Các giải pháp nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất kinh doanh và hạ thấp giá thành sản phẩm của công ty cổ phần giầy hưng yên

  • Số trang: 92 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 11 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI: “Các giải pháp nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất kinh doanh và hạ thấp giá thành sản phẩm của công ty cổ phần Giầy Hưng Yên.” 1 LỜI NÓI ĐẦU Trong năm 2006 vừa qua đất nước ta có một sự kiện kinh tế quan trọng thu hút sự quan tâm của mọi tầng lớp dân cư đặc biệt là các doanh nghiệp. Đó là ta đã kết thúc vòng đàm phán song phương với Mỹ về việc gia nhập WTO. Đây vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các doanh nghiệp phải có những chiến lược mục tiêu gì để tồn tại trong môi trường cạnh tranh gay gắt này khi hàng hoá của các nước bạn vào nước ta cũng sẽ không bị đánh thuế? Để tạo ra lợi nhuận, doanh nghiệp có hai cách lựa chọn: Một là tăng doanh thu từ các nguồn. Theo cách này doanh nghiệp phải tăng giá bán các thành phẩm, tăng lượng thành phẩm bán ra. Hai là doanh nghiệp phải tiết kiệm trong sản xuất kinh doanh nhằm giảm chi phí sản xuất kinh doanh, từ đó hạ giá thành sản phẩm. Trên thực tế việc tăng giá bán phụ thuộc vào các điều kiện khách quan trên thị trường. Doanh nghiệp cũng không thể tăng giá bán quá nhiều. Như vậy doanh nghiệp sẽ mất khả năng cạnh tranh, mất thị phần. Như vậy để tăng lợi nhuận doanh nghiệp cần tiết kiệm chi phí tối đa mà vẫn tạo ra sản phẩm có chất lượng cao. Có thể nói rằng chi phí và tiết kiệm chi phí trong sản xuất kinh doanh là một vấn đề quan trọng hàng đầu, buộc mọi doanh nghiệp, mọi bộ phận trong doanh nghiệp phải quan tâm. Để chiếm được một vị trí nhất định và đứng vững trên thị trường thì các doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần Giầy Hưng Yên nói riêng phải không ngừng đổi mới, tự hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế cho phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế củat Nhà nước. Với vai trò là một công cụ đắc lực của quản lý kinh doanh, kế toán tài chính cũng phải đổi mới theo. Đặc biệt việc đổi mới hoàn thiện công tác thực hiện chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm là yêu cầu cấp bách . Nhận thức được ý nghĩa vấn đề trên , qua quá trinh thực tập tại công ty TNHH Giầy Hưng Yên với quá trình tìm hiểu lý luận cũng như thực tiễn công 2 tác kế toán tài chính tại công ty được sự hướng dẫn nhiệt tình của TS. Lê Thị Kim Nhung cùng với sự giúp đỡ của các anh chị trong phòng kế toán tài chính của công ty Cổ phần Giầy Hưng Yên đã giúp em thực hiện bài chuyên đề với đề tài: "Các giải pháp nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất kinh doanh và hạ thấp giá thành sản phẩm của công ty cổ phần Giầy Hưng Yên. Em hy vọng bài chuyên đề sẽ góp phần hoàn thiện hơn nữa tình hình tổ chức thực hiện chi phí sản xuất kinh doanh và tính giá thành sản phẩm làm cơ sở cho việc tăng cường hiệu quả sản xuất kinh doanh tại công ty. Đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận gồm có 3 chương Chương I: Những vấn đề lý luận cơ bản về chi phí sản xuất kinh doanh, giá thành sản phẩm và các giải pháp tiết kiệm chi phí sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp sản xuất Chương II: Tình hình sử dụng và quản lý chi phí sản xuất kinh doanh tại công ty Cổ phần Giầy Hưng Yên Chương III: Một số giải pháp tiết kiệm chi phí sản xuất kinh doanh tại công ty Cổ phần Giầy Hưng Yên. 3 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHI PHÍ SẢN XUẤT KINH DOANH, GIÁ THÀNH SẢN PHẨM VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM TIẾT KIỆM CHI PHÍ SẢN XUẤT KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT. I. KHÁI NIỆM, NỘI DUNG, PHẠM VI VÀ PHÂN LOẠI CHI PHÍ SẢN XUẤT KINH DOANH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT. 1. Khái niệm, nội dung về chi phí trong doanh nghiệp sản xuất. Hoạt động kinh doanh chủ yếu của các doanh nghiệp sản xuất là tổ chức sản xuất sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm đó trên thị trường nhằm thu được lợi nhuận. Để tiến hành các hoạt động kinh tế, doanh nghiệp cần huy động và tổ chức sử dụng các nguồn lực: vật tư, tiền vốn, lao động và các yếu tố liên quan khác phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh. Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gắn liền với quá trình chi trả và tiêu phí các nguồn lực đó, tất cả các khoản chi trả và các phí tổn về vật tư, tiền vốn, lao động và các yếu tố khác đã tiêu dùng cho hoạt động kinh tế trong một thời kỳ nhất định được gọi là chi phí của doanh nghiệp. Chi phí của doanh nghiệp phát sinh hàng ngày, hàng giờ đa dạng và phức tạp phụ thuộc vào tính chất, đặc điểm, quy mô các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường do mọi yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh đều được biểu hiện thông qua chỉ tiêu giá trị, nên có thể hiểu: “Chi phí của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của các phí tổn về vật chất, về lao động và tiền vốn liên quan phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định”. Các chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra trong kỳ trước hết là các khoản chi phí huy động các yếu tố đầu vào phục vụ cho quá trình kinh doanh trong doanh nghiệp như: trả lãi tiền vay, trả tiền thuê các tài sản... Trong quá trình sản xuất sản phẩm doanh nghiệp phải bỏ ra các chi phí về các loại vật tư, nguyên nhiên vật liệu, hao 4 mòn máy móc, thiết bị, nhà xưởng, các công cụ dụng cụ phục vụ cho quá trình sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp. Ngoài ra doanh nghiệp còn phải trả lương cho công nhân trực tiếp sản xuất. Sau khi sản xuất sản phẩm doanh nghiệp tiến hành tiêu thụ sản phẩm đó trên thị trường để thu lợi nhuận. Quá trình tiêu thụ cũng đòi hỏi doanh nghiệp phải bỏ ra những khoản chi phí nhất định bao gồm: chi phí bao gói sản phẩm, vận chuyển, bảo quản sản phẩm. Đây gọi là chi phí tiêu thụ trực tiếp. Để giới thiệu rộng rãi sản phẩm cho người tiêu dùng như hướng dẫn người tiêu dùng, điều tra khảo sát thị trường nhằm có những quyết định đối với việc sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải bỏ ra các chi phí về nghiên cứu thị trường, tiếp thị quảng cáo, giới thiệu sản phẩm hay bảo hành sản phẩm. Đó gọi là chi phí tiêu thụ gián tiếp. Cả chi phí tiêu thụ gián tiếp và chi phí tiêu thụ trực tiếp gọi chung là chi phí tiêu thụ hay chi phí lưu thông sản phẩm. Cuối cùng là chi phí liên quan đến quản lý doanh nghiệp như : chi phí quản lý hành chính, quản lý kinh doanh, các khoản phí, lệ phí, thuế phải nộp ở khâu mua hàng hoá, dịch vụ (không kể thuế giá trị gia tăng được khấu trừ đối với doanh nghiệp nộp VAT theo phương pháp khấu trừ), chi phí sử dụng đất và chi phí khác. Như vậy từ góc độ của doanh nghiệp chi phí bao gồm các bộ phận: chi phí sản xuất sản phẩm, chi phí tiêu thụ sản phẩm và các chi phí khác liên quan đến các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp trong một thời kỳ cụ thể. Chi phí trong kỳ của doanh nghiệp phát sinh hàng ngày, hàng giờ, đa dạng và phức tạp tác động đến nhiều mặt hoạt động kinh tế của doanh nghiệp. Tuỳ thuộc vào mục tiêu quản lý chi phí người ta có thể chia chi phí trong kỳ của doanh nghiệp thành những bộ phận khác nhau. - Theo loại hình hoạt động thì chi phí của doanh nghiệp bao gồm 2 bộ phận cơ bản: - Chi phí sản xuất kinh doanh (SXKD): chi phí SXKD mà biểu hiện bằng tiền của các chi phí về vật chất, về lao động và về tiền vốn liên quan, phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp cho hoạt động SXKD thông thường của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Đây là bộ phận chi phí gắn liền với quá trình mua bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ và hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Bộ phận chi phí này bao 5 gồm giá vốn của hàng hoá, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí trả lãi tiền vay và các chi phí liên quan đến hoạt động sử dụng tài sản sinh lời khác của doanh nghiệp trong kỳ… Đây là bộ phận chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi phí của doanh nghiệp trong kỳ. Doanh nghiệp cần phải tổ chức quản lý tốt, phấn đấu giảm chi phí, hạ thấp giá thành của sản phẩm để tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp. - Chi phí khác là các chi phí phát sinh ngoài các chi phí SXKD của doanh nghiệp đã nêu ở trên như: chi phí về thanh lý nhượng bán tài sản cố định, các khoản tiền phạt về vi phạm hợp đồng kinh tế, vi phạm luật…. Đây là những khoản chi phí phát sinh không thường xuyên trong kỳ, doanh nghiệp khó có thể lượng hoá được. Tuy vậy doanh nghiệp cũng cần phải quản lý tốt bộ phận này nhằm giảm chi phí cần thiết để tăng cường lợi nhuận cho doanh nghiệp. 2. Phạm vi của chi phí sản xuất kinh doanh : * Ý nghĩa của việc xác định phạm vi chi phí SXKD: Chi phí SXKD là một bộ phận chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí của một kỳ hạch toán của doanh nghiệp phục vụ hoạt động SXKD của doanh nghiệp trong thời kỳ đó. Xác định đúng đắn phạm vi chi phí SXKD của doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng không chỉ với công tác tài chính của doanh nghiệp mà còn đối với công tác quản lý Nhà nước về kinh tế. - Đối với doanh nghiệp: Việc xác định đúng phạm vi chi phí SXKD là căn cứ quan trọng để doanh nghiệp tiến hành công tác kế hoạch hoá chi phí, tập hợp và hạch toán các chi phí phát sinh trong kỳ vào tổng chi phí SXKD một cách chính xác, trên cơ sở đó xác định lợi nhuận và các chỉ tiêu tài chính khác như: + Làm