Cơ hội và thách thức của các ngân hàng thương mại việt nam trước ngưỡng cửa việt nam gia nhập wto

  • Số trang: 10 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 51 |
  • Lượt tải: 0
tranphuong5053

Đã đăng 6896 tài liệu

Mô tả:

PHẦN I: LỜI NÓI ĐẦU Hội nhập kinh tế  quốc tế  mà đỉnh cao là gia nhập WTO, đang trở  thành   yêu cầu bức xúc, tất yếu đối với mỗi quốc gia và VN không nằm ngoài “vòng  hội nhập” đó. Trước thực tế của xu thế toàn cầu hoá, mỗi quốc gia nói chung   và VN nói riêng, chỉ có cách lựa chọn duy nhất là “lối đi, bước đi” lộ trình sao   cho thích hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mình. Có thể nói mọi lĩnh vực hội nhập đều rất phức tạp nhưng hội nhập trong   lĩnh vực tài chính nói chung, hội nhập trong lĩnh vực ngân hàng nói riêng có  những nét đặc thù, có độ  phức tạp, nhạy cảm cao nhất bởi vì ngân hàng là  “trung tâm của thị  trường tài chính”, “nơi điều tiết sự  chu chuyển của các   dòng vốn”, là “bà đỡ  của các doanh nghiệp, là “tấm gương phản chiếu sức   sống của nền kinh tế”. Như  vậy hội nhập kinh tế  quốc tế  không còn là vấn đề  mới đối với hệ  thống ngân hàng thương mại Việt Nam(NHTM).Quá trình hội nhập của VN  gia   nhập   WTO   đang   tạo   ra   những   cơ   hội   và   thách   thức   rất   lớn   đối   với  NHTMVN. Với mục đích làm rõ những cơ hội và thách thức của NHTM trong  quá trình hội nhập để  từ  đó có cơ  sở  xây dựng định hướng hoạt động em   nghiên cứu đề tài “Cơ hội và thách thức của các NHTMVN trước ngưỡng  cửa VN gia nhập WTO”. Kết cấu đê tài của em bao gồm: Phần I: Lời nói đầu Phần II: Nội dung I. Cơ sở lý luận II. Cơ sở thực tiễn III.Giải pháp Phần III: Kết luận Trong quá trình thực hiện đề tài em đã được sự chỉ  bảo tận tình của  giáo   viên hướng dẫn Th.s Nguyễn Thu Thuỷ.Tuy nhiên do thời gian hạn chế  nên  đề  tài của em mới chỉ  ra được một phần nào đó những cơ  hội và thách thức  trong hoạt động của hệ thống NHTM trước khi VN gia nhập WTO.  1 2 PHẦN II: NỘI DUNG I. Cơ sở lý luận 1. WTO và quá trình VN gia nhập WTO  Những   vấn   đề   cơ   bản   về   tổ   chức   thương   mại   thế   giới(WTO). WTO  là một   định chế  thương  mại toàn cầu, bao  gồm một hệ  thống các   nguyên tắc và quy định điều chỉnh các hoạt động của hơn 90% thương mại   thế giới và hiện nay WTO đã có 150 thành viên. WTO hoạt động dựa trên bốn  chức năng chính sau: Thúc đẩy tự do hoá thương mại Hỗ trợ và giám sát việc thực hiện các hiệp định WTO Giải quyết các tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên Có quyền can thiệp, rà soát chính sách thương mại của các nước thành  viên. Về  cơ bản để  gia nhập WTO các nước cần phải cam kết trong các lĩnh   vực chủ yếu sau:  Phải thoả  thuận với các thành viên về  mức thuế  quan tối đa áp dụng  với các hàng hoá nhập khẩu  Thoả thuận với các thành viên về điều kiện cho các nhà cung cấp dịch  vụ nước ngoài tham gia vào thị trường nội địa  Phải chấp nhận việc hạn chế trợ giá trong nông nghiệp do nó có ảnh  hưởng đến thương mại quốc tế Cơ hội và thách thức của VN khi gia nhập WTO Cơ hội Gia nhập WTO đem lại cả cơ  hội lẫn thách thức, đòi hỏi VN phải sớm   triển khai những bước chuẩn bị  cần thiết  để  đảm bảo tối  ưu hoá những  thuận lợi và giảm thiểu những nguy cơ của việc tham gia vào một nền kinh  tế thế giới ngày càng được tự do hoá nhiều hơn. Gia nhập WTO sẽ  mang đến cho VN những nguồn lực mới và cơ  hội   mới để mở rộng thị trường xuất khẩu, đa dạng hoá các mối quan hệ kinh tế ­   thương mại, tăng khả năng thu hút đầu tư nước ngoài…giúp VN tham gia vào   việc xây dựng một hệ thống thương mại đa biên bình dẳng, không phân biệt   đối xử và cùng có lợi. Tạo môi trường thông thoáng, minh bạch , tuân thủ các  nguyên tắc quốc tế. 3 VN sẽ có cơ hội thực sự hội nhập vào nền kinh tế thế giới, được hưởng   đối xử  bình đẳng và các  ưu đãi thương mại cho một nước đang phát triển ở  trình độ thấp. Đây là điều kiện hết sức cần thiết để VN mở rộng xuất khẩu  những mặt hàng có lợi thế nhờ những thành qủa của đàm phán giảm thuế và  mở  cửa thị  trường của GATT, tăng cường tiếp cận thị  trường của các thành  viên WTO, đặc biệt trong các lĩnh vực hàng nông sản và dệt may. Cơ hội xuất   khẩu bình đẳng sẽ kéo theo những ảnh hưởng tích cực tới các ngành kinh tế  trong nước, mở rộng sản xuất và tạo ra nhiều việc làm. Quá trình hội nhập kinh tế  quốc tế  nói chung   và đàm phán gia nhập  WTO nói riêng đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ  cấu kinh tế  một cách  tích cực theo hướng tăng dần tỷ  trọng giá trị  công nghiệp và dịch vụ, giảm  dần tỷ trọng giá trị nông nghiệp trong cơ cấu tổng thu nhập quốc dân. Cơ cấu   kinh tế ngành và vùng đã có sự dịch chuyển theo định hướng về lợi thế năng   lực cạnh tranh khu vực và quốc tế, hình thành các vùng kinh tế  trọng điểm,  các khu công nghiệp và khu chế  xuất tập trung để  hạ  thấp giá thành và tạo  điều kiện áp dụng khoa học công nghệ  hiện đại hơn trong sản xuất và đầu  tư. VN đã từng bước hoàn thiện hệ  thống pháp luật và thể  chế  kinh tế  thị  trường, cải cách hành chính và cải cách doanh nghiệp nhà nước … Việc ký  kết một số  điều  ước quốc tế  quan trọng đã tạo ra một hành lang pháp lý cơ  bản cho việc thực hiện công cuộc đổi mới hội nhập kinh tế quốc tế, tạo môi  trường kinh doanh lành mạnh, thúc đẩy kinh tế  phát triển và thu hút đầu tư  trực tiếp nước ngoài, VN tiếp tục khẳng định là một quốc gia ổn định về mặt  chính trị và kinh tế cùng thực hiện các chuẩn mực điều tiết kinh tế chung với   cộng đồng quốc tế. Đây là yếu tố không thể thiếu để  tạo dựng niềm tin của  các nhà đầu tư, thương nhân nước ngoài tham gia các hoạt động hợp tác kinh  tế với VN. Thách thức Bên canh những cơ hội, việc gia nhập WTO cũng đặt ra hàng loạt những   thách thức cho nền kinh tế  xã hội trên các khía cạnh: thất nghiệp gia tăng,   phân hoá giàu nghèo trong xã hội …Đặc biệt, cạnh tranh trong nhiều ngành   dịch vụ quan trọng như: bưu chính viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm …sẽ tăng   đáng kể  sau khi gia nhập WTO . Các cuộc cạnh tranh về  chất lượng, giá cả  hàng hoá ,dịch vụ sẽ  khốc liệt hơn trong khi năng lực cạnh tranh trong nước   4 còn yếu. VN phải điều chỉnh hệ  thống pháp luật cho phù hợp với các quy  định của WTO  ở nhiều lĩnh vực khác nhau như thủ tục cấp phép nhập khẩu,  kiểm dịch động thực vật, các quy định liên quan đến đầu  tư  và sở  hữu  trí  tuệ… Chính sách thuế sẽ phải điều chỉnh theo quy định của WTO, trước hết là  thuế xuất nhập khẩu, tiếp đến