Báo cáo thực tập phân lập staphylococus aureus trên máu bệnh nhân - nguyễn thái trương

  • Số trang: 62 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 17 |
  • Lượt tải: 0
hoangtuavartar

Đã đăng 24635 tài liệu

Mô tả:

Người hướng dẫn: CN. Nguyễn Văn Tâm Bài Thu Hoạch LỜI MỞ ĐẦU Với tình hình các loại bệnh dịch đang diễn ra hết sức phức tạp. Song song đó, vấn đề về sức khỏe cũng là một vấn đề mang tính thời sự nóng hổi. Chính vì thế mà không ít người đã đặt câu hỏi: “Liệu trong thời đại phát triển như hiện nay thì sức khỏe của con người có được đảm bảo hay không”. Nguyên nhân dịch bệnh thì có rất nhiều nguyên nhân như do: hóa chất, môi trường sống, thực phẩm chứa sẵn một số chất độc,… Nhưng quan trọng hơn hết vẫn là từ vi sinh vật, trong đó có Staphylococus aureus – một trong những nguyên nhân chính. Điều đáng lưu ý và quan tâm ở đây là chủng này có khả năng tiết ra một số độc tố bền với nhiệt và khó bị phân hủy ở nhiệt độ cao. Hơn nữa, chúng lại có khả năng kháng methiciline, penicilline khi gặp điều kiện thuận lợi còn có thể lây lan và gây nên nhưng căn bệnh nguy hiểm. Nhằm mục đích tìm hiểu nguồn gốc phát sinh, những tác hại mà Staphylococus aureus gây ra cũng như các biện pháp phòng ngừa và chữa trị... Đặc biệt là tìm hiểu các phương pháp phân tích để nhận biết và phát hiện chúng, em chọn đề tài báo cáo thực tập “ Phân Lập Staphylococus Aureus Trên Máu Bệnh Nhân”. SVTT: Nguyễn Thái Trương [1] Người hướng dẫn: CN. Nguyễn Văn Tâm Bài Thu Hoạch Phần 1: TỔNG QUAN SVTT: Nguyễn Thái Trương [2] Bài Thu Hoạch SVTT: Nguyễn Thái Trương Người hướng dẫn: CN. Nguyễn Văn Tâm [3] Người hướng dẫn: CN. Nguyễn Văn Tâm Bài Thu Hoạch CHƢƠNG I: ĐÔI NÉT VỀ BỆNH VIỆN ĐA KHOA KHU VỰC HỒNG NGỰ 1.1. Lịch sử hình thành bệnh viện Hình 1.1: Bệnh Viện Đa Khoa Khu Vực Hồng Ngự Cùng với sự phát triển nhanh chóng của Thị Xã Hồng Ngự - nơi có thể được coi là vùng sâu vùng xa, bên cạnh đó Thị Xã Hồng Ngự lại là khu vực biên giới giáp với các tỉnh An Giang, Long An và nước bạn Campuchia. Bệnh viện Đa Khoa Khu Vực Hồng Ngự là môt cơ sở trực thuộc sở Y tế Đồng Tháp, chịu trách nhiệm phụ trách khám chữa bệnh 3 huyện: Tam Nông, Tân Hồng và Hồng Ngự. Nhìn thấy được tiềm năng phát triển trong tương lai của Thị xã cũng như tạo mối giao hảo về Chính trị - Thương mại giữa người dân hai nước Việt-Campuchia, Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Đồng Tháp quyết định thành lập Bệnh Viện Hồng Ngự trực thuộc Sở Y Tế Đồng Tháp trên cơ sở Bệnh Viện huyện Hồng Ngự (cũ) theo số 16/QĐ.TL vào ngày 10 tháng 3 năm 1994. Bệnh viện Hồng Ngự là bệnh viện khu vực của tỉnh đặt tại Thị Xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp. Theo từng nhiệm kỳ bệnh viện có sự thay đổi ban giám đốc và cơ cấu tổ chức, cán bộ công chức cũng dần tăng theo. Giai đoạn 1994 – 1995 giám đốc là Bác sĩ Lê Hoàng Cầm với 55 cán bộ công chức gồm: SVTT: Nguyễn Thái Trương [4] Người hướng dẫn: CN. Nguyễn Văn Tâm Bài Thu Hoạch           8 bác sĩ. 11 y sĩ. 11 y tá. 5 dược sĩ trung học. 1 cử nhân gây mê. 5 nữ hộ sinh. 4 kỹ thuật viên xét nghiệm-x quang. 