Cân bằng bên ngoài trong các quốc gia có thu nhập thấp

  • Số trang: 29 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 8 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

Tiểu luận Cân bằng bên ngoài trong các quốc gia có thu nhập thấp Lone Christianse n, Alessandro Prati, Luca Antonio Ricci, and Thierry Tresse l 1 I. GIỚI THIỆU Bài viết này nghiên cứu kinh nghiệm về cân bằng bên ngoài của các quốc gia có thu nhập thấp, bằng việc đưa ra những dữ liệu phân tích chặt chẽ từ trung đến dài hạn về tỷ giá thực, tài khoản vãng lai, tài sản ròng nước ngoài, và những yếu tố nổi bật tác động đặc biệt đối với các quốc gia này. Sự gia tăng và duy trì những vùng mất cân đối rộng lớn bên ngoài trong những năm gần đây đã tạo sức hấp dẫn mới của khu vực này từ những dự đoán mang tính lý luận thực tiễn, và cũng nêu bật tính cần thiết tiếp cận song phương để phân tích cân bằng bên ngoài dựa trên cơ sở chứng cứ phức tạp. Trong bài viết này, sự phân tích đồng thời của 3 nhân tố đã đề cập bên trên về cân bằng bên ngoài cho chúng ta kiểm tra tính ổn định của các chứng cứ thể hiện kết quả phân tích. Những điểm quan trọng mà các quốc gia có thu nhập thấp hướng đến là lấp đầy những kẻ hở. Mặc dù có rất nhiều tài liệu về những nhân tố quyết định tỷ giá thực và tài khoản vãng lai, nhưng rất ít tài liệu có sự kết hợp những điểm nhân tố này đặc biệt là đối với các quốc gia có thu nhập thấp, hoặc giải thích những đặc tính tương đối quan trọng. Những phân tích của chúng tôi nhấn mạnh các nhân tố như chính sách cơ cấu, sự bóp méo, phương tiện tiếp cận nguồn tài chính đặc biệt bên ngoài, và độ nhạy vĩ mô rộng hơn đối với những cú sốc ngoại sinh. Nhằm mục đích những phân tích có tính thực nghiệm, đòi hỏi những kết quả mang tính rộng rãi để tạo một cơ sở dữ liệu rộng khắp bao trùm tất cả các quốc gia. Một lý thuyết phổ biến được dựa trên việc phân tích những yếu tố trung hạn có tác động đến tài khoản vãng lai, nhấn mạnh quyết định đầu tư và tiết kiệm. Một lý thuyết thực nghiệm gần đây hơn nhằm mục đích giải thích các mô hình của mất cân đối toàn cầu đang rộng khắp trong hơn một thập kỷ khủng hoàng tài chính, phát triển tài chính và sự bóp méo, các lý thuyết khác nhau; và một lý thuyết đang được phát triển. Những người khác minh họa vai trò của chính sách thị trường lao động và chế độ tỷ giá hối đoái ảnh hưởng sự năng động của tài khoản vãng lai (Ju and Wei (2007) and Chinn and Wei (2008)) và mối liên hệ giữa thị trường lao động, sự mâu thuẫn tài chính và chính sách tài khóa trong việc định hướng những phản ứng lạc quan của tài khoản vãng lai đối với các tình huống bất ngờ (Blanchard (2006)). 2 Lý thuyết về tỷ giá hối đoái thực vô cùng rộng lớn và chúng ta không thể chứng minh tất cả mối quan hệ. Những cuộc nghiên cứu rộng rãi về các quốc gia đang phát triển được đưa ra bởi Froot và Rogoff (1995), Rogoff (1996) và Edwards (1989), Hinkle và Montiel (1999), Edwards và Savastano (2000). Những tìm kiếm cổ điển của Meese và Rogoff (1983) về những điều không thể dự đoán về tỷ giá hối đoái trong các khoảnh khắc cực ngắn vẫn không ngừng gây tranh cãi, và lý thuyết được hội tụ nhằm giải thích phản ứng của tỷ giá hối đoái thực đối với những khoảnh khắc trung và dài hạn như là một chức năng cơ bản (hãy xem ví dụ của Engel và West (2005) và Engel et al. (2007)). Những phân tích thực tế về tỷ giá hối đoái thực cuối cùng được hướng dẫn kiểu mẫu bởi mối quan hệ vững vàng trong những mô hình gồm nguồn lực bên trong và nguồn lực bên ngoài được chia vùng bởi nguồn cung ứng giữa khu vực mậu dịch và phi mậu dịch (Obstfeld và Rogoff (1996), Vegh (2009), Montiel (2003), và Ricci et al. (2008)). Một lý thuyết được phát triển khám phá những yếu tố quyết định trung hạn của tài sản nước ngoài ròng và thực, sau khi việc tạo ra cơ sở dữ liệu của Lane and MilesiFerretti về vị trí bên ngoài. (hãy xem phiên bản mới nhất của Lane và Milesi-Ferretti (2006)). Lane và Milesi-Ferretti (2001) đề ra vấn đề lý thuyết và thực tiễn về những yếu tố quyết định dài hạn của vị trí tài sản nước ngoài thực. Faria et al. (2007) chỉ ra rằng nhiều nền kinh tế mở với vị trí tốt hơn có tài sản sở hữu lớn hơn trong nợ bên ngoài. Một vài nghiên cứu đã tập trung đến các quốc gia có thu nhập thấp với những ngoại lệ đáng kể của Edwards (1989) và Hinkle và Montiel (1999). Trong bài viết này, chúng tôi cũng thảo luận rằng các quốc gia có thu nhập thấp khác các quốc gia khác chủ yếu theo 3 yếu tố chính tác động lớn là tài khoản vãng lai, tỷ giá hối đoái thực và tài sản nước ngoài ròng: (i) chính sách tái cấu trúc và sự bóp méo, đặc biệt mối quan hệ giữa tài khoản vốn và hệ thống tài chính trong nước; (ii) những cú sốc bên ngoài, đặc biệt tác hại tự nhiên (ảnh hưởng dựa trên độ mở của tài khoản vốn) và những điều kiện của những cú sốc thương mại; (iii) những nguồn tài chính hợp pháp bên ngoài (trợ cấp và khoản nợ ưu đãi). Chúng tôi tin rằng những yếu tố này đặc biệt quan trọng đối với các quốc gia mà 3 chúng tôi lấy làm ví dụ. Đầu tiên, những quốc gia có thu nhập thấp phải đối mặt với sự bóp méo nhiều hơn các quốc gia khác– một số do chính sách gây ra. Ví dụ như, việc quản lý tài khoản vốn-mà thường thấy cho nhiều quốc gia hơn trên các ví dụ phân tích – có thể giảm khả năng vay mượn