Tài liệu Xây dựng thị trường upcom lên thành otc thực sự ở việt nam

  • Số trang: 62 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 134 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 39907 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM ----------------- CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN “NHÀ KINH TẾ TRẺ – NĂM 2010” TÊN CÔNG TRÌNH: XÂY DỰNG THỊ TRƯỜNG UPCoM LÊN THÀNH OTC THỰC SỰ Ở VIỆT NAM THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ 1 TÓM TẮT ĐỀ TÀI o Lý do chọn đề tài Với số lượng chứng khoán đăng ký giao dịch lớn, doanh số giao dịch cao, phương thức thanh toán linh hoạt, thị trường giao dịch qua quầy (Over the Counter Market OTC) là một thể chế bậc cao của thị trường chứng khoán. Ở Việt Nam, sự ra đời của thị trường UPCoM là một khởi đầu cho sự phát triển thị trường OTC. Bài nghiên cứu phân tích và đưa ra các giải pháp để phát triển UPCoM, tạo tiền đề xây dựng OTC ở Việt Nam hiện nay. o Mục tiêu nghiên cứu Phát triển thị trường UPCoM, tạo tiền đề xây dựng OTC ở Việt Nam. o Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu lý luận: nghiên cứu sách báo, tài liệu tham khảo, Internet. Sử dụng số liệu thống kê đã có sẵn trên Internet. o Nội dung nghiên cứu Thị trường UPCoM ở Việt Nam, khó khăn, thuận lợi. Giải pháp phát triển UPCoM, xây dựng thị trường OTC ở Việt Nam. o Đóng góp của đề tài Tạo nền tảng về cơ sở lý luận. Có cái nhìn bao quát về thực trạng thị trường UPCoM. Từ đó có giải pháp khắc phục nhược điểm, tạo tiền đề cho việc xây dựng thị trường OTC sau này. o Hướng phát triển của đề tài Hoàn thiện thêm về mặt cơ sở lý luận, để đề tài trở thành nguồn tài liệu tham khảo quý giá cho việc áp dụng sau này. 2 MỤC LỤC 1. Lý luận chung về thị trường OTC và thị trường UPCoM: ..........................................5 1.1. 1.1.1. Thị trường OTC của Mỹ:................................................................................7 1.1.2. Thị trường OTC của Nhật Bản: ...................................................................10 1.1.3. Thị trường OTC Hàn Quốc: .........................................................................10 1.2. 2. Khái quát thị trường OTC các nước trên thế giới:...............................................7 Khái quát về thị trường UPCoM tại Việt Nam:..................................................11 Thực trạng thị trường chứng khoán ở Việt Nam qua các năm..................................14 2.1. Khái quát tình hình hoạt động của Thị trường chứng khoán Việt Nam. .........14 2.1.1. Sự ra đời các sở giao dịch chứng khoán.......................................................14 2.1.2. Quy mô niêm yết tại các sở giao dịch. ..........................................................15 2.1.3. Quy mô hoạt động: ........................................................................................16 2.2. Tình hình hoạt động thị trường phi tập trung ở Việt Nam................................20 2.2.1. Quy mô thị trường .........................................................................................20 2.2.2. Đặc điểm: ........................................................................................................21 2.3. Thực trạng hoạt động của thị trường UPCoM: ..................................................22 2.3.1. Tình hình hoạt động ......................................................................................22 2.3.2. Những đóng góp của thị trường UPCoM ....................................................35 2.3.2.1. Thị trường UPCoM tạo sự an toàn hơn trong giao dịch ........................35 2.3.2.2. đầu tư Quy định minh bạch giá trên thị trường UPCoM bảo vệ lợi ích cho nhà 36 2.3.2.3. UPCoM tạo bước đệm để doanh nghiệp tiếp cận thị trường vốn..........37 2.3.3. 2.3.3.1. Những hạn chế và thiếu sót của thị trường UPCoM: .................................38 Hàng hóa trên thị trường UPCoM chưa đa dạng, thanh khoản thấp...38 2.3.3.2. Những quy định đối với UPCoM chưa tạo được cơ chế linh hoạt trong giao dịch - vốn là một đặc trưng hấp dẫn nhất của thị trường tự do.....................40 2.3.3.3. 