Tài liệu Yếu tố vô thức và sự đổi mới tổ chức tự sự trong tiểu thuyết nguyễn bình phương

  • Số trang: 124 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 152 |
  • Lượt tải: 0
okyeuniterd

Tham gia: 20/08/2016

Mô tả:

Luận văn thạc sĩ 1 Ngô Thị Lệ Thanh MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1.1.Vấn đề vô thức đã xuất hiện từ rất lâu nhưng nhận ra sớm nhất và đầy đủ nhất là Sigmud Freud. Freud được biết đến như một triết gia đầu tiên phân tích sự hiện hữu của tâm linh vô thức, sự can thiệp của vô thức vào đời sống ý thức của con người một cách có hệ thống và bài bản nhất. S.Freud đã đề ra thuyết vô thức cá nhân và khẳng định nó là vùng cận ý thức của nhân cách. Ông chia kết cấu con người ra làm ba hệ thống: hệ thống ý thức, hệ thống tiền ý thức, hệ thống vô thức. Đặc biệt quan tâm đến giấc mơ, Freud cho rằng giấc mơ là sự trung gian giữa cuộc sống của những tình cảm được che giấu và cuộc sống được đem đặt dưới sự chi phối của lý trí chúng ta. Thuyết vô thức của Sugmud Freud sau này đã được học trò xuất sắc của ông là Carl Gustal Jung phát triển theo hướng gắn vô thức với ý thức tập thể của con người. Vô thức tập thể, theo Jung, là kí ức của loài người, là kết quả của đời sống thị tộc. Vô thức tập thể tồn tại trong mọi người và mỗi người, là cơ sở của tâm trạng cá nhân và căn cước văn hóa tộc người. Vô thức tập thể được ngưng kết thành những cổ mẫu (archétype), tức những mô hình nhận thức và những hình tượng. Chúng được truyền từ thế hệ người này sang thế hệ người khác bằng con đường vô thức được Jung gọi là di truyền văn hóa. Yếu tố vô thức đã ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như: triết học, y học, tâm lí học, văn học…Đặc biệt từ cuối thế kỉ XIX văn học trên thế giới đã xuất hiện một khuynh hướng sáng tác đi sâu vào đời sống tâm linh, vô thức của con người. Từ đó mở ra con đường giúp nhà văn đi sâu vào thế giới bí ẩn bên trong của con người, và thông qua hình tượng nhân vật nhà văn khám phá những điều mới mẻ trong tâm hồn con người. Yếu tố vô thức và sự đổi mới tổ chức tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương Luận văn thạc sĩ 2 Ngô Thị Lệ Thanh 1.2 Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 còn tương đối dè dặt trong việc đề cập đến những vấn đề mang tính chất tế nhị thuộc về đời sống riêng tư của mỗi con người. Nhưng sau năm 1986 cùng với sự đổi mới đất nước, đổi mới tư duy của con người, tiểu thuyết Việt Nam đã có nhiều tín hiệu mới, nhiều khuynh hướng tìm tòi thể nghiệm, quẫy cựa để “ khơi thông dòng chảy” ( Nguyên Ngọc ), tiểu thuyết đã mạnh dạn miêu tả sắc dục, tình yêu nhục thể - những cái thuộc về đời sống bản năng, đời sống tâm linh của con người. Nhiều tác phẩm văn học Việt Nam đương đại phản ánh đời sống tâm linh vô thức, đời sống tình dục của con người là: Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Cõi người rung chuông tận thế (Hồ Anh Thái), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Bóng đè (Đỗ Hoàng Diệu), Tấm ván phóng dao (Mạc Can)… 1.3. Trong số các tác giả Việt Nam đương đại đề cập đến vấn đề vô thức và đổi mới tổ chức tự sự trong tiểu thuyết, Nguyễn Bình Phương là nhà văn tiêu biểu, vì trước hết anh là nhà văn có ý thức trong việc đổi mới nội dung và tìm tòi thể nghiệm những kỹ thuật tiểu thuyết mới của phương Tây nhằm hiện đại hóa tiểu thuyết; thứ hai Nguyễn Bình Phương cũng là một trong số ít các nhà văn đương đại đề cập nhiều về vấn đề vô thức trong tiểu thuyết của mình. Từ tác phẩm đầu tay Bả giời (1991), đến Vào cõi (1991), Những đứa trẻ chết già (1994), Người đi vắng (1999), Trí nhớ suy tàn”(2000), Thoạt kỳ thủy (2003), Ngồi (2006), Nguyễn Bình Phương đã phản ánh những mâu thuẫn trong quan hệ con người, những đối lập giữa hành vi và bản chất, giữa bản năng và nhân cách. Vô thức đã thực sự trở thành đối tượng miêu tả trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, trở thành thế giới đầy bí ẩn tồn tại song song biệt lập với thế giới hiện thực. Nhà phê bình Đoàn Cầm Thi đã nhận xét: “ Nguyễn Bình Phương có lẽ là nhà văn Việt Nam đương đại đã đẩy cuộc thăm dò về vô thức đi xa nhất. Vì thế tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương đã giúp con người nhận ra giá trị và ý nghĩa đích thực của cuộc sống, đồng Yếu tố vô thức và sự đổi mới tổ chức tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương Luận văn thạc sĩ 3 Ngô Thị Lệ Thanh thời hiểu được chính tâm hồn mình và tâm hồn người khác. Nguyễn Bình Phương cũng ý thức rõ hành trình tìm kiếm sự đổi mới nghệ thuật tự sự bằng nhiều hình thức hết sức phong phú đa dạng, không tiểu thuyết nào lặp lại tiểu thuyết nào. Mỗi tác phẩm có một kết cấu riêng vừa lạ lẫm vừa thú vị. Cùng những cách tân về ngôn ngữ giọng điệu, không gian, thời gian, điểm nhìn