của các quốc gia có thu nhập thấp nhằm mục đích hướng đến đầu tư và tiêu thụ, đòi hỏi mức độ phát triển thấp hơn hoặc những cú sốc tiêu cực xuất hiện. Chúng có thể ảnh hưởng đến cầu nội địa, tài khoản vãng lai, tài sản ròng nước ngoài, và tỷ giá thực. Tự do hóa tài chính nội địa xảy ra trong suốt những năm 80 và 90 ở nhiều quốc gia đang phát triển, có thể giảm vay mượn và gia tăng đầu tư, sẽ hướng đến vị trí tài sản ròng nước ngoài và tài khoản vãng lai thấp hơn, và tăng tỷ giá thực. Nhưng tự do hóa tài chính cũng có thể tăng tiết kiệm cá nhân, cân bằng những vấn đề khác, cải tiến tài khoản vãng lai và vị trí tài sản ròng nước ngoài và giảm tỷ giá thực. Thứ hai, về tổng thể các quốc gia có thu nhập thấp bị đặt vào tình trạng nguy hiểm hơn các quốc gia khác- là kết quả của việc thiếu sự linh hoạt trong cơ cấu sản phẩm của họ, và có thể có kinh nghiệm kết hợp với những cú sốc này. Ví dụ như, những quốc gia có thu nhập thấp bị đẩy vào tình thế thường xuyên thay đổi các điều kiện thương mại liên quan đến cả xuất khẩu (ví dụ như vụ mùa chính chính hoặc các nguồn lực tự nhiên) và nhập khẩu (như dầu). Những sự thay đổi điều kiện thương mại liên tục như vậy ảnh hướng đến tỷ giá thực và tài khoản vãng lai thông qua tác động của thu nhập và thay thế nguofn lực bên trong và bên ngoài (intra- and inter-temporal substitution). Hơn nữa, các quốc gia có thu nhập thấp thường xuyên chịu những tác động của tự nhiên như: lũ lụt, bão, động đất mà kết quả vĩ mô rộng hơn ở mức độ cao hơn các quốc gia có thu nhập trung bình – bao gồm ở những vị trí bên ngoài. Cuối cùng, chiến tranh và sự chuyển giao quyền lực chính trị dữ dội giữa những chế độ thường xuất hiện trong các ví dụ lịch sử. Như những sự kiện, do rối loạn đầu tư, tiêu dùng và dòng chảy vốn, có thể là một gánh chịu của tài khoản vãng lai và tỷ giá thực ở một khoảnh khắc ngắn ngủi có liên quan. Gần đây, dòng chảy vốn là kiểu tự nhiên khác ở các quốc gia có thu nhập thấp hơn ở các quốc gia khác. Một phần rộng lớn của vay mượn nợ nước ngoài của họ là một hình thức hỗ trợ phát triển chính thức (trợ cấp hoặc vay nợ ưu đãi). Dòng chảy vốn sẽ thích ứng 4 với thị trường và thường không cần điều chỉnh, vì vậy kết hợp với thâm hụt thương mại tài chính nhiều hơn ở các điều kiện trung hạn. Cuối cùng, dòng chảy tài trợ thường kết hợp với rủi ro giống trường hợp Hà Lam như là chuyển giao nguồn lực và được trông chờ sẽ tăng tỷ giá thực trong ngắn hạn bằng cách tăng tổng cầu (Van Wijnbergen (1984)). Tuy nhiên, trong dài hạn, ảnh hưởng của tỷ giá thực không chắc chắn, dựa vào yếu tố liên quan về năng suất đối nghịch giữa mậu dịch và phi mậu dịch (Torvik (2001)). Để dự đoán một vài kết quả có đủ chứng cứ mà điều này quan trọng trong các quốc gia có thu nhập thấp, chúng tôi nhận ra rằng tự do hóa tài chính nội địa có liên hệ với vị trí tài sản nước ngoài ròng và cân bằng tài khoản vãng lai cao hơn, đề xuất loại hình tiết kiệm có ảnh hưởng tích cực. Tự do hóa tài khoản vốn hướng đến vị trí tài sản nước ngoài và tài khoản vãng lai thấp hơn, và tỷ giá thức tăng cao hơn, là dự đoán bởi một lý thuyết chuẩn. Những cú sốc tiêu cực hướng đến tăng (mặc dù trông đợi là giảm) tài khoản vãng lai ở những quốc gia với tài khoản vốn đóng (được trông đợi là mở) nhằm hướng đến sự quan trọng của cơ cấu tài khoản vốn trong hình thành những quyết định tiêu dùng nguồn lực bên ngoài. Cuối cùng, tài trợ nước ngoài là tiến trình miệt mài nhiều năm thông qua nhập khẩu ròng, và sự kết hợp với giảm tỷ giá thực hơn nữa trong dài hạn, một kết quả có thể phản ánh mục tiêu năng suất lớn hơn trong khu vực phi mậu dịch với một khu vực mậu dịch. Bài viết này được tổ chức như sau: Phần II: Yếu tố quyết định cân bằng bên ngoài. Phần III: Kết quả phân tích thực tiễn Phần IV: Kết luận 5 II. YẾU TỐ QUYẾT ĐỊ NH CÂN BẰNG BÊN NGOÀI Bài này chủ yếu xem xét những yếu tố quyết định của tỷ giá hiệu quả thực và tài khoản vãng lai, với việc nhấn mạnh vào những yếu tố làm nền tảng quan trọng cho những nước thu nhập thấp (LIC’s). Ở phần cuối, chúng tôi thảo luận những lý thuyết hạn chế về những yếu tố quyết định của tài sản ròng nước ngoài (tương tự như những yếu tố quyết định của tài khoản vãng lai). Nội dung chính tập trung vào những lý luận làm nền cho những phân tích về mặt thực tiễn, song chúng tôi cũng sẽ làm nổi bật lên những đóng góp về mặt thực nghiệm liên quan đến mỗi lý luận để dễ dàng trong việc so sánh những kết quả nghiên cứu của chúng tôi. Các yếu tố quyết định được chia làm 4 nhóm chính: (i) những yếu tố quyết định đã được xác định trong lý thuyết (chính sách kinh tế vĩ mô, những đặc tính vốn có của nền kinh tế, và giai đoạn phát tr iển kinh tế); (ii) chính sách cơ cấu, sự bóp méo, và thể chế; (iii) những cú sốc, và (iv) tài trợ bên ngoài. Lý thuyết kinh tế dựa trên nền tảng là mối quan hệ giữa tỷ giá thực, tài khoản vãng lai và một số biến kinh tế vĩ mô. Về nguyên tắc, các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá thực cũng ảnh hưởng đến t ài khoản vãng lai: chẳng hạn như những yếu tố ảnh hưởng đến tổng cầu sẽ ảnh hưởng đến cả tài khoản vãng lai và tỷ giá hiệu quả thực. Tuy nhiên, những nền tảng lý thuyết cho phân tích thực nghiệm về tỷ giá thực luôn bắt nguồn từ việc phân tích tình trạng ổn định lâu