3. Hạn chế khác ..............................................................................................42 Giải pháp phát triển Thị trường UpCoM thành OTC thực sự ở Việt Nam..............43 3 3.1. Biện pháp xây dựng cải thiện thị trường UpCoM ..............................................43 3.1.1. Thu hút thêm các doanh nghiệp tham gia UpCoM ....................................43 3.1.1.1. Mở rộng thị trường giao dịch xuống các công ty chứng khoán.............43 3.1.1.2. Nâng cấp kĩ thuật công nghệ.....................................................................43 3.1.2. Thu hút thêm nhà đầu tư tham gia UpCoM................................................44 3.1.2.1. Tăng biên độ giao động giá: ......................................................................44 3.1.2.2. Tăng tính thanh khoản bằng cách thực hiện thanh toán T+1 hoặc T+2 45 3.1.2.3. Các thông tin trên thị trường UpCoM phải được minh bạch hóa ........46 3.1.2.4. Cần có cơ chế nghiêm ngặt hơn ................................................................46 3.1.3. Cần có các nhà tổ chức và tạo lập thị trường..............................................46 3.1.4. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về Thị trường chứng khoán Việt Nam ....47 3.2. Các biện pháp xây dựng thị trường UPCoM lên thành thị trường OTC chính thức tại Việt Nam: ..............................................................................................................48 3.2.1. Các nhà tổ chức và tạo lập thị trường..........................................................48 3.2.2. Hệ thống kế toán và những yêu cầu kiểm toán thể hiện đúng sức khoẻ của doanh nghiệp ...................................................................................................................48 3.2.3. Tổ chức đánh giá và xếp loại mức độ tín nhiệm của doanh nghiệp ..........49 3.2.4. Văn hoá công khai và minh bạch trong hoạt động của các doanh nghiệp51 3.2. Các biện pháp xây dựng thị trường OTC tại Việt Nam:....................................51 3.2.1. Các nhà tổ chức và tạo lập thị trường..........................................................51 3.2.2. Hệ thống kế toán và những yêu cầu kiểm toán thể hiện đúng sức khoẻ của doanh nghiệp ...................................................................................................................53 3.2.3. Tổ chức đánh giá và xếp loại mức độ tín nhiệm của doanh nghiệp ..........53 3.2.4. Văn hoá công khai và minh bạch trong hoạt động của các doanh nghiệp55 3.2.5. Cơ chế giao dịch hấp dẫn: .............................................................................56 KẾT LUẬN.............................................................................................................................59 TÀI LIỆU THAM KHẢO .....................................................................................................60 4 LỜI MỞ ĐẦU Với tư cách là phương thức khơi thông dòng vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh, thị trường chứng khoán đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế. Thị trường chứng khoán tạo điều kiện để sử dụng vốn có hiệu quả hơn đối với cả người có tiền đầu tư và người vay tiền để đầu tư. Bên cạnh đó, Thị trường chứng khoán tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chính sách mở cửa, cải cách kinh tế thông qua việc phát hành chứng khoán ra nước ngoài. Thị trường chứng khoán rất nhạy cảm đối với các hoạt động kinh tế, là thước đo hiệu quả các hoạt động kinh tế và được ví như phong vũ biểu của nền kinh tế, cung cấp thông tin để Chính phủ điều chỉnh và định hướng phát triển kinh tế kịp thời. Từ thực tiễn hoạt động của thị trường chứng khoán ở Việt Nam và tầm quan trọng của thị trường chứng khoán đối với hoạt động nền kinh tế, vấn đề đặt ra là cần phải có giải pháp để hoàn thiện và phát triển Thị trường chứng khoán ở Việt Nam phù hợp các tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế, từng bước hội nhập với thị trường tài chính khu vực và thế giới. Hiện nay, một trong những giải pháp trước mắt để hoàn thiện thị trường chứng khoán ở Việt Nam là cần phải từng bước đưa thị trường UPCoM lên thành OTC thực sự. Đó cũng là nội dung mà nhóm nghiên cứu tìm hiểu và trình bày trong đề tài này. 5 1. Lý luận chung