cơ sở để tập hợp các chi phí phát sinh trong kỳ của doanh nghiệp thương mại vào giá thành sản phẩm hàng hoá dịch vụ đã thực hiện ở kỳ, trên cơ sở đó tính toán sự phải bù đắp, tính toán đúng đắn lợi nhuận và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. + Làm cơ sở để xác định giá bán cạnh tranh của doanh nghiệp thương mại để mở rộng doanh thu, tăng sức cạnh tranh của mình trên thị trường. Mặt khác xác định đúng đắn phạm vi chi phí SXKD còn là căn cứ quan trọng để doanh nghiệp tiến 6 hành kiểm tra, phân tích, đánh giá công tác quản lý chi phí, tìm ra được giải pháp tốt nhất nhằm tiết kiệm chi phí, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. - Đối với Nhà nước: Phạm vi chi phí SXKD là cơ sở để Nhà nước kiểm tra, thanh tra hoạt động của các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng, xác định đúng đắn nghĩa vụ tài chính và đảm bảo quyền bình đẳng của các doanh nghiệp đó là: thuế thu nhập doanh nghiệp, tránh thất thu thuế cho Nhà nước. Về nguyên tắc chi phí SXKD được ghi nhận trong báo cáo kết quả hoạt động SXKD khi các khoản này làm giảm bớt lợi ích kinh tế trong tương lai có liên quan đến việc giảm bớt tài sản hoặc tăng nợ phải trả và chi phí này xác định một cách đáng tin cậy. * Xác định phạm vi chi phí SXKD: Yêu cầu cơ bản nhất của việc xác định đúng đắn phạm vi chi phí SXKD là phải tập hợp đầy đủ, chính xác, kịp thời các chi phí phát sinh trong kỳ liên quan đến hoạt động SXKD thông thường vào chi phí SXKD của doanh nghiệp ở kỳ đó. Về nguyên tắc chi phí SXKD được bù đắp doanh thu của doanh nghiệp trong kỳ nên mọi chi phí phát sinh trong kỳ không được bù đắp từ doanh thu của kỳ đó đều không thuộc vào chi phí SXKD. Các chi phí phát sinh trong kỳ thuộc vào chi phí SXKD trong kỳ bao gồm: - Chi phí về vật tư (nguyên liệu, vật liệu, động lực…) biểu hiện bằng tiền của nguyên, vật liệu, động lực đã sử dụng vào hoạt động SXKD thông thường của doanh nghiệp trong kỳ. - Chi phí tiền lương bao gồm: toàn bộ tiền lương, tiền công và các khoản chi phí có tính chất lương trả cho nguồn lao động. - Các khoản trích nộp theo quy định hiện hành của Nhà nước như: Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Chi phí công đoàn. - Khấu hao tài sản cố định: đó là số tiền trích khấu hao tài sản cố định của doanh nghiệp được tính vào chi phí SXKD của doanh nghiệp ở kỳ hạch toán. - Chi phí dịch vụ mua ngoài: là các chi phí phải trả cho các tổ chức, các nhân bên ngoài doanh nghiệp về các dịch vụ mà họ cung cấp theo yêu của doanh nghiệp như: chi phí vận chuyển, tiền điện, tiền nước, chi phí kiểm toán, quảng cáo, hoa hồng đại lý, môi giới, uỷ thác… 7 - Chi phí bằng tiền khác như: thuế môn bài, thuế tài nguyên, chi phí tiếp tân, hội họp, đi nước ngoài. - Chi phí dự phòng: là các khoản trích dự phòng giảm giá vật tư, hàng hoá, nợ khó đòi được hạch toán vào chi phí trong kỳ của doanh nghiệp theo quy định. - Chi phí phát sinh từ các hoạt động tài chính như: chi phí trả lãi tiền vay, thuê tài sản, mua bán chứng khoán, liên doanh liên kết, chiết khấu thanh toán trả cho người mua khi họ thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ trước hạn và các chi phí hoạt động tài chính khác. Các chi phí không thuộc phạm vi chi phí SXKD của doanh nghiệp bao gồm: - Chi phí đầu tư dài hạn của doanh nghiệp như: chi phí xây dựng cơ bản, mua sắm tài sản cố định, đào tạo dài hạn, nghiên cứu khoa học, đổi mới công nghệ, nâng cấp tài sản cố định, nhóm chi này được bù đắp từ nguồn vốn đầu tư dài hạn của doanh nghiệp, nên không phải là chi phí của doanh nghiệp trong kỳ - Chi phí phúc lợi xã hội: Chi phí phục vụ văn hoá thể thao, y tế vệ sinh, tiền thưởng, ủng hộ nhân đạo …Những khoản chi này được bù đắp từ nguồn vốn chuyên dùng vào các quỹ chuyên dùng của doanh nghiệp nên cũng không phải là chi phí của doanh nghiệp - Các khoản tiền phạt do vi phạm luật, nếu do cá nhân hay tập thể gây ra thì người đó phải nộp phạt, phần còn lại phải lấy từ lợi nhuận sau thuế để bù đắp - Các khoản chi vượt định mức cho phép theo quy định của pháp luật như chi phí giao dịch, tiếp khách vượt mức quy định, … 3.Phân loại chi phí SXKD Phân loại chi phí SXKD phù hợp với đặc điểm tình hình SXKD là mục tiêu quản lý kinh tế của doanh nghiệp sẽ giúp cho doanh nghiệp xác định được xu hướng hình thành kết cấu chi phi SXKD trong từng thời kỳ khác nhau đồng thời là cơ sở cho công tác kế hoạch hoá, kiểm tra, phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch chi phi SXKD của doanh nghiệp. Nhờ đó mà tìm ra được các biện pháp tốt nhất cho doanh nghiệp Tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh doanh, các tiêu chuẩn kinh doanh khác nhau và mục tiêu quản lý chi phí SXKD khác nhau trên thực tế cũng như trên lý thuyết có nhiều phương phân loại chi phí khác nhau 8 Đối với