dài của những mô hình kinh tế với những hàng hóa mậu dịch và phi mậu dịch trong sự tồn tại của nền thương mại cân bằng. Đồng thời, việc phân tích thực nghiệm tài khoản vãng lai được củng cố bởi cách tiếp cận tài khoản vãng lai theo thời g ian, thường trong những mô hình hàng hóa giản đơn, do đó không tồn tại tỷ giá có ý nghĩa thực sự (Edwards (1989), Obstfeld và Rogoff (1996), Hinkle và Montiel (1999), và Vegh (2009)). Thảo luận những yếu tố quyết định khác nhau, chúng tôi sẽ làm nổi bật những ảnh hưởng tổng thể của những yếu tố này. Chính sách kinh tế vĩ mô, những đặc tính vốn có của nền kinh tế, và sự phát triển kinh tế 6 Chính sách tài khóa. Bỏ qua lý thuyết tương đương của Ricardo thì chính sách tài khó a ảnh hưởng đến tổng cầu, tiết kiệm của quốc gia và vì thế ảnh hưởng đến cán cân tài khoản vãng lai và tỷ giá thực. Về mặt thực nghiệm, Chinn và Prasad (2003) và Lee et al. (2008) thấy được rằng cân bằng tài khóa liên quan đến tài khoản vãng lai một cách đáng kể và chắc chắn trong mô hình hồi quy OLS gộp. Chính sách tài khóa cũng ảnh hưởng đến tỷ giá thực thông qua ảnh hưởng đa hợp trong một nền kinh tế phát triển thậm chí có sự hiện diện của lý thuyết tương đương của Ricardo (Obstfeld và Rogoff, 1999). Nếu chính phủ chi tiêu nhiều vào hàng hóa phi mậu dịch hơn là tiêu dùng cá nhân (thường là trường hợp tiêu dùng của chính phủ), điều này sẽ dẫn đến việc tăng tỷ giá thực, bởi vì giá tương đối của hàng hóa ph i mậu dịch sẽ tăng nhằm duy trì cân bằng bên trong và bên ngoài ( Vegh (2009) và Hinkle và Montiel (1999)). Phù hợp với dự đoán này, lý thuyết thực nghiệm đã tìm ra một hệ số dương (xem ví dụ Ricci et al. (2008) và De Gregorio et al. (1994)). Tài sản ròng nước ngoài. Những nước có tài sản ròng nước ngoài lớn hơn có thể tài trợ cho chi tiêu nhiều hơn (nhiều hơn dòng thu nhập), vì thế sẽ có 1 tài khoản vãng lai thấp hơn, trong khi đó vẫn duy trì được khả năng trả nợ. Tuy vậy, ở những nước có tài khoản vãng lai ở trạng thái không ổn định và không chắc chắn lại được liên kết một cách chắc chắn với tài sản ròng nước ngoài ở trạng thái ổn định (Lane và MilesiFerretti (2002), Chinn và Prasad (2003), và Lee et al. (2008) về bằng chứng thực nghiệm thống nhất trong mô hình hồi quy OLS gộp). Hơn thế nữa, trong tình trạng ổn định, tài sản ròng nước ngoài lớn hơn cho phép tiêu dùng cả hàng hóa mậu dịch và phi mậu dịch nhiều hơn trong khi đó vẫn duy trì được khả năng trả nợ, hàm ý một tỷ giá thực cao hơn (Lane và Milesi-Ferretti (2002) và (2004) và Ricci et al. (2008)). Mối quan hệ này có lẽ không xuất hiện ở những nước thu nhập thấp được miễn nợ: nếu một sự gia tăng nợ được kỳ vọng sẽ được hưởng lợi từ việc miễn nợ trong tương lai, thì tài sản ròng nước ngoài thấp hơn do việc gia tăng nợ có thể không liên quan đến việc tiêu dùng ít hơn cần thiết để chi trả những khoản nợ nước ngoài thông qua thặng dư thương mại, cũng như những thay đổi trong tỷ giá thực. Ảnh hưởng của những kỳ vọng như 7 vậy cũng sẽ được phản ánh trong hệ số tài sản ròng nước ngoài trong hàm hồi quy tài sản ròng và tỷ giá thực. Dân số. Theo giả thuyết vòng đời, phần dân số phụ thuộc nhiều hơn sẽ làm giảm tiết kiệm quốc gia và cán cân tài khoản vãng lai, và vì thế làm cho tỷ giá thực tăng lên. Trong mô hình thế hệ chồng chéo, số dân lao động cao hơn làm tăng tiết kiệm quốc gia, vì thế làm tăng tài khoản vãng lai. Sự tăng trưởng dân số có ảnh hưởng tiêu cực đến tài khoản vãng lai và ảnh hưởng tích cực đến tỷ giá thực nếu sự tăng trưởng dân số tương quan với dân số trẻ ngoài độ tuổi lao động. Những dự đoán này được xác thực trong phân tích tài khoản vãng lai (lee et al. (2008)), phân tích tỷ giá thực (Rose et al. (2008)) và phân tích tài sản ròng nước ngoài (Lane và Milesi-Ferretti (2001)). Giai đoạn phát triển và tăng trưởng kinh tế. Lý thuyết tân cổ điển cho rằng những nước ở giai đoạn phát tr iển đầu nên nhập khẩu vốn và vay mượn cho khoản thu nhập tương lai để tài trợ cho nhu cầu đầu tư và giải quyết việc tiêu dùng hiện tại với hữu dụng tiêu dùng biên cao cho trước (Obstfeld và Rogoff (1999)). Tương tự, những nước phát triển nhanh với năng suất được kỳ vọng cao hơn nên đầu tư nhiều hơn, hàm ý một sự biến dạng tài khoản vãng lai. Cuối cùng, sự tăng trưởng năng suất cao trong lĩnh vực mậu dịch liên quan đến lĩnh vực phi mậu dịch nên được liên kết với tỷ giá thực tăng lên (ảnh hưởng Balassa-Samuelson): Một sự gia tăng năng suất trong lĩnh vực mậu dịch liên quan đến lĩnh vực phi mậu dịch, so với những đối tác thương mại, sẽ dẫn đến mức lương cao hơn trong lĩnh vực mậu dịch (giá của nó phụ thuộc vào thị trường thế giới nếu nước đó là nền kinh tế nhỏ) và kết quả là tạo áp lực lên lương và giá trong lĩnh vực phi mậu dịch. Ricci et al. (2008) và Choudhri và Khan (2005) cho thấy rằng một sự gia tăng 10% trong năng suất của lĩnh vực mậu dịch liên quan đến lĩnh vực phi mậu dịch có khuynh hướng định giá tỷ giá thực cao hơn 1 đến 2% mức trung bình. Hơn thế nữa, thu nhập cao hơn sẽ tạo ra áp lực lên giá của hàng hóa phi mậu dịch liên quan đến hàng hóa mậu dịch, bởi vì hàng hóa mậu dịch được định giá trên thị trường quốc tế, dẫn đến việc tăng lên của tỷ giá thực. Tuy nhiên, một sự đo lường tốt về năng suất tương đối là không có một cách dễ dàng ở những