Cơ cấu vốn của doanh nghiệp của việt nam

  • Số trang: 22 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 13 |
  • Lượt tải: 0
hoangtuavartar

Đã đăng 24780 tài liệu

Mô tả:

Bài làm Cơ cấu vốn của doanh nghiệp Đặc điểm cơ cấu vốn đối với các doanh nghiệp Việt Nam I/ Lý thuyết chung về cơ cấu vốn: 1. Khái niệm: Cơ cấu vốn là thuật ngữ dùng để chỉ một doanh nghiệp sử dụng các nguồn vốn khác nhau với một tỉ lệ nào đó của mỗi nguồn để tài trợ cho tổng tài sản của nó. 2. Đặc trưng cơ bản của cơ cấu vốn doanh nghiệp: Được cấu thành bởi vốn dài hạn,ổn định,thường xuyên trong doanh nghiệp Đây là số vốn chủ yếu được dùng để tài trợ cho các quyết định đầu tư dài hạn của doanh nghiệp.Việc lựa chọn 1 cơ cấu vốn hợp lý có ảnh hưởng quan trọng đến hiệu quả sản suất kinh doanh của doanh nghiệp. Có rất nhiều yếu tố tác động đến cơ cấu vốn,do đó,không có 1 cơ cấu vốn tối ưu cho mọi doanh nghiệp,trong mọi chu kỳ sản suất kinh doanh.Nói cách khác,khi nghiên cứu cơ cấu vốn của 1 doanh nghiệp phải nghiên cứu trong trạng thái động chứ không thể nghiên cứu trong trạng thái tĩnh. 1 Việc xác định cơ cấu vốn ảnh hưởng trực tiếp đến hệ số nợ của doanh nghiệp.Như phân tích ở trên,hệ số nợ có quan hệ thuận chiều với ROE.Việc duy trì cơ cấu vốn sự dụng nhiều nợ hơn sè giúp ra tăng ROE.Tuy nhiên,điều trên chỉ đúng trong phân tích tĩnh,xem xét mối quan hệ đơn lẻ giữa hệ số nợ và ROE.Trên thực tế,mọi quyết định đều có mối liên hệ qua lại nên việc ra tăng Nợ không phải lúc nào cũng đem lại tác động tích cực cho ROE.Điều này được thể hiện qua cơ chế hoạt động của đòn bẩy tài chính. Mức độ của đòn bẩy tài chính(Degree of Finance Leverage-DEL) được xác định qua công thức sau: Trong đó: DFL:mức độ đòn bẩy tài chính EBIT:thu nhập trước khi trừu lãi vay và thuế thu nhập doanh nghiệp Q:sản lượng tiêu thụ P:giá bán cho 1 đơn vị sản phẩm V:chi phí biến đổi cho 1 đơn vị sản phẩm F:chi phí cố định 2 I:lãi vay DFL cho biết số % thay đổi của EPS(thu nhập trên 1 cổ phiếu) khi EBIT(thu nhập trước thuế và lãi vay) thay đổi 1%.EPS là chỉ tiêu thường được xem xét cùng với ROE,phản ánh thu nhập của các cổ đông tương ứng với số cổ phiếu nắm giũ.Công thức trên cũng cho thấy,khi các yếu tố đặc thù của hoạt động sản xuất kinh doanh không thay đổi(sản lượng tiêu thụ,giá bán,chi phí biến đổi,chi phí cố định),nhà quản trị tài chính có thể sự dụng cơ cấu vốn để tác động thay đổi EPS hay ROE theo ý muốn. Trong trường hợp doanh nghiệp không sử dụng Nợ,DFL=1.sẽ không có tác dụng khuyếch đại thu nhập của cổ đông khi EBIT gia tăng thêm. Nếu sử dụng Nợ và quy mô lãi vay nhỏ hơn EBIT thì 1% tăng thêm của EBIT có thể tạo ra nhiều hơn 1% thay đổi của EPS.đem lại lợi ích nhiều hơn cho cổ đông.Tuy nhiên nếu điều kiện kinh doanh không thuận lơi,chỉ cần EBIT giảm 1% sẽ khiến EPS giảm hơn 1%.Hơn nữa việc gia tăng sử dụng nợ sẽ khiến cho các chi phí tài chính vượt quá EBIT của doanh nghiệp sẽ dẫn tới nguy cơ phá sản. Những phân tích trên cho thấy sử dụng Nợ như “con dao hai lưỡi”, đòi hỏi phải cân nhắc, tính toán kỹ lưỡng. Một tỷ lệ Nợ tối ưu mới tác động tích cực tới ROE của doanh nghiệp 3. Các nhân tố ảnh hưởng tới cơ cấu vốn Các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm đều cho thấy khả năng sinh lời,các tài sản cố định,thuế,quy mô,cơ hội tăng trưởng,tính linh hoạt v.v đều tác động đến cơ cấu nguồn