Đăng ký Đăng nhập
Trang chủ Xây dựng ý thức pháp luật của thẩm phán trong bối cảnh cải cách tư pháp ở nước t...

Tài liệu Xây dựng ý thức pháp luật của thẩm phán trong bối cảnh cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay

.PDF
121
180
111

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT TRẦN THỊ THANH BÌNH X¢Y DùNG ý THøC PH¸P LUËT CñA THÈM PH¸N TRONG BèI C¶NH C¶I C¸CH T¦ PH¸P ë N¦íC TA HIÖN NAY Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật Mã số: 60 38 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS. TS. HOÀNG THỊ KIM QUẾ HÀ NỘI - 2014 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƯỜI CAM ĐOAN Trần Thị Thanh Bình MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các chữ viết tắt MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ Ý THỨC PHÁP LUẬT CỦA THẨM PHÁN .................................................................................. 9 1.1. Nhận thức cơ bản về Thẩm phán .................................................... 9 1.1.1. Khái niệm Thẩm phán........................................................................ 9 1.1.2. Đặc điểm của Thẩm phán .................................................................. 9 1.1.3. Vị trí, vai trò của Thẩm phán ........................................................... 12 1.1.4. Điều kiện, tiêu chuẩn của Thẩm phán .............................................. 16 1.1.5. Phân loại Thẩm phán ....................................................................... 26 1.2. Ý thức pháp luật và ý thức pháp luật của Thẩm phán ................ 28 1.2.1. Khái niệm cơ bản về ý thức pháp luật .............................................. 28 1.2.2. Cơ cấu của ý thức pháp luật ............................................................. 32 1.2.3. Ý thức pháp luật của Thẩm phán...................................................... 36 1.2.4. Các yếu tố tác động đến ý thức pháp luật của Thẩm phán ................ 39 Chương 2: THỰC TRẠNG Ý THỨC PHÁP LUẬT CỦA THẨM PHÁN Ở NƯỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY............. 48 2.1. Thực trạng về số lượng, chất lượng của Thẩm phán và tình hình xét xử trong thời gian qua..................................................... 48 2.2. Công tác quy hoạch, tuyển dụng và bổ nhiệm Thẩm phán ......... 54 2.3. Công tác đào tạo, bồi dưỡng Thẩm phán ..................................... 69 2.4. Cơ chế kiểm tra giám sát Thẩm phán........................................... 80 2.5. Chế độ chính sách đối với Thẩm phán hiện nay .......................... 83 2.6. Ý thức pháp luật của Thẩm phán trong bối cảnh cải cách tư pháp giai đoạn hiện nay .......................................................... 87 2.6.1. Mục tiêu của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay................................................................................... 87 2.6.2. Một số nhiệm vụ trọng tâm của ngành Toà án trong xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp...................................................................................... 92 Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG Ý THỨC PHÁP LUẬT CỦA THẨM PHÁN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY ......................................................................... 95 3.1. Quan điểm về xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán trong bối cảnh cải cách tư pháp hiện nay ..................................... 95 3.2. Một số giải pháp xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán trong bối cảnh cải cách tư pháp hiện nay .......................................... 99 3.2.1. Đổi mới cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm Thẩm phán ......................... 100 3.2.2. Xây dựng chiến lược đào tạo, bồi dưỡng Thẩm phán ..................... 102 3.2.3. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát ......................................... 