trần thuật cũng như khai thác yếu tố tình dục như một phương diện để khám phá ẩn ức của con người và góp phần làm nên phần chìm của tảng băng trong tác phẩm của ông. Đó là “một lối đi riêng” của Nguyễn Bình Phương trong dòng chảy văn học đương đại. Với lí do trên tác giả luận văn lựa chọn đề tài “Yếu tố vô thức và sự đổi mới tổ chức tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương”, qua đó khẳng định giá trị nhân văn và những đóng góp quan trọng của tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương vào tiến trình cách tân tiểu thuyết Việt Nam đương đại. 2. Lịch sử vấn đề: Việc nghiên cứu tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương không phải là vấn đề hoàn toàn mới mẻ. Qua khảo sát các bài nghiên cứu về tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương chúng tôi đã chọn lọc và tạm phân loại thành hai nhóm chính theo hướng nghiên cứu của luận văn như sau: 2.1. Nhóm các bài nghiên cứu chung về Nguyễn Bình Phương. Bài “Một số đặc điểm nổi bật trong sáng tác của Nguyễn Bình Phương”[26], Trương Thị Ngọc Hân đã đưa ra những nhận định khá đầy đủ, chính xác và rõ ràng về tài năng nghệ thuật của Nguyễn Bình Phương: “đi vào tác phẩm của Nguyễn Bình Phương, ta nhận thấy một lối viết rất riêng biệt, mới mẻ từ cách nhìn hiện thực, tiếp cận nhân vật, sáng tạo cốt truyện, xây dựng không gian thời gian cho đến sử dụng ngôn từ”. Tác giả bài viết cũng khẳng định ba yếu tố nổi bật trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương là: sự biểu đạt hiện thực phân mảnh, hiện thực không bị xé lẻ, phân tách; cấu trúc Yếu tố vô thức và sự đổi mới tổ chức tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương Luận văn thạc sĩ 4 Ngô Thị Lệ Thanh xoắn kép nhiều mạch chạy song song và sử dụng yếu tố kỳ ảo, “ đó cũng là nền, là phông cho những nhân vật đầy phức tạp của Nguyễn Bình Phương xuất hiện”. Bước vào trang văn của Nguyễn Bình Phương ta thấy “ảo xen thực, thực thấm vào ảo, ảo và thực hòa quyện nhiều khi không phân tách rõ ràng”, “yếu tố ảo như một cách thức làm nhòe ranh giới của hiện thực song lại cho ta một cảm giác rất thật về cuộc sống”. Tuy nhiên tác giả Trương Thị Ngọc Hân mới chỉ đề cập đến yếu tố độc đáo nổi bật mà trong đó việc tái hiện vô thức là một biểu hiện cho hướng tiếp cận riêng của Nguyễn Bình Phương. Tác giả bài viết chưa thực sự đi sâu phân tích vấn đề vô thức trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương với tư cách là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo và một quan niệm nghệ thuật của nhà văn. Nhà phê bình văn học Phùng Gia Thế có một loạt bài viết về Nguyễn Bình Phương: “Cảm quan đời sống và những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương” [61] và “Cảm nhận tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương” [60], đã quan tâm đến những dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, đó là “câu chuyện tâm thức của con người thời đại”. Tác giả cũng cho rằng: “cái hấp dẫn trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương thể hiện trước tiên ở kiểu cảm quan đời sống đặc thù biểu hiện qua những thế giới nghệ thuật độc đáo”. Người viết khẳng định: tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương mới trước hết ở cấu trúc “lỏng lẻo, đa dạng, song hành xoắn vặn….nó có thể dung chứa bao nhiêu cái hỗn độn, xộc xệch vốn có của cuộc đời”. Cái mới trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương còn thể hiện ở ngôn từ “ngôn từ ở đây như được phát ra từ cõi vô thức sâu thẳm mịt mù ”, đặc biệt Nguyễn Bình Phương “có lẽ là nhà văn sử dụng triệt để các yếu tố bản năng vô thức và tình dục để giải phẫu cõi nhân tâm con người”, “Tiểu thuyết của anh có nhiều ám ảnh giấc mơ, mộng mị.” Yếu tố vô thức và sự đổi mới tổ chức tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương Luận văn thạc sĩ 5 Ngô Thị Lệ Thanh Về vấn đề vô thức trong Thoạt kỳ thủy, Phùng Gia Thế đưa ra nhận xét: “Một câu chuyện triền miên, vô hậu, triệt để vô thức, miên man ảo ảnh, xót xa đau đớn thân phận con người”. “Qua Tính, những vùng tối tăm khuất lấp tận đáy vô thức mộng mị con người được phô bày tận độ… với điểm nhìn người điên này, Nguyễn Bình Phương muốn đưa văn chương tới những cõi bờ mà người tỉnh táo không thể giải thích minh định, gọi tên”. Như vậy, Phùng Gia Thế đã nhấn mạnh sự ảnh hưởng của cảm quan đời sống hậu hiện đại trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, còn vấn đề vô thức đã được Phùng Gia Thế nhắc đến nhưng chỉ là cơ sở để Phùng Gia Thế khẳng định năng lực thâm nhập vào cõi tâm linh con người của nhà văn Nguyễn Bình Phương, nó chưa thực sự được khai thác như một cách tân nghệ thuật của Nguyễn Bình Phương. Đoàn Ánh Dương trong “Lục Đầu giang tiểu thuyết” [17] có cách nhìn nhận khá sâu sắc, cụ thể về cách tân nghệ thuật của Nguyễn Bình Phương trên phương diện thi pháp nghệ thuật: kết cấu đan lồng song hành, tiểu thuyết trong tiểu thuyết, tiểu thuyết – huyền – sử, tiểu thuyết – thơ, tiểu thuyết – nhật kí, tiểu thuyết – điện ảnh. Đoàn Ánh Dương cũng khái quát vấn đề vô thức trong sáng tác Nguyễn Bình Phương: “Trong thế giới nghệ thuật của Nguyễn Bình Phương cái vô thức vẫy gọi ảo huyền và từ trong cái ảo huyền đó, phần vô thức trong sâu thẳm tâm can con người trở nên sáng rõ. Nó như một thế giới khuất lấp bấy lâu nay được dựng dậy để hô ứng với hiện tồn mờ mịt hoang tàn, đổ nát của đời sống hiện tại”. Tác giả Đoàn Ánh Dương cũng nhấn mạnh tính đa chiều của tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương: “Nguyễn Bình Phương phải huy động được trí tưởng tượng hơn nữa, phải khơi sâu vào phần vô thức chìm khuất trong mỗi con người ”. “Các xung lực vô thức cộng đồng là những vấn đề cốt yếu làm nên tính mờ nhòe và đa nghĩa của tác phẩm”. Như vậy, Đoàn Ánh Dương đã nhận ra vai trò của vô thức trong việc tạo nên Yếu tố vô thức và sự đổi mới tổ chức tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương Luận văn thạc sĩ 6 Ngô Thị Lệ Thanh tính đa nghĩa cho tác phẩm, tác giả chỉ xem vô thức như một điểm tựa để làm nổi bật những cách tân về thi pháp của Nguyễn Bình Phương. “Người đi vắng, ai đọc Nguyễn Bình Phương hay nỗi cô đơn của tiểu thuyết cuối thế kỉ” [28] của tác giả Nguyễn Mạnh Hùng chỉ ra tính chất lạ hóa hiện đại trong nội dung, hình thức biểu hiện và quan niệm trong tư tưởng Nguyễn Bình Phương. Nguyễn Mạnh Hùng cũng có đề cập đến vấn đề vô thức nhưng rất mơ hồ “Nguyễn Bình Phương là tiểu thuyết gia đầu tiên ở Việt Nam có ý thức tạo dựng nhân vật bằng một hệ thống ám ảnh…Nhân vật của Nguyễn Bình Phương giấu kín những ám ảnh của mình và sống với nó”. Những ám ảnh mà Nguyễn Mạnh Hùng đề cập chính là một phần của vấn đề vô thức, tuy nhiên tác giả bài viết mới chỉ dừng lại ở mức độ nhận xét, đánh giá chung chung chứ chưa thực sự đi sâu phân tích cụ thể. 2.2 Nhóm các bài viết vấn đề vô thức và sự đổi mới tổ chức tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương. Đoàn Cầm Thi trong bài “ Người đàn bà nằm từ Thiếu nữ ngủ ngày, đọc Người đi vắng của Nguyễn Bình Phương” [70] đã phát hiện ra tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương “ ý thức được quyền uy của tính dục”, “anh còn đi xa hơn trong cuộc khai phá tình dục khi anh đặt khái niệm này bên cạnh tâm linh….tình dục và tâm linh đi liền nhau, bổ sung nhau”. Đoàn Cầm Thi cũng phát hiện ra giữa Nguyễn Bình Phương và Freud là khoảng cách “không xa” “khi quan niệm tình dục là khởi điểm, như biểu hiện mãnh liệt nhất của cuộc sống, đồng thời là một hình thức tự hủy”. Ông khẳng định: tình dục trở thành mục tiêu nghiên cứu và phương diện chính của thi pháp Nguyễn Bình Phương. Còn trong bài “Sáng tạo văn học: giữa mơ và điên – Đọc Thoạt kỳ thủy của Nguyễn Bình Phương” [69] nhà phê bình Đoàn Cầm Thi cũng chỉ ra vấn đề vô thức: “ các giấc mơ, dù được diễn đạt vô cùng lộn xộn, chúng phản ánh những trạng thái khác của tâm hồn Tính”. Tác giả đưa đến nhận xét: Yếu tố vô thức và sự đổi mới tổ chức tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương Luận văn thạc sĩ 7 Ngô Thị Lệ Thanh “Nguyễn Bình Phương có lẽ là nhà văn Việt Nam đương đại đã đẩy cuộc thăm dò về vô thức đi xa nhất.” Là người quan tâm đặc biệt đến sáng tác của Nguyễn Bình Phương, Thụy Khuê trong hai bài viết: “Thoạt kỳ thủy trong vùng đất Cận Cam hoang vu của Nguyễn Bình Phương” [31] và “Sóng từ trường II” [33], Thụy Khuê đã có nhận định khá sâu sắc về khuynh hướng hiện thực huyền ảo với sự tồn tại của hai cõi âm – dương của những “điềm” báo với diễn biến của nhiều thế hệ sống và chết trên mảnh đất Thái Nguyên. Tiểu thuyết Người đi vắng là một “hiện thực linh ảo âm dương, một thế giới bao gồm thiên nhiên, vật giới, hiện tượng và con người”, “sự kỳ ảo đến từ các hiện tượng siêu linh, có thể là mê tín, hoang tưởng, là bệnh hoạn, là mê hoặc, nhưng có thể chỉ đơn thuần là sự sống của vật giới và linh giới bên cạnh chúng ta mà chúng ta không biết nhưng Nguyễn Bình Phương đã đem đến những hiện tượng không giải thích được ấy vào tiểu thuyết, trình bày như một quan niệm bao quát hơn về vũ trụ, nhân sinh, kết hợp cỏ cây, vật giới, hiện tượng âm dương. Tất cả đều đi tìm bản thể của mình…”. Với Trí nhớ suy tàn nhà phê bình Thụy Khuê tập trung phát hiện những thành tố của tiểu thuyết Mới trong tác phẩm: “Trí nhớ và sự suy tàn của trí nhớ như hai thành tố cấu tạo nên tiểu thuyết của anh. Đây là…một tạp ghi của trí nhớ, viết vội kẻo sợ chóng tàn, là một chuỗi hồi ức của một người con gái không biết tên gì ghi lại những ấn tượng chao đảo giữa hai người tình”. Thoạt kỳ thủy, theo Thụy Khuê là “bài thơ dài đẫm máu và nước mắt, đẫm tang thương, đẫm huyền mộng, viết về hành trình của một cộng đồng, dù đã nửa phần điên loạn, vẫn không biết mình đang đi dần đến toàn phần điên loạn…”, Thụy Khuê nhấn mạnh điểm mới trong Thoạt kỳ thủy: “Thoạt kỳ thủy là cuốn tiểu thuyết khác thường, khó đọc, bởi lối hành văn và cấu trúc truyện lạ, một thứ Thoạt kỳ thủy trong văn chương mang dấu ấn sáng tạo…”. Như vậy, Thụy Khuê khi nghiên cứu về tiểu thuyết Nguyễn Bình Yếu tố vô thức và sự đổi mới tổ chức tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương Luận văn thạc sĩ 8 Ngô Thị Lệ Thanh Phương đã quan tâm nhiều đến bút pháp hiện thực huyền ảo, tuy có đề cập đến vấn đề vô thức nhưng chưa thực sự đặt vấn đề vô thức thành nét nghệ thuật đặc sắc trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương. Những năm gần đây, một số luận văn cũng đi sâu vào tìm hiểu tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương và vấn đề vô thức trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, đáng chú ý nhất là các luận văn sau: Báo cáo khoa học “ Cuộc thăm dò cái vô thức trong Thoạt kỳ thủy” của Đặng Thị Lan Anh [8], yếu tố vô thức được thể hiện ở bốn khía cạnh: mờ hóa nhan đề, mờ hóa cốt truyện, mờ hóa nhân vật và dị thường hóa- ảo giác hóa sự tha hóa của nhân sinh. Tác giả Đặng Thị Lan Anh đã khá xuất sắc khi nhận diện ra vai trò của vô thức như một khía cạnh mới trong quan niệm nghệ thuật về con người , từ đó đưa ra lời “hãy cảnh giác và kịp thời ngăn chặn nguy cơ mất nhân tính khi còn chưa muộn”. Tuy nhiên tác giả bài viết chưa đề cập vấn đề vô thức một cách đầy đủ như một thủ pháp nghệ thuật của Nguyễn Bình Phương để tạo nên thành công của tác phẩm và tạo nên nét riêng của nhà văn trong dòng chảy văn học đương đại. Đáng quan tâm nhất là luận văn Thạc sĩ của Ngô Thị Lan Anh “Vô thức nhân vật – góc độ phân tâm học” [9] đã triển khai vấn đề vô thức từ góc độ nhân vật và được soi sáng bằng phân tâm học. Luận văn đi sâu vào biểu đạt của vô thức nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương là: giấc mơ lúc ngủ, giấc mơ tỉnh thức. Đồng thời đề cập đến bản năng sống và bản năng chết, qua đó giúp nhà văn hiểu sâu sắc những góc khuất, nỗi đau, sự sợ hãi trong mặc cảm thầm kín của tâm hồn nhân vật. Đây là một luận văn đề cập đến vấn đề vô thức khá đầy đủ nhất, tuy nhiên vấn đề vô thức cần được xem xét ở nhiều khía cạnh và nội dung hơn. Như vậy, những người nghiên cứu về tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương đều phát hiện ở anh có sự độc đáo nào đó ở nội dung hoặc ở nghệ thuật xây Yếu tố vô thức và sự đổi mới tổ chức tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương Luận văn thạc sĩ 9 Ngô Thị Lệ Thanh dựng tiểu thuyết, mỗi tác giả lại sử dụng một hệ thống lí luận riêng làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu của mình. Vấn đề vô thức trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương là một vấn đề lớn nhưng chưa được quan tâm thỏa đáng. Việc nghiên cứu yếu tố vô thức trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương để góp phần chứng minh năng lực thâm nhập tâm hồn người và tài năng nghệ thuật của nhà văn một cách đầy đủ thì chúng tôi là người đầu tiên tiến hành. Đề tài mới là thế mạnh nhưng đồng thời cũng mang đến nhiều bất cập đòi hỏi chúng tôi phải nỗ lực khắc phục để tiến hành luận văn này. 3. Mục đích của luận văn: Kế thừa những kết quả nghiên cứu nói trên, luận văn của chúng tôi nghiên cứu về vấn đề vô thức và sự đổi mới tổ chức tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương với mục đích tìm hiểu các biểu hiện vô thức cũng như các thủ pháp nghệ thuật của Nguyễn Bình Phương trong việc thể hiện vô thức trong tiểu thuyết để qua đó thấy được quan niệm của nhà văn về con người hiện đại. Đồng thời góp thêm tiếng nói khẳng định nét tư duy độc đáo, những đóng góp mới của nhà văn cho nền văn xuôi Việt Nam đương đại. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Tác giả luận văn tập trung khảo sát các tiểu thuyết chính của Nguyễn Bình Phương là: 4.1. Những đứa trẻ chết già (NXB Văn học, 1994 ) 4.2. Người đi vắng (NXB Văn học, 1999) 4.3. Trí nhớ suy tàn (NXB Thanh Niên, 2000) 4.4. Thoạt kỳ thủy (NXB Văn học, 2004) 4.5. Ngồi (NXB Đà Nẵng, 2006) 5. Phương pháp nghiên cứu: 5.1. Phương pháp hệ thống, để thống kê và đánh giá những thành công của Nguyễn Bình Phương ở cả phương diện nội dung và nghệ thuật. Yếu tố vô thức và sự đổi mới tổ chức tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương Luận văn thạc sĩ 10 Ngô Thị Lệ Thanh 5.2. Phương pháp phân tích tác phẩm, để qua đó phân tích một số tác phẩm của Nguyễn Bình Phương. 