Chất lượng tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng thương mại

  • Số trang: 121 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 14 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

GVHD: PGS.TS.NguyÔn ThÞ Hêng Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Trêng ®¹i häc kinh tÕ quèc d©n khoa kinh tÕ vµ kinh doanh quèc tÕ Chuyªn ngµnh qu¶n trÞ kinh doanh quèc tÕ  Chuyªn ®Ò thùc tËp Tèt nghiÖp §Ò tµi: th©m nhËp thÞ trêng may mÆc thÕ giíi cña c«ng ty cæ phÇn may ®øc giang : PGS.TS. nguyÔn thÞ hêng : nguyÔn thÞ ph¬ng th¶o Gi¸o viªn híng dÉn Sinh viªn thùc hiÖn Líp Kho¸ HÖ : KDQT A : 46 : chÝnh quy Hµ Néi - 2008 LỜI MỞ ĐẦU SV: Nguyễn Thị Phương Thảo 0 Lớp Kinh Doanh Quốc Tế 46A GVHD: PGS.TS.NguyÔn ThÞ Hêng Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Tính cấp thiết của đề tài Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu hướng tất yếu và khách quan ảnh hưởng trực tiếp đến mọi quốc gia trên thế giới. Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới (WTO) chứng tỏ sự nỗ lực, cố gắng không ngừng của đất nước ta trong hơn 20 năm đổi mới. Nó cho thấy đất nước Việt Nam đang dần có vị thế trên trường quốc tế, thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và các nước trên thế giới ngày càng phát triển hơn. Sự kiện ngày 7/11/2006 đã mang lại cho đất nước ta nhiều cơ hội phát triển trong tương lai: tiếp cận vốn, kinh nghiệm quản lý dễ hơn, được các nước phát triển dành cho nhiều ưu đãi hơn, thị trường được mở rộng hơn. Tuy nhiên với một môi trường quốc tế rộng lớn phức tạp nhiều biến động thì các nhà kinh doanh cũng gặp không ít những khó khăn cần phải khắc phục Thị trường là một vấn đề quan trọng sống còn đối với mỗi doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp trong ngành dệt may nói riêng. Có thị trường doanh nghiệp mới có thể tiêu thụ hàng hóa mới có thể có lợi nhuận để tiếp tục thực hiện sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy các doanh nghiệp luôn cố tìm cho mình những thị trường phù hợp với sản phẩm, khả năng của công ty, thâm nhập và giữ vững các thị trường đó cho mình. Mặt hàng dệt may vốn là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, đặc biệt năm 2007 lần đầu tiên dệt may đã vượt qua dầu thô trở thành mặt hàng xuất khẩu lớn nhất cả nước. Điều đó cho thấy một tiềm năng phát triển cho ngành dệt may nói chung và mặt hàng may mặc nói riêng. Các doanh nghiệp may mặc trong nước đang tìm cách vươn ra chiếm lĩnh thị trường may mặc thế giới. Công ty cổ phần may Đức Giang vốn là một trong những công ty may hàng đầu của cả nước đã đóng góp một lượng không nhỏ vào kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Tuy nhiên hoạt động thâm nhập thị trường thế giới của công ty gặp không ít những khó khăn làm ảnh hưởng đến việc hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty. Do đó sau một thời gian thực tập tại công ty em quyết định lựa chọn đề tài “Thâm nhập SV: Nguyễn Thị Phương Thảo 1 Lớp Kinh Doanh Quốc Tế 46A GVHD: PGS.TS.NguyÔn ThÞ Hêng Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp thị trường may mặc thế giới của công ty cổ phần may Đức Giang” làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp. Mục đích nghiên cứu đề tài Từ việc nghiên cứu hoạt động thâm nhập thị trường nước ngoài của công ty cổ phần may Đức Giang, đánh giá ưu nhược điểm, nguyên nhân của những nhược điểm đó mà đề xuất các giải pháp giúp công ty thâm nhập thành công vào thị trường may mặc thế giới đồng thời rút ra bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp Việt Nam trong hoạt động thâm nhập thị trường quốc tế. Nhiệm vụ nghiên cứu: - Làm rõ cơ sở lý luận về hoạt động thâm nhập thị trường quốc tế của doanh nghiệp - Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động thâm nhập thị trường quốc tế của công ty cổ phần may Đức Giang trong thời gian qua - Đề xuất một số giải pháp giúp công ty thâm nhập thành công vào một số thị trường may mặc mới trên thế giới - Rút ra bài học kinh nghiệm trong hoạt động thâm nhập thị trường may mặc thế giới cho các doanh nghiệp Việt Nam Đối tượng nghiên cứu: Chuyên đề thực tập tốt nghiệp tập trung vào nghiên cứu hoạt động thâm nhập