nước có thu 8 nhập thấp. Vì vậy, bài này sử dụng GDP thực trên đầu người như là một biến số đại diện, giống như trong hầu hết các lý thuyết. Bởi vì biến số này không phản ánh một cách chính xác ảnh hưởng về mặt năng suất tương đối, nó đo lường mức năng suất trung bình trong lĩnh vực mậu dịch và phi mậu dịch – dấu hiệu được kỳ vọng về con số đại diện này là không rõ ràng. Sự biến dạng chính sách và thể chế Cải cách tài chính trong nước. Một hệ thống tài chính phát triển tài trợ đầu tư và giúp thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, qua đó làm cán cân tài khoản vãng lai giảm xuống và tỷ giá hiệu quả thực tăng lên. Một hệ thống tài chính phát triển cũng có thể cải thiện cán cân tài khoản vãng lai và làm giảm tỷ giá hiệu quả thực nếu nó khuyến khích tiết kiệm trong nước (Mac Kinnon (1973) và Edwards (1995)). Gourinchas và Jeanne (2009) xác định mô hình một nền kinh tế mở trong đó cả quyết định đầu tư và tiết kiệm bị sai lệch bởi “sự chia rẽ” ảnh hưởng lợi nhuận trên vốn. Mô hình của họ cho rằng tự do hóa tài chính có thể có ảnh hưởng không tốt đến vị trí bên ngoài của một nước đang phát triển: một sự sụt giảm sai lệch tiết kiệm có khuynh hướng làm giảm dòng vốn vào bằng cách tăng tiết kiệm trong nước, nhưng một sự sụt giảm sai lệch đầu tư lại có khuynh hướng làm tăng dòng vốn vào bằng cách tăng sự khan hiếm vốn. Phân tích thực nghiệm luôn dựa trên phương pháp đo lường sự phát triển tài chính như là một sự đại diện cho mức độ tự do hóa tài chính và tìm ra những ảnh hưởng xấu nhất vào tài khoản vãng lai (Gurber và Kamin (2007) và Chinn và Ito (2007)). Tự do hóa tài khoản vốn. Lý thuyết tân cổ điển cho thấy rằng qua quá trình phát triển kinh tế, việc tự do hóa tài khoản vốn đi kèm với v iệc bóp méo tài khoản vãng lai (dòng vốn vào) và định g iá cao tỷ giá thực ở những nước đang phát triển, và với 1 sự cải thiện tài khoản vãng lai (dòng vốn ra) và việc định giá thấp tỷ giá thực ở những nước phát triển (lucas (1988) và Edwards (1989)). Hơn thế nữa, việc mở tài khoản vốn cho phép những nước vay mượn để sử dụng cho khoản thu nhập tương lai và vì thế sẽ có cán cân tài khoản vãng lai thấp khi chạm phải sự tổn thương thu nhập âm tạm thời. (Vegh (2008)). Tuy nhiên, Kraay và Ventura (2000) chỉ ra rằng, nếu đơn vị của cải 9 biên được đầu tư cùng phương thức như đơn vị của cải trung bình thì những tổn thương thu nhập âm tạm thời sẽ dẫn đến sự thâm hụt (thặng dư) tài khoản vãng lai ở những nước có tài sản ròng nước ngoài âm (dương). Thể chế. Đặc tính về mặt thể chế như hiệu quả của quyền tài sản và thực hiện hợp đồng có những ảnh hưởng cơ bản đầu tiên vào cán cân tài khoản vãng lai v à dòng vốn đầu tư. Những quốc gia có thể chế tốt hơn có thể thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài ổn định do rủi ro thấp hơn, và vì vậy có thể duy trì cán cân tài khoản vãng lai v à vị trí tài sản ròng nước ngoài thấp hơn. (Alfaro et al. (2007) và Gruber và Kamin (2007)). Tuy nhiên, ở những nước có thể chế tốt hơn, hệ thống chính trị có thể đưa ra những chính sách tỷ giá hối đoái ít thiên về v iệc nâng cao tỷ giá hối đoái thực, vì thế gây nên tài khoản vãng lai và vị trí tài sản ròng nước ngoài cao hơn. Các kết quả tương tự có thể được tạo ra từ những thể chế tốt tạo ra môi trường thuận lợi hơn để tiết kiệm. Cải cách thương mại. Ảnh hưởng của cải cách thương mại vào tài khoản vãng lai và tỷ giá hối đoái thực là mơ hồ về mặt lý thuyết (Edwards (1990)). Cải cách thương mại tạm thời (hay được nhận thức là tạm thời) có thể làm xấu đi tài khoản vãng lai bằng cách giảm giá những hàng hóa nhập khẩu liên quan đến những hàng hóa được sản xuất trong nước (ảnh hưởng thay thế tạm thời). Ảnh hưởng tạm thời là không rõ ràng: tài khoản vãng lai nên cải thiện như là một kết quả của ảnh hưởng thu nhập, nhưng một mức giá thấp hơn cho tiêu dùng hôm nay liên qu an đến tiêu dùng tương lai sẽ ảnh hưởng không tốt đến cán cân tài khoản vãng lai (Ostry,1990). Ảnh hưởng của tự do hóa thương mại vào tỷ g iá hối đo ái thực tùy thuộc vào ảnh hưởng đó là ảnh hưởng thu nhập hay ảnh hưởng thay thế. Bởi vì thương mại được tự do hóa nên việc gia tăng thu nhập thực do giá nhập khẩu thấp sẽ dẫn đến việc định giá cao tỷ giá hối đoái thực. Tuy nhiên, tự do hóa thương mại cũng có thể thay đổi nhu cầu từ những hàng hóa phi mậu dịch đến những hàng hóa mậu dịch, dẫn đến 1 sự giảm giá. Một hậu quả tương tự phát sinh từ ảnh hưởng trực tiếp của tự do hóa (việc giảm thuế quan) vào việc giảm giá những hàng hóa mua bán nội địa. Bằng chứng đó là những ảnh hưởng sau này (xem Ricci et al. (2008) và Goldfajn và Valdes (1999)). 