vốn.Tuy nhiên,các nghiên cứu gần đây đã cập nhập những hiểu biết của 3 chúng ta về các yếu tố quyết định đến cơ cấu vốn.Các biến độc lập của mô hình đã được đề xuất như sau: Khả năng sinh lời Mặc dù nhiều tính toán vè mặt lý thuyết đã được thực hiện nhưng vẫn chưa có dự đoán hợp lý nào cho mối quan hệ giữa khả năng sinh lời và hệ số nợ.Giả thiết các yếu tố khác không thay đổi thì các doanh nghiệp có khả năng sinh lời sẽ vay nợ nhiều hơn,do có nhu cầu lớn hơn trong việc giữ thu nhập,tránh phải đóng thuế doanh nghiệp.Tuy nhiên,đầu tiên các doanh nghiệp sẽ sử dụng lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư sau đó mới phát hành trái phiếu và cổ phần mới.Trong trường hợp này,các doanh nghiệp có khả năng sinh lời sẽ có xu hướng vay nợ ít hơn. Trái ngược với các nghiên cứu dựa trên lý thuyết,hầu hết các nghiên cứu trên thực nghiệm đều chỉ ra rằng hệ số nợ tỷ lệ nghịch với khả năng sinh lời. Tài sản hữu hình Tài sản hữu hình tỷ lệ thuận với đòn bẩy.Nếu tỷ lệ tài sản hữu hình của 1 doanh nghiệp cao,những tài sản này sẽ được sử dụng như tài sản thế chấp,giảm dần rủi ro thiệt hại của người cho vay.Do đó,tỷ lệ tài sản hữu hình cao được dự đoán sẽ đi kèm với đòn bẩy tài chính cao.Ngoài ra,giá trị của tài sản hữu hình cũng cao hơn giá tri của tài sản vô hình trong trường hợp phá sản. Thuế Hầu hết tất cả các nhà nghiên cứu hiện nay đều tin rằng thuế đóng vai trò quan trọng đối với cơ cấu vốn của các doanh nghiệp.Các doanh nghiệp có thuế suất cao hơn sẽ sử dụng nhiều nợ để tăng phần tiết kiệm thuế. Quy mô doanh nghiệp 4 Có 1 mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa hệ số nợ và quy mô doanh nghiệp.Các doanh nghiệp lớn thường lựa chọn vay nợ dài hạn,trong khi các doanh nghiệp nhỏ thường lựa chọn vay nợ ngắn hạn.Các doanh nghiệp lớn có thể tận dụng lợi thế về quy mô trong phát hành nợ dài hạn.Do đó chi phí phát hành nợ và vốn cổ phần sẽ tỷ lệ nghịch với quy mô doanh nghiệp.Các doanh nghiệp lớn có ít vấn đề hơn về thông tin không tương xứng sẽ có xu hướng sử dụng nhiều vốn chủ sở hữu hơn nợ,và do đó hệ số nợ thấp hơn.Tuy nhiên,các doanh nghiệp lớn thường đa dạng hóa hơn và có các dòng tiền mặt ổn định hơn,khi các điều kiện khác không thay đổi,khả năng phá sản của các doanh nghiệp lớn cũng thấp hơn so với các doanh nghiệp nhỏ.Quy mô tỷ lệ thuận với hệ số nợ,hệ số nợ tăng theo giá trị của công ty. Các khoản tiết kiệm thuế không phải là nợ Khấu trừ thuế do khấu hao và đầu tư được gọi là các khoản tiết kiệm thuế không phải nợ.Khoản tiết kiệm thuế không phải nợ được dùng để thay thế cho phần tiết kiệm thuế do tài trợ bằng nợ,và khi các điều kiện khác không đổi thì 1 doanh nghiệp có các khoản tiết kiệm thuế không phải nợ được dự đoán là sẽ vay nợ ít hơn.Hệ số nợ tỷ lệ nghịch với các khoản tiết kiệm thuế không phải nợ. Cơ hội phát triển Cơ hội phát triển tỷ lệ ngịch với hệ số nợ.Nếu các nhà quản lý theo đuổi mục tiêu tăng trưởng,lợi ích của người quản lý và các cổ đông sẽ có xu hướng đồng nhất với các cơ hội đầu tư lớn cho doanh nghiệp.Nhưng đối với các doanh nghiệp ít có cơ hội đầu tư,nợ sẽ giúp giảm chi phí đại lý của những doanh nghiệp theo duổi chính sách quản lý thận trọng.Mặt khác,nợ cũng có chi phí đại lý riêng.Các doanh nghiệp có tỷ lệ tăng trưởng cao có thế sẽ không phát hành trái phiếu và hệ số nợ được dự đoán sẽ tỷ lệ nghịch với các cơ hội