thị trường may mặc thế giới của công ty cổ phần may Đức Giang Phạm vi nghiên cứu: - Về không gian nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu các hoạt động thâm nhập của công ty ở thị trường Nhật, Châu Âu, Mỹ - Về thời gian nghiên cứu: Từ năm 1989 đến 2007 và các năm tiếp theo Kết cấu của chuyên đề thực tập tốt nghiệp: Nội dung của chuyên đề thực tập tốt nghiệp gồm 3 phần: SV: Nguyễn Thị Phương Thảo 2 Lớp Kinh Doanh Quốc Tế 46A GVHD: PGS.TS.NguyÔn ThÞ Hêng Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Chương I: Cơ sở lý luận chung về thâm nhập thị trường và sự cần thiết phải thâm nhập thị trường may mặc thế giới của các doanh nghiệp may mặc Việt Nam Chương II: Thực trạng thâm nhập thị trường may mặc thế giới của công ty cổ phần may Đức Giang Chương III: Bài học kinh nghiệm đối với các doanh nghiệp Việt Nam và giải pháp thâm nhập thành công vào thị trường may mặc thế giới của công ty cổ phần may Đức Giang SV: Nguyễn Thị Phương Thảo 3 Lớp Kinh Doanh Quốc Tế 46A GVHD: PGS.TS.NguyÔn ThÞ Hêng Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG MAY MẶC THẾ GIỚI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP MAY MẶC VIỆT NAM 1.1.KHÁI LUẬN CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG 1.1.1.Khái niệm thị trường Cùng với sự phát triển của thị trường, người ta đã đưa ra rất nhiều quan điểm khác nhau về thị trường, tùy thuộc vào góc độ nhìn nhận, đánh giá, giác độ nghiên cứu của mỗi người. Theo C.Mác thì sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm được sản xuất ra nhằm để trao đổi hoặc bán trên thị trường. Khái niệm thị trường hoàn toàn không tách rời với kiểu tổ chức kinh tế sản xuất hàng hóa, chỉ khi có sự phân công lao động xã hội, có sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất thì mới có sự mua bán hàng hóa và hình thành nên thị trường. Theo kinh tế học vi mô thì thị trường là sự kết hợp giữa cung và cầu, sự tương tác giữa cung và cầu hình thành giá và lượng cân bằng. Từ khái niệm này ta thấy muốn hình thành thị trường thì cần phải có 3 điều kiện: đối tượng trao đổi là sản phẩm hàng hóa, dịch vụ; đối tượng tham gia trao đổi là người mua và người bán; sự thỏa thuận giữa người bán và người mua. Số lượng người mua và người bán nhiều hay ít phản ánh qui mô của thị trường lớn hay nhỏ. Theo kinh tế học vĩ mô thì thị trường là tổng hợp các quan hệ kinh tế hình thành trong hoạt động mua và bán. Hoạt động mua bán diễn ra đồng thời các quan hệ kinh tế nảy sinh, đó là quan hệ về cung cầu, giá cả, số lượng hàng hóa. SV: Nguyễn Thị Phương Thảo 4 Lớp Kinh Doanh Quốc Tế 46A GVHD: PGS.TS.NguyÔn ThÞ Hêng Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Sự dịch chuyển của cung cầu sẽ làm cho giá cả và số lượng hàng hóa thay đổi theo. Theo Marketing quốc tế, đứng trên giác độ doanh nghiệp thì “Thị trường là tập hợp những khách hàng tiềm năng của doanh nghiệp đó, tức là khách hàng đang mua hoặc có thể sẽ mua sản phẩm của doanh nghiệp đó”. Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về thị trường nhưng tựu chung lại thì thị trường là một phạm trù của kinh tế hàng hóa, nó ra đời và gắn liền với sản xuất hàng hóa. Thị trường luôn diễn ra các hoạt động mua bán, trao đổi và các quan hệ tiền tệ và thông qua thị trường các doanh nghiệp phải tìm cách trả lời được các câu hỏi: Doanh nghiệp sẽ sản xuất mặt hàng nào? Ai là khách hàng của doanh nghiệp? Và doanh nghiệp sẽ tiến hành sản xuất như thế nào? 1.1.2.Vai trò của thị trường Thị trường có một vai trò rất quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp, nó là môi trường cho các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, nó còn vừa là điều kiện vừa là động lực của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thị trường là nơi doanh nghiệp đưa các sản phẩm dịch vụ của mình ra tiêu thụ, bởi vậy nó là cái môi trường kinh doanh của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp phải nhanh chóng làm quen và nắm bắt được môi trường kinh doanh này. Không những thế, khi doanh nghiệp muốn tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp phải tiến hành mua các yếu tố đầu vào cho mình trên thị trường bởi vậy nó là điều kiện cho quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp luôn cố gắng để bán được càng nhiều sản phẩm trên thị trường các tốt, sản phẩm càng được thị trường chấp nhận có nghĩa là doanh nghiệp đó đang hoạt động có hiệu quả, chính thị trường là động lực cho doanh nghiệp phát triển hơn nữa, là vấn đề sống còn đối với mỗi doanh nghiệp. Mất thị trường có nghĩa là doanh nghiệp phá sản. SV: Nguyễn Thị Phương Thảo 5 Lớp Kinh Doanh Quốc Tế 46A GVHD: PGS.TS.NguyÔn ThÞ Hêng Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 1.1.3.Phân loại thị trường Có rất nhiều tiêu chí để phân loại thị trường, trong thực tế người ta thường phân chia thị trường theo các tiêu chí sau: 1.1.3.1.Căn cứ vào vị trí địa lý: -Thị trường Châu lục: Mỗi một châu lục là một thị trường rộng lớn đối với mỗi doanh nghiệp, nó có thể là thị trường Châu Á, thị trường Châu Âu, thị trường Châu Phi, Châu Mỹ, châu Úc. - Thị trường khu vực: Các quốc gia trong một khu vực địa lý hợp tác với nhau nhằm giảm bớt hay xóa bỏ các trở ngại các trở ngại đối với dòng vận động của hàng hóa, dịch vụ, lao động và vốn giữa các quốc gia đó hình thành nên các liên kết kinh tế khu vực và từ đó hình thành nên các thị trường khu vực như thị trường EU, Đông Nam Á, Bắc Mỹ - Thị trường nước và vùng lãnh thổ Mỗi một quốc gia hay một vùng lãnh thổ cũng là một thị trường đối với doanh nghiệp như thị trường Trung Quốc, thị trường Hoa Kỳ, thị trường Hồng Kông, Đài Loan… 1.1.3.2.Căn cứ vào lịch sử quan hệ ngoại thương - Thị trường truyền thống Đây là thị trường mà doanh nghiệp có quan hệ từ trước đây rất lâu đã có nhiều hiểu biết cũng như kinh nghiệm kinh doanh trên những thị trường này. - Thị trường hiện tại Đây là những thị trường mà doanh nghiệp tập trung những nỗ lực của mình vào thị trường này nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh. Thông thường đây là thị trường tiêu thụ chủ yếu những sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra SV: Nguyễn Thị Phương Thảo 6 Lớp Kinh Doanh Quốc Tế 46A GVHD: PGS.TS.NguyÔn ThÞ Hêng Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp - Thị trường mới Đây là những thị trường mà công ty mới tiến hành khai thác, sản phẩm tiêu thụ với số lượng nhỏ tương lai sẽ trở thành thị trường hiện tại của công ty. - Thị trường tiềm năng Đây là thị trường mà công ty chưa tiến hành khai thác hoặc đang chuẩn bị khai thác. Doanh nghiệp cần phải quan tâm đến thị trường này nhanh chóng biến nó thành thị trường của mình nếu không sẽ bị đối thủ giành giật mất. 1.1.3.3.Căn cứ vào phương thức xuất khẩu - Thị trường xuất khẩu trực tiếp Là thị trường mà tại đây doanh nghiệp sẽ thông qua dịch vụ của các tổ chức độc lập đặt tại nước xuất khẩu để tiến hành xuất khẩu sản phẩm của mình ra nước ngoài. - Thị trường xuất khẩu gián tiếp Là thị trường mà tại đây nhà sản xuất giao dịch trực tiếp với khách hàng nước ngoài ở khu vực nước ngoài thông qua tổ chức của mình. 1.1.3.4.Căn cứ vào thỏa thuận thương mại - Thị trường xuất khẩu theo hạn ngạch Là những thị trường của các quốc gia muốn bảo hộ cho các nhà sản xuất trong nước nên đưa ra hạn ngạch cho mỗi mặt hàng của các quốc gia khác khi muốn xuất khẩu vào thị trường này. Mặt hàng này lại là mặt hàng mà doanh nghiệp sản xuất. - Thị trường xuất khẩu không theo hạn ngạch Là thị trường của các quốc gia không áp hạn ngạch đối với mặt hàng mà doanh nghiệp sản xuất. Doanh nghiệp có thể xuất khẩu bao nhiêu tùy thuộc vào khả năng của mình cũng như sức cạnh tranh của sản phẩm. SV: Nguyễn Thị Phương Thảo 7 Lớp Kinh Doanh Quốc Tế 46A GVHD: PGS.TS.NguyÔn ThÞ Hêng Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 1.1.3.5.Căn cứ vào mức độ quan tâm và tính ưu tiên - Thị trường xuất khẩu trọng điểm Doanh nghiệp tập trung mọi nguồn lực của mình vào phục vụ cho thị trường này và mọi yêu cầu từ thị trường này sẽ được doanh nghiệp ưu tiên. - Thị trường xuất khẩu phụ Là thị trường mà doanh nghiệp không mấy chú trọng đến, hoạt động xuất khẩu sang thị trường này còn ít. 1.1.4.Chức năng của thị trường Cơ chế thị trường là “bàn tay vô hình” điều khiển nền kinh tế, trong đó lợi ích của mỗi cá nhân chỉ đạt được thông qua lợi ích của toàn xã hội. Các doanh nghiệp phải thông qua thị