về thị trường OTC và thị trường UPCoM: Thị trường OTC hay còn gọi là thị trường phi tập trung, là thị trường được tổ chức không dựa vào một mặt bằng giao dịch cố định như thị trường sàn giao dịch (thị trường giao dịch tập trung), mà dựa vào một hệ thống vận hành theo cơ chế chào giá cạnh tranh và thương lượng thông qua sự trợ giúp của các phương tiện thông tin. Thị trường OTC không có một không gian giao dịch tập trung. Thị trường này thường được các công ty chứng khoán cùng nhau duy trì, việc giao dịch và thông tin được dựa vào hệ thống điện thoại và Internet với sự trợ giúp của các thiết bị đầu cuối. Tính thanh khoản của các loại chứng khoán trên thị trường OTC thường thấp hơn thị trường giao dịch tập trung, chứa đựng nhiều rủi ro hơn, song cũng có thể đem lại nhiều lợi nhuận hơn. Một số đặc trưng cơ bản: - Nhà đầu tư và tổ chức của các nhà đầu tư: việc tham gia thị trường OTC rất đơn giản. Tuy nhiên, hoạt động của các nhà đầu tư trên thị trường không phải là độc lập, mà thường lập thành các nhóm, hội, diễn đàn để trao đổi thông tin với nhau. - Hàng hoá của thị trường: là các loại cổ phiếu của các doanh nghiệp cổ phần, có triển vọng phát triển, chuẩn bị niêm yết trên thị trường giao dịch tập trung hoặc có những lợi thế thương mại riêng biệt. - Việc mua bán cổ phiếu trên thị trường OTC được thực hiện theo phương thức “thuận mua, vừa bán” mà không bị bất cứ một lực bên ngoài nào (giới hạn giá, lượng cổ phiếu…) tác động. Nói chung, cơ chế mua - bán các loại chứng khoán trên thị trường OTC theo cơ chế thị trường. - Phương thức mua bán, giao dịch: + Bên mua và bên bán trực tiếp gặp nhau để thương lượng, quyết định việc mua - bán chứng khoán. Đây là phương thức phổ biến hiện nay tại Việt Nam . + Bên mua và bên bán có thể giao dịch thông qua các nhà môi giới chứng khoán. Hiện nay, phương thức này ít phổ biến hơn, nhưng xu hướng phát triển của thị trường 6 thì trong tương lai, phương thức này sẽ chiếm ưu thế hơn so với phương thức trực tiếp mua - bán. - Thu thập thông tin của các loại cổ phiếu: để mua chứng khoán trên thị trường OTC, NĐT thường tìm kiếm thông tin từ các nguồn như: + Thông tin từ các báo cáo tài chính : nhìn chung, các công ty cổ phần chưa niêm yết không có báo cáo tài chính được kiểm toán. Do những mục đích khác nhau mà doanh nghiệp có nhiều hệ thống sổ sách kế toán, báo cáo tài chính. Mặt khác, việc có được một bản báo cáo tài chính của doanh nghiệp đối với một người bình thường là điều không hề đơn giản, nhất là trong điều kiện mà ngay bản thân doanh nghiệp không biết thông tin nào nên công bố, thông tin nào không nên. Do đó, việc thu thập thông tin từ doanh nghiệp qua con đường chính thức khá khó khăn, nếu nhà đầu tư không có những mối liên hệ nhất định với công ty đó. + Thu thập thông tin qua các cơ quan chức năng: Theo quy định, doanh nghiệp phải báo cáo tình hình hoạt động cho cơ quan đăng ký kinh doanh (Sở Kế hoạch và Đầu tư). Tuy nhiên, việc tuân thủ quy định này của các doanh nghiệp không thực sự nghiêm túc hoặc các thông tin cũng rất chung chung. Và các cơ quan chức năng cũng không có tránh nhiệm và nghĩa vụ công bố các thông tin của doanh nghiệp. Vì vậy, việc có được thông tin từ các cơ quan này gần như là bất khả thi đối với nhà đầu tư. Ngoài ra, còn có một tổ chức lưu trữ thông tin về các doanh nghiệp, đó là Trung tâm Thông tin tín dụng (CIC) thuộc Ngân hàng Nhà nước. Trung tâm này lưu trữ thông tin cơ bản của các doanh nghiệp có quan hệ tín dụng với các tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, tính cập nhật của các thông tin này không cao. + Thu thập thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng: khi không thể thu thập thông tin về doanh nghiệp từ các đầu mối thông tin nêu trên, nhà đầu tư có thể thu thập thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng. Tuy nhiên, nhược điểm của nguồn dữ liệu này là rời rạc, độ tin cậy không cao. + Thu thập thông tin từ các nguồn khác: thông tin từ những hội, nhóm kinh doanh chứng khoán, thông tin không chính thức từ bên trong doanh nghiệp… Nhìn chung, các nguồn thông tin nêu trên không đủ căn cứ vững chắc và không chính xác 7 để nhà đầu tư ra quyết định. Nhưng trong thực tế, các chứng khoán vẫn