tăng trưởng.Tăng trưởng sẽ kéo theo việc tăng đầu tư bằng vốn cổ phần và hệ số nợ thấp. 5 Khả năng biến động Khả năng biến động hay rủi ro kinh doanh cho biết khả năng có thể xảy ra khủng hoảng tài chính và thường được tính là tỷ lệ nghịc với hệ số nợ.Sai số về giá trị tài sản của doanh nghiệp tăng thì rủi ro về vốn đối với toàn hệ thống sẽ giảm.Do đó rủi ro kinh doanh được tính toán tỷ lệ thuận với tỷ số chi phí vốn vay.Tất cả các nghiên cứu đều chỉ ra rằng rủi ro kinh doanh tỷ lệ nghịch với hệ số nợ. Cơ cấu sở hữu và nắm giữ cổ phần quản lý Học thuyết doanh nghiệp cho rằng cơ cấu vốn tối ưu giữa nợ và vốn cổ phần có thể được sử dụng để giảm thiểu tổng chi phí doanh nghiệp.Họ đưa ra 1 hình thức xung đột về lợi ích:xung đột giữa các cổ đông với người quản lý,và xung đột giữa cổ đông và chủ nợ 4. Tác động của cơ cấu vốn: Do mỗi nguồn vốn huy động có chi phí khác nhau nên với cùng một lượng vốn được huy động nhưng tỷ lệ của các nguồn vốn khác nhau thí chi phí trung bình của vốn cũng khác nhau. Cơ cấu vốn liên quan đến việc tính toán chi phí trung bình của vốn và nó được sử dụng trong quyết định dự toán vốn. Cơ cấu vốn ảnh hưởng đến rủi ro cố hữu trong cổ phiếu thông thường của công ty, do đó ảnh hưởng đến lãi suất yêu cầu và giá cả của nó. Chúng ta có thể xem xét ảnh hưởng của việc sử dụng các cơ cấu vốn khác nhau qua ví dụ: Giả sử một doanh nghiệp cần một lượng vốn hoạt động là 200000 đơn vị. Số vốn này có thể huy động theo cơ cấu 10% nợ, 90% vốn của chủ sở hữu, cũng có thể huy động 30% nợ và 70% vốn chủ sở hữu, nhưng cũng có thể huy động theo một cơ cấu khác là 50% nợ và 50% vốn của chủ sở hữu. Giả sử thêm 6 rằng chi phí cố định là 40000 đơn vị, chi phí biến đổi được tính bằng 60% doanh thu bán hàng, lãi suất đối với vốn vay là 12% và thuế thu nhập của doanh nghiệp là 40%.Chúng ta xem xét hai trường hợp nền kinh tế bình thường. I. Tính toán thu nhập trước lãi vay Nền kinh tế Nền kinh tế và thuế bình thường hưng thịnh Doanh thu 200.000 300.000 Chi phí cố định 40.000 40.000 Chi phí biến đổi (60% doanh thu) 120.000 180.000 Tổng chi phí( không kể lãi vay) 160.000 220.000 Thu nhập trước lãi vay và thuế 40.000 80.000 II. Khi sử dụng 10% nợ 7 Thu nhập trước lãi vay và thuế 40.000 80.000 Lãi vay 12%.(10%.200.000) 2.400 2.400 Thu nhập trước thuế 37.600 77.600 Thuế thu nhập (40%) 15.040 31.040 Thu nhập ròng 22.560 46.560 0,13 0,26 Thu nhập trước lãi vay và thuế 40.000 80.000 Lãi vay 12%.(10%.200.000) 12.000 12.000 Thu nhập trước thuế 28.000 68.000 Thuế thu nhập (40%) 11.200 27.200 Thu nhập ròng 16.800 40.800 0,17 0,41 Thu nhập trên vốn của chủ sở hữu (180.000 đơn vị) III. Khi sử dụng 50% nợ Thu nhập trên vốn của chủ sở hữu (100.000 đơn vị) Số liệu ở bảng trên cho thấy rằng nếu doanh thu là 200.000 đơn vị thì cơ cấu vốn với tỉ lệ nợ là 10% tạo ra kết quả thu nhập trên vốn của chủ sở hữu là 13%, nhưng nếu tỉ lệ nợ lừ 50% thì kết quả trên sẽ là 17%.Trong điều kiện doanh nghiệp có cơ hội mở rộng doanh thu bán hàng thì việc sử dụng nợ ở mức cao có tác dụng làm phóng đại hiệu quả sử dụng vốn của chủ sở hữu nhiều hơn (khi doanh thu là 8 300.000 đơn vị thì chỉ số đo lường hiệu quả này tăng từ 26% đến 41% tương ứng với tỉ lệ nợ là 10% và 50%). Ngoài tác dụng làm phóng đại thu nhập trên vốn của chủ sở hữu, khi sử dụng nợ trong việc tài trợ cho tài sản của doanh nghiệp