105 3.2.4. Quan tâm đến các chế độ chính sách đãi ngộ đối với Thẩm phán, đồng thời tạo môi trường thuận lợi cho các Thẩm phán làm việc ......................................................................................... 106 KẾT LUẬN ............................................................................................... 111 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................. 114 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ASEAN: Hiệp hội các nước Đông Nam á CNH-HĐH: Công nghiệp hóa- hiện đại hóa HĐND: Hội đồng nhân dân NQ-TW: Nghị quyết Trung ương PLTP&HTND: Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân TAND: Toà án nhân dân TANDTC: Toà án nhân dân tối cao TTLT-TANDTC-BQPBNV-UBTWMTTQVN: Thông tư liên tịch – Tòa án nhân dân Tối cao – Bộ nội vụ - Ủy ban Trung ương mặt trận tổ quốc Việt Nam UBTVQH: Ủy ban thường vụ Quốc hội WTO: Tổ chức thương mại quốc tế XHCN: Xã hội chủ nghĩa MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ý thức pháp luật và xây dựng ý thức pháp luật, văn hoá pháp lý, hình thành lối sống, làm việc theo pháp luật là một yêu cầu quan trọng đặt ra đối với mọi người dân nói chung và Thẩm phán nói riêng trong bối cảnh cải cách công tác tư pháp ở nước ta hiện nay. Ngoài các tiêu chí như hệ thống pháp luật phải đầy đủ, pháp luật phải nhân đạo, vì con người… thì yêu cầu xây dựng ý thức pháp luật đối với mọi tầng lớp nhân dân nói chung và Thẩm phán nói riêng là một nội dung quan trọng. Điều này không chỉ góp phần khắc phục những tiêu cực của xã hội do ý thức pháp luật kém gây ra, mà còn góp phần quan trọng trong việc xây dựng một xã hội trật tự, ổn định và phát triển. Đất nước ta đã trải nhiều thời kì bị xâm lược, từ ngàn năm Bắc thuộc tới các cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Trong quá trình cai trị, các nước đã đưa pháp luật phản động vào nước ta nhằm phục vụ mục đích cai trị và nô dịch; do vậy, hình thành nên ý thức chống đối hoặc thờ ơ với pháp luật trong nhân dân nói chung và một số bộ phận làm công tác pháp luật nói riêng, ý thức hệ ấy còn tồn tại trong một bộ phận không nhỏ nhân dân hiện nay và là rào cản trong quá trình đưa các chủ trương, chính sách pháp luật vào cuộc sống. Hơn thế, trình độ dân trí nước ta còn thấp nên để hiểu pháp luật và thi hành pháp luật là những thách thức lớn. Sau gần 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng về kinh tế-xã hội, an ninh chính trị được giữ vững, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện và phát triển; bộ máy nhà nước hoạt động ngày càng hiệu quả hơn, đóng góp tích cực vào công cuộc đổi mới của đất nước. Nhờ có sự đổi mới về kinh tế và 1 quyết tâm thực hiện công cuộc cải cách hành chính mà Việt Nam đang là nước có nền kinh tế tăng trưởng nhanh trong khu vực và trên thế giới; cơ sở vật chất được tăng cường, đời sống chính trị - xã hội ổn định, quan hệ quốc tế được mở rộng. Tuy nhiên, khi nền kinh tế chuyển mạnh sang cơ chế thị trường cùng với các yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế thì ngày càng có nhiều vụ việc phức tạp, các loại án hình sự ngày càng tinh vi, mức độ nguy hiểm cho xã hội ngày lớn, các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, thương mại, lao động... ngày càng gia tăng về cả số lượng và sự phức tạp, đặc biệt khi nó xuất hiện yếu tố nước ngoài ngày càng nhiều, giá trị lợi ích vật chất trong các vụ án ngày càng lớn. Do đó, để đưa ra được phán quyết thấu tình đạt lý, phù hợp với thông lệ, tập quán pháp luật quốc tế đòi hỏi Thẩm phán phải tâm huyết với nghề, không ngừng học tập nâng cao trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ xét xử của mình. Nghề Thẩm phán là nghề xét xử, mục đích là đưa lại sự công bằng cho xã hội, đảm bảo sự ổn định, phát triển và mang ý nghĩa xã hội to lớn. Chính vì thế người Thẩm phán được Visanhsky, một trong những người xây dựng ngành Tư pháp Nga sau cách mạng tháng Mười khẳng định “Thẩm phán người thầy của cuộc sống”. Gần 100 năm nay, điều Ông nói vẫn đúng, lời nói đó