10 Kiểm soát giá cả và chênh lệch giá thị trường chợ đen. Giá được quản lý là giữ mức giá dưới mức thị trường và vì thế dẫn đến tỷ giá hối đoái thực bị định giá thấp (xem Ricci et al. (2008)). Tuy nhiên, kiểm soát giá sẽ đẩy giá lên cao, làm cho tỷ g iá hối đoái thực được định giá cao hơn. Cuối cùng, tỷ giá thị trường chợ đen được định giá thấp hơn tỷ giá hối đoái chính thức (chẳng hạn chênh lệch dương giá thị trường chợ đen cho thấy kỳ vọng của việc phá giá tỷ giá chính thức) sẽ đi kèm với một tỷ giá hố i đoái thực được định giá cao hơn (dựa trên tỷ giá chính thức, là cơ sở hiện hành cho việc đo lường tỷ giá hối đoái thực) Những cú sốc Tỷ lệ trao đổi Ảnh hưởng của 1 sự cải thiện trong tỷ lệ trao đổi là không chắc chắn và chủ yếu dựa vào ảnh hưởng thu nhập hay ảnh hưởng thay thế chiếm ưu thế. Sự cải thiện trong tỷ lệ trao đổi tạo ra sự gia tăng trong giá hàng xuất khẩu, cải thiện tài khoản vãng lai, bởi vì phần thu nhập dương được tiết kiệm nhằm giải quyết vấn đề tiêu dùng và nâng cao tỷ giá thực dựa trên chỉ số CPI bởi vì sự gia tăng cầu nội địa (đi kèm với ảnh hưởng thu nhập) làm tăng giá hàng hóa phi mậu dịch (Ostry (1988) và Edwards và Ostry (1992)). Tuy nhiên, 1 sự cải thiện trong tỷ lệ trao đổi làm phát s inh sự sụt giảm giá hàng hóa nhập khẩu cũng có thể gây nên tình trạng tài khoản vãng lai xấu và giảm giá thực nếu người tiêu dùng thay thế hàng nhập khẩu bằng hàng sản xuất trong nước hoặc hàng nhập khẩu trong tương lai (Obstfeld và Rogoff (1999) và Vegh (2009)). Nếu hàng hóa nhập khẩu được sử dụng cho đầu vào của sản xuất thì ảnh hưởng cuối cùng vào tỷ giá thực sẽ là ảnh hưởng phức tạp, bởi vì hàng hóa nội địa được sản xuất với những hàng hóa nhập khẩu đó thường gây nên sự sụt giảm trong giá. Nhìn chung, bằng chứng cho thấy ảnh hưởng tích cực của sự cải thiện tỷ lệ trao đổi vào tỷ giá hối đoái thực (xem Ricci et al. (2008), Cashin, Cespedes, và Sahay (2004), Chen và Rogoff (2003), và Ostry và Reinhart (1992); đối với v iệc phân tích ảnh hưởng riêng biệt của giá hàng nhập khẩu và xuất khẩu, xem Christiansen và Tokarick (2009)). 11 Thiên tai. Một cú sốc thu nhập âm ảnh hưởng tích cực đến cán cân tài khoản vãng lai nếu t iết kiệm quốc gia tăng, hay nếu đầu tư giảm tương đối so với tiết kiệm, do hậu quả của cú sốc. Tuy nhiên, tài khoản vãng lai có thể xấu đi nếu nước này giải quyết vấn đề tiêu dùng bằng cách vay mượn trên thị trường tài chính quốc tế (Obstfeld và Rogoff, 1999). Thế thì, chúng tôi hy vọng ảnh hưởng của thiên tai tùy thuộc vào mức độ mở của tài khoản vốn. Khi xem xét mối quan hệ giữa tỷ g iá hối đoái thực và những nguyên tắc cơ bản của nó, chúng tôi hy vọng những cú sốc không có vai trò gì bởi vì nó dường như chỉ có ảnh hưởng tạm thời. Tài trợ bên ngoài Viện trợ chính thức Trong ngắn hạn, một sự tăng đột biến trong viện trợ có thể đẩy giá trong nước lên và gây ra việc tăng tỷ giá hối đoái thực bởi vì cung thì có giới hạn trong việc đáp ứng sự gia tăng tổng cầu được tài trợ bởi viện trợ. Tuy nhiên, trong dài hạn, ảnh hưởng của viện trợ vào tỷ giá hối đoái thực là không rõ ràng về mặt lý thuyết bởi vì dòng vốn viện trợ gây nên sự gia tăng (sụt giảm) trong năng suất sản xuất hàng hóa phi mậu dịch so với năng suất trong lĩnh vực mậu dịch, dẫn đến sự sụt giảm tỷ giá hố i đoái thực (sự tăng giá). Để tính toán về mặt thực nghiệm ảnh hưởng của viện trợ vào tài khoản vãng lai, viện trợ phải được phân chia thành 2 thành phần chính (tài trợ và các khoản vay ưu đãi), miễn là chúng chiếm một phần trong cán cân thanh toán (đầu tiên là tài khoản vãng lai và sau đó là tài khoản tài chính). Bên cạnh đó, trong một mức độ nhất định thì dòng vốn viện trợ thường được tái phân phối cho các cá nhân thông qua chi tiêu của chính phủ và không phải là trung gian trong hệ thống tài chính trong nước, ảnh hưởng của chúng vào vị trí bên ngoài là độc lập với ảnh hưởng của tự do hóa tài chính trong nước. Về mặt khái niệm, dòng vốn viện trợ được cho là sự chuyển nhượng ngoại sinh. Trợ cấp. Những nước nhận được nguồn tiền trợ cấp ổn định có thể duy trì cán cân thương mại thấp hơn trong trung hạn. Giả định trợ cấp được tính trong tài khoản 12 vãng lai của cán cân thanh toán thì tài khoản vãng lai sẽ giữ nguyên không đổi n ếu trợ cấp tài trợ hoàn toàn cho sự biến dạng của cán cân thương mại. Ngược lại, nếu phần trợ cấp được tiết kiệm dưới dạng dự trữ quốc gia thì tài khoản vãng lai sẽ được cải thiện. Những khoản vay ưu đãi. Những khoản vay ưu đãi sẽ giúp cho tài khoản vãng lai thấp hơn trong trung hạn. Hơn thế nữa, các khoản nợ với những đ iều khoản ưu đãi đặt ra những vấn đề đáng quan tâm bởi vì nó tạo ra khoảng trống giữa giá trị thị trường thực tế và danh nghĩa của tài sản ròng nước ngoài. Bài này xem xét ảnh hưởng của tài sản ròng nước ngoài khi tính giá trị thực của các khoản nợ được bảo đảm công khai rộng rãi. Dĩ nhiên, sự hiệu chính đáng kể này cũng có những giới hạn bởi vì với những số liệu được đưa ra thì ảnh hưởng thêm vào từ việc xóa nợ trong tương lai dự kiến không thể không được tính đến. Lý thuyết về tài sản ròng nước ngoài có hạn chế 1 phần bởi vì việc phân tích thực nghiệm thiếu những dữ liệu gần đây (xem Lane và Milesi-Ferretti (2006) lần xuất bản thứ 2 về hệ thống dữ liệu). Lane và Milesi-Ferretti (2001) đưa ra thảo luận về mặt lý thuyết và thực nghiệm những yếu tố quyết định chính đối với những nền kinh tế phát triển và đang phát triển. Đầu tiên, khoản nợ công làm giảm tài sản ròng nước ngoài, tương tự như ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách đến tài khoản vãng lai. Thứ hai, phần dân số phụ thuộc nhiều hơn hàm ý cần phải g iảm t iết kiệm (và giảm tài sản ròng nước ngoài) để tiêu dùng nhiều hơn. Thứ ba, mối quan hệ giữa thu nhập và tài sản ròng nước ngoài là không chắc chắn. Mối quan hệ chắc chắn được được gợi ý bởi mô hình phát triển chuẩn trong đó những nước nghèo đi vay và những nước giàu cho vay, nhưng cũng