thì chủ sở hữu chỉ cần với số lượng vốn hạn chế cũng vẫn nắm được quyền kiểm soát doanh nghiệp, mặt khác khi vốn của chủ sở hữu có tỉ trọng nhỏ thì rủi ro của doanh nghiệp chủ yếu do người cho vay sẽ lãnh chị. Nhưng đối với người cho vay khi họ thấy tỉ trọng nợ trong cơ cấu vốn doanh nghiệp cao (rủi ro sẽ lớn) họ lại yêu cầu một lãi suất cao hơn và doanh nghiệp cũng sẽ đến lúc không vay được nữa. Do vậy, trong thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp ban quản lý phải tìm ra một cơ cấu vốn phù hợp với tình hình cụ thể của nó, trên cơ sở đó để tiến hành huy động vốn. II/ Cơ cấu vốn tối ưu: Cơ cấu vốn mục tiêu của một doanh nghiệp là một tỉ lệ giữa nơ, vốn cổ phầ ưu tiên và cổ phần thường mà một công ti muốn duy trì và hướng tới trong quá trình quản lý và huy động vốn. Khi một thời điểm nào đó tỉ lệ nợ mà ở dưới mức mục tiêu đề ra thì doanh nghiệp sẽ mở rộng vốn bằng cách vay nợ, Ngược lại nếu tỉ lệ nợ mà lớn hơn mục tiêu thì việc mở rộng vốn lại được thực hiện bằng việc phát hành cổ phiếu. Cơ cấu vốn mục tiêu mà doanh nghiệp hướng đến chính là cơ cấu vốn tối ưu của doanh nghiệp. Cơ cấu vốn tối ưu là cơ cấu vốn làm cân bằng tối đa giữa rủi ro và lãi suất và bằng cách đó tối đa hóa giá cổ phiếu của công ty. Với cơ cấu vốn tối ưu thì chi phí bình quân gia quyền của vốn cũng thấp nhất. Như vậy quyết đinh về cơ cấu vốn 9 liên quan đến việc cân nhắc giữa rủi ro và lãi suất. Điều này được giải thích như sau: Khi sử dụng nhiều nợ sẽ làm rủi ro đối với lợi nhuận của doanh nghệp và do đó sẽ làm giảm giá cổ phiếu. Tuy nhiên tỉ lệ nợ cao hơn trong một phạm vi nhất định cũng thường dẫn đến lợi nhuận trên một cổ phiếu cao hơn hay là tỉ lệ cổ tức cổ phiếu cao hơn, do đó làm giá cả cổ phiếu tăng. Như vậy, việc sử dụng nợ một mặt làm giảm giá cổ phiếu và khi mà cân bằng được các nhân tố trên thì giá cả cổ phiếu là cao nhất III/ Đặc điểm cơ cấu vốn đối với các doanh nghiệp Việt Nam Các công ty cổ phần Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần (Công ty cổ phần phải có cổ phần phổ thông và có thể có cổ phần ưu đãi. Cổ phần ưu đãi gồm các loại như cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp (Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác; Trong thời hạn ba năm, kể từ ngày công ty 10 được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho cổ đông sáng lập khác nhưng chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông sau 3 năm mọi hạn chế đối với cổ đông sáng lập bị bãi bỏ). Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn. Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Ưu điểm: - Chế độ trách nhiệm của công ty cổ phần là trách nhiệm hữu hạn, các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn góp nên mức độ rủi do của các cổ đông không cao; - Khả năng hoạt động của công ty cổ phần rất rộng, trong hầu hết các lịch vực, ngành nghề; - Cơ cấu vốn của công ty cổ phần hết sức linh hoạt tạo điều kiện nhiều người cùng góp vốn vào công ty; - Khả năng huy động vốn của công ty cổ phần rất cao thông qua việc phát hành cổ phiếu ra công chúng, đây là đặc điểm riêng có của công ty cổ phần; - Việc chuyển nhượng vốn trong công ty cổ phần là tương đối dễ dàng, do vậy phạm vi đối tượng được tham gia công ty cổ phần là rất rộng, ngay cả các cán bộ công chức cũng có quyền mua cổ phiếu của công ty cổ phần. 11 Nhược