2 kế toán trung học. 1 tài xế. 1 kỹ sư thiết bị điện nước. Giai đoạn ban đầu với 55 giường bệnh, bệnh viện có các khoa như: Hồi Sức cấp cứu, Nội, Ngoại, Sản, Nhi, Cận Lâm Sàng, Dược, Tổ Chức Hành Chánh, Tài chính kế toán. Giai đoạn 1995-1997: giám đốc là Bác sĩ Phạm Văn Kha. Giai đoạn 1998-2000: giám đốc là Bác sĩ Nguyễn Trường Chinh. Giai đoạn 2000 đến nay giám đốc là Bác sĩ Nguyễn Minh Đấu. Đến hiện nay bệnh viện đã được mở rộng với 233 cán bộ công viên chức, bao gồm:  Tổng số CBCNV:  Trong đó:  Trên Đại Học:  Đại Học:  Trung Học:  Sơ học:  Nhân viên khác:  Chi tiết (số liệu 2010):  2 Thạc sĩ.  9 chuyên khoa 1.  27 Bác sĩ.  3 Dược sĩ.  1 Điều dưỡng.  10 Đại học khác.  15 Y sĩ trung học.  8 Kỹ Thuật viên trung học.  14 Dược sĩ trung học.  66 Y tá, điều dưỡng trung học.  21 Nữ hộ sinh trung học.  5 Trung học khác. SVTT: Nguyễn Thái Trương 220/119 nữ. 12/2 nữ. 39/15 nữ. 134/83 nữ. 11/5 nữ. 25/14 nữ. [5] Người hướng dẫn: CN. Nguyễn Văn Tâm Bài Thu Hoạch  9 Điều dưỡng sơ học.  3 Dược tá sơ học.  41 Cán bộ khác.  28 Hợp đồng trong quỹ.  Cơ cấu tổ chức: gồm 14 khoa phòng, trong đó có 04 phòng chức năng, 08 khoa lâm sàng, 02 khoa cận lâm sàng.  Nhân sự: hiện có 244 công nhân viên chức, trong đó có 141 nữ. 1.2. Ban lãnh đạo Giám đốc: Bác sĩ Nguyễn Minh Đấu Điện thoại: 067.3838423 – 0913967611 Các phó giám đốc: Bác sĩ Quách Trung Nghĩa Điện thoại: 067.3837947 – 0919788144 Bác sĩ Võ Văn Hiêm Điện thoại: 067.3838419 – 0913843963. SVTT: Nguyễn Thái Trương [6] Bài Thu Hoạch SVTT: Nguyễn Thái Trương Người hướng dẫn: CN. Nguyễn Văn Tâm [7] Người hướng dẫn: CN. Nguyễn Văn Tâm Bài Thu Hoạch 1.3. Khoa xét nghiệm 1.3.1. Cán bộ công nhân viên tại khoa Chẩn Đoán Hình Ảnh – Xét Nghiệm  Trưởng khoa – Bs. Trần Quang Vinh.  Phó khoa – Bs. Phan Thanh Vân.  KTV trưởng khoa – Ys. Đoàn Minh Vân Trinh  Bs. Nguyễn Văn Tào.  Cử nhân Phan Đình Huy.  Cử nhân Nguyễn Văn Tâm.  KTV Nguyễn Thanh Vũ.  KTV Dương Văn Bình.  KTV Lê Văn Tùng.  KTV Lâm Văn Xuân.  KTV Thái Chí Linh.  KTV Đặng Thị Loan.  Ys. Lê Văn Nhiều  Hộ lý Ngoạn Thị Thùy 1.3.2. Chức năng và nhiệm vụ  Thực hiện các xét nghiệm phục vụ yêu cầu khi các khoa đề nghị.  Thống nhất áp dụng thường quy kỹ thuật xét nghiệm theo quy định, phổ biến kĩ thuật và kiểm tra định kỳ các thiết bị.  