vượt qua mọi ranh giới quốc gia và khoảng cách về thời gian. Thẩm phán với nghề nghiệp xét xử đã và đang thực sự là biểu tượng cho khát vọng của nhân loại về một sự công bằng cho đới sống xã hội. Vinh quang của nghề Thẩm phán trước hết phải nói đến là nghề nghiệp mang tính xã hội cao, bởi lẽ công việc của Thẩm phán luôn liên quan đến nhiều cá nhân, tổ chức trong xã hội. Nghề nghiệp xét xử của Thẩm phán liên quan đến số phận, danh dự, uy tín. tài sản, thậm chí nó quyết định cả tính mạng của con người. Toà án, cụ thể hơn là Thẩm phán là người đại diện cho quyền lực nhà 2 nước để đưa ra các phán quyết và khi các phán quyết đó có hiệu lực pháp luật thì tất cả mọi cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các cá nhân liên quan đều phải tuân thủ chấp hành. Trong những năm qua được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và lãnh đạo ngành Toà án, Thẩm phán nước ta không ngừng được nâng cao cả về số lượng và chất lượng, kết quả xét xử của họ đã góp phần quan trọng vào việc bảo vệ pháp luật xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Tuy nhiên, so với yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước, đặc biệt là đứng trước các yêu cầu, thách thức trong bối cảnh cải cách công tác tư pháp hiện nay thì Thẩm phán của chúng ta còn nhiều hạn chế, bất cập, tình trạng “thiếu” về số lượng và “yếu” về chất lượng vẫn còn xảy ra ở nhiều nơi, nhiều lúc. Một bộ phận không nhỏ Thẩm phán suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, yếu kém về năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ đã làm sai lệch vụ án, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Vì vậy, xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán trong sạch, vững mạnh, có đủ bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp và năng lực công tác đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay là rất quan trọng, đòi hỏi Đảng, Nhà nước và ngành Toà án phải tăng cường chỉ đạo và thực hiện quyết liệt hơn nữa nhiệm vụ quan trọng này để thực hiện nhiệm vụ xây dựng nhà nước Việt Nam pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Từ thực tiễn đó, tác giả mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình là “Xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán trong bối cảnh cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay”, với mong muốn thông qua việc phân tích, đánh giá thực trạng ý thức pháp luật của Thẩm phán ở nước ta hiện nay để góp phần phát hiện những bất cập, hạn chế của công tác xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán ở nước ta, tìm ra những nguyên nhân của sự 3 bất cập, hạn chế đó. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán trong bối cảnh cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay. 2. Tình hình nghiên cứu Để đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế, thì việc xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán phải biết tuân thủ pháp luật, có phẩm chất đạo đức và đủ năng lực chuyên môn nghiệp vụ cao, đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ đổi mới là rất cần thiết. Đây là lĩnh vực được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm. Trong thời gian qua ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu quan trọng liên quan đến lĩnh vực này như: Sổ tay Thẩm phán; Các phẩm chất cơ bản của Thẩm phán của tác giả Đặng Thị Thanh Nga (Tạp chí Luật học số 5/2002); Kỹ năng giao tiếp của Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự; ThS. Bùi Thị Kim Chi (Tạp chí Luật học số 2/2005); Một số suy nghĩ về những việc Thẩm phán không được làm quy định tại Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân năm 2002, Nguyễn Thị Hồng Tươi (Tạp chí Toà án nhân dân số 1/2003); Một số vấn đề về mô hình nhân cách Thẩm phán, ThS, Bùi Thị Kim Chi (Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 3/2005); Những phẩm chất, nhân cách của Thẩm phán trong giai đoạn hiện nay, ThS. Đặng Thanh Nga (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2003); Suy nghĩ về những điều Thẩm phán phải làm, Thẩm phán được làm, chính sách chế độ đối với Thẩm phán, Nguyễn Hồng Tươi (Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 5/2002). Nhìn chung, các bài viết trên của các tác giả được thể hiện ở nhiều cấp độ nghiên cứu khác nhau, góc độ tiếp cận khác nhau, nhưng chủ yếu dưới dạng các bài nghiên cứu trên các tạp chí chưa có đề cập một cách có hệ thống về xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán để đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp. 4 3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1 Mục tiêu Mục tiêu tổng quát của đề tài là nghiên cứu, tìm ra những luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng và hoàn thiện những quy định của pháp luật về ý thức pháp luật Thẩm phán và công tác xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán trong bối cảnh cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay. 3.2. Nhiệm vụ Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về ý thức pháp luật của Thẩm phán và xây dựng ý thức pháp pháp luật của Thẩm phán đáp ứng yêu bối cảnh cải cách tư pháp. Đánh giá đúng đắn, khách quan, toàn diện một số quy định của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm toà án nhân dân năm 2002 và các quy định của pháp luật thực định về tiêu chuẩn, điều kiện tuyển chọn và bổ nhiệm Thẩm phán. Đánh giá thực trạng công tác xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán ở nước ta hiện nay để làm sáng tỏ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về ý thức pháp luật và xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán, những yêu cầu, đòi hỏi đối với Thẩm phán; chỉ ra được những bất cập, hạn chế của công tác xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán; làm rõ hơn những yếu tố tích cực, tiêu cực ảnh hưởng đến chất lượng của Thẩm phán cũng như việc tuyển chọn, đào tạo và bổ nhiệm Thẩm phán ở nước ta hiện nay. 4. Phạm vi nghiên cứu “Xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán trong bối cảnh cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay” là một đề tài có phạm vi nghiên cứu rất rộng, nội dung phong phú, đa dạng, phức tạp và tương đối “nhạy cảm”. Vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu của một luận văn thạc sĩ luật học, dựa trên nền tảng các chức năng, nhiệm vụ của công tác xây dựng ý thức pháp luật cán bộ, công 5 chức nói chung để nghiên cứu và tiếp cận các nội dung xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán nói riêng. Tác giả tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản, trọng tâm sau: Khái niệm, vị trí vai trò quan trọng của Thẩm phán ở Việt Nam và một số nước trên thế giới; Phân tích, đánh giá thực trạng ý thức pháp luật của Thẩm phán và công tác xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán ở nước ta hiện nay, qua đó chỉ ra những bất cập, hạn chế về chất lượng, số lượng của Thẩm phán cũng như những bất cập trong công tác tuyển chọn bổ nhiệm Thẩm phán ở nước ta hiện nay; Những yêu cầu, đòi hỏi trong công tác xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán trong bối cảnh cải cách tư pháp ở nước ta. Từ đó đề xuất được một số giải pháp quan trọng để xây dựng và phát triển Thẩm phán đáp ứng yêu cầu xây dựng một nhà nước Việt Nam pháp quyền xã hội chủ nghĩa. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Cơ sở lý luận Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán ở nước ta trong bối cảnh cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay. Nội dung quan điểm chỉ đạo công cuộc cải cách tư pháp hiện nay và công tác xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán, cán bộ tư pháp trong Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Nội dung các văn bản quy phạm pháp luật về Thẩm phán, điều kiện, tiêu chuẩn tuyển chọn và bổ nhiệm Thẩm phán các văn bản chính sách của Nhà nước về xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán trong giai đoạn hiện nay. 