điểm: Bên cạnh những lợi thế nêu trên, loại hình công ty cổ phần cũng có những hạn chế nhất định như. - Việc quản lý và điều hành công ty cổ phần rất phức tạp do số lượng các cổ đông có thể rất lớn, có nhiều người không hề quen biết nhau và thậm chí có thể có sự phân hóa thành các nhóm cổ động đối kháng nhau về lợi ích; - Việc thành lập và quản lý công ty cổ phần cũng phức tạp hơn các loại hình công ty khác do bị ràng buộc chặt chẽ bởi các quy định của pháp luật, đặc biệt về chế độ tài chính, kế toán. 2.Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên: - Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. - Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyền phát hành cổ phần. - Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Ưu điểm 12 - Do có tư cách pháp nhân nên các thành viên công ty chỉ trách nhiệm về các hoạt động của công ty trong phạm vi số vốn góp vào công ty nên ít gây rủi ro cho người góp vốn; - Số lượng thành viên công ty trách nhiệm không nhiều và các thành viên thường là người quen biết, tin cậy nhau, nên việc quản lý, điều hành công ty không quá phức tạp; - Chế độ chuyển nhượng vốn được điều chỉnh chặt chẽ nên nhà đầu tư dễ dàng kiểm soát được việc thay đổi các thành viên, hạn chế sự thâm nhập của người lạ vào công ty. Nhược điểm: - Do chế độ trách nhiệm hữu hạn nên uy tín của công ty trước đối tác, bạn hàng cũng phần nào bị ảnh hưởng; - Công ty trách nhiệm hữu hạn chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật hơn là doanh nghiệp tư nhân hay công ty hợp danh; - Việc huy động vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn bị hạn chế do không có quyền phát hành cổ phiếu. 3. Công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên: - Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá năm mươi; 13 - Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp; - Phần vốn góp của thành viên được chuyển nhượng cho người khác (Phần vốn góp của thành viên được phép chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần cho các thành viên còn lại trong công ty hoặc cho người không phải là thành viên công ty nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc không mua hết. Thành viên công ty cũng có quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của mình nếu không đồng ý với quyết định của Hội đồng thành viên về những vấn đề các vấn đề như sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty liên quan đến quyền và nghĩa vụ của thành viên, quyền và nhiệm vụ của Hội đồng thành viên; tổ chức lại công ty; và các trường hợp khác quy định tại Điều lệ công ty). - Công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phần. - Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. 3.Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên: - Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. - Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyền phát hành cổ phần. 14 - Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Ưu điểm - Do có tư cách pháp nhân nên các thành viên công ty chỉ trách nhiệm về các hoạt động của công ty trong phạm vi số vốn góp vào công ty nên ít gây rủi ro cho người góp vốn; - Số lượng thành viên công ty trách nhiệm không nhiều và các thành viên thường là người quen biết, tin cậy nhau, nên việc quản lý, điều hành công ty không quá phức tạp; - Chế độ chuyển nhượng vốn được