5.3. Phương pháp so sánh, qua đó so sánh Nguyễn Bình Phương với một số tác giả khác. 6. Đóng góp của đề tài: 6.1. Có những kết luận khoa học về vấn đề vô thức trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, tiếp tục mở rộng con đường đi vào thế giới nghệ thuật của Nguyễn Bình Phương. 6.2. Phân tích những biểu hiện của vô thức và nghệ thuật biểu hiện vô thức trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương. Qua đó khẳng định tài năng và đóng góp của nhà văn trong văn xuôi đương đại Việt Nam. 7. Cấu trúc của luận văn: Ngoài phần mở đầu kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Vấn đề vô thức và vô thức trong văn học. Chương 2: Biểu hiện của vô thức trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương. Chương 3: Đổi mới tổ chức tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương nhìn từ phương diện nội dung. Yếu tố vô thức và sự đổi mới tổ chức tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương Luận văn thạc sĩ 11 Ngô Thị Lệ Thanh NỘI DUNG CHƯƠNG 1 VẤN ĐỀ VÔ THỨC VÀ VÔ THỨC TRONG VĂN HỌC 1.1. Vấn đề vô thức 1.1.1. Vô thức trong cấu trúc tâm lí Vô thức trước khi được xem xét như một mật mã để mở ra cửa ngõ vào thế giới văn chương vốn là một thuật ngữ chuyên nghành triết học và tâm lí học. Do đó để tìm hiểu cho đến ngọn nguồn của khái niệm vô thức là cần thiết để thấy được sự khác nhau cũng như sự chuyển hóa giữa trạng thái vô thức thông thường và vô thức trong văn chương. “Vô thức” theo “Từ điển Tiếng việt” nghĩa đơn giản nhất là “Những gì ở mình mà bản thân con người hoàn toàn không ý thức được [47;1085]. Theo lí giải chiết tự của “Từ điển Hán Việt” (Thiều Chửu): “vô” nghĩa là không, “thức” nghĩa là nhận thức, tri giác về thế giới; vô thức là không ý thức được tri thức mình thu nhận và hành động của mình với thế giới xung quanh [16; ] Theo “Từ điển triết học” [55;677] lại phân chia vô thức thành ba dạng thức khác nhau: “hành vi”, “những quá trình tâm lý phức tạp” và “một lĩnh vực tâm lý đặc biệt” nhưng đều tồn tại trong thể tách biệt với ý thức. 1. Những hành vi được thực hiện một cách thụ động theo phản xạ, khi nguyên nhân của nó chưa kịp đi vào ý thức, cũng như ý thức không hành động một cách tự nhiên nhân tạo. 2. Những quá trình tâm lí phức tạp không trực tiếp tham gia vào mối quan hệ có ý thức chủ thể đối với hiện thực và do đó lúc này chủ thể không ý thức được quá trình đó (tiềm thức). Yếu tố vô thức và sự đổi mới tổ chức tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương Luận văn thạc sĩ 12 Ngô Thị Lệ Thanh 3. Một lĩnh vực tâm lí đặc biệt không tập trung những ý hướng, động cơ, những ham muốn vĩnh viễn và bất biến mà ý nghĩa của chúng được quyết định bởi bản năng, còn ý thức thì không thể biết được. Nhìn từ góc độ tâm lý học, vô thức được hiểu là: “những cảm nghĩ không nhận ra được, như là ẩn náu trong cõi lòng tối tăm , nhưng vẫn chi phối hành vi”. “Những xung lực bản năng đó khi vấp phải những ràng buộc của thực tế bị dồn nén lại, rồi biểu hiện thành những hành vi tưởng chừng như rất xa lạ với các xung năng ấy” [56;398] “Từ điển Tâm lý học” (Vũ Dũng chủ biên) luận giải cụ thể hơn: “vô thức” được xem như là tập hợp các quá trình hoạt động, các trạng thái tâm lí vốn bắt nguồn từ đời sống thực tại nhưng chủ thể không ý thức được xuất xứ của chúng. Do vậy chủ thể không có khả năng thực hiện sự kiểm tra có chủ ý đến hành động và đánh giá những kết quả của chúng. Trong thế giới vô thức, nhận thức của con người không đúng tiến trình: cảm giác, tri giác, biểu tượng và các quá trình logic thông thường. Trong đó không lạ gì việc quá khứ, hiện tại, tương lai cùng hiện hữu, liên kết với nhau trong hành vi tâm lí nào đó (giấc mơ). Từ những lí giải trên các nhà nghiên cứu qui toàn bộ thế giới vô thức phức tạp về hai hình thức tồn tại cơ bản: thói quen hay một loại phản ứng từ lâu đã ăn sâu vào nhịp điệu sinh học của cơ thể, người ta thực hiện nó mà không phải tư duy, cân nhắc và những trạng thái không giải thích được như mộng du, mê sảng hay những hành động bột phát không thể đoán trước và kiểm soát. 1.1.2. Vô thức trong cái nhìn của học giả phương Đông Thế kỉ XIX là thế kỉ bùng nổ của những học thuyết, trong đó học thuyết về cái vô thức là một trong những khám phá tạo tiếng vang lớn có khả năng tác động đến nhiều mặt trong đời sống con người. Nhiều người cho rằng, học thuyết của Freud đã “làm thay đổi trật tự của vũ trụ” đặc biệt là những quan Yếu tố vô thức và sự đổi mới tổ chức tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương Luận văn thạc sĩ 13 Ngô Thị Lệ Thanh niệm về cuộc sống cũng như bản chất của con người bị đảo lộn. Thậm chí có người còn so sánh S. Freud với C.Marx, nếu C.Marx làm thay đổi đời sống vật chất của con người thì S.Freud làm thay đổi đời sống tinh thần của con người. Tuy nhiên, vấn đề vô thức không phải đến Freud mới khám phá và phát hiện ra mà trước Freud vấn đề vô