Tài liệu Yếu tố vay mượn trong phương ngữ nam bộ qua tự vị tiếng việt miền nam của vương hồng sển

  • Số trang: 79 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 147 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM DƢƠNG THỊ NGỮ YẾU TỐ VAY MƢỢN TRONG PHƢƠNG NGỮ NAM BỘ QUA “TỰ VỊ TIẾNG VIỆT MIỀN NAM” CỦA VƢƠNG HỒNG SỂN LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ THÁI NGUYÊN, NĂM 2011 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM DƢƠNG THỊ NGỮ YẾU TỐ VAY MƢỢN TRONG PHƢƠNG NGỮ NAM BỘ QUA “TỰ VỊ TIẾNG VIỆT MIỀN NAM” CỦA VƢƠNG HỒNG SỂN CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC MÃ SỐ: 60.22.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS - TS. Phạm Văn Hảo THÁI NGUYÊN, NĂM 2011 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn Lời cảm ơn Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS. TS Phạm Văn Hảo, người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này. Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, khoa Sau đại học - Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên và các thầy giáo ở Viện Ngôn ngữ học, Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam đã giảng dạy và giúp đỡ tôi hoàn thành khoá học. Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu. Thái Nguyên, tháng 10 năm 2011 Tác giả luận văn Dương Thị Ngữ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình khoa học riêng tôi. Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác. Tác giả luận văn Dƣơng Thị Ngữ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn i MỤC LỤC Trang Trang bìa phụ Lời cảm ơn Lời cam đoan Mục lục ................................................................................................................ i MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1 Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN ... 6 1.1. Cơ sở lý luận ........................................................................................... 6 1.1.1. Tiếng Việt và phương ngữ Nam Bộ ................................................. 6 1.1.2. Vay mượn từ vựng ......................................................................... 14 1.2. Vương Hồng Sển và cuốn Tự vị tiếng Việt miền Nam .......................... 18 1.2.1. Tiểu sử Vương Hồng Sển............................................................... 18 1.2.2. Giới thiệu Tự vị tiếng Việt miền Nam của Vương Hồng Sển ........ 20 1.3. Tiểu kết .................................................................................................. 21 Chƣơng 2. CÁC YẾU TỐ VAY MƢỢN TRONG TỰ VỊ TIẾNG VIỆT MIỀN NAM .................................................................................................... 23 2.1. Nhìn chung về vốn từ ngữ của cuốn từ điển “Tự vị tiếng Việt miền Nam”. 23 2.1.1. Phân bố chung các mục từ ngữ ...................................................... 23 2.1.2. Vài nhận xét về kĩ thuật giải thích của cuốn tự vị ......................... 25 2.1.3. Điểm qua về những khu vực từ vựng được cuốn tự vị quan tâm đặc biệt ..................................................................................................... 29 2.2. Những yếu tố vay mượn trong cuốn Tự vị tiếng Việt miền Nam .......... 31 2.2.1.Khái quát chung .............................................................................. 31 2.2.2. Yếu tố vay mượn tiếngTriều Châu(Trung Quốc) .......................... 31 2.2.3. Các yếu tố mượn Khmer ................................................................ 34 2.2.4. Yếu tố vay mượn từ tiếng Pháp ..................................................... 36 2.3. Tiểu kết .................................................................................................. 38 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ii Chƣơng 3. NHẬN XÉT BƢỚC ĐẦU VỀ Ý NGHĨA VÀ VAI TRÕ CỦA CÁC YẾU TỐ VAY MƢỢN QUA TỰ VỊ TIẾNG VIỆT MIỀN NAM ... 40 3.1. Khái quát về lịch sử hình thành mảnh đất Nam Bộ .............................. 40 3.2. Vị trí của các yếu tố vay mượn trong vốn từ Nam Bộ .......................... 44 3.2.1 Từ thuần Việt và từ vay mượn trong vốn từ Nam Bộ ..................... 44 3.2.2. Yếu tố vay mượn trong cấu tạo từ Nam Bộ ................................... 47 3.2.3. Vai trò của các yếu tố vay mượn ................................................... 52 3.3. Giá trị lịch sử của các yếu tố vay mượn................................................ 61 3.4. Tiểu kết .................................................................................................. 65 KẾT LUẬN ..................................................................................................... 67 TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 70 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Tiếng Việt của chúng ta giàu và đẹp. Biểu hiện của sự giàu và đẹp đó là sự đa dạng của ngôn ngữ. Cùng với sự phát triển không ngừng của bức tranh toàn cảnh ngôn ngữ cả nước là các phương ngữ địa phương. Phương ngữ cung cấp các tư liệu cụ thể về tiếng địa phương với những biến thể của tiếng Việt về nhiều mặt: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp. Khi tìm hiểu về một phương ngữ chúng ta thấy có sự liên quan chặt chẽ giữa phương ngữ với các yếu tố lịch sử, văn hoá của địa phương trong tiến trình lịch sử chung của dân tộc, bởi ngôn ngữ luôn chứa đựng trong nó những yếu tố văn hoá lịch sử. Một trong các phương ngữ có giá trị của tiếng Việt là phương ngữ Nam Bộ. Những đặc trưng rất riêng của vùng đất phương Nam của tổ quốc đã tạo ra một truyền thống ngôn ngữ nơi đây phong phú, năng động và rất trẻ. Điều đó hẳn sẽ không tách rời với những yếu tố văn hoá, lịch sử của vùng. Từ thời chúa Nguyễn, Nam Bộ đã phát triển với những tổ chức đơn vị hành chính, hàng hải và thương mại đã giúp cho kinh tế, văn hoá và xã hội phát triển theo. Nhờ quan hệ buôn bán, giao lưu văn hoá giưã các cộng đồng dân cư trong khu vực được đẩy mạnh. Cho đến ngày nay, Nam Bộ vẫn là một trong những khu vực phát triển nhất của cả nước. Nam Bộ là vùng đất mới so với cả nước nên đã và đang trở thành trung tâm văn hóa, kinh tế lớn của dân tộc. Đặc trưng văn hoá của Nam Bộ là văn hoá vùng miền và văn hoá sông nước. Nơi đây là vựa lúa, vựa trái cây miền nhiệt đới lớn nhất cả nước, các loài động, thực vật phong phú và đa dạng. Những đặc điểm của văn hoá sông nước đi vào văn hoá vùng và văn hoá Dân tộc, chúng được bảo lưu trong văn hoá dân gian và phát triển mạnh trong văn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 2 hoá hiện đại. Văn hoá Nam Bộ có nhiều nét riêng so với các vùng văn hoá khác của cả nước, với bề dày trong quá trình lịch sử văn hoá, thêm nữa là vùng đất trẻ khiến nơi đây là trung tâm của sự tiếp biến văn hoá và tạo thành đặc thù văn hoá Nam Bộ. Ngôn ngữ luôn là bức tranh phản ánh của văn hoá. Sự tiếp xúc và giao thoa văn