Triển khai thực hiện các dịch vụ xét nghiệm trong lĩnh vực y tế dự phòng theo quy định của pháp luật. Phòng Hóa Sinh: Tiến hành phân tích các chỉ tiêu Hóa – Lý trong mẫu theo các phương pháp quy định của Bộ Y tế như xét nghiệm nước tiểu, huyết học, sinh hóa, HIV, viêm gan B… Phòng Vi Sinh: tiến hành các bước phân lập, định danh, làm kháng sinh đồ… với các mẫu nhận được như mẫu phân, máu, đờm… 1.3.3. Các thiết bị Chẩn Đoán Hình Ảnh – Xét Nghiệm Bảng 1: Thống kê thiết bị tại khoa Chẩn Đoán Hình Ảnh – Xét Nghiệm Máy xét nghiệm huyết tự động 01 cái Tủ hốt vô trùng 01 cái Máy rửa film tự động 01 cái Kính hiển vi 2 mắt 03 cái Máy X-quang cao tầng 01 cái SVTT: Nguyễn Thái Trương [8] Người hướng dẫn: CN. Nguyễn Văn Tâm Bài Thu Hoạch Máy X-quang toàn sóng 300mA 01 cái Máy siêu âm trắng đen 02 cái Máy in siêu âm 02 cái Máy sấy khô 02 cái Máy ly tâm nước tiểu 01 cái Máy phân tích nước tiểu tự động 01 cái Máy lắc 01 cái Tủ ấm 37oC, 60 lít 01 cái Tủ ấm 01 cái Tủ sấy film 01 cái Tủ sấy 250oC, 120 lít 01 cái Tủ trữ máu 167 lít 01 cái Tủ trữ máu 120 lít 01 cái Quầy lạnh 01 cái Máy Ion đồ Na+, K+, CL- 01 cái Máy ly tâm 02 cái Máy ly tâm đa năng 4000 vòng/phút 02 cái Máy XN sinh hóa tự động 02 cái SVTT: Nguyễn Thái Trương [9] Người hướng dẫn: CN. Nguyễn Văn Tâm Bài Thu Hoạch Kính hiển vi điện tử Máy Ion đồ I Máy Ion đồ II Tủ trử máu SVTT: Nguyễn Thái Trương [ 10 ] Bài Thu Hoạch Người hướng dẫn: CN. Nguyễn Văn Tâm Máy sinh hóa tự động Hình 1.2: Một số hình ảnh các thiết bị phòng Xét Nghiệm SVTT: Nguyễn Thái Trương [ 11 ] Người hướng dẫn: CN. Nguyễn Văn Tâm Bài Thu Hoạch Que lấy Phân, Dịch Tủ ấm Que xét nghiệm tiệt trùng Ống thu mẫu Pipet vô trùng Hình 1.3: Một số hình ảnh các thiết bị và dụng cụ phòng Vi Sinh SVTT: Nguyễn Thái Trương [ 12 ] Người hướng dẫn: CN. Nguyễn Văn Tâm Bài Thu Hoạch CHƢƠNG II: TỔNG QUAN VỀ VI KHUẨN STAPHYLOCOCCUS AUREUS 2.1. Tụ cầu vàng Staphylococcus aureus 2.1.1. Lịch sử phát hiện Ngày 9 tháng 4 năm 1881, bác sĩ người Scotland Alexander Ogston đã trình bày tại hội nghị lần thứ 9 Hội phẫu thuật Đức một báo cáo khoa học trong đó ông sử dụng khái niệm tụ cầu khuẩn (Staphylococcus), trình bày tương đối đầy đủ vai trò của vi khuẩn này trong các bệnh lý sinh mủ trong lâm sàng. Staphylococcus aureus do Robert Koch (1843-1910) phát hiện vào năm 1878, phân lập từ mủ ung nhọt và Loius Pasteur (1880) đều nghiên cứu tụ cầu khuẩn từ thời kỳ đầu của lịch sử ngành vi sinh vật (VSV) học. Năm 1926, Julius von Daranyi là người đầu tiên phát hiện mối tương quan giữa sự hiện diện của hoạt động men coagulase huyết tương của vi khuẩn với khả năng gây bệnh của nó. Tuy nhiên mãi đến năm 1948, phát hiện này mới được chấp nhận rộng rãi 2.1.2. Đặc điểm phân loại Bảng 2: Bảng phân loại khoa học Staphylococcus aureus Phân loại khoa học Giới Eubacteria Ngành Firmicutes Lớp Cocci Bộ Bacillales Họ Staphylococcaceae Giống Staphylococcus Loài Staphyococcus aureus. Tên khoa học: Staphyococcus aureus Rosenbach 1884. Trên phương diện gây bệnh, tụ cầu khuẩn được chia thành hai nhóm chính: tụ cầu có coagulase và tụ cầu không có coagulase. S.aureus gây bệnh ngộ độc thực phẩm là tụ cầu có coagulase. Nhờ enzym này mà trên môi trường nuôi cấy có máu, vi khuẩn