được mua bán, chuyển nhượng, thậm chí, tại những thời điểm cao trào, nhiều loại chứng khoán được mua bán, chuyển nhượng rất sôi động. 1.1. Khái quát thị trường OTC các nước trên thế giới: 1.1.1. Thị trường OTC của Mỹ: Thị trường giao dịch qua quầy (OTC - Over the Counter): ở thị trường OTC bạn có thể thấy hàng nghìn cổ phiếu được bán chủ yếu là cổ phiếu của các công ty mới và nhỏ. Thị trường OTC lớn nhất là NASDAQ (National Association of Securities Dealers Automated Quotation). Những hoạt động kinh doanh trên OTC không phải thông qua những địa điểm trung tâm mà thông qua điện thoại và hệ thống định giá bằng máy tính. Điểm khác biệt rõ ràng giữa thị trường giao dịch tập trung và thị trường OTC là giá cổ phiếu tăng giảm. Thị trường giao dịch tập trung là thị trường bán đấu giá. Cung và cầu tạo nên giá của chứng khoán. Cổ phiếu được bán cho người trả cao nhất và được mua với giá thấp nhất. OTC là thị trường thương lượng: Giá cả được thương lượng giữa người mua và người bán. Giá chứng khoán của OTC có thể thay đổi từ nhà tạo thị trường này đến nhà tạo thị trường khác ( Nhà tạo thị trường là một hãng sở hữu một số lượng cổ phiếu đáng kể được bán trên thị trường). Tên thị trường này được sinh ra bởi những người mua, bán cổ phiếu qua mạng. Ngày nay, giao dịch trên OTC thông qua một mạng máy tính được gọi là NMS. Cổ phiếu niêm yết trên NASDAQ phân chia thành hai loại: ♣ Thị trường NASDAQ quốc gia, bao gồm hơn 3,500 công ty lớn hơn và giao dịch năng động hơn. ♣ Thị trường Smallcap NASDAQ, bao gồm hơn 1,300 công ty với sự phát triển thấp hơn. OTC và NASDAQ: Đôi khi những thuật ngữ này có thể hoán đổi cho nhau. NASDAQ, nguyên văn là National Association of Securities Dealers Automated Quotation System là một sàn giao dịch chứng khoán Hoa Kỳ. Đây là sàn giao dịch 8 điện tử lớn nhất tại Hoa Kỳ hiện nay. Với khoảng 3.200 giao dịch hàng ngày tại sàn, NASDAQ hiện là sàn giao dịch lớn nhất thế giới. Sàn này được lập năm 1971 bởi (tạm dịch) Hiệp hội Quốc gia các Nhà buôn Chứng khoán. Điều kiện để được niêm yết trên NASDAQ: • Niêm Yết trên Thị Trường NASDAQ • Tài sản hữu hình thuần tối thiểu: $US 6 Triệu • Lợi tức sau thuế: $US 1 Triệu, hoặc • Tài sản hữu hình thuần: $US 75 Triệu • Thu nhập: $US 75 Triệu • Giá trị thị trường: $US 75 Triệu • Giá bán cổ phần tối thiểu: $US 5 • Số cổ đông: 400 • Vốn cổ đông: $US 15 Triệu • Giá thị trường công cộng: $US 8 Triệu • Market Makers: 3 • Quá trình hoạt động: không bắt buộc Khi được mở ra vào năm 1971, Thị trường cổ phiếu Nasdaq là thị trường cổ phiếu điện tử đầu tiên trên thế giới. Ngày nay, hàng chục thị trường trên khắp thế giới đều hoạt động thông qua các màn hình, bao gồm các thị trường ở London, Paris, Tokyo và Hồng Kông. Các giao dịch trên thị trường Nasdaq được thực hiện thông qua một thị trường mở, qua một hệ thống các nhà kinh doanh đa chức năng và qua rất nhiều nhà tạo lập thị trường (market maker) cạnh tranh với nhau nhằm giành được các giao dịch của từng loại cổ phiếu. Đó là một điểm tương phản với hệ thống được áp 9 dụng trong các thị trường truyền thống, nơi mà các lệnh đặt mua và đặt bán đối với một loại cổ phiếu nào đó phải được thực hiện thông qua một chuyên gia duy nhất. Và bởi vì có rất nhiều nhà tạo lập thị trường nên cùng một lúc có thể thực hiện được nhiều giao dịch hơn. Thị trường Nasdaq đang cố gắng xây dựng một mạng giao dịch toàn cầu, tập trung vào việc báo cáo các giao dịch theo thời gian thực. - Kể từ năm 1992, các chứng khoán chuyển sang được giao dịch vào buổi sáng sớm, đó là lúc thị trường London mở cửa. - Đến năm 1997, ECN tên đầy đủ là mạng giao tiếp điện tử (electronic communication network) được áp dụng, cho phép các nhà tạo lập thị trường và các tổ chức trên khắp thế giới có thể đấu giá kín với nhau (ẩn danh) Mạng này sẽ kiểm tra các cặp lệnh khớp nhau -- việc khớp lệnh này có thể thực hiện một cách nhanh chóng. Nếu không thấy cặp lệnh nào khớp nhau, giá chào bán và giá chào mua sẽ được công bố trên thị trường. Đọc bảng Thông tin Thị trường của Nasdaq Các cổ phiếu Nasdaq được giao dịch nhiều nhất và khối lượng lớn nhất sẽ được liệt kê trong Bảng Kết quả Thị trường Quốc gia Nasdaq và được phát hành trong mỗi ngày giao dịch. Bảng