ban hành Nghị định 28/CP ngày 7/5/1996 về việc chuyển một số doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần và Nghị định 25/CP ngày 26/3/1997 sửa đổi một số điều của Nghị định 28/CP. Nghị định 28/CP & 25/CP đã thể hiện một bước sự thông thoáng trong việc cổ phần hoá DNNN như vấn đề xác định mục tiêu, đối tượng, phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hoá, hình thức cổ phần hoá, chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp và người lao động. Sau khi Nghị định 28/CP & 25/CP ra đời đã có hơn 200 doanh nghiệp ở các tỉnh, thành phố, tổng công ty 91 đăng ký thực hiện cổ phần hoá, chiếm trên 3% tổng số DNNN. Đến tháng 6/1998, cả nước đã chuyển được 25 DNNN thành công ty cổ phần, cổ phần hoá bước đầu được mở rộng. Tuy nhiên trong thời kỳ này còn tồn tại hạn chế đó là hiện tượng cổ phần hoá nội bộ- rất ít doanh nghiệp cổ phần hoá rộng rãi ra quần chúng. Để tiếp tục đẩy mạnh quá trình cổ phần hoá trên diện rộng, ngày 29/6/1998 Chính phủ ban hành Nghị định 44/1998/NĐ-CP thay cho Nghị định 28/CP. Theo sau đó là việc chỉ trong 06 tháng cuối năm 1998 đã có 90 DNNN được cổ phần hoá, gấp hơn 3 lần so với kết quả của thời gian trước đó. Năm 1999 được xem là một năm bội thu của công cuộc cổ phần hoá DNNN, đã cổ phần hoá được 250 doanh nghiệp. Như vậy sau 2 năm kể từ khi Nghị định 44/1998/NĐ-CP ra đời đã có gần 400 doanh nghiệp cổ phần hoá trong khi 8 năm trước đó chỉ cổ phần hoá được 30 doanh nghiệp. Các đơn vị triển khai cổ phần hoá mạnh nhất là Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Nam Định, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn. Công ty cổ phần có vốn điều lệ lớn 13 Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT. Khoá luận tốt nghiệp nhất là công ty mía đường Lam Sơn (150 tỷ đồng). Rõ ràng đây là một kết quả đáng khích lệ trong quá trình cổ phần hoá DNNN. Để tiếp tục tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi cho các doanh nghiệp, trong đó có công ty cổ phần, trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tháng 6/1999, Quốc hội nước ta đã thông qua và ban hành Luật Doanh nghiệp năm 1999 thay thế cho Luật Công ty trước đó và luật này có hiệu lực từ 1/1/2000. Tuy nhiên, trong suốt năm 2000 việc cổ phần hoá DNNN lại có những dấu hiệu không vui. Cho tới 31/12/2000 mới cổ phần hoá được 212 doanh nghiệp. Một số địa phương tích cực thực hiện cổ phần hoá trong những năm trước đây như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Nam Định... đều chững lại. Từ tháng 1/2002 đến nay được coi là giai đoạn thực hiện nghị quyết hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành trung ương Đảng khoá IX về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN. Trong giai đoạn này, Chính phủ ban hành nhiều nghị định, quyết định sửa đổi, khắc phục nhược điểm của các văn bản trước đó nhằm đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá DNNN như Nghị định số 64/2002/NĐ-CP ngày 19/06/2002 về việc chuyển doanh nghịêp Nhà nước thành công ty cổ phần, thay thế cho Nghị định 44/1998/NĐ-CP ngày 29/6/1998. Đồng thời, các bộ ngành có liên quan cũng đã có văn bản hướng dẫn việc thực hiện nghị định đã ban hành.Tính đến hết cuối năm 2005, cả 1 nước đã có 2935 doanh nghiệp hoàn thành cổ phần hoá. Cũng trong cuối năm này, Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 đã được ban hành để phù hợp với thời kì đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta, luật có hiệu lực từ ngày 1/7/2006. Tuy nhiên, sang đến năm 2006, kế hoạch dự kiến của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp đặt ra là sẽ cổ phần hoá 600 doanh nghiệp 1 Nguồn: Bài của tác giả Công Thắng-Báo Lâo động-ngày 9/3/2006. 