trường để giải quyết 3 vấn đề của mình: sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào? Qua đó, thị trường thực hiện đầy đủ các chức năng của nó trong quá trình vận động của sản phẩm từ sản xuất đến tiêu dùng. 1.1.4.1. Chức năng thừa nhận Trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa, các sản phẩm sản xuất ra được đưa ra bán trên thị trường. Thông qua thị trường, doanh nghiệp sẽ biết sản phẩm của mình có được người tiêu dùng đón nhận hay không. Nếu sản phẩm của doanh nghiệp bán được tức là đã được thị trường chấp nhận và ngược lại nếu sản phẩm của doanh nghiệp không bán được nghĩa là nó không được thị trường chấp nhận. Chính nhờ cái chức năng này của thị trường mà doanh nghiệp sẽ biết mình nên sản xuất loại hàng hóa dịch vụ nào. 1.1.4.2.Chức năng thực hiện Gắn liền với chức năng thừa nhận là chức năng thực hiện của thị trường. Trên thị trường, hoạt động mua bán, trao đổi là hoạt động bao trùm và thực hiện hoạt động này là cơ sở cho việc thực hiện các hoạt động khác diễn ra trên thị trường. Thị trường thực hiện hành vi mua bán hàng hóa và thông qua đó thực SV: Nguyễn Thị Phương Thảo 8 Lớp Kinh Doanh Quốc Tế 46A GVHD: PGS.TS.NguyÔn ThÞ Hêng Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp hiện quy luật giá trị, trao đổi giá trị, điều chỉnh tổng cung tổng cầu của thị trường, điều chỉnh cách thức cạnh tranh của các chủ thể tham gia vào thị trường… 1.1.4.3.Điều tiết và kích thích cung cầu Căn cứ vào nhu cầu của thị trường mà các doanh nghiệp lập ra kế hoạch sản xuất cho mình làm sao để đạt lợi nhuận tối đa. Chính vì vậy, thị trường là mục tiêu cho các doanh nghiệp, kích thích các doanh nghiệp tích cực sản xuất khi nhu cầu của thị trường lớn và người tiêu dùng lại có nhu cầu nhiều hơn nữa khi hàng hóa ngày cang đa dạng phong phú. Ngược lại, thị trường điều tiết hoạt động sản xuất của doanh nghiệp cho phù hợp với nhu cầu của thị trường, một khi thị trường bão hòa thì các doanh nghiệp phải có hướng đi khác cho mình nếu không doanh nghiệp sẽ thất bại và có thể dẫn đến khủng hoảng thị trường. 1.1.4.4.Cung cấp thông tin cho các chủ thể nền kinh tế Trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa, thông tin cực kì quan trọng bởi vậy các doanh nghiệp nếu như trước đây không mấy quan tâm thì đã thành lập hẳn một bộ phận để thu thập, xử lý thông tin về văn hóa, chính trị, luật pháp, dung lượng thị trường…. Thông tin phải chính xác thì các quyết định của doanh nghiệp mới chính xác. Các thông tin này được doanh nghiệp lấy từ thị trường và từ đó đưa ra các quyết định về sản xuất, kinh doanh cho phù hợp với thị trường. Mỗi một hoạt động kinh tế diễn ra trên thị trường đều thể hiện bốn chức năng của thị trường, chúng có quan hệ mật thiết với nhau. Trong đó khi chức năng thừa nhận của thị trường được thực hiện thì các chức năng khác mới được thực hiện. Do bản chất vốn có của thị trường, thị trường có bốn chức năng quan trọng như đã trình bày ở trên. 1.1.5.Các qui luật kinh tế hoạt động trên thị trường Qui luật là những mối liên hệ tất nhiên, phổ biến, bản chất của sự vật và hiện tượng trong những điều kiện nhất định. Các qui luật tồn tại SV: Nguyễn Thị Phương Thảo 9 Lớp Kinh Doanh Quốc Tế 46A GVHD: PGS.TS.NguyÔn ThÞ Hêng Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp khách quan, không phụ thuộc vào con người, chúng đan xen vào nhau tạo thành một hệ thống thống nhất. Qui luật cung cầu, qui luật giá trị, qui luật cạnh tranh là ba quy luật kinh tế phổ biến của thị trường hoạt động đan xen nhau mà khi tham gia vào thị trường các chủ thể cần phải nhận thức được. 1.1.5.1.Qui luật giá trị Qui luật này yêu cầu sản phẩm và trao đổi hàng hóa được tiến hành phù hợp với hao phí lao động xã hội cần thiết tạo ra hàng hóa. Qui luật giá trị được thể hiện qua giá cả của thị trường làm cho những người bán hàng hóa thu hẹp bớt qui mô sản xuất loại hàng hóa có giá cả thấp hơn giá trị và mở rộng qui mô sản xuất đối với những loại hàng hóa có giá cả cao hơn giá trị. 1.1.5.2.Qui luật cung cầu Đây là một qui luật kinh tế của nền kinh tế hàng hóa, nó được xây dựng dựa vào lượng cung, lượng cầu và giá cả của thị trường. Cung là một đại lượng tỉ lệ thuận với