này có định dạng tương tự như danh sách các cổ phiếu sở giao dịch chứng khoán New York (NYSE) và sàn giao dịch chứng khoán Mỹ (AMEX). Nhưng các ký hiệu giao dịch trong danh sách của NASDAQ có 4 hoặc 5 chữ cái, khác với danh sách của Thị trường NYSE và AMEX, chỉ có 1 đến 3 chữ cái. Đây là do rất nhiều công ty niêm yết trên Nasdaq là các công ty nhỏ, hoặc công ty mới xuất hiện, những công ty này thường muốn đầu tư lại tiền lãi thu được vào hoạt động kinh doanh, ngày càng ít công ty trả cổ tức cho cổ đông. Ký hiệu giao dịch Tất cả các chứng khoán đều được thể hiện bằng các ký hiệu giao dịch - đó là những chữ viết tắt từ 1 đến 5 chữ cái, (ví dụ: cổ phiếu Lycos (LCOS) ) được dùng để nhận dạng một loại cổ phiếu nào đó trên thị trường mà cổ phiếu đó được giao dịch, và trên các bảng biểu và báo giá cổ phiếu. Được phát triển ngay từ lúc đầu vào thế kỷ 19, những ký hiệu chỉ có một chữ cái là đặc biệt có danh tiếng bởi vì đó là ký hiệu được đặt ra cho những cổ phiếu được giao dịch nhiều nhất. Ngày nay, 10 các ký hiệu giao dịch được chỉ định theo tính sẵn có của cổ phiếu. Không có ký hiệu nào là giống nhau -- thậm chí kể cả ở những thị trường khác nhau. 1.1.2. Thị trường OTC của Nhật Bản: Bên cạnh các Sở giao dịch chứng khoán, tại Nhật Bản còn có các thị trường chứng khoán phi tập trung, tiêu biểu đó là Nhật Bản có hai thị trường OTC cùng hoạt động đồng thời, đó là thị trường Jasdaq và thị trường J-net. Thị trường Jasdaq, hoạt động từ năm 1991 trên cơ sở phát triển thị trường OTC truyền thống hoạt động từ tháng 2/1963 do Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán Nhật Bản (JSDA) quản lý. Luật chứng khoán sửa đổi năm 1983 đã đưa thị trường OTC này vào quỹ đạo quản lý của Nhà nước, cơ chế thương lượng giá tay đôi giữa các công ty chứng khoán và giữa công ty chứng khoán với khách hàng được đổi sang cơ chế đấu giá tập trung qua hệ thống các nhà tạo lập thị trường. Hiện nay trên thị trường Jasdaq, có 449 công ty làm vai trò tạo lập thị trường. Thị trường J-net mới được đưa vào hoạt động từ tháng 5 năm 2000, chịu sự quản lý trực tiếp của Sở giao dịch chứng khoán Osaka (OSE), được tổ chức dành cho các chứng khoán không được niêm yết trên sở giao dịch nhằm đáp ứng yêu cầu thời gian và chi phí cho các đối tượng tham gia thị trường, hoạt động theo phương thức thương lượng giá. Thành viên của OSE, người đầu tư và trung tâm quản lý được trực tiếp nối mạng với nhau thông qua một mạng điện tử đa tầng, tạo điều kiện cho các đối tượng này có thể chia sẻ thông tin thị trường. 1.1.3. Thị trường OTC Hàn Quốc: Thị truờng OTC truyền thống của Hàn Quốc được thành lập tháng 04/1987 nhằm tạo môi trường hạot động cho các chứng khoán không đựoc niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hàn Quốc (KSE), thị trường chịu sự kiểm soát của Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán Hàn Quốc (KSDA) thành lập năm 1953. Tháng 04/1997, Chính phủ Hàn Quốc quyết định tổ chức lại và thúc đẩy phát triển thị trường này bằng việc thành lập thị trường mạng máy tính điện tử (Kosdaq – Korean Securities Dealers Automated Quotation) nhằm tạo điều kiện cho các công ty 11 mạo hiểm, công ty công nghệ cao, quỹ tương hỗ và các công ty vừa và nhỏ không đủ tiêu chuẩn niêm yết trên thị trường tập trung có thể huy động vốn trực tiếp. Thị trường được xây dựng theo mô hình thị trường Nasdaq, tiến hành giao dịch qua mạng điện tử có sự kiểm soát của trung tâm. Các tổ chức niêm yết trên thị trường Kosdaq phải đáp ứng một số tiêu chuẩn cơ bản như mức vốn điều lệ tối thiểu, tỷ lệ phát hành ra công chúng... Tuy nhiên, việc đấu giá được thực hiện theo phương thức đấu lệnh tập trung tương tự như Sở giao dịch. 1.2. Khái quát về thị trường UPCoM tại Việt Nam: • Hàng hoá Là tất cả các chứng khoán của công ty đại chúng chưa niêm yết hoặc huỷ bỏ niêm yết tại Sở giao dịch Chứng khoán đăng ký giao dịch tại UPCoM. • Phương thức giao dịch - Thoả thuận điện tử: là hình thức giao dịch trong đó đại diện giao dịch nhập lệnh với các điều kiện giao dịch đã được xác định và lựa chọn lệnh đối ứng phù hợp để thực hiện giao dịch - Thoả thuận thông thường: là hình thức giao dịch trong đó bên mua, bên bán tự thoả thuận với nhau về các điều kiện giao