là các sắc thuế  nội địa. Thuế  suất thuế  nhập   khẩu điều chỉnh theo hướng ngày càng giảm và đảm bảo nguyên tắc MFN  ( không phân biệt đối xử giữa hàng nhập khẩu từ các quốc gia khác nhau); bỏ  các biện pháp phi thuế, chỉ bảo hộ bằng công cụ thuế. Những điều đó không   những có nhiều tác động khác nhau  đến môi trường kinh doanh mà còn  ảnh  hưởng đến nguồn thu ngân sách nhà nước. VN sẽ phải cam kết mở cửa thị trường  dịch vụ tài chính (bảo hiểm, kế  toán, kiểm toán và tư  vấn thuế), phải có các cam kết đối xử  bình đẳng giữa  cácdoanh nghiệp kinh doanh dịch vụ tài chính trong nước và doanh nghiệp có  vốn đàu tư nước ngoài. Việc thực hiện các cam kết này đòi hỏi sự nỗ lực của  ngành tài chính nói riêng cũng như  các cơ  quan quản lý nhà nước. Đặc biệt,   trong bối cảnh hệ thống luật pháp, chính sách chế độ  quản lý trong nước còn   thiếu đồng bộ  chưa phù hợp với thông lệ  quốc tế. Thậm chí còn nhiều lĩnh  vực chưa có văn bản quy định như tư vấn môi giới tài chính, tư vấn thuế… Về   phía doanh nghiệp, do còn yếu kém trên nhiều lĩnh vực(chất lượng,   thương hiệu sản phẩm, phát triển kênh tiêu thụ và khả năng giải quyết tranh   chấp) nên các doanh nghiệp sẽ  phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức   trong việc tìm chỗ  đứng trên thị  trường hoặc phát triển thị  phần của mình,  nhiều doanh nghiệp có nguy cơ  phá sản, trước sức ép nặng nề  của các dòng  hàng hoá, dịch vụ, công nghệ, nhân lực và các chấn động khủng hoảng trong   khu vực và toàn cầu, nhất là cuộc khủng hoảng về tài chính tiền tệ gây hiệu  ứng lan truyền. Một thách thức nữa là đội ngũ nguồn nhân lực hiện nay của chúng ta còn  quá yếu kém chưa thể đáp ứng được yêu cầu hội nhập. Trình  độ nguồn nhân  lực thấp, cơ chế quản trị điều hành cứng nhắc,thiếu năng động… không thể  đáy ứng được yêu cầu cạnh tranh khi hội nhập. 2. Các cam kết của VN trong lĩnh vực ngân hàng khi VN gia nhập  WTO 5 Tài chính ­  ngân  hàng là một trong những  lĩnh vực được mở  cửa mạnh  nhất ngay sau khi Việt Nam gia  nhập WTO. Theo cam kết giữa Việt Nam và  các nước thành viên, từ nay đến năm 2010, các ngân hàng nước ngoài sẽ được  phép thực hiện hầu hết các dịch vụ ngân hàng như một ngân hàng trong nước  (trừ  dịch vụ  tư  vấn và cung cấp thông tin   ngân  hàng). Cụ  thể, kể  từ  ngày  1/4/2007, các ngân hàng nước ngoài được phép thiết lập sự hiện diện thương   mại của mình tại Việt Nam dưới các hình thức như: văn phòng đại diện, chi   nhánh ngân hàng thương mại, các ngân hàng thương mại liên doanh với nước  ngoài có vốn nước ngoài dưới 50% vốn điều lệ, các công ty cho thuê tài chính  liên doanh, các công ty tài chính cho thuê 100% vốn nước ngoài và ngân hàng  100% vốn nước ngoài... Cũng như  các pháp nhân Việt Nam, các chi nhánh,  văn phòng đại diện, và ngân hàng nước ngoài này sẽ được hưởng quy chế đối  xử không phân biệt ngay sau khi Việt Nam gia nhập WTO Các cam kết gia nhập WTO trong lĩnh vực ngân hàng sẽ cho phép các tổ  chức tín dụng nước ngoài được hiện diện  ở  Việt Nam dưới các hình thức  khác nhau, mở rộng phạm vi và loại hình cung cấp các dịch vụ  ngân hàng, tạo  ra một sân chơi bình đẳng cho các ngân hàng. Chúng ta đồng ý cho thành lập  ngân  hàng  con 100% vốn nước  ngoài  không muộn hơn ngày 1/4/2007. Ngoài ra ngân hàng nước ngoài muốn được  thành lập chi nhánh tại Việt Nam nhưng chi nhánh đó không được phép mở  chi nhánh phụ và vẫn phải chịu hạn chế về huy động tiền gửi bằng VND từ  thể nhân Việt Nam trong vòng 5 năm kể từ khi ta gia nhập WTO. Ta vẫn giữ  được hạn chế  về  mua cổ  phần trong ngân  hàng Việt Nam, không quá 30%.  