giá, còn cầu là một đại lượng tỉ lệ nghịch với giá. Khi cung lớn hơn cầu tức là giá cả nhỏ hơn giá trị và ngược lại khi cầu lớn hơn cung thì giá cả lớn hơn giá trị. Lúc giá trị bằng giá cả của hàng hóa là lúc cung bằng cầu, thị trường cân bằng. 1.1.5.3.Qui luật cạnh tranh Trong nền kinh tế thị trường, các chủ thể tham gia cạnh tranh phải dùng mọi biện pháp để độc chiếm hoặc chiếm hữu ưu thế thị trường về sản phẩm cạnh tranh, nhờ đó thu được lợi nhuận kinh tế cao nhất trong phạm vi cho phép. Cạnh tranh không chỉ giữa những người bán với nhau, cạnh tranh còn diễn ra giữa những người bán với người mua, giữa những người mua với nhau. Đó chính là nội dung của quy luật cạnh tranh, nó sẽ giúp sắp xếp lại trật tự của thị trường, hàng loạt những sản phẩm mới ra đời, sản xuất của các doanh nghiệp có ưu thế trên thị trường phát triển bên cạnh việc phá sản của các doanh nghiệp làm ăn thua kém… Bên cạnh những lợi ích mà quy luật mang lại, đôi khi nó cũng có SV: Nguyễn Thị Phương Thảo 10 Lớp Kinh Doanh Quốc Tế 46A GVHD: PGS.TS.NguyÔn ThÞ Hêng Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp thể đưa các yếu tố xấu, phi đạo đức vào sản xuất và xã hội mà các nhà làm chính sách cần phải quan tâm và có biện pháp can thiệp kịp thời. Do có sự hoạt động của 3 qui luật kinh tế bao trùm lên toàn bộ thị trường cho nên mỗi một nhà sản xuất kinh doanh đều phải nhận biết và vận dụng qui luật vào trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình. 1.2.KHÁI LUẬN CHUNG VỀ THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG 1.2.1.Khái niệm thâm nhập thị trường Xu hướng quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ lôi cuốn tất cả các quốc gia. Điều đó cũng có nghĩa là mức độ cạnh tranh quốc tế giữa các doanh nghiệp cao hơn. Bên cạnh việc nhận thức về sự ảnh hưởng của các đối thủ cạnh tranh quốc tế và thiết lập các giao dịch với các doanh nghiệp nước ngoài ở thị trường nội địa, các doanh nghiệp còn có thể tiến hành giao dịch với thị trường nước ngoài. Thâm nhập thị trường thế giới là một hoạt động không thể thiếu đối với các doanh nghiệp trong quá trình quốc tế hóa hiện nay. Thâm nhập thị trường được hiểu là quá trình doanh nghiệp tìm mọi cách đưa chuyển giao các nguồn lực của mình ra thị trường thế giới để khai thác các cơ hội kinh doanh trên thị trường thế giới. Các nguồn lực đó có thể là sản phẩm, công nghệ, kỹ năng quản lý… Bản chất của thâm nhập thị trường chính là việc doanh nghiệp mở rộng thị trường ra một hoặc nhiều thị trường bên ngoài biên giới quốc gia của doanh nghiệp đó. Trong quá trình thâm nhập thị trường thế giới, doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với những môi trường khác nhau về kinh tế, chính trị cũng như văn hóa. Sự khác nhau này đôi khi rất lớn nó ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tại thị trường nước ngoài. SV: Nguyễn Thị Phương Thảo 11 Lớp Kinh Doanh Quốc Tế 46A GVHD: PGS.TS.NguyÔn ThÞ Hêng Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 1.2.2.Các hình thức thâm nhâm nhập thị trường Có nhiều hình thức để doanh nghiệp thâm nhập vào thị trường thế giới, tùy vào từng thị trường, từng doanh nghiệp, từng thời điểm mà doanh nghiệp đó quyết định thâm nhập vào mỗi thị trường bằng hình thức nào. 1.2.2.1.Thâm nhập thị trường thông qua xuất khẩu 1.2.2.1.1.Khái niệm Xuất khẩu là hình thức thâm nhập thị trường thế giới đơn giản nhất trong tất cả các hình thức thâm. Xuất khẩu được hiểu là hoạt động đưa các hàng hóa và dịch vụ từ quốc gia này sản quốc gia khác. Dưới giác độ kinh doanh, xuất khẩu là việc bán hàng hóa và dịch vụ ra thị trường nước ngoài. Hoạt động xuất khẩu diễn ra dưới hai hình thức là xuất khẩu trực tiếp và xuất khẩu gián tiếp Xuất khẩu trực tiếp là hoạt động bán hàng trực tiếp của một công ty cho các khách hàng của mình ở thị trường nước ngoài thông qua đại diện bán hàng hoặc đại lý phân phối. Các công ty có kinh nghiệm quốc tế thường trực tiếp bán các sản phẩm của mình ra thị trường nước ngoài. ` Xuất khẩu gián tiếp là hình thức bán hàng hóa và dịch vụ của công ty ra nước ngoài thông qua người thứ ba là các trung gian mua bán, đó có thể là đại lý, công ty quản lý xuất khẩu, công ty kinh doanh xuất khẩu hoặc các đại lý vận tải. Các trung gian mua bán này không chiếm hữu hàng hóa của công ty nhưng trợ giúp công ty xuất khẩu hàng hóa sang thị trường nước ngoài. 