tạo nên các khuẩn lạc màu vàng nên còn được gọi là tụ cầu vàng. Phân loại tụ cầu dựa trên kháng nguyên: Các tụ cầu có nhiều loại kháng nguyên: protein, polysaccharid, acid teichoic của vách tế bào vi khuẩn. Nhưng dựa vào kháng nguyên, việc định loại vi khuẩn rất khó khăn. SVTT: Nguyễn Thái Trương [ 13 ] Người hướng dẫn: CN. Nguyễn Văn Tâm Bài Thu Hoạch Phân loại tụ cầu dựa trên phage (phage type): tụ cầu được phân vào các nhóm I, II, III, IV. Đây là phương pháp sử dụng nhiều trong phân loại S. aureus. 2.1.3. Đặc điểm sinh hóa Vi khuẩn phát triển dễ dàng ở môi trường thông thường, hiếu khí hoặc kị khí tùy ý, mọc tốt ở 37oC, nhưng lại tạo sắc tố tốt ở 20oC. Ở canh thang sau 5 -6 giờ làm đục môi trường, sau 24 giờ làm đục rõ. Ở môi trường đặc, khuẩn lạc tròn, lồi, bóng láng, óng ánh, có thể có màu vàng đậm, màu vàng cam hoặc màu trắng, tương đối lớn sau 24 giờ. Những chủng khác nhau làm tan máu ở những mức độ khác nhau, ở thạch máu typ tan máu β thường được quan sát xung quanh khuẩn lạc. Đặc tính sinh hóa Catalase (+) Oxidase (-) SAUltex (+) 2.1.4. Đặc điểm vi khuẩn học 2.1.4.1. Hình dạng và kích thước Hình 1.4: Hình ảnh các vi khuẩn S. aureus dƣới kính hiển vi điện tử. Tụ cầu (“Staphylococcus” bắt nguồn từ tiếng Hy lạp, với “staphyle” có nghĩa chùm nho) là những cầu khuẩn có đường kính khoảng 1 μm, không di động và sắp xếp theo mọi hướng tạo thành cụm (tụ) trông giống như chùm nho. Chúng là các cầu khuẩn Gram dương, không có lông, không tạo nha bào và thường không có vỏ. SVTT: Nguyễn Thái Trương [ 14 ] Bài Thu Hoạch Người hướng dẫn: CN. Nguyễn Văn Tâm Ngoài ra, cầu khuẩn S. aureus không có khả năng tạo bào tử như các vi khuẩn Chlamydomonas perfringens, Chlamydomonas botulinum, và Bacillus cereus cũng thường được tìm thấy trong các thực phẩm nhiễm khuẩn. 2.1.4.2. Độc tố và khả năng gây bệnh Các loại độc tố Dựa theo các cuộc nghiên cứu và các báo cáo khoa học: Tụ cầu vàng sản sinh ra 11 độc tố: độc tố gây hội chứng sốc nhiễm độc (TSST-Toxic shock syndrome toxin); độc tố exfoliatin hay độc tố epidermolitic; độc tố alpha; độc tố bạch cầu (leucocidin); ngoại độc tố sinh mủ (pyrogenic); dung huyết tố (hemolysin hay staphylolysin); fribrinolysin (staphylokinase); coagulase; hyaluronidase; β – lactamase và độc tố ruột (enterotoxin) – trong đó có SEB. Cơ chế gây bệnh Giống như các vi khuẩn Gram dương khác là Streptococcus và Mycobacteria, S. aureus bám dích vào bề mặt vật chủ nhờ các adhensin có bản chất polypeptide. Một khi đã bám dính vào bề mặt tế bào vật chủ, tác nhân gây bệnh như S. aureus mới có khả năng khởi động các quá trình hóa sinh đặc hiệu gây bệnh như tăng sinh, bài tiết độc tố, xâm nhập và hoạt hóa các chuỗi tín hiệu của tế bào vật chủ. S. aureus sẽ tiếp tục tiến sâu vào trong cơ thể vật chủ để tiếp tục chu trình xâm nhập (invasion). S. aureus xâm nhập ngoại bào bằng cách tiết