6 5.2. Phương pháp nghiên cứu Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và phép biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Các phương pháp cụ thể được sử dụng đó là phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, so sánh, phương pháp xã hội học, phương pháp lý luận kết hợp với thực tiễn. 6. Ý nghĩa và những điểm mới của đề tài Đề tài “Xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán trong bối cảnh cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay” được nghiên cứu để đạt được kết quả sau: Đây là luận văn được nghiên cứu ở bậc cao học có tính hệ thống, toàn diện về xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán trong bối cảnh cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay. Đề tài có tính hệ thống hoá một cách toàn diện những quy định của pháp luật nước ta về thẩm phán từ năm 1945 đến nay. Xác định được hiệu quả sự điều chỉnh của các quy định pháp luật về tiêu chuẩn, điều kiện tuyển chọn và bổ nhiệm Thẩm phán, qua đó chỉ ra các điểm hạn chế của pháp luật thực định về nội dung này, giúp các nhà lập pháp hoàn thiện hơn những quy định của pháp luật hiện hành, đồng thời giúp cho ngành Toà án thấy được vị trí, vai trò quan trọng của công tác xây dựng chiến lược đào tạo Thẩm phán cũng như đội ngũ “nguồn” để tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán. Mặt khác, thông quan việc so sánh, tìm hiểu các quy định của pháp luật một số nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới như Hàn Quốc, Pháp, Malaixia... về điều kiện, tiêu chuẩn tuyển chọn và bổ nhiệm Thẩm phán cũng như kinh nghiệm xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán, “nguồn” để tuyển chọn bổ nhiệm Thẩm phán của họ. Từ đó, luận văn đề xuất một số giải 7 pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng trong công tác xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán trong bối cảnh cải cách tư pháp hiện nay. Đặc biệt là các quy định liên quan đến trách nhiệm của ngành Toà án trong việc xây dựng kế hoạch chiến lược đào tạo Thẩm phán và “nguồn” để bổ nhiệm Thẩm phán đáp ứng được những yêu cầu nhiệm vụ của công tác cải cách tư pháp nhằm xây dựng nhà nước Việt Nam pháp quyền xã hội chủ nghĩa. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn gồm 3 chương, 6 mục: Chương 1: Cơ sở lý luận về ý thức pháp luật của Thẩm phán. Chương 2: Thưc trạng ý thức pháp luật của Thẩm phán ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Chương 3: Quan điểm và một số giải pháp xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán trong giai đoạn hiện nay. 8 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ Ý THỨC PHÁP LUẬT CỦA THẨM PHÁN 1.1. Nhận thức cơ bản về Thẩm phán 1.1.1. Khái niệm Thẩm phán Điều 1 PLTP&HTTAND năm 2002 quy định: “Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án” [28, tr.1]. Như vậy, Thẩm phán là những công chức nhà nước được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, thương mại, hành chính, lao động và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án. Thẩm phán là những người thay mặt cho Nhà nước sử dụng quyền lực nhà nước để đưa ra các phán quyết nhằm giải quyết sự tranh chấp giữa các bên hoặc phán quyết việc áp dụng các biện pháp chế tài để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong các vụ án thuộc thẩm quyền, đảm bảo sự tôn trọng và thực thi pháp luật trong đời sống xã hội, đảm bảo bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật nào cũng bị xử lý: “không để lọt tội phạm” và “không xử oan người vô tội”. Hiện nay, theo quy định của nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam thì nhiệm kỳ của một Thẩm phán thường được quy định trong một khoảng thời gian nhất định. Ở Việt Nam nhiệm kỳ của Thẩm phán là 5 năm, Hàn Quốc nhiệm kỳ của Thẩm phán là 10 năm. Tuy nhiên, cũng có nhiều nước nhiệm kỳ của Thẩm phán là không thời hạn họ chỉ bị miễn nhiệm khi vi phạm các quy định của pháp luật ví dụ ở Úc Thẩm phán toà án liên bang được bổ nhiệm cho tới khi họ 70 tuổi (đến khi nghỉ hưu). 