dịch và được đại diện giao dịch nhập thông tin vào hệ thống đăng ký giao dịch để xác nhận giao dịch này. • Tỷ lệ ký quỹ - Đối với lệnh mua: Phải có đủ số dư tiền trong tài khoản chứng khoán tại thời điểm đặt lệnh mua (bao gồm tiền mua chứng khoán, phí). - Đối với lệnh bán: Phải có đủ số dư chứng khoán trong tài khoản chứng khoán tại thời điểm đặt lệnh bán. • Thời gian giao dịch Giao dịch thoả thuận: - Đợt 1 từ 10h00’ đến 11h30’ 12 - Đợt 2 từ 13h30’ đến 15h00’ Vào tất cả các ngày trong tuần từ Thứ 2 đến Thứ 6 trong tuần trừ các ngày nghỉ theo Qui định của Luật Lao động. • Đơn vị yết giá - Đối với cổ phiếu:100 đồng. - Đối với trái phiếu: không quy định. • Đơn vị giao dịch Khối lượng giao dịch tối thiểu là mười (10) cổ phiếu hoặc mười (10) trái phiếu. • Mệnh giá chứng khoán - Mệnh giá cổ phiếu: 10.000 đồng (mười nghìn đồng)/cổ phiếu. - Mệnh giá trái phiếu: 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng)/trái phiếu • Biên độ dao động - Đối với giao dịch cổ phiếu là ± 10%. Biên độ dao động giá trong ngày giao dịch đối với cổ phiếu được thực hiện theo quy định của trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội theo từng thời kỳ, được Uỷ ban Chứng khoán thay đổi theo tình hình thị trường. - Không áp dụng biên độ dao động giá đối với các giao dịch trái phiếu. • Hiệu lực của lệnh Lệnh chào mua, chào bán thỏa thuận điện tử có hiệu lực kể từ khi lệnh được nhập vào hệ thống đăng ký giao dịch cho đến khi kết thúc thời gian giao dịch trên hệ thống đăng ký giao dịch hoặc cho đến khi lệnh bị sửa hoặc huỷ bỏ. • Các loại lệnh áp dụng - Lệnh mua/bán theo phương thức Thoả thuận điện tử; - Lệnh mua/bán theo phương thức Thoả thuận thông thường. 13 • Hủy và sửa lệnh - Sửa và huỷ lệnh về giá, khối lượng chỉ có hiệu lực đối với lệnh giao dịch gốc chưa được thực hiện. - Giao dịch thoả thuận đã thực hiện không được phép huỷ • Giá tham chiếu - Giá tham chiếu của cổ phiếu đang giao dịch là bình quân gia quyền của các giá giao dịch thoả thuận điện tử của ngày có giao dịch gần nhất. - Đối với các cổ phiếu mới đăng ký giao dịch, trong ngày giao dịch đầu tiên, trung tâm giao dịch chứng khoán chỉ nhận lệnh giao dịch thỏa thuận điện tử và không áp dụng biên độ dao động giá. Nếu trong ngày giao dịch đầu tiên không có giá thực hiện thì giá tham chiếu sẽ được xác định trong ngày giao dịch kế tiếp cho đến khi giá giao dịch được xác lập trên hệ thống. - Trường hợp giao dịch cổ phiếu không hưởng cổ tức và các quyền kèm theo, giá tham chiếu tại ngày không hưởng quyền được xác định theo nguyên tắc lấy giá bình quân gia quyền của các giá giao dịch thoả thuận điện tử của ngày có giao dịch gần nhất điều chỉnh theo giá trị cổ tức được nhận hoặc giá trị các quyền kèm theo. - Trường hợp tách, gộp cổ phiếu, giá tham chiếu tại ngày giao dịch trở lại được xác định theo nguyên tắc lấy giá bình quân gia quyền của các giá giao dịch thoả thuận điện tử của ngày có giao dịch trước ngày tách, gộp điều chỉnh theo tỷ lệ tách, gộp cổ phiếu. • Thời hạn thanh toán bù trừ: T + 3 • Xử lý lệnh sai trong giờ giao dịch - Nếu phát hiện ra sai sót lệnh so với lệnh gốc chưa khớp trong giờ giao dịch, Đại diện giao dịch từ xa và Cán bộ Kiểm soát Môi giới sẽ phối hợp với trung tâm đấu giá chứng khoán Hà Nội tiến hành huỷ lệnh sai và đặt lại lệnh theo lệnh gốc của nhà đầu tư 14 - Nếu phát hiện ra sai sót lệnh so với lệnh gốc đã khớp trong giờ giao dịch, công ty chứng khoán sẽ tiến hành thoả thuận với các đối tác và thực hiện việc sửa lệnh theo đúng qui trình sửa lệnh của Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội. • Xử lý lệnh sau giờ giao dịch - Trường hợp phát hiện lệnh sai sau giờ giao dịch hoặc không thoải thuận thành công với đối tác, Bên gây ra sai sót sẽ phải bồi thường thiệt hại cho thành viên đối ứng. • Bồi thường thiệt hại phát sinh do lỗi giao dịch Hai bên tự thoả thuận nhưng không vượt quá 10% (mười) giá trị của giao dịch lỗi. 2. Thực trạng thị trường chứng khoán ở Việt Nam qua các năm. 2.1. Khái quát tình hình hoạt động của Thị trường chứng khoán Việt Nam. 2.1.1. Sự ra đời các sở giao dịch chứng khoán Tính đến nay, thị trường chứng khoán Việt Nam đã chính thức đi vào hoạt động được gần mười năm. Qua gần một thập kỷ, thị