1.2.2.1.2.Ưu điểm Thâm nhập thị trường thế giới thông qua hình thức xuất khẩu có một số ưu điểm nhất định như sau: - Giúp công ty tăng doanh số bán hàng, tăng lợi nhuận cho công ty và tăng thu ngoại tệ cho đất nước. - Thông qua hoạt động xuất khẩu, công ty tiếp thu được kinh doanh kinh doanh quốc tế SV: Nguyễn Thị Phương Thảo 12 Lớp Kinh Doanh Quốc Tế 46A GVHD: PGS.TS.NguyÔn ThÞ Hêng Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp - Việc xuất khẩu giúp công ty tận dụng được những năng lực dư thừa khi mà không tiêu thụ hết trên thị trường trong nước - Hình thức thâm nhập thị trường thế giới này ít rủi ro, không tốn nhiều chi phí cho doanh nghiệp, phù hợp với những doanh nghiệp mới thâm nhập vào thị trường thế giới. 1.2.2.1.3.Nhược điểm Bên cạnh những ưu điểm, thì hình thức xuất khẩu cũng có những nhược điểm của nó mà các doanh nghiệp muốn thâm nhập vào thị trường thế giới cần quan tâm khi áp dụng hình thức này. Công ty chỉ xuất khẩu sang thị trường nước ngoài nên không tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng cuối cùng cho nên không có các biện pháp mạnh để cạnh tranh. Công ty áp dụng hình thức xuất khẩu thường không am hiểu sâu sắc về phong tục tập quán, luật pháp của thị trường nơi công ty thâm nhập nên thị trường rất dễ bị rơi vào tay đối thủ. 1.2.2.2.Thâm nhập thị trường thông qua hợp đồng Sự phát triển nhanh chóng của hoạt động kinh doanh quốc tế đòi hỏi có những hình thức thâm nhập thị trường thế giới phù hợp hơn. Ngày nay, hình thức thâm nhập thị trường nước ngoài thông qua hợp đồng đang ngày càng trở nên quan trọng và được các công ty áp dụng phổ biến. Trên thực tế, các doanh nghiệp thường sử dụng các loại hợp đồng sau: 1.2.2.2.1.Hợp đồng sử dụng giấy phép - Khái niệm Hợp đồng sử dụng giấy phép là hình thức thâm nhập thị trường nước ngoài, trong đó một công ty sẽ trao cho một công ty khác quyền được sử dụng các tài sản vô hình mà họ đang sở hữu trong một thời gian xác định và bên mua giấy phép sẽ phải trả tiền bản quyền cho bên bán giấy phép. - Ưu điểm SV: Nguyễn Thị Phương Thảo 13 Lớp Kinh Doanh Quốc Tế 46A GVHD: PGS.TS.NguyÔn ThÞ Hêng Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Giúp cho doanh nghiệp bán giấy phép có thể tiếp cận được với các nguồn lực của bên mua giấy phép mà không phải tốn thời gian xây dựng và khởi công các cơ sở mới của mình. Hơn nữa bên bán giấy phép sẽ có được doanh thu sớm hơn bình thường. Hợp đồng sử dụng giấy phép có thể giúp các doanh nghiệp hạn chế hiện tượng hàng hóa giả mạo xuất hiện trên chợ đen ở thị trường nước ngoài bởi vì các công ty mua giấy phép sẽ đưa ra thị trường những sản phẩm có mức giá cạnh tranh hơn và họ sẽ có trách nhiệm đối với việc chống lại các hoạt động buôn bán lậu trên thị trường của họ. - Nhược điểm Thâm nhập thị trường thế giới thông qua hình thức sử dụng giấy phép có những nhược điểm đáng kể. Nó có thể hạn chế các hoạt động của công ty trong tương lai. Bên mua giấy phép có thể sản xuất ra những sản phẩm như bên bán giấy phép mong đợi, điều này dẫn đến giảm sự tương đồng về chất lượng và phương pháp tiếp thị sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế. Việc xúc tiến một hình ảnh toàn cầu về sau có thể sẽ rất tốn kém và mất thời gian để thay đổi quan niệm không đúng của người tiêu dùng trên các thị trường có giấy phép sử dụng khác nhau. Thâm nhập thị trường thế giới bằng hình thức này có thể tạo ra những đối thủ cạnh tranh cho công ty trong tương lai, nhất là khi công ty trao quyền sử dụng một tài sản có lợi thế cạnh tranh của họ cho công ty khác. Khi hợp đồng sử dụng giấy phép kết thúc, bên mua giấy phép có thể có khả năng sản xuất và bán ra các phiên bản mới tốt hơn sản phẩm của công ty. 1.2.2.2.2.Hợp đồng kinh tiêu - Khái niệm SV: Nguyễn Thị Phương Thảo 14 Lớp Kinh Doanh Quốc Tế 46A GVHD: PGS.TS.NguyÔn ThÞ Hêng Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Hợp đồng kinh tiêu là một hình thức thâm nhập thị trường nước ngoài trong đó một công ty (nhà sản xuất độc quyền) cung cấp