1.1.2. Đặc điểm của Thẩm phán Hoạt động xét xử là một hoạt động nghề nghiệp đặc thù so với các nghề 9 nghiệp khác ở chỗ hoạt động xét xử của Thẩm phán đòi hỏi một trình độ chuyên môn cao trong các lĩnh vực pháp luật, chính trị và xã hội. Hầu hết họ phải có kiến thức uyên thâm trên mọi lĩnh vực bởi lẽ họ là người đại diện cho nền công lý, cho lẽ phải cho công bằng của toàn xã hội. Do vậy, Thẩm phán có những đặc điểm sau: Thứ nhất: Tính đặc thù trong áp dụng pháp luật Tính đặc thù trong áp dụng pháp luật thể hiện ở chỗ, Thẩm phán với vai trò là người đưa ra phán quyết dựa trên những chứng cứ khách quan, thực tế, không định kiến với mục đích duy nhất là bảo vệ công lý. Tất cả mọi tư vấn tranh luận tại phiên toà phải đảm bảo sự bình đẳng cho các bên trong vụ án. Mọi hành vi ép buộc làm ảnh hưởng tới sự khách quan đối với phán quyết của Thẩm phán đều trái với mục đích áp dụng pháp luật. Đặc thù này khẳng định Thẩm phán phải là người hết sức vô tư, tôn trọng bằng chứng, xem xét đứng đắn các bằng chứng thực tế mà mỗi bên đương sự đưa ra trong quá trình giải quyết vụ án của mình Thứ hai: Hoạt động xét xử chính là một cuộc đấu tranh tìm ra sự thực khách quan, hoạt động này chịu sự giám sát nghiêm ngặt của các cơ quan, tổ chức và cá nhân. Trong quá trình xử lý vụ án, Thẩm phán phải sử dụng năng lực và toàn bộ kiến thức cần thiết nhằm giải quyết đúng đắn vụ án trên cơ sở bằng chứng thực tế. Đây là cả một quá trình tố tụng phức tạp đòi hỏi ngay từ đầu người Thẩm phán phải thực sự toàn tâm toàn lực. Họ phải rất khéo léo và nhạy bén tại phiên toà, giai đoạn tố tụng cuối cùng rất quan trọng. Để không bị cám dỗ trên con đường tìm kiếm lẽ phải, cuộc đấu tranh tinh thần của người Thẩm phán đòi hỏi họ phải luôn kiên quyết, vững vàng ý chí. Mục tiêu cuối cùng mà người Thẩm phán phải đạt được và cũng là mục đích mà toàn bộ nhân dân hướng tới sau một vụ án đó là một phán quyết thấu 10 tình đạt lý, đảm bảo tính đúng đắn của bản án, không bỏ lọt kẻ phạm tội. Phán quyết đó còn mang tính giáo dục ý thức pháp luật trong toàn bộ dân chúng. Chính vì thế hoạt động xét xử của Thẩm phán được toàn xã hội giám sát. Nguyên tắc Toà án xét xử công khai, khi xét xử có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân chính là sự giám sát ở bên trong phiên toà. Khi xét xử Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán, cùng Thẩm phán đưa ra quyết định đúng pháp luật. Thứ ba: Hoạt động này đòi hỏi một con người toàn diện, bản lĩnh vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, vô tư khách quan Đây không những là đặc thù nghề nghiệp Thẩm phán mà còn là các tiêu chuẩn mà pháp luật đặt ra đối với người Thẩm phán hiện nay. Chỉ có thể có kiến thức rộng rãi trên nhiều lĩnh vực, luôn đấu tranh cho công bằng vô tư, một tâm hồn trong sáng và một bản lĩnh vững vàng thì nghề Thẩm phán và người Thẩm phán mới tạo dựng được sự tin tưởng và tôn kính. Bởi lẽ cần thiết có một chuẩn mực lý tưởng được xã hội thừa nhận, nắm giữ cán cân công lý để điều chỉnh xã hội đi đúng hướng của nó. Người Thẩm phán phải bênh vực cho người bị hại, không thiên vị hay dao động ý chí trước bất kỳ sự việc nào. Tất cả những yêu cầu trên sẽ góp phần tạo dựng nên hình ảnh một nghề biểu tượng cho sự khát khao công lý. Thứ tư: Hoạt động xét xử của Thẩm phán tuân theo một trình tự tố tụng chặt chẽ do pháp luật quy định Phán quyết của Thẩm phán có liên quan trực tiếp tới quyền lợi và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức có liên quan. Để bảo đảm phán quyết đó thấu tình đạt lý thì hoạt động xét xử phải tuân theo một trình tự tố tụng chặt chẽ là điều dễ hiểu. Việc quy định như vậy tránh sự tuỳ tiện lạm quyền, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Vi phạm các quy định của pháp luật tố tụng, bản án dù có hiệu lực pháp luật cũng sẽ được Toà án cấp trên xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. 