điều chỉnh chặt chẽ nên nhà đầu tư dễ dàng kiểm soát được việc thay đổi các thành viên, hạn chế sự thâm nhập của người lạ vào công ty. Nhược điểm: - Do chế độ trách nhiệm hữu hạn nên uy tín của công ty trước đối tác, bạn hàng cũng phần nào bị ảnh hưởng; - Công ty trách nhiệm hữu hạn chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật hơn là doanh nghiệp tư nhân hay công ty hợp danh; - Việc huy động vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn bị hạn chế do không có quyền phát hành cổ phiếu. 4. Công ty hợp danh: 15 - Phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (gọi là thành viên hợp danh); ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn (thành viên góp vốn không được tham gia quản lý công ty và hoạt động kinh doanh nhân danh công ty); - Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty; - Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. - Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. - Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Ưu điểm: Ưu điểm của công ty hợp danh là kết hợp được uy tín cá nhân của nhiều người. Do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn của các thành viên hợp danh mà công ty hợp danh dễ dàng tạo được sự tin cậy của các bạn hàng, đối tác kinh doanh. Việc điều hành quản lý công ty không quá phức tạp do số lượng các thành viên ít và là những người có uy tín, tuyệt đối tin tưởng nhau. Nhược điểm: Hạn chế của công ty hợp danh là do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn nên mức độ rủi ro của các thành viên hợp danh là rất cao.Loại hình công ty hợp danh được quy định trong Luật doanh nghiệp năm 1999 và 2005 nhưng trên thực tế loại hình doanh nghiệp này chưa phổ biến. 16 5. Doanh nghiệp tư nhân: - Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. - Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. - Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Ưu điểm: Do là chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp nên doanh nghiệp tư nhân hoàn toàn chủ động trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp. Chế độ trách nhiệm vô hạn của chủ doanh nghiệp tư nhân tạo sự tin tưởng cho đối tác, khách hàng và giúp cho doanh nghiệp ít chịu sự ràng buộc chặt chẽ bởi pháp luật như các loại hình doanh nghiệp khác. Nhược điểm: Do không có tư cách pháp nhân nên mức độ rủi ro của chủ doanh tư nhân cao, chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của doanh nghiệp và của chủ doanh nghiệp chứ không giới hạn số vốn mà chủ doanh nghiệp đã đầu tư vào doanh nghiệp. 6. Hợp tác xã. - Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật hợp tác xã để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham 17 gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. - Hợp tác xã là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật. Nhưng ưu điểm, nhược điểm của Hợp tác xã. Ưu điểm - Có thể thu hút được đông đảo người lao động tham gia; - Việc quản lý hợp tác xã thực hiện trên nguyên tắc dân chủ và bình đẳng nên mọi xã viên đều bình đẳng trong việc tham gia quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động của hợp tác xã không phân biệt nhiều vốn hay ít vốn; - Các xã viên tham gia hợp tác xã chỉ chịu trách nhiệm trước các hoạt động của hợp tác xã trong phạm vi vốn góp vào hợp tác xã. Nhược điểm: Hoạt động kinh doanh theo hình