doanh nghiệp sản xuất có thể phân loại chi phí SXKD theo các tiêu chí sau: 3.1. Phân loại chi phí SXKD Theo tính chất các khoản chi phí phát sinh, chi phí SXKD của doanh nghiệp trong kỳ bao gồm: +Tiền lương, tiền công, phụ cấp lương… trả cho người lao động +Tiền trả về cung cấp dịch vụ, lao vụ cho các ngành kinh tế khác như: Cước phí vận chuyển, bốc dỡ hàng hoá, tiền thuê kho bãi, điện thoại , nước, lãi vay trả cho các tổ chức tín dụng + Hao phí vật tư, tài sản: chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí nguyên vật liệu, … +Hao hụt tự nhiên của hàng hoá: là các chi phí biểu hiện giá trị của vật tư hàng hoá bị hao hụt do điều kiện tự nhiên gây ra trong quá trình vận chuyển, bảo quản và tiêu thụ +Chi phí khác bao gồm: chi phí giao dịch, hội họp tiếp khách, đồ dùng văn phòng… Cách phân loại này giúp doanh nghiệp theo dõi và quản lý các khoản mục chi phí theo tính chất của chi phí tạo điều kiện tốt cho quá trình kiểm soát từng bộ phận chi phí cho doanh nghiệp 3.2 Căn cứ vào các khâu kinh doanh của doanh nghiệp Chi phí SXKD của doanh nghiệp được chia làm các bộ phận chủ yếu sau: + Chi phí phát sinh ở khâu mua hàng hoá, dịnh vụ bao gồm các chi phí như: Trị giá mua của hàng hoá, dịch vụ mua vào, các khoản phí , lệ phí, thuế phát sinh ở khâu mua, chi phí vận chuyển từ nơi mua hàng đến kho của doanh nghiệp và các chi phí khác có liên quan tính đến thời điểm đưa hàng hoá vào nhập kho của doanh nghiệp. Toàn bộ những chi phí này hình thành nên giá vốn của hàng hoá nhập kho + Chi phí ở khâu dự trự: Là các chi phí phát sinh liên quan đến quá trình tổ chức dự trữ hàng hoá trong kỳ của doanh nghiệp như: Bao bì , vật liệu đóng gói, khấu hao tài sản cố định phục vụ công tác dự trữ hàng hoá, lương của công nhân viên quản lý kho và các chi phí bằng tiền khác phát sinh ở khâu dự trữ hàng hoá 9 + Chi phí ở khâu tiêu thụ hàng hoá: Là các chi phí phát sinh liên quan đến quá trình tiêu thụ hàng hoá, cung cấp dịch vụ trong kỳ như chi phí về vật chất tiền lương của nhân viên bán hàng, khấu hao tài sản cố định, chi phí vận chuyển hàng hoá từ kho của doanh nghiệp đến tay người tiêu dùng, chi phí quảng cáo, giới thiệu sản phẩm, chi phí bảo hành, các chi phí dịch vụ mua ngoài khác như chi phí sửa chữa tài sản thuê ngoài, hoa hồng đại lý, uỷ thác và các chi phí khác phát sinh ở khâu tiêu thụ đã nêu ở trên Phân loại chi phí theo khâu kinh doanh giúp doanh nghiệp quản lý chi phí phát sinh theo từng khâu kinh doanh của doanh nghiệp, trên cơ sở đó mà tiết kiệm được chi phí, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp 3.3 Căn cứ vào cơ chế quản lý tài chính và chế độ hạch toán hiện hành, chi phí SXKD của doanh nghiệp Cơ chế quản lý tài chính và chế độ hạch toán hiện hành, chi phí SXKD của doanh nghiệp trong kỳ được chia thành các khoản mục chi phí sau: - Chi phí mua hàng hoá: Là những chi phí phát sinh liên quan đến số lượng hàng hoá mua vào nhập kho để bán của doanh nghiệp trong kỳ, thuộc nhóm này bao gồm trị giá mua của hàng hoá và chi phí khác liên quan ở khâu mua hàng như: phí vận chuyển, bốc dỡ, tiền thuê kho bãi, thuế, lệ phí, chi phí bảo hiểm hàng hoá, lương cán bộ chuyên trách ở khâu mua Chi phí mua hàng hoá phát sinh đối với hàng hoá đã tiêu thụ trong kỳ của doanh nghiệp gọi là giá vốn hàng hoá đã tiêu thụ. - Chi phí bán hàng là toàn bộ những chi phí phát sinh từ hoạt động phục vụ bán hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp trong kỳ như: + Chi phí về vật tư (nguyên, nhiên vật liệu) phục vụ quá trình sản xuất, dự trữ, bảo quản, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp trong kỳ. + Chi phí dụng cụ, đồ dùng phục vụ quá trình tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ như: dụng cụ đồ dùng, phương tiện làm, phương tiện tính toán… + Chi phí khấu hao tài sản cố định ở bộ phận bảo quản và tiêu thụ hàng hoá như: kho tàng, cửa hàng, phương tiện vận chuyển, bốc dỡ hàng hoá. 10 + Chi phí dịch vụ mua ngoài: chi phí sửa chữa tài sản cố định thuê ngoài, tiền thuê kho bãi, vận chuyển, bốc dỡ hàng hoá để tiêu thụ, hoa hồng đại lý bán hàng, hoa hồng uỷ thác xuất khẩu. + Các chi phí khác. - Chi phí quản lý doanh nghiệp là tất cả các chi phí phát sinh ở bộ máy quản lý chung của doanh nghiệp bao gồm: + Chi phí nhân viên quản lý. + Chi phí đồ dùng văn phòng. + Chi phí khấu hao tài sản cố định ở bộ phận quản lý doanh nghiệp. + Thuế, phí, lệ phí. + Chi phí bằng tiền khác. Chi phí quản lý doanh nghiệp là bộ phận chi phí gián tiếp của chi phí SXKD. Tỷ trọng của bộ phận này trong tổng chi phí SXKD của doanh nghiệp phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động SXKD và trình độ tổ chức quản lý hoạt động SXKD của doanh nghiệp. - Chi phí hoạt động tài chính: là các chi phí phát sinh có liên quan và phục vụ cho việc đầu tư vốn