một số enzym như: hyaluronidase; hemolysine, leukocidin; exfoliatine .v.v, phá hủy các thành phần cấu tạo tế bào vật chủ. Triệu chứng gây bệnh của Staphylococcus aureus  Triệu chứng ngộ độc thức ăn do nhiễm tụ cầu vàng Staphylococcus aureus Bệnh nhân ngộ độc thức ăn do tụ cầu xuất hiện các triệu chứng nôn ói, đau quặn bụng và tiêu chảy dữ dội, càng về sau phân và chất nôn chủ yếu là nước. Triệu chứng tiêu chảy do tụ cầu cũng không kèm theo máu và ít mất nước hơn so với tả và E. coli. Bệnh nhân không sốt hay phát ban, đây là đặc điểm để phân biệt giữa ngộ độc thực phẩm do tụ cầu vàng với các nhóm vi khuẩn khác; thần kinh người bệnh bình thường. Phần lớn trường hợp bệnh tự khỏi và hồi phục trong vòng 8-24 giờ sau khởi phát nhưng trường hợp nặng có thể bị tụt huyết áp và gây tử vong. Bệnh nhân ngoài ra có thể bị sốc do mất nhiều nước và chất điện giải. Khác với ngộ độc thực phẩm do vi khuẩn thông thường không gây sốt hoặc sốt nhẹ, bệnh nhân mắc ngộ độc do độc tố SEB của S. aureus sẽ bị sốt cao.  Các nhiễm trùng da và niêm mủ sâu Là một hình thức đặc biệt, nặng là đinh râu, tiếp đến là chốc lỡ, viêm tủy xương, viêm màng phổi, viêm màng ngoài tim, viêm màng não. SVTT: Nguyễn Thái Trương [ 15 ] Bài Thu Hoạch Người hướng dẫn: CN. Nguyễn Văn Tâm  Nhiễm trùng huyết Từ những điểm nung mũ, vi khuẩn có thể đi vào máu và gây nên nhiễm trùng huyết. Nhiễm trùng huyết do tụ cầu là một bệnh thường gặp trong bệnh viện, thường xảy ra ở những người có sức đề kháng giảm sút.  Viêm ruột cấp tính Thường gặp ở các bệnh nhân hay uống thuốc kháng sinh có kháng khuẩn phổ rộng, kháng sinh tiêu diệt những vi khuẩn thông thường ở ruột, làm phát triển chủng tụ cầu sinh độc tố ruột và gây nên chứng bệnh.  Hội chứng da phồng rộp (Scalded skin syndrom) Một số chủng tụ cầu vàng tiết ra độc tố exfoliatin, gây viêm da hoại tử và phồng rộp. Bệnh này thường gặp ở trẻ mới đẻ và tiên lượng xấu.  Hội chứng shock nhiễm độc (Toxic shock syndrome) Thường gặp ở những phụ nữ có kinh nguyệt dùng băng vệ sinh dày, nhiễm bẩn, bị nhiễm vi khuẩn tụ cầu vàng. Bệnh khư trú ở âm đạo và căn nguyên là tụ cầu vàng, liên quan đến độc tố gây hội chứng shock nhiễm trùng, cấy máu không tìm thấy tụ cầu vàng. 2.1.5. Hệ gen tụ cầu vàng Staphylococcus aureus Hiện nay người ta cũng đã thành công trong giải trình tự gen của các chủng tụ cầu vàng được kí hiệu: Newman, COL, UMRSA 252, MW2, MSSA476, N315, Mu50, RF122 .v.v. [7, 15, 19, 8, 23, 18]. Ví dụ: Steven và cs đã thành công trong việc giải trình tự bộ gen dài 2809422bp của chủng S. aureus COL. Kết quả giải trình tự đã được ghi nhận trên Genbank với mã số: CP000046.1 cho hệ gen nhân và CP000045 cho hệ gen plasmid.Theo đó, trình tự gen của tụ cầu vàng có chứa ít các cặp G-C, điều này gây ra mối quan ngại về sự chuyển gen từ các chủng tụ cầu vàng tới các tác nhân gây bệnh Gram dương khác. 