11 1.1.3. Vị trí, vai trò của Thẩm phán “Thẩm phán, người thầy cuộc sống” đó là câu nói nổi tiếng của Visanhski, một trong những người xây ngành Tư pháp Nga sau cách mạng Tháng Mười. Gần 100 năm nay, điều Ông nói vẫn đúng, lời nói đó vượt qua mọi ranh giới quốc gia và khoảng cách về thời gian. Theo quan điểm của Visanhski, giữa người với người có bao nhiêu mối quan hệ thì có bấy nhiêu điều luật, do vậy hiểu luật hoàn toàn khác với thuộc luật. Vì thế, một Thẩm phán với tư duy tốt, với sự cần mẫn tìm hiểu, nghiên cứu nghiền ngẫm luật pháp, sự việc và con người, luôn luôn suy luận về con người và các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với tổ chức, tập thể và giữa con người trong cộng đồng xã hội; đắm mình vào việc tìm ra phải trái, đúng sai, tốt xấu trong đời sống xã hội đó chính là sự tu dưỡng thường xuyên để ngày càng hoàn thiện mình, và như vậy họ luôn phải tâm niệm ngành Toà án là ngành tổng hợp thì người Thẩm phán mới hiểu sâu sắc về luật và việc áp dụng luật mới đúng đắn và chặt chẽ. Trong quá trình xét xử Thẩm phán vừa có trách nhiệm tìm hiểu vụ việc, từng con người với những mối quan hệ liên quan đến vụ án để đưa ra phán quyết, bản án thực hiện trách nhiệm và quyền xét xử của mình nhưng đồng thời họ cần phải làm sao cho phán quyết, bản án của mình được mọi người “tâm phục, khẩu phục” để không những mang tính phòng ngừa riêng mà nó còn có tác dụng phòng ngừa chung, giáo dục mọi người ý thức trách nhiệm sống tôn trọng và tuân thủ theo pháp luật. Người Thẩm phán nếu ý thức được trách nhiệm, quyền hạn của mình và có lòng yêu nghề nghiệp, lao tâm, khổ tứ, trải nghiệm nhiều trong thực tế xét xử, không ngừng tu dưỡng phẩm chất đạo đức nghề nghiệp để nhận ra vị trí, vai trò của mình trong xã hội, được xã hội tôn vinh khi đó họ đang dần tiến đến cái bục “Người thầy cuộc sống”. 12 Xã hội ngày càng phát triển, các mối quan hệ xã hội ngày càng nhiều và diễn ra ngày càng phức tạp thì khi xảy ra tranh chấp hay có sự vi phạm pháp luật càng đòi hỏi ngành tư pháp phải nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của mình. Với quan niệm “án tại hồ sơ” vụ án, đặc biệt là vụ án hình sự được đưa ra xét xử là kết quả công tác của các ngành điều tra, tuy tố, do đó một trong các khâu này mà yếu, hạn chế hoặc làm sai lệch vụ án thì việc xét xử gần như thất bại. Chính vì thế trong pháp luật tố tụng hiện nay, tranh tụng và kết quả tranh tụng tại toà án đang là vấn đề được xã hội hết sức quan tâm và đòi hỏi ngành tư pháp đặc biệt là các Thẩm phán phải thực hiện tốt hơn nữa các quy định về thủ tục tranh tụng và sử dụng kết quả tranh tụng tại toà. Điều này đang đặt ra cho các cơ quan tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và hơn hết là Thẩm phán, chủ toạ phiên toà phải làm gì, sẽ tổ chức tranh tụng tại toà như thế nào; việc xem xét chứng cứ, bằng chứng, luận cứ để lý giải chứng minh cho các tình tiết của vụ án để làm sáng tỏ vụ án mà các bên tham gia tranh tụng đưa ra sẽ được Thẩm phán xử lý như thế nào là vấn đề hết sức quan trọng để trên cơ sở đó đưa ra phán quyết cuối cùng của Toà án để giải quyết vụ án. Trong một vụ án, việc xét xử thành công hay thất bại phụ thuộc vào rất nhiều giai đoạn của quá tình tố tụng, nhưng quan trọng nhất là hai giai đoạn: Một là, việc dựng lại toàn bộ sự việc trên cơ sở các chứng cứ trong hồ sơ được đưa ra xem xét, tranh luận công khai tại phiên toà được người tham gia tố tụng thừa nhận, được nhân dân tán thành, ủng hộ như thế là thành công. Hai là, tìm đúng điều luật để áp dụng nhằm giải quyết vụ án, xác định được sự thật, đúng, sai, những tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ, động cơ của các hành vi trong vụ án là gì, yếu tố lỗi chủ quan của các bên trong vụ án như thế nào, từ đó Thẩm phán, hội đồng xét xử đưa ra phán quyết để mọi người “tâm phục, khẩu phục” đó là thành công. Do vậy, việc xét xử trước “Công đường”, tổ 13 chức tranh tụng và sử dụng kết quả tranh tụng như thế nào phụ thuộc rất nhiều vào trình độ, ý thức pháp luật, áp dụng