trường chứng khoán Việt Nam đã ghi những dấu ấn tích cực trong chặng đường phát triển kinh tế sau 35 năm đất nước thống nhất đất nước, góp phần quan trọng vào sự phát triển thị trường vốn Việt Nam. Sau hơn 3 năm chuẩn bị về khuôn khổ pháp lý, hàng hóa, tổ chức trung gian, cơ sở vật chất, ngày 20/7/2000, Trung tâm Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSTC) đã được thành lập và đi vào hoạt động, đánh dấu sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam. Đây là bước đi rất quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội của đất nước, thể hiện sự hội nhập tất yếu của nền kinh tế Việt Nam với thế giới. Với sự ra đời của Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, đã tạo ra một kênh huy động và luân chuyển vốn mới phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là sản phẩm góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ngày 11/5/2007, Trung tâm Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh đổi tên thành Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE). 15 Ngày 8/3/2005, Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội (HASTC) được thành lập và đi vào hoạt động. Đây là bước đi quan trọng trong việc xây dựng thành công thị trường sơ cấp, phục vụ có hiệu quả hoạt động phát hành cổ phiếu và trái phiếu; tổ chức thành công các thị trường giao dịch thứ cấp hiện đại, công bằng và minh bạch. Đến ngày 24/6/2009, Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội đổi tên thành Sở giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX). Ngày 24/6/2009, thị trường UPCoM - sàn giao dịch cổ phiếu của các công ty đại chúng chưa niêm yết đã được đi vào hoạt động. 2.1.2. Quy mô niêm yết tại các sở giao dịch. Bảng 1: Quy mô niêm yết thị trường tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) ngày 01/06/2010. Số chứng khoán Toàn thị trường Cổ phiếu Trái phiếu UPCoM 881 298 509 74 4.240.501.775 1.676.760.000 768.351.295 niêm yết Tổng khối lượng 6.685.613.070 niêm yết Tổng giá trị 217.764.530.700 42.405.017.750 167.676.000.000 7.683.512.950. niêm yết .000 .000 .000 000 www.hnx.vn 16 Bảng 2: Quy mô niêm yết thị trường tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) ngày 01/06/2010. Số chứng khoán Toàn thị trường Cổ phiếu Trái phiếu Chứng chỉ 298 236 58 4 11.000.943,44 252.055,53 113.481,09 110.009.434,37 2.520.555,30 11.348.109,00 niêm yết Tổng khối lượng 11.366.480,06 niêm yết Tổng giá trị 123.878.090,67 niêm yết www.hsx.vn 2.1.3. Quy mô hoạt động: Từ quy mô nhỏ bé ban đầu với hai công ty niêm yết (REE và SAM) có vốn điều lệ tổng cộng khoảng 270 tỷ đồng thì đến ngày 02/06/2010, Thị trường chứng khoán Việt Nam đã có 531 mã chứng khoán được niêm yết. Đảo qua hai Sở Giao dịch chứng khoán, có thể thấy, số lượng Doanh nghiệp nộp hồ sơ xin niêm yết vẫn không ngừng gia tăng. • Giai đoạn 2000-2005: Giai đoạn chập chững biết đi của thị trường chứng khoán. Trong 5 năm đầu tiên, dường như thị trường không thực sự thu hút được sự quan tâm của đông đảo công chúng và các diễn biến tăng giảm của thị trường chưa tạo ra tác động xã hội mở rộng để có thể ảnh hưởng tới sự vận hành của nền kinh tế cũng như tới cuộc sống của mỗi người dân. Theo thống kê của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, tính đến hết năm 2005, tổng giá trị thị trường chứng khoán việt Nam đạt gần 40.000 tỷ đồng, chiếm 0,69% tổng thu nhập quốc nội (GDP). Thị trường chứng khoán Việt Nam hiện có 4.500 tỷ đồng cổ phiếu, 300 tỷ đồng chứng chỉ quỹ đầu tư và gần 35.000 tỷ đồng trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, thu hút 17 28.300 tài khoản giao dịch .Trong năm 2005, tốc độ tăng trưởng của thị trường chứng khoán gấp đôi so với năm 2004, huy động được 44,600 tỷ đồng, hiện giờ giá trị cổ phiếu so với GDP của cả nước đạt gần 1%. • Giai đoạn 2006: Sự phát triển đột phá của Thị trường chứng khoán. Mốc thời gian kể từ đầu năm 2006 được coi là mang tính chất phát triển “đột phá”, tạo cho thị trường chứng khoán Việt Nam một diện mạo hoàn toàn mới với hoạt động giao dịch sôi động. Với mức tăng trưởng đạt tới 60% từ đầu đến giữa năm 2006 thị trường chứng khoán Việt Nam trở thành "điểm" có tốc độ tăng trưởng nhanh thứ 2 thế giới, chỉ sau Dim-ba-buê. Sự