2.2. Nội độc tố ruột staphylococcal enterotoxin B. 2.2.1. Cấu trúc phân tử staphylococcal enterotoxin B SEB là 1 trong các nội độc tố được sinh ra bởi vi khuẩn S. aureus. Thông thường khi bị lây nhiễm vào cơ thể, SEB sẽ tác động chủ yếu lên các hệ thống vận chuyển ion và nước của ruột, do đó được gọi là enterotoxin (độc tố ruột). Độc tố ruột SEB bền với nhiệt là tác nhân chính thường gặp nhất trong các vụ ngộ độc thực phẩm do S. aureus. Độc tố ruột SEB được hình thành khi tụ cầu S. aureus sống trong điều kiện khắc nghiệt như nhiệt độ môi trường gia tăng đột ngột, thiếu SVTT: Nguyễn Thái Trương [ 16 ] Bài Thu Hoạch Người hướng dẫn: CN. Nguyễn Văn Tâm 2.2.2. Cơ chế gây độc của staphylococcal enterotoxin B Staphylococcal enterotoxin B (SEB) là trung gian kích thích các lympho T ở hệ miễn dịch của các vật chủ. Các độc tố liên kết trực tiếp đến phức hợp protein (MHC) lớp II trên bề mặt tế bào đích, sau đó kích thích gia tăng số lượng lớn các lympho T. SEB được coi là một "siêu kháng nguyên” của vi khuẩn vì có thể tạo thành một “cầu nối” giữa MHC lớp II của các tế bào trình diện kháng nguyên và vùng Vβ của các thụ thể tế bào T như CD 4, CD 8; từ đó, kích thích hoạt hóa các tế bào T biểu hiện các đoạn gen Vβ mà không cần thiết phải có một quá trình chế biến và trình diện thông thường. Điều này gây ra sự sản sinh một số lượng lớn của cytokine, interleukin 2 (IL2), các yếu tố hoại tử khối u β (TNF-β), và các interferon. Nếu ăn thực phẩm có SEB bệnh nhân có các triệu chứng như chán ăn, buồn nôn, nôn, và tiêu chảy. Các triệu chứng này xuất hiện là do các cytokine trong các tế bào T của lông ruột được sinh ra ồ ạt. 2.3. Thực trạng nhiễm Staphylococcus aureus ở Việt Nam Tình hình nhiễm staphylococcus aureus có một số sự kiện: Trong giai đoạn từ những năm 2008 – 2009, khi vấn đề Vệ sinh an toàn thực phẩm ngày càng được chú trọng, các cuộc nghiên cứu của các cơ quan TW được đẩy mạnh, kết quả là có đến hàng trăm mẫu thực phẩm ngày Tết bị nhiễm Staphylococcus aureus trên các sản phẩm mức, bánh kẹo. Vào năm 2010, cuộc điều tra về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trên các loại thực phẩm đường phố đã đánh giá nguy cơ lây nhiễm Tụ cầu vàng là rất cao. Vào năm 2011, hiện tượng nhiễm độc Tụ cầu vàng trên thức ăn đã làm cho một bé gái ở Biên Hòa (Đồng Nai) tử vong. 2.4. Phòng ngừa, điều trị và xử lí bệnh 2.4.1. Phòng ngừa Ở những vùng có điều kiện vệ sinh cá nhân kém, nơi đông dân cư, đặc biệt là thiếu nước sạch trong sinh hoạt, thời tiết nóng ẩm là điều kiện thuận lợi cho bệnh phát sinh mạnh. - Phòng bệnh tụ cầu khuẩn cũng như các bệnh nhiễm khuẩn khác thì yếu tố vệ sinh cá nhân là điều quan trọng, rửa tay sạch trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh là yêu cầu cơ bản để phòng bệnh, ăn uống hợp vệ sinh, nấu kỹ trước khi dùng, giữ gìn sạch sẽ những vết trầy xước trên