thức đã được ít nhiều nhắc đến trong cái nhìn của học giả phương đông và phương tây. Từ xa xưa các học giả phương Đông đã nhắc đến vấn đề vô thức qua cách lí giải về cảm hứng sáng tác của người nghệ sĩ một cách “linh tính”. Lưu Hiệp đời Tề (465-520) trong cuốn Văn tâm điêu long nói: “Tình vãng tự tặng, hứng lai như đáp” dịch là: tình đến như tặng, hứng đến như đáp, tình cảm biến đổi theo cảnh vật tự nhiên mà biến đổi, và tác phẩm là sản phẩm của tình cảm. Đó chính là “xung động sáng tác” của người nghệ sĩ. Lục Cơ trong cuốn Văn phú đã nói: “lai bất khả ái, khứ bất khả chỉ” nghĩa là: “Hứng đến không thể ngăn, hứng đi không thể giữ” [61;108] khi nó đến tư tưởng bỗng nhiên khai khiếu, văn tứ như gió thổi từ trong lòng ra, ngôn ngữ như dòng suối từ khe răng môi tuôn ra, ý tứ dạt dào phong phú, cuồn cuộn chảy, theo tay viết ra thành tác phẩm. Ông không giải thích nguyên nhân sáng tác là do đâu, ông qui điều đó là do “thiên cơ” hay còn gọi là trời phú cho mỗi người, là nhân tố chủ quan thuộc loại “linh tính”. Tô Thức (1037-1101) là nhà nghệ thuật nổi tiếng đời Tống đã nói: “hữu sở bất năng tự dĩ nhi tác giả” (trong Nam hành tiên tập tự) dịch là “không thể đừng được mới sáng tác”, điều này nghĩa là khi nào nảy sinh cảm hứng “xung đột sáng tác” tới mức không viết không được thì mới tiến hành sáng tác [61; 102]. Công việc sáng tác của người nghệ sĩ chẳng khác nào mây nước chảy, chịu ảnh hưởng của ngoại lực mà phát sinh một cách tự nhiên vô thức, nó Yếu tố vô thức và sự đổi mới tổ chức tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương Luận văn thạc sĩ 14 Ngô Thị Lệ Thanh “trôi chảy” hay “ngừng lại” đều theo cảm hứng ở trong lòng mà quyết định, cảm hứng chảy hết rồi, thì công việc cũng dừng lại. Còn Trịnh Bản Kiều khi bàn về sự sáng tác của mình thì nói rằng: “hứng kéo đến như gió mưa” làm cho “bút mực chạy linh tính xuất hiện” (Cuốn: Hữu tặng Mẫu Sơn). Tác giả Viên Mai (1715-1797) tự là Tử Tài, hiệu là Giản Trai, người huyện Tiền Đường, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Trong cuốn Tùy Viên thi thoại đã bàn về thơ, lấy “tính linh” làm gốc; theo ông, tính linh là cái phong phú tự nhiên mà nhà văn nhà thơ bỗng cảm nhận được, không cần cảnh giới lớn hay nhỏ, cách điệu hay cao thấp, chỉ cần có tính linh thì là thơ hay. Trong thuyết “tính linh”, Viên Mai đề cập đến ba yếu tố phương diện của chủ thể sáng tác cần phải có: chân tình, cá tính, thi tài. Viên Mai nhấn mạnh đến yếu tố thi tài, thiên bẩm là nhân tố trời cho, trong quá trình sáng tác người nghệ sĩ dễ nảy sinh “linh cơ” và “cảm hứng” tức là hiện tượng linh cảm. Ông cho rằng “làm thơ mà hứng đến thì dễ thành” (tác thi hứng, hội sở chí, dị vu thiên thành), khi ấy thi nhân ở trong cao trào cảm hứng sáng tác và thời gian linh cảm tồn tại rất ngắn nên phải khéo nắm bắt, giống như “Thương nhạn tài kiến tiên sinh cầm” (vừa thấy nhạn biển thì bắt ngay). Sự xuất hiện của linh cảm tương thông với ngoại vật, tính ngẫu nhiên và tất nhiên của linh cảm thống nhất với nhau vì có khi “thường ngày tìm nó” không thấy, nhưng lại “bất chợt được nó” [61; 209] Như vậy, trong trạng thái linh cảm ùn ùn kéo tới người nghệ sĩ nắm bắt không kịp giây phút ấy họ chỉ việc hạ bút một cách vô thức. Các học giả Phương Đông thời xưa ít nhiều đã đề cập đến vấn đề vô thức trong sáng tạo nghệ thuật, tuy nhiên họ chưa gọi tên khoa học “vô thức” như ngày nay nhưng họ đã ý thức được quá trình sáng tạo vô thức của người nghệ sĩ và phản ánh vấn đề vô thức trong tác phẩm văn học của mình. Yếu tố vô thức và sự đổi mới tổ chức tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương Luận văn thạc sĩ 15 Ngô Thị Lệ Thanh Vô thức là kho chứa những cảm xúc, những tình cảm, những ham muốn, những giận hờn…bộ “dồn nén” vào bên trong, kho chứa những “mặc cảm mang màu sắc cảm xúc”. Với Freud thì con người gồm có bản năng tính dục (Id), bản ngã (Ego) và siêu ngã (Superego) – cái vượt qua khỏi cái tôi. Với Jung cái vượt khỏi cái tôi là “vô thức tập thể”, một chiều sâu chung của tâm thức con người. Văn học phương Đông từ xa xưa đã tiếp cận với phân tâm học, yếu tố vô thức của văn họcpPhương Đông đã được Jung đánh giá trong bài tựa “Bình giảng tâm lí” (1935), Jung đã so sánh Phương Đông và Phương Tây như sau: “Phương Đông có thể sẵn sàng bỏ cái ngã (ego) khá dễ dàng hình như chỉ ra một cái tâm lí không phải là cái tâm bình thường của chúng ta. Chắc chắn cái ngã không đóng vai trò trong tư tưởng Phương Đông như nó đã giữ vai trò ấy trong văn hóa chúng ta. Có lẽ như tâm thức Phương Đông ít qui ngã hơn, những nội dumg của nó nối kết lỏng hơn với chủ thể, sự nhấn mạnh lớn lao hơn được đặt vào những trạng thái tâm thức mang tính vô ngã.. ” 1.1.3. Vô thức trong cái nhìn của học giả Phương Tây Trước Freud, các nhà triết học