ra ngoài doanh nghiệp nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Cách phân loại này giúp doanh nghiệp tổ chức tốt quá trình hạch toán chi phí của doanh nghiệp phù hợp với chế độ hạch toán kế toán và kiểm toán hiện hành của Nhà nước, thuận lợi cho việc kiểm soát chi phí phát sinh ở từng khâu SXKD của doanh nghiệp trong kỳ, tính toán các chỉ tiêu tài chính quan trọng được dễ dàng, phát hiện được ưu, nhược điểm của công tác quản lý chi phí trong từng khâu kinh doanh và bộ phận chi phí hoạt động tài chính riêng biệt. 3.4. Phân loại chi phí SXKD theo tính chất biến đổi của chi phí so với sự biến đổi của doanh thu. Chi phí SXKD của doanh nghiệp được chia thành 2 loại: - Chi phí cố định là bộ phận chi phí phát sinh trong kỳ không thay đổi khi doanh thu thay đổi, bắt buộc doanh nghiệp phải thanh toán, thậm chí cả khi doanh nghiệp không có doanh thu trong kỳ. Thuộc loại này bao gồm: chi phí thuê văn phòng, máy móc, thiết bị, lãi vay phải trả, lương cán bộ gián tiếp, khấu hao TSCĐ… 11 - Chi phí biến đổi là những chi phí thay đổi khi doanh thu của doanh nghiệp thay đổi như: + Chi phí nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất sản phẩm. + Chi phí bao bì, vật liệu đóng gói. + Lương trả theo sản phẩm. Theo định nghĩa thì chi phí biến đổi bắt đầu bằng số 0 khi doanh thu bằng 0 và nó sẽ tăng lên khi doanh thu tăng lên. Điều đáng chú ý là tổng chi phí bằng chi phí cố định + chi phí biến đổi, nên mức tăng của tổng chi phí SXKD khi doanh thu tăng lên đúng bằng mức tăng của chi phí biến đổi (vì chi phí cố định không thay đổi). Điều này rất quan trọng đối với việc ra quyết định sản xuất, quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Ngoài những cách phân loại như trên, có thể tiến hành phân loại chi phí SXKD theo những tiêu thức khác như: phân loại chi phí SXKD thành chi phí trực tiếp, chi phí gián tiếp; chi phí định mức, chi phí thực tế, chi phí theo nhóm mặt hàng hoá kinh doanh. Phân loại chi phí SXKD có ý nghĩa lớn đối với việc quản lý chi phí tăng hiệu quả sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp, tiết kiệm chi phí SXKD, tăng được lợi nhuận và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Phân loại chi phí SXKD phù hợp với mục tiêu quản lý và đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, còn giúp doanh nghiệp hình thành được kết cấu chi phí tối ưu, phục vụ tốt công tác kế hoạch hoá chi phí SXKD của doanh nghiệp. II. GIÁ THÀNH SẢN PHẨM: Nghiên cứu chi phí cho ta biết được tổng chi phí của doanh nghiệp trong một thời kỳ hạch toán cụ thể, từ đó tính được lợi nhuận của doanh nghiệp trong kỳ. Tuy nhiên lại không cho ta biết chi phí cho từng loại sản phẩm, dịch vụ cụ thể của doanh nghiệp. Những điều này rất quan trọng đối với các quyết định đầu tư, quyết định lựa chọn mặt hàng kinh doanh, lựa chọn chiến lược bán hàng của doanh nghiệp. Nhằm phát huy mọi tiềm năng của doanh nghiệp, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, một chỉ tiêu tài chính quan trọng có cùng bản chất với chỉ tiêu chi phí sẽ giúp doanh nghiệp giải quyết được những vấn đề trên, đó là chỉ tiêu giá thành sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp. 12 1. Khái niệm giá thành sản phẩm: Giá thành sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp là toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để hoàn thành việc sản xuất và tiêu thụ một khối lượng sản phẩm dịch vụ nhất định. Giá thành sản phẩm, dịch vụ (gọi tắt là giá thành) của doanh nghiệp thể hiện chi phí cá biệt của doanh nghiệp để hoàn thành việc sản xuất và tiêu thụ một loại sản phẩm , dịch vụ cụ thể. Cùng một loại sản phẩm, dịch vụ giống nhau doanh nghiệp nào có trình độ tổ chức quản lý SXKD tốt hơn, sử dụng trình độ công nghệ cao hơn thì giá thành của doanh nghiệp đó thấp hơn. Nghĩa là giá thành phản ánh chất lượng và trình độ SXKD của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh diễn ra gay gắt doanh nghiệp nào có chất lượng hàng hoá tốt hơn, giá thành thấp hơn sẽ có sức cạnh tranh cao hơn và chiếm được thị phần cao hơn, đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển tốt, ngược lại thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn, thậm chí dẫn đến phá sản. Do giá thành được định nghĩa từ khái niệm chi phí, nên giữa chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau, đồng thời cũng có sự khác nhau về quan điểm xem xét trong mối quan hệ với các yếu tố khác nhau của quá trình SXKD trong doanh nghiệp. - Giá thành và chi phí đều được biểu hiện bằng tiền của các phí tổn về nguồn lực của doanh nghiệp trong quá trình SXKD. Tuy nhiên giá thành chỉ biểu hiện phí tổn của nguồn lực đã tiêu dùng để hoàn thành việc sản xuất hoặc tiêu thụ một khối lượng sản phẩm, dịch vụ nhất định, trong khi chi phí lại biểu hiện phí tổn của nguồn lực trong một thời kỳ hạch toán của doanh nghiệp bao gồm cả các chi phí liên quan đến hàng hoá tồn kho đầu kỳ, cuối kỳ của doanh nghiệp. - Chi phí của doanh nghiệp trong kỳ là cơ sở để tập hợp, tính giá thành của sản phẩm, dịch vụ, sự tiết kiệm hay lãng phí chi phí của doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành. Vì vậy quản lý giá thành luôn luôn gắn với quản lý chi phí của doanh nghiệp. 