thức hợp tác xã cũng có những hạn chế nhất định như. - Không khuyến khích được người nhiều vốn; - Nhiều kinh nghiệm quản lý, kinh doanh tham gia hợp tác xã do nguyên tắc chia lợi nhuận kết hợp lợi ích của xã viên với sự phát triển của hợp tác xã; - Việc quản lý hợp tác xã phức tạp do số lượng xã viên đông; 18 - Sở hữu mong muốn của các xã viên đối tài sản của mình làm hạn chế các quyết định của Hợp tác xã. Đặc điểm nguồn vốn của doanh nghiệp ở Việt Nam Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam chiếm tới 97% trong hơn 450.000 doanh nghiệp, nhưng lại là đối tượng gặp khó khăn về vốn nhất. Nguyên nhân, theo ông Cao Sĩ Kiêm, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (Vinasme), là “các doanh nghiệp vừa và nhỏ ra đời với vốn điều lệ quá ít”. Theo số liệu của Vinasme, các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam có vốn dưới 1 tỉ đồng chiếm tới 41% trong khi doanh nghiệp có vốn hơn 10 tỉ đồng chỉ chiếm 13%. Vì thế, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu phụ thuộc vào vốn vay. Trong khi đó, theo Bộ Kế hoạch và Đầu Tư, chỉ có khoảng 32% doanh nghiệp vừa và nhỏ có khả năng tiếp cận được vốn. Vì thế, trong thời gian qua, thị trường đã chứng kiến không ít doanh nghiệp vừa và nhỏ phải tạm dừng các dự án hoặc phải thu hẹp hoạt động sản xuất kinh doanh vì không vay được vốn ngân hàng. Tuy nhiên, theo Lê Thẩm Dương, Trưởng khoa Quản trị Kinh Doanh, Đại học Ngân hàng TP.HCM, ngân hàng không phải là kênh huy động vốn duy nhất đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ. Bên cạnh đó, còn có những nguồn vốn khác như vốn trả chậm, vốn vay liên doanh liên kết. Và điều quan trọng là dù muốn gia tăng vốn theo cách thức nào, điều đầu tiên là doanh nghiệp phải xây dựng cho mình chiến lược hợp lý. Chỉ khi xác định được mình cần nguồn vốn nào (vốn ngắn hạn, dài hạn hay vốn lưu động), sử dụng vốn ra sao, doanh nghiệp mới có thể đưa ra cách 19 tiếp cận vốn hiệu quả. Chiến lược về nhu cầu vốn Khi quyết định chọn nguồn vốn nào, doanh nghiệp cần xem xét nhu cầu lúc đó của mình để tối ưu hóa chi phí vốn. Dùng vốn tự có: Đây là nguồn vốn của doanh nghiệp do các chủ sở hữu đóng góp. Vốn tự có cũng có thể được tạo ra dưới dạng lợi nhuận giữ lại. Nếu sử dụng vốn tự có, doanh nghiệp sẽ luôn ở thế chủ động và tránh được các rủi ro về tỉ giá (nếu vay ngoại tệ) và lãi vay. Tuy nhiên, doanh nghiệp không nên chỉ dùng vốn tự có mà cần đa dạng hóa kênh huy động vốn. Dùng vốn vay: Một doanh nghiệp tận dụng được nguồn vốn vay tức là đã tối ưu hóa được chi phí vốn. Nguồn vốn này có thể giúp doanh nghiệp đáp ứng các nhu cầu vốn trong ngắn hạn và cả dài hạn. Tuy nhiên, khi sử dụng vốn vay, doanh nghiệp thường bị động, lệ thuộc vào tình hình bên ngoài như điều kiện vay có thuận lợi hay không. Điều quan trọng hơn là nếu không chú ý đến cơ cấu vốn và sử dụng vốn không hợp lý, vốn vay sẽ trở thành gánh nặng đối với doanh nghiệp (như lãi vay cao, nguy cơ vỡ nợ). Chiến lược tài chính kết hợp: Đây là chiến lược kết hợp sử dụng cả vốn vay lẫn vốn tự có. Chiến lược này, theo ông Dương, Đại học Ngân hàng TP.HCM, là “phù hợp với doanh nghiệp Việt Nam”. Vấn đề là doanh nghiệp sẽ xem xét khi nào cần đi vay và khi nào nên sử dụng vốn tự có. Tìm vốn luôn là bài toán khó, đặc biệt đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhưng 20
- Xem thêm -