phương Tây đã ít nhiều nhắc đến yếu tố vô thức trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Thời cổ đại, Platon cho rằng: nội tâm là phần ý thức, là tư duy và tư tưởng. Platon đã nhận ra sự hiện hữu của vô thức nhưng lại xếp vô thức vào lĩnh vực sinh lí và con người có thể ý thức được vô thức. Thế kỉ XIX Hegel bàn đến tính linh cảm trong sáng tạo nghệ thuật, linh cảm của người nghệ sĩ là điều không hẹn mà đến hay đến mà không sao đoán trước được, cũng không sao cản lại được “Dù là thiên tài vĩ đại tối ngày nằm dài trên thảm cỏ xanh đón gió hiu hiu thổi lại, ngửa mặt ngắm trời trong, trước sau nguồn linh cảm đều vẫn không ngó ngàn đến ông ta. ”[18]. Còn Maritain cho rằng “toàn bộ tác phẩm nghệ thuật đều do tính trực giác sáng tạo sinh ra”, cơ sở của tính trực giác sáng tạo là “tinh thần vô thức”, Yếu tố vô thức và sự đổi mới tổ chức tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương Luận văn thạc sĩ 16 Ngô Thị Lệ Thanh ông cho rằng nguồn gốc của mọi hoạt động con người dù là lý tính (lí trí) hay phi lý đều gom về một mối là tinh thần vô thức. Maritain cũng qui sự sáng tạo nghệ thuật là một thứ vô thức, sự thôi thúc của “lý trí tiềm thức”[19]. Đúng như vậy, trong sáng tác nghệ thuật rất cần đến trạng thái linh cảm, tuy nó mang tính thần bí, nhưng điều đó không có nghĩa là trong căn bản hình thành tác phẩm, linh cảm ngẫu nhiên quyết định. Linh cảm có thể bắt gặp nhưng không thể cầu mong mà có được. Friedrich Nietzsche (1844-1900) nhà triết học, giáo sư, nhà văn Đức, đại biểu tiêu biểu của Chủ nghĩa phi lí và ý chí luận lại cho rằng: ý thức không đáng tin cậy, ông kêu gọi mọi người quay về với thể xác và coi tư duy thể giác là vô thức, hoàn thiện hơn tư duy ý thức. Ông cũng đề cao vai trò của bản năng, ông lí giải mọi khả năng và số phận mỗi con người đều tùy thuộc vào sức mạnh thần bí đó. Đến thế kỉ XX, Triết học trực giác của Bergson ra đời, ông đi vào “thế giới bên trong” - thế giới thần bí cắt đứt với xã hội, ông cho rằng: tâm linh con người gồm cả hai khả năng cơ bản: trí tuệ và trực giác. Trí tuệ chỉ có thể nhận thức được thế giới vật chất bên ngoài chứ không thẻ hiểu được bản chất sự sống, nó hoàn toàn bất lực trước cái phi vật chất, không nắm bắt được dòng ý thức sâu xa của đời sống “bên trong”. Do đó trực giác – con đường nhận thức có tính vô thức được ông tuyệt đối hóa cùng với việc đề cao đến mức thần bí hóa “bản năng sâu thẳm” của con người. Sigmund Freud tuy không phải là người đầu tiên đưa ra khái niệm vô thức nhưng với một loạt tác phẩm: Giải đoán giấc mộng (1900), Tâm lí bệnh học đời thường (1904), Ba bài giảng về lí thuyết tình dục (1905)…ông là người chứng minh được sự tồn tại của vô thức trong tâm lí con người bằng những thực nghiệm khoa học chứ không phải chỉ là cảm thấy. Theo Freud “tâm lý học trước đây chỉ dừng lại ở ý thức, ý thức hữu thức” tức là lí trí mà Yếu tố vô thức và sự đổi mới tổ chức tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương Luận văn thạc sĩ 17 Ngô Thị Lệ Thanh ông gọi là “tâm lý học bề mặt”. Còn vô thức chính là “tâm lý học miền sâu” [19] . Ông chia quá trình tâm lý của con người thành ba bậc: ý thức, tiềm thức và vô thức - Ý thức (Conscious): tầng mức độ hoạt động của tâm lý mà con người có thể nhận biết thông qua tư duy, ý tưởng và cảm xúc. - Tiềm thức (preconscious): làm phần kí ức có thể gợi nhớ lại được. - Vô thức (Unconscious): theo Freud, đây là phần quan trọng của bộ máy tâm trí vì đó là phần qui định nên những hành vi của con người. Con người không thể nhận biết được những hành động đang diễn ra trong phần vô thức. Sơ đồ cấu trúc nhân cách theo quan điểm của Freud Yếu tố vô thức và sự đổi mới tổ chức tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương Luận văn thạc sĩ 18 Ngô Thị Lệ Thanh Khối vô thức là khối bản năng, Freud cho rằng có nhiều loại bản năng khác nhau nhưng ông chú ý đến hai loại bản năng trọng yếu: bản năng sống (Eros) và bản năng chết (Thanatos) - Bản năng sống (Eros): bao gồm tất cả những gì liên quan đến sự tồn tại của cá nhân và tập thể như đói, khát, tình dục. Năng lượng của bản năng sống này được gọi là Libido – bản năng tình dục. Bản năng tình dục giúp duy trì sự sống như ăn, uống, tình dục và các hoạt động khác đáp ứng toàn bộ những nhu cầu khác của cơ thể. - Bản năng chết (Thanatos): là hệ thống năng lượng của những sinh vật sống săn đuổi liên tục trong trạng thái cân bằng và chỉ có thể đạt được thông qua cái chết [19;156]. Biểu hiện của bản năng chết là sự lặp lại một trạng thái, một nỗi buồn có trước nào đó. Bản năng chết còn thể hiện ở khả năng gây gổ, đốt phá, đánh đấm và hủy diệt, đặc biệt là khả năng hủy diệt chính mình. Bản năng chết được xem là nền tảng của toàn bộ hành vi hiếu chiến và tàn sát. Tuy nhiên, Freud cho