hoá làm cho bức tranh ngôn ngữ nơi đây vô cùng phong phú. Bên cạnh các yếu tố thuần Việt, phương ngữ Nam Bộ còn có bộ phận lớn các yếu tố vay mượn. Các yếu tố vay mượn này phản ánh diện mạo ngôn ngữ - văn hoá Nam Bộ như chính những đặc điểm về lịch sử, văn hoá của vùng. Đó là điều khiến bất cứ ai không thể nhầm lẫn trong diện mạo các vùng ngôn ngữ Việt Nam – phương ngữ Nam Bộ. Nghiên cứu những yếu tố vay mượn trong phương ngữ Nam Bộ được tác giả Vương Hồng Sển đưa vào cuốn Tự vị tiếng Việt miền Nam, chúng tôi muốn tìm hiểu và đóng góp những phát hiện của mình về vấn đề mới mẻ và hấp dẫn này. Đó chính là lý do để chúng tôi thực hiện đề tài: Yếu tố vay mượn trong phương ngữ Nam Bộ qua “Tự vị tiếng Việt miền Nam” của Vương Hồng Sển. 2. Lịch sử vấn đề Phương ngữ Nam bộ, như đã nêu trên, là một phương ngữ trẻ so với cả nước (được hình thành khoảng trên dưới 300 năm). Đã có nhiều công trình nghiên cứu về phương ngữ này. Công trình nghiên cứu phải nói đến đầu tiên là của tác giả Hoàng Thị Châu “Phương ngữ học tiếng Việt” [5]. Tác giả đã đưa ra nhiều ý kiến về việc chỉ ra những đặc điểm của các vùng phương ngữ, trong đó, phương ngữ Nam Bộ là một phương ngữ mới và có nhiều nét khác biệt so với phương ngữ Bắc. Nghiên cứu tiếng địa phương cũng hấp dẫn các tác giả làm từ điển phương ngữ Nam Bộ. Tác giả Nguyễn Văn Ái có cuốn Từ điển phương ngữ Nam Bộ [1]. Tác giả Huỳnh Công Tín với Từ điển từ ngữ Nam Bộ[36]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 3 Tác giả Huỳnh Công Tín(1996) với: “Hiện tượng biến âm trong phương ngữ Nam Bộ”[35] bài “Đồng bằng sông Cửu Long – Môi trường sống – Sự tác động và thể hiện ở văn hoá, tư duy và ngôn ngữ”[36], Luận án tiến sĩ ĐH tổng hợp TP HCM: Hệ thống ngữ âm của tiếng Sài Gòn so với phương ngữ Hà Nội và một số phương ngữ khác ở Việt Nam. Mới đây, có Luận văn thạc sĩ, ĐH khoa học Xã hội và nhân văn TP HCM năm 2009 của Dương Thị Thanh Thanh: “Đặc điểm ngữ nghĩa và cấu tạo của các từ chỉ đồ dùng gia đình và sản vật địa phương Nam Bộ”. Phạm Thị Triều với luận văn thạc sĩ: “Lời rao của người Viêt Nam Bộ ở Đồng bằng sông Cửu Long” ĐH khoa học xã hội và nhân văn - ĐH QG TP HCM, 2010... Nhìn chung những nghiên cứu trên đều ra đời trong những năm gần đây. Đó là những nghiên cứu mới cho một phương ngữ mới - Một phương ngữ luôn trong trạng thái “động” và có rất nhiều yếu tố đang được đi vào ngôn ngữ toàn dân. Tuy vậy, việc nghiên cứu về các yếu tố vay mượn trong phương ngữ Nam Bộ qua từ điển là một công việc còn bỏ ngỏ. Chúng tôi chọn đề tài : “Yếu tố vay mượn trong phương ngữ Nam Bộ qua Tự vị tiếng Việt miền Nam của Vương Hồng Sển” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ cũng vì lý do đó. 3. Đối tƣợng nghiên cứu Đối tượng mà luận văn nghiên cứu là những yếu tố vay mượn trong phương ngữ Nam Bộ thể hiện qua quyển Tự vị tiếng Việt miền Nam của Vương Hồng Sển, do Nhà xuất bản Văn hoá phát hành năm 1993). Nghiên cứu phương ngữ Nam Bộ có thể thực hiện ở tất cả các phương diện. Với đề tài này, chúng tôi chủ yếu khảo sát các đơn vị từ mượn trong mục từ của từ điển. Trên cơ sở đó chỉ ra một số đặc điểm về các yếu tố vay mượn trong phương ngữ Nam Bộ và giá trị của nó trong vốn từ chung của dân tộc. Vì vậy, đối Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 4 tượng khảo sát của đề tài chính là các mục từ là các yếu tố vay mượn trong cuốn từ điển của Vương Hồng Sển về phương ngữ Nam Bộ. 4. Mục đích nghiên cứu Thực hiện đề tài: “Yếu tố vay mượn trong phương ngữ Nam Bộ qua Tự vị tiếng Việt miền Nam của Vương Hồng Sển” chúng tôi đi vào tìm hiểu đặc điểm cua rcác yếu tố vauy mượn trong phương ngữ Nam Bộ. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, luận văn sử dụng chủ yếu các phương pháp sau: 5.1 Phương pháp thống kê, phân loại: Luận văn dùng phương pháp thống kê các từ mượn ở cuốn Tự vị tiếng Vịêt miền Nam . 5.2. Phương pháp so sánh: từ sự thống kê và phân loại trên, chúng tôi so sánh các từ ngữ trong phương ngữ Nam Bộ với phương ngữ Bắc qua cuốn Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, nhà xuất bản Đà Nẵng phát hành năm 2000. Qua việc so sánh, đặc điểm của các yếu tố vay mượn nói riêng và đặc điểm của phương ngữ Nam Bộ nói chung được thể hiện. Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các phương pháp, thủ pháp khác như cách xác định nguồn gốc từ, lối phục nguyên nghĩa gốc, cách viết theo lối Việt hoá... 6. Đóng góp của luận văn Về mặt lý luận: luận văn đóng góp cho việc nghiên cứu vấn đề vay mượn từ vựng của ngôn ngữ nói chung và phương ngữ nói riêng. chúng tôi nghiên cứu phương ngữ Nam Bộ, nơi có sự di dân và tiếp xúc với các ngôn ngữ ngoại lai và khu vực. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 5 Ngoài ra, luận văn được hoàn thành sẽ cung cấp tư liệu về phương ngữ mà những ai quan tâm tới vấn đề ngôn ngữ và phương ngữ Nam Bộ, cũng như các vấn đề văn hoá của địa phương. Luận văn cũng góp phần quan trọng trong việc giảng dạy các tác phẩm văn chương có sử dụng từ ngữ địa phương trong nhà trường phổ thông. 7. Bố cục của luận văn Luận văn ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính gồm những chương: Chương 1: Cơ sở lý thuyết và những vấn đề liên quan Chương 2: Các yếu tố vay mượn trong Tự vị tiếng Việt miền Nam. Chương 3: Nhận xét bước đầu về ý nghĩa và vai trò của các yếu tố vay mượn trong phương ngữ Nam Bộ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN 1.1. Cơ sở lý luận 1.1.1. Tiếng Việt và phƣơng ngữ Nam Bộ 1.1.1.1. Lịch sử tiếng Việt Tiếng Việt cũng như bất kì một ngôn ngữ nào trên thế giới đều có lịch sử của nó. Lịch sử hình thành và phát triển tiếng Việt gắn liền với lịch sử của dân tộc Việt, tức là các giai đoạn phát triển của tiếng Việt song hành với các giai đoạn trong lịch sử Việt Nam từ thời cổ đại, thời trung đại đến thời cận đại và hiện đại. Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ khi tìm hiểu về lịch sử tiếng Việt đều phân định những giai đoạn phát triển chính của nó, từ khởi thuỷ cho tới hiện đại. H. Mas pero trong cuốn “Nghiên cứu ngữ âm lịch sử tiếng An Nam. Những phụ âm đầu” đã chia các giai đoạn phát triển của tiếng Việt căn cứ vào những cứ liệu cụ thể (phụ âm đầu) như sau: 1- Tiếng tiền An Nam - Trước khi hình thành từ Hán Việt (sau CN đến thế kỷ IX) 2 - Tiếng An nam cổ xưa - sự hoàn thiện vấn đề từ Hán Việt (từ thế kỉ X trở đi) 3 – Tiếng An Nam cổ - Từ vựng HánViệt của Hoa Di dịch ngữ (thế kỷ XV). 4 - Tiếng An nam trung cổ (1651 đến thế kỉ XVII) 5 - Tiếng An Nam hiện đại (thế kỉ XIX về sau) (Dẫn theo Trần Trí Dõi)[8]. Theo đánh giá của Trần Trí Dõi, cách phân chia các giai đoạn phát triển của H. Maspeso cụ thể và xác định. Tuy nhiên nó chỉ có tác dụng khi ngôn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 7 ngữ có chữ viết hay đã được ghi chép lại. Khi tiếng Việt chưa có chữ viết thì cách phân chia này không có tác dụng. Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn [3] dựa vào tình thế ngôn ngữ đã phân kì các giai đoạn phát triển của tiếng Việt như sau: A. Giai đoạn proto - Có 2 ngôn ngữ: tiếng Hán Việt Vào khoảng thế kỉ VIII, X (khẩu ngữ của lãnh đạo) - 1 văn tự: chữ Hán B. Giai đoạn tiếng - Có 2 ngôn ngữ: tiếng Việt Việt tiền cổ Vào khoảng thế kỉ X–XII (khẩu ngữ của lãnh đạo) và văn ngôn Hán - 1 văn tự: chữ Hán C. Giai đoạn tiếng - Có 2 ngôn ngữ: tiếng Việt và Vào khoảng thế kỉ XIII– Việt cổ văn ngôn Hán XVI - 2 văn tự: chữ Hán và chữ Nôm D. Giai đoạn tiếng - Có 2 ngôn ngữ: tiếng Việt và Vào khoảng thế kỉ XVII, Việt trung đại văn ngôn Hán XVIII và nửa đầu thế kỉ - 3 văn tự: chữ Hán, chữ Nôm XIX và chữ quốc ngữ E. Giai đoạn tiếng - Có 3 ngôn ngữ: tiếng Pháp, Vào thời Pháp thuộc Việt cận đại tiếng Việt và văn ngôn Hán - 4 văn tự: Pháp, Hán, Nôm, quốc ngữ F. Giai đoạn tiếng - Có 1 ngôn ngữ: tiếng Việt Việt hiện đại Từ năm 1945 trở đi - 1 văn tự: chữ quốc ngữ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 8 Cách phân chia này phản ánh hiện trạng của ngôn ngữ trong mối tương tác giữa ngôn ngữ, các kiểu văn tự, giữa vai trò xã hội khác nhau của chúng trong cùng một môi trường xã hội ngôn ngữ. Như vậy, theo hầu hết các tác giả thì nguồn gốc tiếng Việt là nhóm ngôn ngữ thuộc nhóm Việt Mường, tiểu chi Việt Chứt, nằm trong khối Việt Ka tu, thuộc khu vực phía đông của nhành Mon – Khmer, họ Nam Á. Trong luận văn, chúng tôi dựa theo ý kiến của giáo sư Nguyễn Tài Cẩn về phân chia lịch sử tiếng Việt vì khi những giai đoạn đầu của quá trình lịch sử ấy, tiếng Việt, tiếng Mường có họ hàng tiếng Nguồn là họ hàng gần và nhóm Pọng Chứt (gồm ngôn ngữ Chứt và ngôn ngữ Pọng), Thà vựng là họ hàng xa của tiếng Việt. Thêm nữa, cách phân chia này còn cho chúng tôi thấy được những nét cơ bản về sự tiếp xúc ngôn ngữ, văn hoá Việt – Hán, một trong những vấn đề mà luận văn nghiên cứu. 1.1.1.2. Ba phương ngữ tiếng Việt Những quy luật chung của ngôn ngữ như quy luật phân tán, quy luật thống nhất ngôn ngữ đã làm cho ngôn ngữ của mỗi dân tộc không hề tách rời với lịch sử phát triển của xã hội mà trái lại, gắn bó chặt chẽ và có quan hệ mật thiết với sự phát triển đó. Trong mỗi quá trình đó, mỗi quốc gia với những điều kiện lịch sử, xã hội riêng đã hình thành nên những phương ngữ bên trong ngôn ngữ dân tộc thống nhất. Các phương ngữ đến lượt mình cũng dần dần thâm nhập vào ngôn ngữ quốc gia tạo sự phong phú cho ngôn ngữ dân tộc. Phương ngữ là một khái niệm phức tạp của ngôn ngữ học. Thuật ngữ này tồn tại cùng các thuật ngữ phương ngôn, tiếng địa phương, giọng địa phương... Người viết luận văn này dùng khái niệm phương ngữ. Theo Hoàng Thị Châu: “Phương ngữ là biến thể địa phương của ngôn ngữ toàn dân được hình thành trong quá trình lịch sử”[5]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 9 Phương ngữ hình thành do nhiều nguyên nhân. Những nguyên nhân do tình trạng phân tán, cách biệt của các khu vực địa lý, dân cư ở các quốc gia tạo thành nguyên nhân bên ngoài xã hội của phương ngữ. Không chỉ có thế, phương ngữ ra đời còn là kết quả của một sự tác động bên trong, từ cấu trúc ngôn ngữ. Ngôn ngữ luôn phát triển và biến đổi không ngừng, mặt biến đổi đó biểu hiện trên từng phương ngữ về mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp. Theo giáo sư Hoàng Thị Châu, “Biến dạng của một ngôn ngữ được sử dụng với tư cách là phương diện giao tiếp của những người