da. Những bệnh nhân tai biến mạch máu não nằm liệt giường có thể dẫn đến xuất hiện những vết loét cần phải chăm sóc hổ trợ vận động như xoa SVTT: Nguyễn Thái Trương [ 17 ] Bài Thu Hoạch Người hướng dẫn: CN. Nguyễn Văn Tâm bóp mạch máu lưu thông, còn đối với bệnh nhân đái tháo đường cần giữ gìn bàn chân trách bị phòng loét. - Các biện pháp như mang mũ hoặc khăn trùm đầu, mang khẩu trang và rửa tay thường xuyên là biện pháp phòng chóng lây truyền hữu hiệu trong bệnh viện. - Những người làm việc trong các bếp ăn tập thể hoặc trong các xưởng chế biến thực phẩm cũng cần thực hiện các biện pháp phòng hộ trên. - Đối với thực phẩm thì nên bảo quản cẩn thận, không để lẫn đồ ăn sống lẫn với đồ ăn chín. Nếu nghi ngờ thực phẩm đã bị nhiễm khuẩn thì nên loại bỏ. - Khám sức khỏe định kỳ cho công nhân làm việc trực tiếp với thực phẩm, chú ý khám tai, mũi, họng. - Không để những người bị viêm xoang, viêm mũi họng, có mụn mủ ở tay tham gia chế biến thực phẩm. - Dùng kẹp khi phục vụ thức ăn. - Tăng cường uống vitamin, năng cao sức khỏe, rửa tay bằng nước nóng và xà phòng, hạ pH thực phẩm để ức chế vi khuẩn phát triển 2.4.2. Điều trị Nhiều chủng Tụ cầu kháng với nhiều kháng sinh nhất là penicillin nên cần làm kháng sinh đồ. Có trường hợp sử dụng vaccine bản thân và vaccine trị liệu có kết quả. 2.4.3. Xử lí bệnh - Đối với những tổn thương khu trú trên da thì không cần phải đều trị kháng sinh trừ khi nhiễm khuẩn lan rộng hoặc có biến chứng. Tại chổ mưng mủ cần làm sạch da tại chổ bằng dung dịch sát khuẩn, dùng kháng sinh trực tiếp bôi ngoài da. Các loại áp-xe cần rạch mủ và kết hợp dùng kháng sinh đường uống hoặc tiêm. Những loại nhiễm khuẩn xương, não thì cần dùng các loại kháng sinh đặc hiệu và khi điều trị thì phải theo dõi chặt chẽ nhất là đối với những người cao tuổi người bị xơ vữa động mạch hay đáy tháo đường. - Cần sử dụng những loại kháng sinh phù hợp cho từng bệnh nhân. Thường dùng gamma globuline để điều trị bệnh. Mặc dù S.aureus có thể sản xuất được men SVTT: Nguyễn Thái Trương [ 18 ] Bài Thu Hoạch Người hướng dẫn: CN. Nguyễn Văn Tâm penicillinase phá hủy vòng beta-lactamase làm bất hoạt các loại kháng sinh như penicilline G, Ampicilline... Nhưng hiện nay trong điều trị nhiễm trùng S.aureus người ta vẫn sử dụng peniclline và cephalosporine kháng với beta-lactamase. - Nafcilline và Oxacilline là hai loại peniclline được dùng bằng đường tiêm. Nếu nhiễm trùng nặng thì nên sử dụng cephalosporine thế hệ thứ nhất như cephazoline. - Nếu bệnh nhân không dung nạp với kháng sinh nhóm beta-lactamase thì nên thay bằng vancomycine và clidamycine bằng đường tiêm. Dicloxaciline và cephalexine là kháng sinh dạng uống. SVTT: Nguyễn Thái Trương [ 19 ] Bài Thu Hoạch Người hướng dẫn: CN. Nguyễn Văn Tâm Phần 2: VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP SVTT: Nguyễn Thái Trương [ 20 ]
- Xem thêm -