bừng dậy của thị trường non trẻ này đang ngày càng "hút hồn"các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Không thể phủ nhận năm 2006 vừa qua thị trường chứng khoán Việt Nam non trẻ này đã có “màn trình diễn” tuyệt vời và có thể sẽ không bao giờ có lại được với khối lượng vốn hoá tăng gấp 15 lần trong vòng 1 năm. Năm 2006, Thị trường chứng khoán Việt Nam có sự phát triển vượt bậc, chỉ số VN-Index tại sàn giao dịch Thành phố Hồ Chí Minh (HOSTC) tăng 144% năm 2006, tại sàn giao dịch Hà Nội (HASTC) tăng 152,4% Thị trường chứng khoán Việt Nam 2006: VN-Index cuối năm tăng 2,5 lần so đầu năm. Tổng giá trị vốn hóa đạt 13,8 tỉ USD cuối năm 2006 (chiếm 22,7% GDP) giá trị cổ phiếu do các nhà đầu tư nước ngoài đang nắm giữ đạt khoảng 4 tỉ USD, chiếm 16,4% mức vốn hóa của toàn thị trường. • Giai đoạn 2007: Giai đoạn thị trường chứng khoán bùng nổ. Luật Chứng khoán có hiệu lực từ ngày 01/01/2007 đã góp phần thúc đẩy thị trường phát triển và tăng cường khả năng hội nhập vào thị trường tài chính quốc tế. Tính công khai, minh bạch của các tổ chức niêm yết được tăng cường.VN-Index đạt đỉnh 1.170,67 điểm HASTC-Index chạm mốc 459,36 điểm. Nhìn chung diễn biến của thị trường và giá cả chứng khoán trong các phiên giao dịch có nhiều biến động, Index của cả 2 sàn giao dịch đều có biên độ giao động mạnh. Kết thúc phiên giao dịch cuối năm, VNIndex đạt 927,02 điểm, HASTC-Index dừng ở mức 323,55 điểm, như vậy sau 18 1 năm hoạt động VN-Index đạt được mức tăng trưởng là 23,3%; HASTC-Index tăng 33,2% so với mức điểm thiết lập vào cuối năm 2006. Thị trường chứng khoán qua một năm hoạt động cũng ghi lại dấu ấn cho những giai đoạn thăng trầm nhất định khi thị trường trải qua những biến động trồi sụt thất thường: giai đoạn thị trường bùng nổ trong 3 tháng đầu năm, thị trường bắt đầu hạ nhiệt và điều chỉnh mạnh vào 5 tháng giữa năm, tiếp đến là một đợt phục hồi trước khi đi vào thoái trào trong 4 tháng cuối năm. • Giai đoạn 2008: Cùng trong xu thế chung của nền kinh tế, Thị trường Việt Nam khép lại năm 2008 với sự sụt giảm mạnh. Lần đầu tiên chỉ số giá chứng khoán giảm gần 70% trong một năm. Năm 2008, diễn biến thị trường chứng khoán Việt Nam xấu nhất trong suốt hơn tám năm hoạt động. Chỉ số giá chứng khoán của cả hai sàn giảm mạnh, đặc biệt HASTC-Index ở dưới mức 100 điểm vào ngày 27/11. So với thời điểm đầu năm 2008, HASTC-Index và VN-Index giảm tương ứng 67,2% và 66,9%. • Giai đoạn 2009: Năm tăng trưởng bất ngờ và ấn tượng. Tính từ ngày 01/01/2009 đến 31/12/2009 thì VN-Index đã tăng thêm 171,96 điểm từ 312,49 điểm lên đến 494,77 điểm tương đương với mức tăng là 58% so với năm 2008. Theo Bộ tài chính, mức vốn hóa của Thị trường chứng khoán Việt Nam đầu tháng 12 vào khoảng 669 nghìn tỷ đồng, tương đươgn 55% GDP cả năm 2008. So với cuối năm 2008 (225 nghìn tỷ đồng), mức vốn hóa đã tăng gấp 3 lần. Tính trong cả năm 2009, giá trị giao dịch toàn thị trường trên HOSE là 423.299 tỷ đồng và trên HNX là 197.524 tỷ đồng. 19 HOSE Khối lượng 2006 2007 2008 2009 538,5 1.817 2.978 10.432 35.742 217.835 124.576 423.299 66.370 119.900 41.832 40.577 95,6 612 1.531 5.765 3.917 63.442 57.122 197.524 40.970 103.630 37.310 34.263 634.1 2.426 4.509 16.197 39.389 281.258 181.698 620.823 62.118 115.935 40.296 38.329 CP (triệu) Giá trị tỷ VNĐ Giá TB 1 CP (VNĐ) HNX Khối lượng CP (triệu) Giá trị tỷ VNĐ Giá TB 1 CP (VNĐ) TOÀN THỊ Khối lượng TRƯỜNG CP (triệu) Giá trị tỷ VNĐ Giá TB 1 CP (VNĐ) Bảng 3: Quy mô giao dịch của thị trường chứng khoán 4 năm gần đây (Trích Báo cáo tổng kết thị trường chứng khoán 2009 và dự báo năm 2010 – Công ty cổ phần chứng khoán Âu Việt ngày 04/01/2010) • Kỳ vọng thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2010: Diễn biến thị trường chứng khoán quí 1/2010 phản ánh tình hình tương tự như những năm trước, đó là thời kỳ nghỉ ngơi kéo dài, các doanh nghiệp đang quyết toán năm 2009 và xây dựng kế hoạch cho năm 2010. Ngoài ra, Thị trường chứng khoán quí 1 năm nay còn chịu tác động của những yếu tố khác. Cụ thể là, ngoại trừ GDP quí 1 tăng 5,83% so cùng kỳ năm 2009, hầu hết các chỉ số kinh tế vĩ mô khác đạt thấp, tổng thu ngân sách nhà nước chỉ đạt 20% dự toán năm. Vì thế, Thị trường chứng khoán
- Xem thêm -