gắn bó chặt chẽ với nhau trong một cộng đồng thống nhất về mặt lãnh thổ, về hoàn cảnh xã hội về nghề nghiệp; còn gọi là tiếng địa phương. Phương ngữ được chia ra phương ngữ lãnh thổ và phương ngữ xã hội” [5]. Phương ngữ lãnh thổ(phương ngữ địa lý) được nhìn theo chiều thời gian và không gian của sự phát triển biến đổi và biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân. Phương ngữ địa lý tạo thành hệ thống, quan hệ gắn bó với hệ thống ngôn ngữ toàn dân và là một trong những biểu hiện của ngôn ngữ dân tộc. Nhìn ngôn ngữ dân tộc từ quan hệ xã hội của các tầng lớp người sử dụng, chúng ta thấy có một cộng đồng xã hội, văn hoá, nghề nghiệp khác nhau có thể dùng ngôn ngữ toàn dân với những biến thể riêng và tạo thành phương ngữ xã hội. Như vậy, “Phương ngữ là một thuật ngữ của ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân và là biến thể của ngôn ngữ này ở một địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với một phương ngữ khác” [5, 29]. Vấn đề phân vùng phương ngữ trong tiếng việt là một trong những nội dung mà nhiều nhà nghiên cứu tiếng Việt và phương ngữ tiếng Việt quan tâm. Tuy vậy các tác giả chưa có được sự thống nhất về cách phân định ranh giới các phương ngữ tiếng Việt. Nguyên nhân của hiện tượng này xuất phát từ ngay bản thân phương ngữ bởi đường ranh giới của nó không phải là ranh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 10 giới tự nhiên mà là sự phản ánh của biến thể của tiếng Việt trên những vùng địa lý khác nhau. Nhưng sự biến đổi của ngôn ngữ xảy ra phức tạp có nhiều hiện tượng chồng lấn lên nhau. Vì vậy xác định đường ranh giới cho phương ngữ tiếng Việt chỉ có tính chất tương đối theo con mắt của các nhà nghiên cứu phương ngữ. Các nhà nghiên cứu có rất nhiều ý kiến về việc phân vùng phương ngữ. H.Maspero(1912), một học giả người Pháp trong công trình“Nghiên cứu ngữ âm lịch sử Tiếng Việt , các phụ âm đầu” đã chia tiếng Việt thành hai phương ngữ là phương ngữ Bắc và phương ngữ Trung, ông lý giải do tiếng Bắc và tiếng Nam giống nhau về nguồn gốc nên chỉ phân biệt tiếng Bắc và tiếng miền Trung vì miền Trung có nhiều yếu tố cổ để phân biệt. Phân tiếng Việt thành hai phương ngữ cũng là ý kiến của một số nhà ngôn ngữ học khác như: hai nhà Việt ngữ học Liên Xô M.V. Gordina và I .S Bystrôv (1970). Giáo sư Hoàng Phê (1963) cũng chia tiếng Việt thành hai phương ngữ là phương ngữ Bắc và Phương ngữ Nam. Một số nhà nghiên cứu căn cứ vào những sự khác biệt về các mặt thanh điệu, ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp của các vùng mà phân thành ba vùng phương ngữ là: phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung và Phương ngữ Nam. Đó là ý kiến của Hoàng Thị Châu đại diện cho một nhóm các nhà nghiên cứu cùng quan điểm. Nguyễn Kim Thản, Phạm Văn Hảo và một số nhà nghiên cứu chia Tiếng Việt thành bốn phương ngữ như sau: Phương ngữ Bắc gồm Bắc Bộ và phía bắc Thanh Hoá. Phương ngữ Bắc Trung Bộ gồm các tỉnh từ Nghệ An đến Thừa Thiên Huế. Phương ngữ Trung Nam từ Đà Nẵng đến Bình Thuận. Phương ngữ Nam Bộ gồm các tỉnh Đông Nam Bộ, Thành phố Hồ Chí Minh và Tây Nam Bộ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 11 Có một số nhà nghiên cưú khác chia thành năm phương ngữ, và cũng có ý kiến không thể phân chia phương ngữ được. Việc phân vùng phương ngữ căn cứ vào nhiều yếu tố. Phân thành các vùng phương ngữ là ba, bốn hay năm chỉ khác nhau ở việc gộp hay tách các phương