14 Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT. Khoá luận tốt nghiệp nhưng tính đến tháng 8/2006 cả nước mới cổ phần hoá được 3060 doanh 2 nghiệp, tức là trong 8 tháng đầu năm nay mới chỉ có hơn 120 doanh nghiệp được cổ phần hoá, như vậy tiến độ cổ phần hoá trong năm nay có thể coi là tương đối chậm. Tuy nhiên ta có thể hy vọng rằng sau khi luật mới ra đời cùng với những biện pháp phù hợp của các cơ quan chức năng tiến độ này sẽ nhanh chóng được cải thiện. Nhìn chung sau khi hệ thống cơ chế chính sách được ban hành đầy đủ, tiến độ cổ phần hoá của các bộ ngành, địa phương và các tổng công ty đã thực sự có những chuyển biến mạnh mẽ. Mặc dù tiến độ này qua các năm là không đều nhau song chúng ta cũng vui mừng khi nhận thấy một điều rằng tốc độ chuyển đổi sang công ty cổ phần của các DNNN ngày càng được cải thiện và hầu hết các doanh nghiệp sau khi chuyển đổi đều đứng vững và phát triển, quy mô vốn cũng như doanh số và thu nhập của người lao động đều tăng khá. Hơn thế nữa, Nhà nước vừa không phải mất thêm nguồn ngân sách vốn để bao cấp cho các doanh nghiệp quốc doanh yếu kém vừa thu về hàng chục nghìn tỷ đồng từ bán cổ phiếu và huy động thêm hàng chục nghìn tỷ đồng nữa trong xã hội để các công ty cổ phần đầu tư đổi mới kỹ thuật, công nghệ và trình độ quản lý. Quá trình này đã giúp chúng ta sáng tỏ thêm nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn nhất là việc xác định mô hình CTCP sẽ là phổ biến trong nền kinh tế nước ta. Đối với các công ty cổ phần mới được thành lập thì trong thời gian đầu thường cũng là các doanh nghiệp nhỏ lẻ nhưng trong những năm gần đây, song song với việc đẩy mạnh cổ phần hoá, Nhà nước ta cũng ra sức vận động để các thành phần kinh tế thành lập ngày càng nhiều công ty cổ phần mới, đặc biệt là thành lập trên cơ sở liên kết sức mạnh của các tập đoàn kinh tế nhằm tạo ra tiềm lực kinh tế và thế đứng vững chắc cho các công ty cổ phần mới 2 Nguồn: Bài của tác giả Đặng Nguyễn-VNECONOMY-ngày 10/10/2006. 15 Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT. Khoá luận tốt nghiệp này. Xin đơn cử ra đây là việc thành lập tập đoàn bảo hiểm Toàn Cầu (GIC) với vốn điều lệ là 80 tỷ đồng của 30 cổ đông sáng lập, trong đó chỉ có 4 pháp nhân và vốn quốc doanh chỉ chiếm 25%, ngày 18/8/2006 tiến hành Đại cổ đông thành lập, sang tháng 9 đi vào hoạt động, vậy mà đến nay đã cầm chắc doanh thu hơn 40 tỷ đồng, kế hoạch năm 2007 là đạt doanh thu 150 tỷ đồng và mục tiêu đến năm 2010 đứng vào top 5 công ty bảo hiểm có doanh thu hàng đầu nước ta (trên 500 tỷ đồng). 3 Đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động theo hình thức công ty cổ phần thì ngoài các công ty cổ phần nước ngoài trực tiếp vào Việt Nam hoạt động còn có cả các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động theo hình thức khác nay được chuyển đổi sang hình thức công ty cổ phần. Theo số liệu thống kê thì đến 31/12/2005 có 14 doanh nghiệp nước ngoài được đệ trình lên Chính phủ về vấn đề chuyển đổi sang hình thức hoạt động của công ty cổ phần, trong đó có 10 doanh nghiệp đã chính thức được hoạt động mà nổi bật hơn cả là các công ty như công ty kinh doanh quốc tế Hoàng Gia, công ty TNHH Austnam, công ty cổ phần hữu hạn dây và cáp điện Taya, công ty công nghiệp TNHH Tungkuang...đây đều là các doanh nghiệp làm ăn 4 có hiệu quả tại Việt Nam với số vốn góp đạt mức cao. Hy vọng rằng với sự hoạt động hiệu quả của các công ty này và việc các công ty cổ phần của nước ngoài vào Việt Nam hoạt động nhiều hơn trong thời gian tới khi mà Luật Doanh nghiệp mới với nhiều chính sách ưu đãi cho các nhà đầu tư nước ngoài được phổ biến rộng rãi, không những sẽ thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển mà còn để lại những bài học kinh nghiệm quý báu cho các công ty cổ phần còn non trẻ của Việt Nam. 3 4 Nguồn: Bài của TS. Nguyễn Anh Dũng-Báo Nhân dân-ngày 9/10/2006. Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài-Bộ kế hoạch và đầu tư. 16 Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT. Khoá luận tốt nghiệp Tóm lại, chặng đường kể từ khi xuất hiện và bắt đầu phát triển của tất cả các loại hình công ty cổ phần ở Việt Nam là tương đối ngắn (khoảng 15 năm) song các công ty này đã có được những sự đóng góp thiết thực vào nền kinh tế nước ta. 1.2. Công ty cổ phần và đặc điểm của công ty cổ phần ở Việt Nam 1.2.1. Công ty cổ phần là gì? Khác với Bộ luật Thương mại Nhật Bản, Luật Doanh nghiệp của Việt Nam có điểm tiến bộ đặc biệt là đã đưa ra định nghĩa cụ thể về công ty cổ phần trong Luật Doanh nghiệp năm 1999 (Điều 51) và được nhắc lại trong Luật Doanh nghiệp năm 2005 (Điều 77) như sau: “ 1. Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ cổ phần ưu đãi biểu quyết thì không được chuyển nhượng và cổ phần của cổ đông sáng lập chỉ được chuyển nhượng hạn chế (theo khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84). 2. Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. 3. Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn.” Như vậy, từ định nghĩa trên ta có thể rút ra kết luận: Công ty cổ phần là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn, nghĩa là khi thành lập và trong suốt 17 Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT. Khoá luận tốt nghiệp quá trình hoạt động các thành viên công ty hoàn toàn không quan tâm đến nhân thân người góp vốn mà chỉ quan tâm đến phần vốn góp của họ bởi vì đối với loại hình công ty này tư cách thành viên công ty và các quyền của cổ đông trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến cơ cấu tổ chức và hoạt động của công ty được quyết định trước hết bởi số lượng các cổ phiếu của công ty mà người đó nắm giữ. Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân độc lập, mang tính tổ chức cao, có cấu trúc vốn phức tạp. Công ty cổ phần được quyền phát hành chứng khoán ra công chúng. Với tính chất này, công ty cổ phần là hình thức tổ chức đặc biệt năng động có thể sử dụng để huy động vốn thông qua các giao dịch trên thị trường chứng khoán. 1.2.2. Một số đặc điểm của công ty cổ phần ở Việt Nam  Về hội viên: Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định thì công ty cổ phần phải có ít nhất 3 cổ đông và không quy định số cổ đông tối đa. Điều kiện để trở thành hội viên của công ty cổ phần (Điều 13) cũng giống các điều kiện quy định cho các loại hình doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, có điểm lưu ý là: cán bộ viên chức Nhà nước, các sĩ quan tại ngũ trong lực lượng vũ trang nhân dân không được tham gia thành lập hoặc quản lý công ty cổ phần. Họ chỉ có quyền mua cổ phiếu của công ty.  Về vốn pháp định: Luật không quy định vốn tối thiểu với công ty cổ phần.  Về thủ tục thành lập: Doanh nghiệp chỉ cần tiến hành đăng ký kinh doanh với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và phải chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của nội dung hồ sơ đăng ký kinh doanh. Cơ quan đăng ký kinh doanh có trách nhiệm xem xét hồ sơ đăng ký kinh doanh và cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc thông báo bằng văn bản trong đó nêu rõ lý do và các yêu cầu sửa đổi, bổ sung cho doanh nghiệp biết nếu từ chối cấp. 18 Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT. Khoá luận tốt nghiệp  Về cơ cấu bộ máy của công ty cổ phần: Công ty cổ phần ở Việt Nam phải có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc) và Ban kiểm soát (đối với công ty cổ phần có trên 11 cổ đông).  Đại hội đồng cổ đông là cơ quan quyết định cao nhất của công ty. Đại hội đồng gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết. Đại hội đồng gồm:  Đại hội đồng thành lập được triệu tập để tiến hành các thủ tục thành lập, thảo luận và thông qua Điều lệ công ty. Đại hội đồng thành lập phải có nhóm cổ đông đại diện cho ít nhất 3/4 số vốn điều lệ của công ty và biểu quyết theo đa số phiếu quá bán.  Đại hội đồng bất thường được triệu tập để sửa đổi Điều lệ công ty.  Đại hội đồng thường được triệu tập vào cuối mỗi năm tài chính hoặc bất kỳ lúc nào mà Hội đồng quản trị hoặc kiểm soát viên thấy cần thiết, để giải quyết các công việc thuộc hoạt động kinh doanh của công ty trong khuôn khổ điều lệ, trong đó có các việc chủ yếu như: quyết định phương hướng, nhịêm vụ phát triển công ty và kế hoạch kinh doanh hàng năm, thảo luận và thông qua bản tổng kết năm tài chính, bầu, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị và Kiểm soát viên, quyết định số lợi nhuận thích hợp, các qũy của công ty, số lợi nhuận chia cho các cổ đông...  Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý của công ty gồm không ít hơn 5 thành viên và không quá 11 thành viên. Hội đồng quản trị có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng. Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng về những sai phạm trong quản lý, vi phạm điều lệ, vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho công ty. Hội đồng quản trị bầu một thành viên làm Chủ tịch. Chủ tịch Hội đồng quản trị có thể kiêm Giám đốc (Tổng giám đốc) công ty nếu điều lệ không quy định khác. Trong trường hợp Chủ tịch hội đồng quản trị không kiêm 19 Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT.
- Xem thêm -