rằng: bản năng sống (Eros) mạnh hơn bản năng chết (Thanatos) nên nó giúp chúng ta tồn tại chứ không phải hủy diệt. Tương ứng với ba tầng bậc trong cấu trúc nhân cách, Freud đưa ra ba thành phần của cấu trúc nhân cách là: Cái Ấy (Id), Cái Tôi bản ngã (Ego) và cái siêu ngã- cái siêu Tôi (Superego). - Cái Ấy (Id): bao gồm những bản năng quan trọng nhất là dục tính (Sex) và hung tính (Aggression). Chức năng cơ bản của Cái Ấy là duy trì con người trong trạng thái thoải mái, không bị những áp lực căng thẳng. Cái Ấy vận hành theo “nguyên lý khoái lạc” (Pleasure Principle) hướng tới sự thỏa mãn nhu cầu có tính bản năng. Cái Ấy hiện diện ngay từ lúc sinh ra và từ đầu không liên quan đến chức năng sinh dục. Tính dục ở đay có những khoái cảm xuất phát từ một số bộ phận của cơ thể gọi là bộ phận kích dục. Yếu tố vô thức và sự đổi mới tổ chức tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương Luận văn thạc sĩ 19 Ngô Thị Lệ Thanh - Cái Tôi- bản ngã (Ego): không giống như Cái Ấy, Cái Tôi không có sẵn vào lúc sinh ra, nhưng nó dần dần hình thành và phát triển khi chúng ta tương tác với môi trường bên ngoài. Chức năng của cái Tôi là thực hiện việc kiểm soát bản thân và hiểu biết thế giới bên ngoài. Vì thế cái Tôi vận hành trên “nguyên lý thực tế” (Reality Principle) - Cái siêu Tôi- siêu ngã (Superego) là một dạng thức kiểm soát từ bên trong của mỗi cá nhân. Theo Freud, cái siêu tôi được tạo lên bởi hai thành phần: lương tâm (Conscience) và cái Tôi lý tưởng (Ego-ideal). Cái siêu Tôi là cơ chế kiểm soát được “cài đặt” bên trong để đảm nhận chức năng chính là kiểm soát các xung năng có tính nguyên sơ của Cái Ấy. Cái siêu tôi thể hiện những điều có tính lí tưởng bên trong mỗi cá nhân và luôn hướng con người đến sự hoàn hảo. Trong tâm lí con người con người, bản năng siêu ngã và bản ngã luôn xung đột với nhau. Cá nhân nào siêu ngã mạnh thì nó kéo bản ngã về phía nó và con người sống tự kìm chế mình trong những ham muốn, sống nghị lực ý chí tuân theo những lí tưởng và đaọ đức xã hội. Còn cá nhân nào bản năng mạnh thì nó sẽ kéo bản ngã về phía nó và con người hành động theo bản năng, không biết điều khiển được bản thân mình, hoàn toàn buông thả theo những dục vọng, bị ham muốn chi phối. Freud cho rằng có hai con đường để giải thoát những ham muốn tính dục mà không sợ phạm đạo đức xã hội đó là: giấc mơ và sáng tạo nghệ thuật. Giấc mơ là cửa ngõ chính dẫn vào thế giới vô thức. Freud đã chia giấc mơ thành hai phần nội dung biểu hiện và nội dung tiềm ẩn. Nội dung hiển hiện là cảnh mộng mà người nằm mơ thấy được. Theo Freud thì “chúng ta đã có lý khi cho rằng giấc mộng là một sự biến dạng của một ước vọng khi bị dồn nén”. Mỗi một giấc mộng đều biểu hiện một bi kịch trong thế giới nội Yếu tố vô thức và sự đổi mới tổ chức tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương Luận văn thạc sĩ 20 Ngô Thị Lệ Thanh tâm của con người, giấc mộng làm tan đi cảm giác căng thẳng do những ước mong không đạt được gây ra. Nếu giấc mơ là sự trá hình của những ước muốn bị dồn nén của con người thì sáng tạo nghệ thuật (tác phẩm) cũng chính là sự thăng hoa của các ẩn ức trong tâm hồn nghệ sĩ “Nghệ thuật đạt tới sự hòa giải theo một con đường độc đáo….Bị thúc đẩy bởi những thèm khát ghê gớm, nghệ sĩ chiếm đoạt được danh vọng, quyền hành, của cải, vinh quang và tình yêu…” Liên quan đến nội hàm khái niệm vô thức, Freud đưa ra các khái niệm: mặc cảm Oedipe, mặc cảm bị thiến, mặc cảm phạm tội. - Mặc cảm Oedipe được Sigmund Freud xuất phất từ một vở kịch của Sophocles trong đó vua xứ Thebes bỏ rơi hoàng tử Oedipus. Về sau Oedipus giết cha và cưới mẹ mình mà không biết. Theo Freud cho rằng tính dục của trẻ em mang tính bản năng, được bộc lộ một cách vô tư, thoải mái. Khi đứa trẻ có những thức tỉnh về tính dục và bắt đầu hướng sự thức tỉnh đó ra bên ngoài thì đối tượng đầu tiên của nó là bố (đối với con gái) hoặc mẹ (đối với con trai). Lớn lên đứa trẻ sẽ hướng đối tượng tính dục của nó vào một đối tượng khác giới với bố hoặc mẹ mình. - Mặc cảm bị thiến, theo Freud đứa trẻ có hành vi bộc lộ dục tính một cách vô tư nên người lớn thường có thái độ cấm đoán và có hình thức trừng phạt. Từ đó hình thành ở trẻ sự sợ sệt, thiếu tự tin vào bản thân mình. Đó là trạng thái của mặc cảm bị thiến, nếu không có sự điều chỉnh kịp thời thì sẽ để lại biến chứng trong tuổi trưởng thành như: lãnh cảm tình dục, ám ảnh bị thua kém, yếu đuối về sinh lực ảnh hưởng đến khả năng sinh hoạt tình dục. - Mặc cảm phạm tội được hình thành khi đứa trẻ bắt đầu ý thức được hình phạt mà người lớn dành cho chúng khi chúng phạm tội. Sự sợ hãi trừng phạt dẫn đến tâm trạng luôn lo âu sợ mình phạm tội. Yếu tố vô thức và sự đổi mới tổ chức tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương
- Xem thêm -