có thể bắt nguồn từ những mô hình hình thành theo thói quen hay tính phi tuyến tính trong hàm hữu dụng. Tuy nhiên, một mối quan hệ tiêu cực với thu nhập có thể phát sinh do k ết quả của việc tiếp cận hạn chế thị trường quốc tế hay mong muốn tiết kiệm dự phòng nh iều ở những nước đang phát triển. Cuối cùng, những nước giàu hơn thường đầu tư nhiều vào cổ phần (xem Faria et al. (2007)) tạo ra doanh thu dài hạn cao và kết quả là tài sản ròng nước ngoài cao hơn. 13 III. KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỰC TI ỄN A. DỮ LIỆU Chúng tôi xây dựng một tập dữ liệu lớn gồm 134 quốc g ia trong suốt giai đo ạn từ 1980-2006, với nhiều chỉ t iêu khác nhau, trong đó các quốc gia được phân loại theo nhóm thu nhập. Mẫu LICs ( xem phụ lục bảng A1) gồm các quốc gia có “ thu nhập thấp” hay “ thu nhập trung bình thấp” theo sự phân loại của Ngân hàng thế giới, và loại trừ các thị trường mới nổi sao cho mẫu càng đồng nhất càng tốt (Trung Quốc, Colombia, Ấn Độ, Indonesia, Pakistan và Thái Lan). Các quốc gia “thu nhập cao” và “thu nhập trung bình cao” (theo sự phân loại của Ngân hàng thế giới), kể cả 6 quốc gia ở trên, gom vào nhóm các quốc gia có thu nhập cao (HICs) và được dùng để so sánh. Bảng thống kê tóm tắt các dữ liệu chính được cung cấp trong Bảng phụ lục A2. Tất cả các biến này được thuyết minh trong phụ lục. B. PHÂN TÍCH TÀI KHOẢN VÃNG LAI TRONG TRUNG HẠN: Phần này phân tích mối quan hệ giữa tài khoản vãng lai và các yếu tố cơ bản trong trung hạn. Mô hình ước lượng gồm bảng dữ liệu không cân bằng trong suốt giai đoạn 1981-2005 với 6 quan sát cho hầu hết các quốc gia. Mô hình hồi quy tài khoản vãng lai chuẩn cho các quốc gia thu nhập thấp Bảng 1 trình bày kết quả hồi qui tài khoản vãng lai của mẫu các quốc gia có thu nhập thấp. Ngoài tác động cố định quốc gia, mô hình hồi qui bao gồm các biến số truyền thống ( xem ví dụ Chinn và Prasad (2003), Chinn và Ito (2007), và Lee et al (2008)) như cân đối tài chính, biến nhân khẩu học ( tỷ lệ phụ thuộc của tuổi già, tăng trưởng dân số), vị thế tài sản nước ngoài ròng ban đầu, cán cân thương mại về dầu, và các biến số có liên quan đến sự phát triển (GDP bình quân đầu người so với Mỹ, và tăng trưởng GDP bình quân đầu người thực tế). Đáng chú ý nhất là tỷ lệ cán cân tài chính trên GDP và tăng trưởng dân số vẫn có ý nghĩa mạnh trong mẫu LICs như dự đoán. 14 Tập hợp các biến kiểm soát cũng gồm cả sự đo lường tỷ lệ mậu dịch vốn không được sử dụng trong mô hình hồi qui tài khoản vãng lai từ trước tới nay. Khám phá của chúng tôi cũng phù hợp với cách giải thích: hiệu ứng thu nhập gây ra do thay đổi tỷ lệ mậu dịch có tác động mạnh lên tài khoản vãng lai : một sự cải thiện tạm thời tỷ lệ mậu dịch có khuynh hướng cải thiện tài khoản vãng lai khi phần tăng lên trong thu nhập được tiết kiệm cho tiêu dùng trong tương lai. Cột 1 đến 7 là kết quả hồi qui kh i chúng tôi đưa ra các yếu tố mới quyết định tài khoản vãng lai trong trung hạn ngoài tập hợp các yếu tố quyết định trước kia. Cột 8 và 9 tóm tắt các kết quả được ưa thích ngay cả khi duy trì những yếu tố quyết định tiêu chuẩn hay khi sử dụng những tiêu chuẩn thống kê khắt khe chỉ với những b iến số có ý nghĩa đáng kể. Về tài trợ chính thức, tổng viện trợ nước ngoài có mối tương quan ngược với tài khoản vãng lai. Hệ số ước lượng chỉ ra rằng với 1$ v iện trợ bất kỳ, tài khoản vãng lai sụt giảm khoảng 0.1$ trong cùng thời kỳ. Phù hợp với những dự báo lý thuyết của mô hình chuẩn tắc (xem ví dụ Torvik và Matsen (2004)), một phần lớn viện trợ không được dùng ngay lập tức vào nhập khẩu ròng mà được giữ lại một cách gián tiếp như khoản dự trữ ngoại hối ( Berg et al (2007) và Prati and Tressel (2006) cung cấp bằng chứng chắc chắn rằng sự phản ứng lại của nền kinh tế vĩ mô v ới làn sóng v iện trợ có thể hạn chế khả năng thu hút viện trợ của các nước có thu nhập thấp trong ngắn hạn). Bởi vì 2 thành phần của viện trợ nước ngoài (trợ cấp và những khoản vay ưu đãi) được tính toán trong từng phần riêng biệt của cán cân thanh toán (tài khoản vãng lai và tài khoản vốn), do đó chúng tôi trình bày riêng 2 thành phần này trong cột 2, 6, 8 và 9. Hệ số ước lượng ngụ ý rằng, trung bình khoảng 80% trợ cấp được hấp thụ hoàn toàn thông qua sự gia tăng trong nhập khẩu ròng mỗi 4 năm, trong khi chỉ 30 đến 50% khoản vay ưu đãi được hấp thụ thông qua nhập khẩu ròng trong cùng thời kỳ (xem Prati và Tressel (2006) cho mô hình phản ứng của chính sách vĩ mô với dòng viện trợ) Những cải cách tài chính trong nước mà đẩy mạnh tiết kiệm tư nhân trong nước hơn là đầu tư thì gắn với tài kho ản vãng lai tốt hơn. Sự giải thích này phù hợp với g iả 15 thuyết của Mc Kinnon (được nêu lên đầu tiên bởi Mc Kinnon (1973)), theo đó sự tự do hóa hệ thống ngân hàng trong nước ở những quốc gia đang phát triển dẫn đến tỉ lệ tiết kiệm cao hơn bởi sự gia tăng lợi nhuận trên tiết kiệm tài chính. Kết quả ước lượng ngụ ý rằng khi chuyển từ hồi quy mẫu tự do hóa tài chính hoàn toàn sang mẫu có mức tự do hóa tài chính trung bình thì tài khoản vãng lai tăng lên khoảng 1.5% GDP. Điều này được chứng minh trong Bảng phụ lục A3, giả thuyết là mức tiền gửi thực tế tăng khi quốc gia tự do hóa hệ thống tài chính trong nước. Tác động trái ngược của khoản vay ưu đãi và sự tự do hóa tài