2. Phân loại giá thành sản phẩm. Giá thành của doanh nghiệp được xem xét trên nhiều góc độ khác nhau. Để nâng cao hiệu quả công tác quản lý giá thành cần thiết phải phân loại giá thành: 13 2.1. Phân loại giá thành theo các giai đoạn của quá trình SXKD trong doanh nghiệp. Giá thành có hai loại: * Giá thành sản xuất sản phẩm: - Giá thành sản xuất sản phẩm là toàn bộ chi phí của doanh nghiệp để hoàn thành việc sản xuất một khối lượng sản phẩm nhất định. Giá thành sản xuất sản phẩm có thể được tính cho một đơn vị sản phẩm hoàn thành hoặc cho một khối lượng sản phẩm đã hoàn thành. - Giá thành đơn vị sản xuất là toàn bộ chi phí của doanh nghiệp để hoàn thành việc sản xuất một đơn vị sản phẩm cụ thể. - Giá thành sản xuất sản phẩm bao gồm: + Chi phí nhân công trực tiếp và chi phí nguyên vật liệu trực tiếp như: chi phí tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp có tính chất lương trả cho công nhân trực tiếp sản xuất ra sản phẩm đó, các nguyên nhiên liệu, vật liệu sử dụng trực tiếp để tạo ra sản phẩm đó. + Chi phí sản xuất chung là các chi phí chung phát sinh ở phân xưởng, bộ phận sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp như: tiền lương và phụ cấp có tính chất lương, chi phí về vật liệu, công cụ, dụng cụ dùng cho sản xuất, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí khác liên quan đến bộ phận sản xuất sản phẩm. * Giá thành toàn bộ của sản phẩm, dịch vụ đã tiêu thụ: Giá thành toàn bộ của sản phẩm, dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ bao gồm: - Giá thành sản xuất. - Chi phí bán hàng. - Chi phí quản lý doanh nghiệp. + Chi phí bán hàng là toàn bộ các chi phí phát sinh từ hoạt động tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ (kể cả chi phí bảo hành sản phẩm). + Chi phí quản lý doanh nghiệp là toàn bộ các chi phí phục vụ bộ máy quản lý điều khiển doanh nghiệp và các chi phí khác liên quan đến quản lý doanh nghiệp. Giá thành toàn bộ của doanh nghiệp được tính cho một đơn vị sản phẩm, dịch vụ đã tiêu thụ được gọi là giá thành đơn vị của sản phẩm, dịch vụ đã tiêu thụ. 14 2.2. Theo nguồn gốc số liệu chi phí để tổng hợp giá thành. Giá thành sản phẩm, dịch vụ bao gồm ba loại: - Giá thành định mức: là giá thành sản phẩm, dịch vụ được tổng hợp căn cứ vào các định mức chi phí hiện hành do doanh nghiệp hoặc cơ quan quản lý quyết định. Nó là một công cụ quan trọng giúp doanh nghiệp quản lý giá thành của mình đạt được mục tiêu tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp. - Giá thành kế hoạch: được tính căn cứ vào kế hoạch doanh thu, kế hoạch sản lượng và kế hoạch chi phí SXKD của doanh nghiệp. Giá thành kế hoạch là một công cụ quan trọng để doanh nghiệp kiểm tra quá trình thực hiện kế hoạch giá thành của mình. - Giá thành thực tế: là loại giá thành được tập hợp tính toán căn cứ vào số liệu phát sinh thực tế về chi phí SXKD trong kỳ của doanh nghiệp và số lượng thực tế sản phẩm, dịch vụ để thực hiện được trong kỳ của doanh nghiệp đó. Giá thành thực tế được sử dụng để phân tích, so sánh, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá thành của doanh nghiệp trong kỳ hạch toán cụ thể, làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Phương pháp xác định giá thành sản phẩm. 2.3. Xác định giá thành sản xuất của sản phẩm. Có nhiều phương pháp khác nhau để tính giá thành của doanh nghiệp. Dưới đây là một số phương pháp thường được sử dụng tại các doanh nghiệp để tính giá thành sản xuất của sản phẩm. * Phương pháp trực tiếp (giản đơn): Theo phương pháp này thì giá thành sản xuất của một loại sản phẩm nhất định được xác định như sau: Tổng giá th nh sản xuất sản phẩm trong kỳ = Giá trị sản phẩm + dở dang đầu kỳ Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ Giá thành đơn vị Tổng giá thành sản xuất sản phẩm trong kỳ = sản xuất Tổng số lượng sản phẩm đã hoàn thành trong kỳ 15 Giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ Phạm vi áp dụng: phương pháp này được áp dụng tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc số lượng mặt hàng kinh doanh của doanh nghiệp là ít như: nhà máy điện, nước, khai thác khoáng sản * Phương pháp tổng cộng chi phí Theo phương pháp này giá thành sản xuất sản phẩm được tính bằng cách tổng cộng chi phí sản xuất của các bộ phận, các chi tiết khác nhau của bộ phận đó, hoặc tổng cộng chi phí sản xuất của các giai đoạn, các bộ phận sản