pháp luật, khả năng, vai trò của người Thẩm phán, bởi lẽ họ phải biết điều khiển dẫn dắt việc tranh tụng để tranh tụng diễn ra một cách có trật tự, đi đúng trọng tâm những vấn đề mấu chốt, những điểm còn mâu thuẫn cần làm rõ của vụ án. Thông qua kết quả tranh tụng, Thẩm phán đánh giá khách quan toàn diện và bản chất của vụ án, các chứng cứ, các lý lẽ, lập luận của các bên, trên cơ sở đó căn cứ vào các quy định của pháp luật để đưa ra các phán quyết đúng đắn. Bởi thế vai trò của người Thẩm phán không chỉ dừng lại ở việc đưa vụ án ra xét xử đúng thời gian luật định, đảm bảo cho các bên tham gia tố tụng được đưa ra chứng cứ, tài liệu và những luận cứ khoa học, pháp lý để bảo vệ lẽ phải, bảo vệ chân lý, sự thật của vụ án mà xét xử tại toà án còn là môi trường thực tế hữu hiệu nhất để giáo dục cá nhân, tổ chức sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Đối với xã hội ta hiện nay, khi chúng ta đang cố gắng xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN thì đây càng là vấn đề quan trọng và cần thiết vì trình độ pháp luật, ý thức của người dân chưa cao, họ chỉ lấy kết quả phán quyết của Toà và chuẩn mực đạo đức xã hội để so sánh để làm mẫu mực cho mọi hành động của mình. Với nhiệm vụ thực hiện cải cách công tác tư pháp hiện nay thì việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng theo pháp luật tố tụng tiên tiến trên thế giới đặc biệt là các quy định về tính “độc lập” và tố tụng tranh tụng tại Toà án đang được Đảng, Nhà nước và Ngành tư pháp hết sức quan tâm coi đây là nhiệm vụ có một vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong công tác xét xử. Nghị quyết 49-NQ/TW đã khẳng định: “Nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp, chất lượng tranh tụng tại tất cả các phiên toà xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp” [4, tr.2]. Do đó, Thẩm phán hơn lúc nào hết phải phát huy tối đa vị trí, vai trò của mình trong kết quả hoạt 14 động của cơ quan tư pháp. Trong xét xử Thẩm phán phải quyết định với đầu óc không thiên vị đồng thời phải triệt để tuân thủ những nguyên tắc pháp lý đã được pháp luật thiết lập, thẩm phán phải đưa ra các phán quyết độc lập và phải cho biết rõ lý do của quyết định đó. Như vậy, với việc đề cao tố tụng tranh tụng thì tính “độc lập chỉ tuân theo pháp luật” và “niềm tin nội tâm” của Thẩm phán ngày càng có vị trí, vai trò quan trọng. Nói cách khác, trong quá trình xét xử các phán quyết của Thẩm phán phải không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ áp lực nào, ngoại trừ trí tuệ, và lương tâm để đánh giá trung thực, khách quan các bằng chứng, các tình tiết của vụ án và việc áp dụng các quy định pháp luật để xét xử vụ án. Do đó, trong xét xử và đặc biệt là việc tranh tụng tại Toà thì vai trò, tính “độc lập chỉ tuân theo pháp luật” [4] của Thẩm phán càng phải được phát huy hơn bao giờ hết, khi đó Thẩm phán như là một trọng tài không thiên vị, một người phán xử trung lập, Thẩm phán nghe và tạo điều kiện cho các bên cơ hội thích hợp để trình bày chứng cứ, luận điểm để chứng minh làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án tại phiên toà, trên cơ sở đó Thẩm phán đưa ra các phán quyết cuối cùng một cách công tâm nhất. Kinh nghiệm các nước cho thấy để Thẩm phán thực hiện, phát huy tính “độc lập” không lệ thuộc vào bất kỳ cơ quan, tổ chức nào thì bao giờ cũng được pháp luật quy định rất rõ chức năng, trách nhiệm và quyền hạn của Thẩm phán, cơ chế, điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện tính độc lập chỉ tuân theo pháp luật của Thẩm phán, ví dụ: Ở Hàn Quốc, để đảm bảo cho các Thẩm phán không lệ thuộc vào bất cứ cơ quan nào khác của Nhà nước, các Thẩm phán được pháp luật quy định: quyền bất khả bãi miễn Thẩm phán, quyền tài phán, không Thẩm phán nào có thể bị sa thải khỏi cơ quan trừ khi bị buộc tội hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Các Thẩm phán không bị đình chỉ công tác, hạ bậc lương hoặc bị kỷ 15
- Xem thêm -

Tài liệu liên quan