chính trong nước lên tài khoản vãng lai có thể được giải thích bởi thực tế là dòng vốn viện trợ không phải là trung gian tiêu biểu trong hệ thống tài chính trong nước, như được thảo luận trong phần lý thuyết (dòng vốn viện trợ tài trợ cho chi tiêu thông thường và đầu tư của chính phủ). Ngoài ra, một phần của dòng vốn viện trợ, do được tái phân phối thông qua chuyển giao, tạm thời gia tăng thu nhập khả dụng của khu vực tư nhân, do đó nâng mức tiết kiệm và tiêu dùng tư nhân lên. Những cú sốc thu nhập âm ngoại sinh (như thảm họa tự nhiên) có tác động ngược lên tài khoản vãng lai nhưng chỉ ở những quốc gia với tài kho ản vốn mở hoàn toàn. Ở những quốc gia này, một cú sốc thu nhập âm tạm thời gắn liền với tài khoản vãng lai xấu đi và giảm dòng vốn vào, điều này phù hợp với v iệc giải quyết tổng tiêu dùng bằng cách vay nợ quốc tế. Vì chúng ta đang bàn đến dòng vốn chính thức nên vai trò của dòng vốn tư nhân được bỏ qua. Trái lại, thảm họa tự nhiên gắn với sự cải thiện tài khoản vãng lai ở những quốc gia có tài khoản vốn đóng. Có thể giải thích điều này như sau : những cú sốc âm này gây ra sự gia tăng tiết kiệm trong cùng thời kỳ ( tương ứng với đầu tư) khi không có đường vào thị trường vốn quốc tế. Một cách giải thích khác được đề xuất trong tác phẩm của Kraay and Ventura (2000) chỉ ra rằng trong điều kiện nhất định, một đơn vị biên của tiết kiệm sau cú sốc thu nhập tạm thời thì được dùng đầu tư, giả sử rằng tiết kiệm tăng sẽ dẫn đến thặng dư tài khoản vãng lai ở những quốc gia mà lợi nhuận thực trên tài sản nước ngoài cao hơn lợi nhuận trên tài sản trong nước, nhưng sẽ dẫn đến 16 thâm hụt ở những quốc g ia có lợi nhuận thấp hơn. Điều này ngụ ý rằng những cú sốc thu nhập âm sẽ dẫn đến thặng dư (thâm hụt) tài khoản vãng lai ở những quốc g ia vay nợ ( hoặc là chủ nợ) bởi vì đầu tư trong nước giảm nhiều hơn (ít hơn) tiết kiệm sau những cú sốc như vậy. Khi tương tác biến số thảm họa tự nhiên với v ị thế tài sản nước ngoài ròng ban đầu, chúng ta có được hệ số âm có ý nghĩa trên số hạng tương tác, thực sự hỗ trợ cho những dự báo của mô hình Kraay and Ventura, và một hệ số không có ý nghĩa trên chính biến cú sốc. Một sự giải thích khác là tác động của sự tự do hóa tài khoản vốn lên tài kho ản vãng lai phụ thuộc vào sự thay đổi thu nhập : như đã thảo luận, khi các quốc gia đối mặt với cú sốc thu nhập âm, một tài khoản vốn mở cửa hơn sẽ cho phép quốc gia v ay mượn trên thị trường vốn quốc tế. Tuy nhiên, sự tự do hóa tài khoản vốn dường như có liên quan với dòng vốn ra ở những quốc gia có thu nhập thấp, điều này phù hợp với kết quả hồi quy mẫu ( phụ lục bảng A3 chỉ ra 6 trong số 11 nước đang phát triển đã khống chế lãi suất tiền gửi thực tế dưới lãi suất tiền gửi của Mĩ trong những năm 1980) Quay lại những nhân tố chính trị, chúng tôi nhận ra rằng những sự kiện bạo lực chính trị có khuynh hướng cải thiện tài kho ản vãng lai, giả sử tình trạng không yên ổn về chính trị có thể gây ra việc đào thoát vốn đáng kể. Độ mạnh của mô hình Kết quả chính nhìn chung là đủ mạnh để bao gồm cả các biến giải thích khác nhau được thêm vào (bảng 2). Cột 1 tính đến hiệu ứng động của tài khoản vãng lai bằng cách kiểm soát độ trễ của nó. Cột 2 cho thấy rằng cải cách thương mại ( được đo bằng chỉ số về thuế xuất nhập khẩu bình quân) không có tính giải thích. Trong cột 3, chúng tôi chia chỉ số tỷ lệ mậu dịch thành 2 thành phần, và thấy rằng giá xuất khẩu có mối tương quan thuận và mạnh với tài khoản vãng lai, trong khi giá nhập khẩu thì tương quan nghịch và yếu với tài kho ản vãng lai: mối tương quan của cái sau yếu hơn phù hợp với việc hiệu ứng thu nhập và hiệu ứng thay thế của sự thay đổi giá nhập khẩu có tác động ngược nhau lên tài khoản vãng lai. Kế tiếp, ở cột 4, kết quả đủ mạnh để bao gồm cả các thị trường mới nổi, được phân loại như là quốc gia có thu nhập trung 17 bình thấp, vào mẫu ( những quốc gia này là Trung Quốc, Colombia, Ấn Độ, Indonesia, Pakistan và Thái Lan). Hơn nữa, kết quả của chúng tôi cũng đủ mạnh để đưa ra cách dùng công cụ đo lường khái quát hơn sự tự do hóa tài khoản vốn, như được báo cáo trong cột 5. Trong cột 6,7 và 8, chúng tôi xem xét các số hạng tương tác khác với chỉ số độ mở của tài khoản vốn. Trong cột 6, chúng tôi kiểm soát sự tương tác giữa cân đối tài chính với chỉ số tài khoản vốn nhằm kiểm tra liệu tác động của chính sách tài khóa có phụ thuộc vào năng lực của các đại lý tư nhân trong việc bù đắp chính sách tài khóa bằng cách vay hoặc cho vay trên thị trường quốc tế hay không. Chúng tôi nhận ra rằng, trong mẫu LICs, sự tác động của chính sách tài khóa lên tổng cầu và lên tài khoản vãng lai thì không bị ảnh hưởng đáng kể bởi độ mở của tài khoản vốn. Tuy nhiên, dấu âm thì phù hợp với các lý thuyết thông thường, ngụ ý rằng ở quốc gia có độ mở tài khoản vốn càng cao thì tác động của cân đối tài chính lên tài khoản vãng lai càng thấp. Trong cột 7, chúng tôi xem xét sự tương tác với tốc độ tăng trưởng dân số, nhưng vẫn không tìm thấy bất cứ tác động nào có ý nghĩa. Dù vậy, dấu âm trên số hạng tương tác thì phù hợp với lý thuyết tân cổ điển, theo đó các quốc gia có dân số không hoạt động trẻ hơn sẽ có khả năng vay mượn dựa vào thu nhập tương lai nh iều hơn khi tài khoản vốn mở cửa. Cột cuối cùng xem xét số hạng