xuất cùng tạo ra sản phẩm đó Phương pháp này được áp dụng tại các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm được thực hiện theo các công đoạn khác nhau, theo nhừng chi tiết, bộ phận của sản phẩm * Phương pháp hệ số Theo phương pháp này, trước hết kế toán căn cứ vào hệ số quy đổi sản phẩm gốc để đưa toàn bộ các loại sản phẩm gốc (hay quy đổi) Theo công thức sau n Tổng sản phẩm gốc = ∑Qi-Ki (đã hoàn thành) i=1 Trong đó: Qi: Số lượng sản phẩm loại i đã hoàn thành Ki: Hệ số quy đổi sản phẩm loại i thành sản phẩm gốc, hệ số này do doanh nghiệp quy định căn cứ vào đặc điểm tính chất của các loại sản phẩm mà doanh nghiệp kinh doanh Bước tiếp theo: Tính giá thành đơn vị sản phẩm gốc: (Zđv) Zđv = Tổng chi phí sản xuất các loại sản phẩm Tổng sản phẩm quy đổi (gốc) Tổng chi phí sản xuất Chi phí sản xuất Giá trị sản phẩm Giá trị sản phẩm của các loại sản phẩm = sản phẩm phát sinh + dở dang đầu kỳ dở dang cuối kỳ (hoàn thành) thực tế trong kỳ Cuối cùng tính giá thành đơn vị của từng loại sản phẩm i theo công thức Zi = Zđv x Ki 16 Trong đó: Zi là giá thành đơn vị của sản phẩm i Phạm vi ứng dụng: Phương pháp này được áp dụng khi doanh nghiệp có nhiều đối tượng tính giá thành nhưng lại có cùng một công nghệ sản xuất và cùng một loại nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu đầu vào, do đó đối tượng hạch toán chi phí sản xuất trong trường hợp này là toàn bộ chi phí sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp đó, không phân biệt sản phẩm nào * Phương pháp tỉ lệ (tính giá thành sản xuất của sản phẩm) Nội dung của phương pháp này như sau: -Trước hết doanh nghiệp phải xây dựng chỉ tiêu giá thành kế hoạch cho từng loại sản phẩm cụ thể của mình -Căn cứ vào tổng giá thành thực tế và tổng giá thành kế hoạch tính theo số lượng sản phẩm thực tế đã hoàn thành để tính tỷ lệ điều chỉnh giá thành theo công thức Tỷ lệ điều chỉnh Tổng giá thành thực tế x 100% = giá thành Tổng giá thành kế hoạch với sản lượng thực tế Cuối cùng là: Giá thành sản xuất thực tế Giá thành kế hoạch Tỷ lệ điều chỉnh = x của sản phẩm loại i sản phẩm loại i giá thành Điều kiện áp dụng: Phương pháp này được áp dụng khi doanh nghiệp xây dựng được kế hoạch giá thành đơn vị sản phẩm cho từng loại sản phẩm của mình * Phương pháp loại trừ Phương pháp này được áp dụng khi doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất vừa chế tạo sản phẩm chính vừa chế tạo sản phẩm phụ, nhưng doanh nghiệp chỉ tính giá thành sản phẩm chính, vì vậy phải loại trừ giá trị của sản phẩm phụ Cách tính như sau: Tổng giá thành Giá trị Tổng chi phí Giá trị sản phẩm Giá trị sản phẩm chính = sản phẩm dở dang + sản xuất thực tế dở dang cuối kỳ - sản phẩm phụ đầu kỳ trong kỳ phát sinh Trong đó giá trị sản phẩm phụ có thể tính theo giá bán kế hoạch hoặc giá bán thực tế * Phương pháp liên hợp 17 Là phương pháp tính giá thành bằng cách kết hợp các phương pháp tính giá thành đã nêu ở trên. Phương pháp này được áp dụng tại các doanh nghiệp có tổ chức sản xuất kinh doanh phức tạp, kinh doanh nhiều loại sản phẩm, dịch vụ khác nhau, trên một quy mô lớn, đòi hỏi phải tính giá thành sản phẩm cho nhiều loại sản phẩm dịch vụ khác nhau với những quy trình công nghệ độc lập 3.Tính giá thành toàn bộ của sản phẩm đã tiêu thụ Để tính giá thành toàn bộ của sản phẩm đã tiêu thụ sử dụng các công thức sau: Giá thành Giá thành toàn bộ Chi phí Chi phí của sản phẩm = sản xuất + bán hàng + quản lý doanh nghiệp đã tiêu thụ của sản phẩm của sản phẩm của sản phẩm Trong đó: -Giá thành sản xuất của sản phẩm được tính theo một trong các phương pháp đã nêu ở trên -Chi phí bán hàng của sản phẩm là: bộ phận chi phí bán hàng đã phân bổ cho khối lượng sản phẩm đã tiêu thụ tương ứng -Chi phí quản lý doanh nghiệp của sản phẩm:là bộ phận chi phí quản lý phân bổ cho khối lượng sản phẩm đã tiêu thụ tương ứng Việc xác định các loại chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp cho khối lượng sản phẩm theo công thức trên trong trường hợp doanh nghiệp kinh doanh nhiều loại sản phẩm dịch vụ khác nhau là rất phức tạp gắn liền với việc phân bổ chi phí chung cho khối lượng sản phẩm đã tiêu thụ và không có cách phân bổ nào là có giá trị khoa học nổi bật.Vì vậy tuỳ thuộc vào chiến lược SXKD, tình hình thị trường, chiến lược tiếp thị mà doanh nghiệp lựa chọn cách phân bổ cho phù hợp III. QUẢN LÝ CHI PHÍ VÀ GIÁ THÀNH 1.