Đây là hạn chế đặc biệt có ý nghĩa đối với ngành ngân hàng  Đối với  ngân  hàng thương mại nước ngoài: văn phòng đại diện, chi  nhánh, ngân hàng thương mại liên doanh với số vốn đầu tư chiếm không quá   50%, công ty cho thuê tài chính, công ty liên doanh tài chính và công ty tài  chính 100% vốn nước ngoài.    Trong vòng 5 năm sau khi gia nhập, Việt Nam có thể giới hạn quyền  của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài trong việc nhận tiền gửi bằng tiền  đồng Việt Nam từ  người tiêu dùng Việt Nam.  Trong  đó, những chi nhánh  ngân hàng nước ngoài chưa có quan hệ tín dụng với khách hàng là người Việt  Nam thì mức độ  huy động vốn so với vốn pháp định được thực hiện theo lộ  trình sau: từ ngày 1.1.2007 được huy động gấp khoảng trên 6 lần so với vốn  6 pháp định đã góp đủ, từ năm 2008 gấp 8 lần, từ năm 2009 gấp 9 lần, từ năm   2010 gấp 10 lần. Từ năm 2011 được hưởng chế độ đối xử quốc gia.   Theo Nghị định số 22/2006/NĐ­CP ban hành ngày 28/2/2006, thời hạn   hoạt động của chi nhánh ngân  hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, hoặc  ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam không được quá 99 năm; thời  hạn hoạt động của một chi nhánh  ngân  hàng  nước ngoài không được vượt  quá thời hạn hoạt động của ngân hàng mẹ ở nước ngoài; thời hạn hoạt động  của văn phòng đại diện của một tổ  chức tín dụng nước ngoài không được  vượt quá thời hạn hoạt động của tổ  chức tín dụng nước ngoài đó. Thời hạn   hoạt động của các tổ  chức nói trên sẽ  được quy định cụ  thể   trong giấy phép  được cấp và có thể được gia hạn theo yêu cầu.   Tỷ lệ sở hữu nước ngoài đối với ngân hàng cổ phần: 30%  Tổng tỷ  lệ  cổ  phần mà ngân hàng nước ngoài được mua sẽ  vẫn khống   chế   ở  mức 30% như  hiện nay; riêng tỷ  lệ  sở  hữu nhà đầu tư  chiến lược sẽ  được nâng từ 10% lên 20%.  Trường hợp ngân hàng cổ  phần niêm yết trên thị  trường chứng khoán, tỷ  lệ trên có thể vẫn khống chế ở mức 30%, thay vì mức 49% như quy định đối   với các doanh nghiệp niêm yết khác. Vì theo ông, “ngân hàng là doanh nghiệp   đặc biệt nên sự khống chế là cần thiết”.  Hiện tại, Ngân hàng Nhà nước đang xây dựng và lấy ý kiến để hoàn thiện  Nghị  định về  việc các tổ  chức tín dụng nước ngoài mua cổ  phần trong ngân  hàng Việt Nam, trong đó dự  kiến hạn chế  cổ  phần mà một ngân hàng nước   ngoài có thể  nắm giữ  trong các ngân hàng Việt Nam là 20% trong tổng số  30% cổ phần nước ngoài.  Ngân hàng 100% vốn nước ngoài  Để  được lập chi nhánh hoặc ngân hàng nước ngoài 100% vốn tại Việt  Nam, ngân hàng nước ngoài phải thực sự có năng lực tài chính mạnh, có uy tín  trong hoạt động và có quy mô lớn.  Đây   là   những   điều   kiện   cơ   bản   được   quy   định   tại   Nghị   định   số  22/2006/NĐ­CP, về  tổ  chức  và hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước   ngoài, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, văn phòng đại  7 diện tổ  chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam, do Thủ  tướng Phan Văn  Khải vừa ký ban hành.  Cụ  thể, để  được cấp giấy phép mở  chi nhánh ngân hàng nước ngoài,   thành lập ngân hàng liên doanh hoặc thành lập ngân hàng 100% vốn nước  ngoài, ngân hàng nước ngoài phải đáp  ứng những điều kiện như  không vi   phạm nghiêm trọng các quy định về  hoạt động ngân hàng và các quy định  pháp luật khác của nước nguyên xứ trong vòng 3 năm gần nhất liền kề trước   khi xin cấp giấy phép.  Ngoài ra, ngân hàng nước ngoài phải có kinh nghiệm hoạt động quốc tế,  được các tổ  chức xếp loại tín nhiệm quốc tế  xếp hạng  ở  mức có khả  năng   thực hiện các cam kết tài chính và hoạt động bình thường ngay cả  khi tình   hình, điều kiện kinh tế biến đổi theo chiều hướng không thuận lợi; ngân hàng  nước ngoài phải đạt được tỷ  lệ an toàn vốn tối thiểu, các tỷ  lệ  bảo đảm an   toàn theo thông lệ quốc tế…  Để  được cấp giấy phép mở  chi nhánh tại Việt Nam, ngân hàng nước   ngoài phải có tổng tài sản có ít nhất là tương đương 20 tỷ  USD vào năm  trước năm xin cấp giấy phép.  Trường hợp thành lập và hoạt động ngân hàng liên doanh, giấy phép thành  lập và hoạt động ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam, ngân hàng  nước ngoài phải có tổng tài sản có ít nhất là tương đương 10 tỷ USD vào năm  trước năm xin cấp giấy phép.  Trong các ngân hàng liên doanh, mức góp vốn của bên nước ngoài được  quy định tối đa không quá 50% vốn điều lệ. Những trường hợp đặc biệt sẽ do   Thủ tướng Chính phủ quyết định.  Với ngân hàng 100% vốn nước ngoài, các thành viên góp vốn (bao gồm cả  ngân hàng mẹ) có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ số vốn góp  thuộc sở  hữu của mình cho các thành viên góp vốn hoặc các tổ  chức nước  ngoài khác nhưng phải đảm bảo luôn có một ngân hàng nước ngoài sở  hữu   trên 50% vốn điều lệ của ngân hàng 100% vốn nước ngoài.  Ngoài những điều kiện trên, các ngân hàng nước ngoài sẽ  phải tuân thủ  những quy định khác về cơ cấu tổ chức hội đồng quản trị, ban kiểm soát của  chính nhánh, ngân hàng đó tại Việt Nam cũng như  tuân thủ  phạm vi hoạt  động… II. Cơ sở thực tiễn 8 1. Hoạt dộng của hệ thống NHTM trước khi gia nhập WTO. ­ Hệ thống ngân hàng được phân thành 2 cấp: NHTW và NHTM Cuối những năm 80, cùng với công cuộc cải cách kinh tế, hệ thống NHVN   cũng được cải cách. Từ hệ thống ngân hàng duy nhất lẫn lộn giữa chức năng   của NHTW với NHTM đã tách ra thành hệ  thống ngân hàng 2 cấp riêng biệt   và đã khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của chúng đối với sự nghiệp phát  triển kinh tế ở nước ta thời gian qua. ­ Hệ thống NHTM VN: Hệ thống NHTMVN bao gồm các NHTM nhà nước, các NHTM cổ phần ,  các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, công ty tài chính và  các quỹ tín dụng. Cho đến nay, có 5 NHTM nhà nước, đó là: Ngân hàng ngoại thương VN,   ngân hàng đầu tư và phát triển, ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn   VN và ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long. Ngoài 5 ngân hàng   trên còn có NH chính sách xã hội. Các NHTMNN có tổng tài sản chiếm 70%   toàn hệ thống và dư nợ cho vay nền kinh tế chiếm 75% trong tổng dư nợ cho   vay của các NHTM. Hệ  