ngữ ở miền trung mà thôi. Tiếng Việt nhìn chung là thống nhất, mọi người trên mọi miền của Tổ quốc có thể trao đổi và giao lưu với nhau bằng ngôn ngữ địa phương của mình mà mọi người ở vùng khác vẫn nghe và hiểu được. Phương ngữ Bắc đang được coi là cơ sở của ngôn ngữ toàn dân do những đặc điểm về lịch sử và văn hoá của nó, đồng thời và chủ yếu là phương ngữ này có nhiều đặc điểm ưu trội về mặt hệ thống (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) so với các phương ngữ còn lại. Người viết luận văn thấy rằng cách chia ba vùng phương ngữ tiện lợi cho việc nghiên cứu vì nó tương ứng với ba vùng địa lý hành chính của Việt Nam: phương ngữ Bắc(Bắc Bộ), phương ngữ Trung(Trung Bộ), phương ngữ Nam(Nam Bộ). Qua trình bày trên, chúng tôi thấy rằng phương ngữ là một vấn đề phức tạp và được các nhà ngôn ngữ học quan tâm với những công trình nghiên cứu đóng góp cho việc nghiên cứu sự phát triển của lịch sử tiếng Việt, và việc chuẩn hoá ngôn ngữ khi từ địa phương thâm nhập vào từ toàn dân. Tuy vậy, còn chưa có nhiều công trình nghiên cứu về từ vựng phương ngữ một cách sâu sắc và triệt để. Muốn xác định rõ những đặc điểm các vùng phương ngữ tiếng Việt để từ đó có sự thống nhất trong nghiên cứu phương ngữ cần đẩy mạnh hơn nữa sự nghiên cứu về từ vựng, trong đó có việc nghiên cứu sự vay mượn từ vựng trong các phương ngữ. 1.1.1.3. Phương ngữ Nam Bộ Phương ngữ Nam bộ là lời ăn tiếng nói của người Nam Bộ được hình thành trong quá trình lịch sử. Đặc điểm lịch sử Nam Bộ lại có những nét Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 12 riêng, khác biệt với các vùng khác của cả nước: là miền đất mới, lại bị chia cắt nhiều lần và lâu dài trong các cuộc chiến tranh. Vì thế phương ngữ phát triển và luôn bảo vệ quyền lợi của mình. Do những đặc điểm về kinh tế hàng hóa, năng động, hợp tác quốc tế đẩy mạnh nên giao lưu văn hóa thường xuyên diễn ra, tiếng Việt ở Nam Bộ nhìn chung là khá thống nhất, ít thổ ngữ, cả một vùng bằng phẳng ngôn ngữ giống nhau, chỉ có một vài sắc thái địa phương không đáng kể ở phía nam của khu vực. Các đặc điểm của phương ngữ Nam Bộ: + Đặc điểm về ngữ âm: Nếu ta lấy hệ thống âm vị tiếng Việt được phản ánh qua chính tả àm chuẩn để khảo sát sự đặc điểm ngữ âm Nam Bộ thì những đặc trưng ngữ âm khác biệt với tiếng Việt của phương ngữ Nam là: - Hệ thống thanh điệu: có 5 thanh, thanh ngã và thanh hỏi lẫn lộn. Xét về mặt điệu tính, thanh điệu của phương ngữ Nam khác so với thanh điệu của phương ngữ Bắc và phương ngữ Trung. - Hệ thống phụ âm đầu: có 23 phụ âm, có các phụ âm uốn lưỡi như phương ngữ Trung / t , s, z / (chữ quốc ngữ ghi bằng tr, s, r). Ở Nam Bộ có thể phát âm rung lưỡi / r /. So với các phương ngữ khác thì phương ngữ Nam thiếu phụ âm / v/ nhưng lại có thêm phụ âm / w /, không có /z/ nhưng được thay thế bằng âm / j /. Hầu như ở đây không có âm đệm / -u /. So với phương ngữ Bắc Và phương ngữ Trung, phương ngữ Nam mất đi nhiều vần và thiếu đôi phụ âm cuối /-nh, -ch / và đôi âm cuối / -ng, -k/ trở thành những âm vị độc lập. + Đặc điểm về từ vựng, ngữ nghĩa. Xét trong cả hệ thống từ vựng của một phương ngữ, từ ngữ địa phương có thể do biến âm hoặc do khác về nghĩa. Những từ khác nhau do biến đổi ngữ âm tạo nên những từ khác âm bộ phận. Các bộ phận khác nhau đó thường là ở phụ âm đầu, ở nguyên âm, ở phụ âm cuối hay ở thanh điệu. Bởi vì một từ biến đổi về ngữ âm không có nghĩa là biến đổi về tất cả các bộ phận Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 13 mà chỉ một bộ phận biến đổi, bộ phận khác có thể vẫn được giữ nguyên. Đặc điểm từ vựng của phương ngữ Nam Bộ so với phương ngữ Bắc về sự khác biệt đó là: Những từ khác nguyên âm thể hiện qua trình biến đổi nguyên âm đơn sang nguyên âm đôi theo hai khuynh hướng: - Nguyên âm đôi mở dần: trong phương ngữ Bắc và phương ngữ Nam: e / ie; a / ươ,o / uo: méng / miếng; mạn / mượn, nác / nước; mói / muối, ló / lúa ... - Sự đối ứng giữa nguyên âm khép hơn ở phương ngữ Nam so với phương ngữ Bắc: chủi/ chổi; túi / tối; mui / môi; tui / tôi; chưn / chân; nhứt / nhất, nhựt / nhật... Do nguồn gốc khác nhau, các từ trong phương ngữ Nam cũng có những khác biệt so với các từ trong phương ngữ khác. Trong phương ngữ Nam Bộ có nhiều từ vay mượn từ tiếng Chăm, tiếng Khmer, vay mượn nhiều từ Hán Việt. Cũng từ đặc điểm này nên mặt ý nghĩa của từ vựng trong phương ngữ Nam bị chi phối mạnh mẽ tới mức biểu hiện của từ nhiều khi chính xác hơn phương ngữ Bắc, chẳng hạn khi nói về lĩnh vực trạng thái, tính chất hay cảm xúc. Từ miền Nam thường định danh đơn giản theo đúng tên gọi của nó nên dễ hiểu hơn. Theo đánh giá của Huỳnh Công Tín thì “Từ trong ngôn ngữ toàn dân có khuynh hướng chi tiết hoá, cụ thể hoá thực tại; từ trong phương ngữ Nam Bộ có khuynh hướng khái quát hoá, trừu tượng hoá thực tại” [34]. Tác giả dẫn ví dụ: Đề tài, tình huống Phương ngữ Phương ngữ Nam Bộ Bắc Bộ làm cho chín hoặc sôi nấu làm chín trong nước đun sôi nấu luộc bệnh đau ốm khó chịu khi bị tổn thương Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên đau http://www.lrc-tnu.edu.vn 14 + Về đặc điểm ngữ pháp: Các phương ngữ trong tiếng Việt không có sự khác biệt lớn về mặt ngữ pháp. Trong phương ngữ Nam Bộ, các đặc điểm ngữ pháp của tiếng Việt chung vẫn được duy trì. Sự khác biệt xảy ra không lớn và ở một số điểm như sau: Lớp từ xưng gọi dùng thứ tự trong gia đình kết hợp với tên: Tư Điền, Hai Vĩnh, Năm Lưu... Từ xưng gọi trong gia đình và hàng xóm không phân biệt, đều gọi chung là dì, thím, chú ... Nói lái là đặc điểm mà dân cư Nam Bộ ưa dùng, vì thế lời ăn tiếng nói của người Nam Bộ rất hài hước và vui nhộn. Phong cách diễn đạt giàu hành ảnh, giàu sắc thái biểu cảm. Những nét khác biệt của phương ngữ Nam Bộ so với phương ngữ Bắc tạo nên diện mạo của một phương ngữ mang dấu ấn của nguồn gốc hình thành vùng đất, của địa hình và văn hoá, lịch sử nơi đây. 1.1.2. Vay mƣợn từ vựng 1.1.2.1. Khái niệm từ vay mượn Theo Từ điển Bách khoa Vịêt Nam: Từ thuần Việt là bộ phận từ vựng cơ bản trong vốn từ tiếng Việt, chỉ tên các sự vật và các hiện tượng cơ bản nhất của tự nhiên và xã hội. Chắc chắn là chúng đã có từ rất lâu trong tiếng Việt, trước cả khi có quá trình tiếp xúc Việt - Hán. Đa số các đơn vị trong vốn từ này có quan hệ họ hàng với các ngôn ngữ: Môn - Khơ Me và tiếp xúc với các tiếng Tày - Thái. Ví dụ: Từ thuần Việt gốc Tày - Thái: gà, vịt, đồng, rẫy, vv; từ thuần Việt gốc Môn - Khơ Me: trời, mây, mưa, sấm, chân, tay. Vấn đề từ mượn là một vấn đề phức tạp mà các nhà ngôn ngữ vẫn tiếp tục nghiên cứu. Theo Lê Đức Trọng thì: “Khái niệm về “từ thuần Việt” và “từ vay mượn” chỉ có tính chất tương đối. Một đơn vị nào đó xét về mặt đồng đại có thể là “thuần Việt” nhưng lại là “từ vay mượn” nếu xét ở bình diện lịch đại” [41]. Nguyễn Văn Khang cũng có quan điểm tương tự khi ông cho Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Xem thêm -