Ý nghĩa và yêu cầu của công tác quản lý chi phí và giá thành Chi phí và giá thành sản, dich vụ của doanh nghiệp gắn liền với quá trình SXKD và có tác động trực tiếp đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp, đến mục tiêu kinh tế trực tiếp của doanh nghiệp là lợi nhuận tối đa. Vì vậy tất cả các doanh nghiệp kinh doanh trong nền kinh tế thị trường đều phải tổ chức tốt việc quản lý chi phí và giá thành sản phẩm, dịch vụ của mình 18 Quản lý chi phí và giá thành của doanh nghiệp được hiểu là hoạt động có mục tiêu của lãnh đạo doanh nghiệp, lãnh đạo tài chính doanh nghiệp nói riêng trong việc sử dụng các công cụ, các cách thức, phương pháp và biện pháp quản lý cần thiết nhằm tổ chức quá trình sử dụng nguồn lực (vật tư, tiền vốn, lao động) của doanh nghiệp phục vụ tốt nhất cho quá trình hoạt động kinh tế của doanh nghiệp Mục tiêu cơ bản nhất của quản lý chi phí và giá thành là tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, dịch vụ trên cơ sở thực hiện tốt nhất quá trình SXKD của doanh nghiệp Chính vì những lý do nêu ở trên, nên có thể khẳng định công tác quản lý chi phí và giá thành sản phẩm , dịch vụ của doanh nghiệp có ý nghĩa kinh tế to lớn đối với doanh nghiệp, biểu hiện qua nhừng mặt cơ bản sau: -Quản lý tốt chi phí và giá thành sẽ giúp doanh nghiệp thực hiện kế hoạch SXKD với hiệu quả cao nhất, do đó tiết kiệm được chi phí hạ được giá thành sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp, biểu hiện ở những nội dung cơ bản sau: +Tổ chức phân công, phân cấp quản lý chi phí và giá thành đúng đắn phù hợp với tình hình, đặc điểm SXKD của doanh nghiệp +Làm tốt công tác kế hoạch hoá chi phí và giá thành (bao gồm lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, phân tích đánh giá tình hình thức hiện kế hoạch, tìm các giải pháp biện pháp quản lý tốt để tiết kiệm chi phí và hạ thấp giá thành ngay cả trong quá trình thực hiện kế hoạch cũng như cho kỳ kế hoạch tới) Trong công tác kế hoạch hoá, kế hoạch chi phí và giá thành là một công cụ quan trọng phục vụ cho việc quản lý chi phí và giá thành.Kế hoạch này được lập ra nhằm phục vụ cho việc hoàn thành kế hoạch SXKD một cách tốt nhất, đồng thời phải quán triệt mục tiêu tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm , dịch vụ của doanh nghiệp .Vì vậy thực hiện tốt công tác kế hoạch hoá chi phí và giá thành đồng nghĩa với việc thực hiện tốt kế hoạch SXKD , tiết kiệm được chi phí, hạ được giá thành sản phẩm , dịch vụ của doanh nghiệp. Mặt khác do tiết kiệm được chi phí, hạ được giá thành sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp nên sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp có sức cạnh tranh cao trên thị trường về giá, nếu doanh nghiệp thực hiện chiến lựơc bán hàng với giá cạnh hợp lý sẽ giúp doanh nghiệp tăng được doanh thu, một tiền đề quan trọng giúp doanh nghiệp tăng lợi nhuận trong hiện tại và tương lai. 19 Ngoài ra việc loại bỏ những chi phí không cần thiết, chống được hiện tượng lãng phí trực tiếp làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, đồng thời giải phóng được vốn phục vụ đầu tư mở rộng SXKD cho doanh nghiệp. Từ đó nâng cao được hiệu quả SXKD cho doanh nghiệp +Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam, quản lý tốt chi phí và giá thành sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp còn rèn luyện được kỹ năng và tác phong lao động công nghiệp cho từng tập thể lao động và toàn bộ doanh nghiệp, gắn liền với lợi ích của người lao động với lợi ích của doanh nghiệp, khuyến khích người lao động thực hành tiết kiệm, cải tiến công tác, có nhiều sáng kiến trong SXKD, tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả SXKD cho doanh nghiệp Ngược lại, nếu doanh nghiệp tổ chức quản lý chi phí và giá thành không tốt thì gây hậu quả rất nặng nề cho doanh nghiệp , thậm chí dẫn đến phá sản 2. Cơ sở của công tác quản lý chi phí và giá thành Để đạt được mục tiêu của quản lý chi phí và giá thành cần thiết phải dựa vào những cơ sở quan trọng sau đây: - Cơ chế tài chính nói chung, quản lý chi phí và giá thành của Nhà nước nói riêng. Yếu tố này tạo ra hành lang pháp lý, xác định rõ những nguyên tắc, những quy định mang tính pháp quy trong việc tổ chức quá trình quản lý chi phí và giá thành của doanh nghiệp, bắt đầu từ giai đoạn tổ chức hạch toán đúng đắn chi phí, đến khâu hoạch định chính sách kiểm soát chi phí, xác định giá thành sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp. Vì vậy muốn quản lý tốt chi phí và giá thành đạt hiệu quả cao nhất, trước hết cần phải chú ý đến yếu tố này - Tình hình đặc điểm SXKD của doanh nghiệp cũng là một căn cứ quan trọng của quản lý chi phí và giá thành. Yếu tố này bao gồm đặc điểm ngành nghề kinh doanh, vùng lãnh thổ hoạt động, quy mô kinh doanh của doanh nghiệp và nó tác động rất mạnh đến hoạt động sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp. Vì vậy nó ảnh hưởng lớn đến việc lựa chọn cộng cụ, các phương pháp và giải pháp quản lý chi phí và giá thành của doanh nghiệp, lựa chọn các định mức tiêu hao vật tư, tiền vốn, lao động, những vấn đề quan trọng đặc biệt trong việc tổ chức quản lý chi phí và giá thành để đạt được mục tiêu đề ra của doanh nghiệp 20
- Xem thêm -