cho một công ty khác (đại lý đặc quyền) một tài sản vô hình cùng với sự hỗ trợ trong một thời gian dài và nhận thù lao. Khác với hợp đồng sử dụng giấy phép chỉ trao các tài sản vô hình là hết nghĩa vụ thì hợp đồng kinh tiêu đòi hỏi phải có thêm sự hỗ trợ tiếp tục từ nhà sản xuất độc quyền đối với việc sản xuất và bán sản phẩm của đại lý đặc quyền. - Ưu điểm Hợp đồng kinh tiêu cho phép công ty kiểm soát tốt hơn việc bán hàng hóa của họ trên các thị trường mục tiêu bởi vì các đại lý đặc quyền đòi hỏi phải đáp ứng được các chỉ dẫn nghiêm ngặt về chất lượng sản phẩm, các nhiệm vụ quản lý hàng ngày, các hoạt động tiếp thị và quảng cáo, do đó cho phép các nhà kinh doanh có được sự thống nhất thông qua việc tạo ra bản sao các sản phẩm tiêu chuẩn trên từng thị trường mục tiêu. Với ưu điểm này, thâm nhập thị trường thế giới bằng cách thức hợp đồng kinh tiêu sẽ rất phù hợp với những công ty theo đuổi chiến lược toàn cầu. Hợp đồng kinh tiêu cho phép các công ty mở rộng thị trường về phương diện địa lý, các công ty thường thâm nhập vào thị trường thế giới đầu tiên nên có lợi thế cạnh tranh hơn và tận dụng được những kiến thức về văn hóa cũng như những kỹ năng của các nhà quản lý địa phương nên giảm thiểu rủi ro khi tiến hành kinh doanh trên một thị trường mới. - Nhược điểm Cách thức thâm nhập thị trường thế giới này sẽ tạo ra cho công ty rất nhiều các đại lý đặc quyền, và công ty sẽ gặp khó khăn lớn trong vấn để kiểm soát chúng. Đặc biệt là các đại lý đặc quyền lại ở trên các thị trường khác nhau nên việc quản lý chúng rất cồng kềnh và phức tạp. SV: Nguyễn Thị Phương Thảo 15 Lớp Kinh Doanh Quốc Tế 46A GVHD: PGS.TS.NguyÔn ThÞ Hêng Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Việc tiêu chuẩn hóa sản phẩm và dịch vụ của công ty trên thị trường thế giới sẽ gặp phải những khó khăn bởi các điều kiện khác biệt ở các nước sở tại. Nhưng nếu công ty càng điều chỉnh theo những sự khác biệt ở các nước sở tại thì sản phẩm của họ càng có ít độc đáo để thu hút các đại lý đặc quyền tiềm năng. 1.2.2.2.3.Hợp đồng quản lý - Khái niệm Hợp đồng quản lý là một hình thức thâm nhập thị trường nước ngoài, trong đó một công ty sẽ cung cấp cho một công ty khác các kinh nghiệm chuyên môn về quản lý trong một thời gian xác định và được trả thù lao. Thông qua hợp đồng quản lý, đối tác có thể tiếp nhận được những kiến thức chuyên môn của các nhà quản lý. - Ưu điểm Hình thức này giúp công ty thâm nhập được vào thị trường thế giới ít chịu rủi ro hơn, không phải lo lắng gì về phần tài sản cố định ở nước sở tại. Công ty cũng có thể nâng cao hình ảnh của mình thông qua hoạt động quản lý của mình ở nước sở tại, nếu cách thức quản lý của công ty thành công sẽ tạo được ấn tượng tốt ở nước sở tại và hơn nữa cũng thu được một số kinh nghiệm của đối tác. - Nhược điểm Hình thức này đòi hỏi công ty phải phân bố lại nguồn nhân lực của công ty trong một khoảng thời gian nhất định, điều này có thể ảnh hưởng đến hoạt động của công ty. Ngoài ra hình thức này sẽ góp phần nuôi dưỡng đối thủ cạnh tranh của công ty sau này. Khi đối tác đã học được cách tiến hành công việc như thế nào và bên thuê quản lý có thể có được những kỹ năng, kinh nghiệm cho phép họ cạnh tranh lại với công ty. SV: Nguyễn Thị Phương Thảo 16 Lớp Kinh Doanh Quốc Tế 46A GVHD: PGS.TS.NguyÔn ThÞ Hêng Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 1.2.2.2.4.Dự án chìa khóa trao tay - Khái niệm Dự án chìa khóa trao tay là một dự án trong đó một công ty sẽ thiết kế, xây dựng và vận hành thử nghiệm một công trình sản xuất, sau đó sẽ trao công trình này cho khách hàng của mình khi nó sẵn sàng đi vào hoạt động, đổi lại họ sẽ nhận được một khoản phí. Hình thức thâm nhập này thường được sử dụng ở những quốc gia hạn chế sở hữu của nước ngoài. Các dự án chìa khóa trao tay thường có quy mô lớn và thường chuyển giao những công nghệ xử lý đặc biệt hoặc các thiết kế cho khách hàng. - Ưu điểm Hình thức này giúp công ty vượt qua các rào cản thương mại của chính phủ nước sở tại và cho phép công ty có thể khai thác được những cơ hội trên thị trường mà một mình công ty không thể thực hiện. Sau khi hoàn thành các dự án chìa khóa trao tay, công ty sẽ tạo