thống các NHTM cổ phần gồm có 26 NHTMCP đô thị  và 7 NHTMCP  nông thôn, với tổng tài sản chiếm 15.6% toàn hệ thống và dư nợ cho vay nền  kinh tế chiếm trên 13% trong tổng dư nợ cho vay của các NHTM. Có 28 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 5 ngân hàng liên doanh với nước  ngoài, 5 công  ty tài chính, 9 công ty cho thuê tài chính và khoảng 904 quỹ tín  dụng nhân dân cùng hàng loạt các tổ chức tài chính phi ngân hàng khác. Số   lượng   và   mạng   lưới   hoạt   động   của   hệ   thống   NHTM   tính   đến  30/9/2005 ( không tính chi nhánh cấp IV và văn phòng giao dịch) Chi nhánh  NH liên  NHTMNN NHTMCP NHNN doanh Số lượng 6 33 37 4 Mạng lưới 568 370 37 13                                                                        Nguồn: Ngân hàng nhà nước 2.Cơ hội và thách thức của NHTM khi gia nhập WTO 2.1. Cơ hội 9    Hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng tất  yếu của thời đại, là điều kiện   cần thiết để mỗi quốc gia đi vào quỹ đạo chung của thế giới, là cơ hội để các  nước tận dụng được dòng vốn khổng lồ  cùng với công nghệ  tiên tiến. Đẩy  mạnh hội nhập trong lĩnh vực ngân hàng VN sẽ thu được rất nhiều cơ hội:  Gia tăng các luồng vốn đầu tư:  Quá trình hội nhập WTO sẽ làm gia tăng các luồng vốn đầu tư vào VN và  gia tăng lợi tức cho các nước đang thừa vốn. Quá trình này sẽ  giúp làm giảm   lợi tức bù đắp rủi ro(risk premium) mà các nhà đầu tư đòi hỏi trong bối cảnh   VN bắt đầu tham gia thị trường tài chính quốc tế. Ngoài ra, hội nhập kinh tế còn giúp khơi thông các kênh chuyển vốn giữa   thị  trường trong nước với thị  trường quốc tế, góp phần khai thác các nguồn   vốn tiềm năng trong nước. Trong hội nhập, việc áp dụng các loại hình dịch   vụ  tài chính – ngân hàng phong phú và hiện đại sẽ   tạo điều kiện cho việc  phát triển thị trường tài chính ­ ngân hàng VN. Giảm chi phí vốn nhờ phân tán rủi ro: Quá trình tự  do hoá sẽ  mang lại nhiều cơ  hội đầu tư, chia sẻ  rủi ro giữa  các nhà đầu tư trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài. Nhờ khả năng phân   tán rủi ro tăng mà các nhà đầu tư, các doanh nghiệp mạnh dạn bỏ vốn  đầu tư  hơn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng. Nhờ  các luồng vốn gia tăng nên tính  thanh khoản trong thị trường tài chính ­ ngân hàng cũng gia tăng, nhờ đó giảm  lợi tức bù đắp rủi ro và giảm chi phí thu hút vốn cho đầu tư.  Chuyển giao công nghệ và trình độ quản lý, đổi mới trang thiết bị: Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các nền kinh tế hội nhập tài chính quốc tế  thường thu hút được các luồng vốn FDI khá lớn, đi kèm với các dòng vốn này   là công nghệ và trình độ quản lý theo thông lệ quốc tế. Ngoài ra chúng ta còn  có khả năng “đi tắt đón đầu” do kế  thừa được những thành tựu khoa học kỹ  thuật hiện đại của thế  giới. Các tác động lan truyền này giúp gia tăng năng  suất, chất lượng và hiệu quả đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng. Tạo ra động lực đổi mới và cải cách NHTM: Sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài thúc đẩy quá trình tham gia vào  thị trường tài chính quốc tế của các NHTM.  Hơn nữa, ngân hàng nước ngoài đem vào các công cụ và kỹ thuật tài chính  mới thúc đẩy cải tiến công nghệ 10
- Xem thêm -