tương tác với tăng trưởng GDP bình quân đầu người thực tế; dấu dương của số hạng tương tác, mặc dù không có ý nghĩa, vẫn gợi ý rằng các quốc gia có độ mở tài khoản vốn lớn hơn có khuynh hướng đạt được mức cân đối tài khoản vãng lai tốt hơn khi sự tăng trưởng tạm thời ở trên xu hướng của nó. Những quốc gia có thu nhập thấp có khác biệt không? Chúng tôi hy vọng các quốc gia có thu nhập thấp khác biệt với các quốc gia có thu nhập cao bởi vì rủi ro tổn thương cao hơn, sự bóp méo lớn hơn, nguồn vốn từ bên ngoài khác nhau. Bảng 3a và 3b khám phá sự tác động của các yếu tố quyết định tài khoản vãng lai trong trung hạn liệu có khác nhau đáng kể giữa các nước có thu nhập thấp với các nước có thu nhập cao hay không. Trong số các yếu tố quyết định tài khoản vãng lai thông thường, chúng tôi nhận thấy tác động của (i) cân đối tài chính; (ii) tỷ lệ phụ thuộc tuổi già và (iii) tài sản nước 18 ngoài ròng ban đầu lên tài khoản vãng lai ở những quốc gia có thu nhập thấp khác đáng kể so với ở các quốc gia khác. Đặc biệt, chúng tôi không tìm thấy mối liên quan đáng kể giữa tài khoản vãng lai với cân đối tài chính ở những quốc gia có thu nhập cao, một khám phá phù hợp với Chinn and Prasad (2003) và Isard and Faruqee (1999), họ cũng không tìm ra bất cứ mối liên quan đáng kể nào ở những nước công nghiệp. Kết quả này phù hợp với giả thuyết là sự tương đương Ricardian có khả năng trở thành thứ tự hợp lý đầu tiên trong quyết định tiêu dùng và tiết kiệm ở các quốc gia tiến bộ hơn là ở các quốc gia khác. Dấu âm của hệ số vị thế tài sản nước ngoài ròng ban đầu ở những quốc gia tiến bộ thì phù hợp dự báo rằng những quốc gia giàu hơn có thể duy trì cán cân tài khoản vãng lai thấp hơn trong trung hạn. Thật đáng ngạc nhiên, chúng tôi dường như tìm ra mối quan hệ ngược giữa tài khoản vãng lai với độ mở của tài khoản vốn ở các quốc gia phát triển hơn khi các nước này không có kinh nghiệm về thảm họa tự nhiên (cột 1) – 1 phát hiện dường như không phù hợp với dự báo thông thường của lý thuyết tân cổ điển, bởi vì các quốc gia giàu hơn đáng lẽ sẽ trải qua sự thoát vốn kh i m ở cửa tài kho ản vốn. Hơn nữa, đố i v ới nhóm quốc gia này, chúng tôi có được hệ số dương trên số hạng tương tác giữa biến độ mở của tài khoản vốn với biến thảm họa tự nhiên. Rất có thể kết quả này là do thực tế : đặc điểm trong cột 1 chỉ dành cho LICs, nhưng không dành cho các quốc gia có thu nhập cao; cả 2 cách giải thích có liên quan đến cách mà sự tự do hóa tài khoản vốn và thu nhập ảnh hưởng lẫn nhau, và vai trò của các cú sốc. Trong cột 2, chúng tôi đưa ra số hạng tương tác giữa biến số độ mở tài khoản vốn với GDP bình quân đầu người như cách để kiểm tra trực tiếp hơn dự đoán của lý thuyết tân cổ điển là vốn sẽ chảy từ quốc gia phát triển đến những quốc gia ít phát triển hơn. Hệ số dương của số hạng tương tác phù hợp với dự đoán của lý thuyết này, và ở các quốc gia giàu hơn, tổng tác động của sự tự do hóa tài khoản vốn lên tài khoản vãng lai quả thực là dương. Cũng có thể là ở các quốc gia có thu nhập cao, triển vọng kinh tế vĩ mô không có liên quan với thảm họa tự nhiên. Trong hồi qui 3, chúng tôi cắt bỏ biến thảm họa tự nhiên và số hạng 19 tương tác, và thấy rằng sự tương tác của chỉ số tự do hóa tài khoản vốn với GDP bình quân đầu người là phù hợp với dự đoán của lý thuyết phát triển thông thường. C. PHÂN TÍCH THỰC NGHIỆM YẾU TỐ TỶ GIÁ THỰC Phần này tìm hiểu về mối quan hệ giữa tỷ giá thực và các nguyên tắc cơ bản trong dài hạn. Nghiên cứu này tiến hành ước lượng bảng số liệu không cân bằng hàng năm, dữ liệu thu thập từ năm 1980 – 2006. Bảng thực nghiệm kiểm định cho thấy bản chất của các biến được nghiên cứu, ngoại trừ các cú shocks tự nhiên (xem bảng 4). Bảng kiểm định hồi quy đã cho chạy mô hình tiêu chuẩn của lãi suất (cột 3 trong Bảng 5 và 6) và bác bỏ quan điểm cho rằng phép kiểm định hồi quy không có giá trị. Các giả thiết đối với các biến hồi quy: cho một tham số thay đổi và cố định các tham số còn lại (Dynamic ordinary least squares DOLS), tiến hành ước lượng bằng phương pháp hồi quy mối quan hệ giữa tỷ giá thực với các biến cơ bản. Với các mức biến khác nhau, cho các biến ở vế phải thay đổi, đồng thời cũng tiến hành kiểm định trên các mẫu có độ lớn khác nhau theo hướng giảm dần. Mô hình kiểm định tiêu chuẩn cho các nước có thu nhập thấp Bảng 5 và bảng 6 đưa ra các thông số kỹ thuật của các nước có thu nhập thấp được tiến hành nghiên cứu với hai mức tỷ giá thực khác nhau. Đầu tiên là dựa trên một trong những chỉ số CPI được cung cấp bởi IMF-INS. Thứ hai là xây dựng từ mức giá tương đối với Hoa Kỳ như trong báo cáo của Penn World Table, sau đó thay hai mức tỷ giá trên bằng tỷ giá được tính toán bởi IMF-INS thì kết quả thu được là giống nhau. Với một vài trường hợp ngoại lệ được thảo luận dưới đây. Các biến kỹ thuật hồi qui bao gồm các biến cơ bản như nguồn vốn ngoại ròng, năng suất, tiêu dùng của chính phủ, tỷ giá, và hạn chế thương mại, ở các nước nghèo còn xét đến các biến như nguồn viện trợ và nguồn vốn đầu tư. Hơn nữa, kiểm soát dân số và giá cả cũng là các vấn đề cần thiết ở các nước có thu nhập thấp. Những yếu tố này cũng đã được nghiên cứu bởi những người khác ( xem bài nghiên cứu của Rose (2008) và Ricci (2008)). Cột đầu tiên 20
- Xem thêm -