được những mối quan hệ với chính quyền địa phương cũng như tạo được hình ảnh tốt đẹp của mình đối với người tiêu dùng. Từ đó, công ty sẽ có được những điều kiện thuận lợi hơn cho những hoạt động kinh doanh sau này. - Nhược điểm Các công ty sẽ gặp phải một số khó khăn khi thâm nhập thị trường quốc tế bằng hình thức chìa khóa trao tay. Thứ nhất là giống như hợp đồng quản lý, dự án chìa khóa trao tay cũng có thể tạo ra cho công ty một đối thủ trong tương lai. Đối thủ này có thể thay thế công ty trở thành nhà cung cấp chính trên thị trường hiện tại và các thị trường khác của công ty. Thứ hai đó là các công ty không dễ gì để giành được quyền thực hiện dự án chìa khóa trao tay. Chủ dự án thường là các cơ quan chính phủ cho nên quá SV: Nguyễn Thị Phương Thảo 17 Lớp Kinh Doanh Quốc Tế 46A GVHD: PGS.TS.NguyÔn ThÞ Hêng Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp trình lựa chọn đối tác thường mang tính chính trị hóa cao độ. Hơn nữa, quy mô của các dự án thường rất lớn cho nên những công ty nhỏ và vừa sẽ không có cơ hội tham gia vì chưa có đủ tiềm lực. 1.2.2.3.Thâm nhập thị trường thông qua đầu tư Hình thức thâm nhập thị trường thế giới thông qua đầu tư là kiểu thâm nhập đòi hỏi công ty phải trực tiếp đầu tư xây dựng nhà máy hoặc cung cấp thiết bị tại một nước, đồng thời tiếp tục tham gia vào việc vận hành chúng. Có hai cách thức để thâm nhập thị trường thế giới thông qua đầu tư: Chi nhánh sở hữu toàn bộ và liên doanh. 1.2.2.3.1.Chi nhánh sở hữu toàn bộ - Khái niệm Là hình thức thâm nhập thị trường nước ngoài thông qua đầu tư trong đó, công ty sẽ thiết lập một chi nhánh ở nước sở tại, do công ty sở hữu 100% vốn và kiểm soát hoàn toàn. - Ưu điểm Thâm nhập vào thị trường thế giới thông qua chi nhánh sở hữu toàn bộ giúp công ty có thể kiểm soát hoàn toàn đối với các hoạt động hàng ngày trên thị trường mục tiêu, đồng thời trực tiếp tiếp xúc với các công nghệ cao, các quy trình và các tài sản vô hình khác trong chi nhánh. Khi công ty đã trực tiếp kiểm soát được hoạt động của mình sẽ không cho phép các công ty khác được tiếp xúc với những ưu thế của công ty mình và trở thành đối thủ cạnh tranh trong tương lai. Khi công ty đầu tư chi nhánh sở hữu toàn bộ thì công ty có thể kiểm soát được khối lượng sản xuất, giá cả của chi nhánh và thu về toàn bộ lợi nhuận do chi nhánh kiếm được mà không phải chia sẻ với các công ty khác. SV: Nguyễn Thị Phương Thảo 18 Lớp Kinh Doanh Quốc Tế 46A GVHD: PGS.TS.NguyÔn ThÞ Hêng Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Ngoài ra đây cũng là một cách thức thâm nhập thị trường rất phù hợp với các công ty mà muốn liên kết các hoạt động của tất cả các chi nhánh của mình ở nước khác. - Nhược điểm Hình thức thâm nhập này rất tốn kém, thường chỉ những công ty lớn mới có đủ khả năng để thành lập các chi nhánh sở hữu toàn bộ. Rủi ro đối với hình thức thâm nhập này là rất cao. Công ty có thể gặp phải những rủi ro về bất ổn chính trị dẫn đến mất mát cả tài sản thậm chí cả nhân sự. Hoặc là rủi ro nếu như bị khách hàng tẩy chay sản phẩm do không phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng ở thị trường sở tại. 1.2.2.3.2.Liên doanh - Khái niệm Là hình thức thâm nhập thị trường thông qua sự đóng góp của hai hay nhiều bên để hình thành một công ty riêng biệt thực hiện những mục tiêu kinh doanh chung. Mỗi bên có thể đóng góp bất cứ thứ gì được các đối tác cho là có giá trị bao gồm khả năng quản lý, kinh nghiệm marketing, khả năng tiếp cận thị trường ,công nghệ sản xuất, vốn tài chính và các kiến thức cũng như kinh nghiệm về nghiên cứu phát triển. - Ưu điểm Thâm nhập thị trường nước ngoài bằng hình thức liên doanh sẽ giúp công ty chia sẻ rủi ro với các đối tác khi mà việc thâm nhập thị tr ường đòi hỏi phải đầu tư lớn hay khi có sự bất ổn lớn về chính trị và xã hội. Công ty có cơ hội học hỏi thêm về môi trường kinh doanh nước sở tại, tạo điều kiện cho công ty tiến hành thâm nhập thị trường này bằng chi nhánh sở hữu toàn bộ sau này. Đây là một hình thức thường được các công ty sử dụng đối với các quốc gia có những yêu cầu các công ty nước ngoài phải chia sẻ quyền sở SV: Nguyễn Thị Phương Thảo 19 Lớp Kinh Doanh Quốc Tế 46A
- Xem thêm -