Tài liệu Xây dựng mô hình cảnh báo khủng hoảng nợ và khuyến nghị cho việt nam

  • Số trang: 122 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 79 |
  • Lượt tải: 2
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG ---------o0o--------- Công trình tham dự Cuộc thi Sinh viên nghiên cứu khoa học Trường Đại học Ngoại thương 2013 Tên công trình XÂY DỰNG MÔ HÌNH CẢNH BÁO SỚM KHỦNG HOẢNG NỢ VÀ KHUYẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM Nhóm ngành: KD1 Hà Nội, ngày 5 tháng 5 năm 2013 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ADB : Ngân hàng phát triển châu Á CI : Chỉ số hỗn hợp CIA : Cục tình báo trung ương Mỹ DNNN : Doanh nghiệp Nhà nước EC : Ủy ban châu Âu EU : Liên minh châu Âu FDI : Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FII : Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài GDP : Tổng sản phẩm quốc nội GNP : Tổng sản phẩm quốc gia HNX : Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội IMF : Quỹ tiền tệ quốc tế IIR : Định mức tín nhiệm của Institution Investor Rating ICOR : Hệ số hiệu quả sử dụng vốn NHNN : Ngân hàng Nhà nước NHTM : Ngân hàng thương mại NPL : Nợ xấu ở hệ thống ngân hàng ODA : Hỗ trợ phát triển chính thức PPG : Nợ công nước ngoài và nợ nước ngoài được bảo lãnh S&P : Tổ chức Standard and Poor’s UNDTAD : Tổ chức Liên hợp quốc về hợp tác và phát triển kinh tế USD : Đồng dollar Mỹ VND : Việt Nam đồng VBMA : Hiệp hội thị trường trái phiếu Việt Nam WB : Ngân hàng thế giới WEF : Diễn đàn kinh tế thế giới WTO : Tổ chức thương mại thế giới i DANH MỤC HỘP Hộp 1: Trích các nhận định của IMF về hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 1989-1998 Hộp 2: Trích các đánh giá của Moody’s đối với khả năng trả nợ nước ngoài của Việt Nam giai đoạn 2001-2007 Hộp 3: Trích nhận định của Ngân hàng nhà nước về tình hình lạm phát Việt Nam vào năm 2011 Hộp 4: Trích nhận định của Ủy ban kinh tế Quốc hội về tình hình tỉ giá năm 2011 Hộp 5: Trích các nhận định của Fitch về thực trạng ngân hàng Việt Nam ii DANH MỤC BẢNG Bảng 1: Các số liệu về mức nợ công Việt Nam năm 2011 Bảng 2: Ảnh hưởng của định nghĩa lên thời điểm xảy ra khủng hoảng Bảng 3: Lịch sử Khủng hoảng nợ của các quốc gia được khảo sát Bảng 4: Các biến vĩ mô được lựa chọn cho mô hình Bảng 5: Các kết quả thực nghiệm về ngưỡng khả thi Bảng 6: Bảng quy đổi xác suất thực nghiệm Bảng 7: Các kết quả thực nghiệm về QPS Bảng 8: Xếp hạng tín nhiệm của Moody’s cho Việt Nam giai đoạn 2007-2012 Bảng 9: Xếp hạng tín nhiệm của S&P cho Việt Nam giai đoạn 2007-2012 Bảng 10: Các mức rủi ro tương ứng với các mức xác suất xảy ra khủng hoảng Bảng 11: Các mức rủi ro của Việt Nam trong giai đoạn 2007-2013 iii DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1: Chỉ số hỗn hợp (6) của Việt Nam giai đoạn 1997-2011 Biểu đồ 2: Chỉ số hỗn hợp (6) và chỉ số hỗn hợp 8 biến của Việt Nam Biểu đồ 3: Nợ nước ngoài trên GDP của Việt Nam giai đoạn 1989-1999 Biểu đồ 4: Đánh giá IIR cho Việt Nam giai đoạn 1994-1999 Biểu đồ 5: Tình hình tài khoản vãng lai Việt Nam giai đoạn 1990-1999 Biểu đồ 6: Tình hình tiền gửi ở hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 1992-1999 Biểu đồ 7: Nợ nước ngoài trên GDP của Việt Nam giai đoạn 1999-2007 Biểu đồ 8: Đánh giá về nợ xấu và Z-score của hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 1997-2007 Biểu đồ 9: Tình hình tiền gửi-tín dụng ngoại tệ ở hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2000-2006 Biểu đồ 10: Tình hình các dòng vốn và kiều hối của Việt Nam trong những năm gần đây Biểu đồ 11: Tình hình thoái vốn của Việt Nam trong những năm gần đây Biểu đồ 12: Đánh giá IIR cho Việt Nam giai đoạn 2007-2012 Biểu đồ 13: Tình hình nợ ngắn hạn và dự trữ ngoại hối của Việt Nam giai đoạn 2000-2011 Biểu đồ 14: Đánh giá về nợ xấu ở hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2006-2012 Biểu đồ 15: Xếp hạng rủi ro của Eonomist Intelligent Unit cho Việt Nam giai đoạn 2008-2012 Biểu đồ 16: Xếp hạng rủi ro của World Economic Forum cho Việt Nam giai đoạn 2008-2012 Biểu đồ 17: Tình hình đấu thầu trái phiếu Kho bạc của Việt Nam giai đoạn 2011-2012 Biểu đồ 18: Chỉ số ICOR của Việt Nam qua từng giai đoạn iv MỤC LỤC CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHỦNG HOẢNG NỢ VÀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH CẢNH BÁO SỚM KHỦNG HOẢNG NỢ CHO NỀN KINH TẾ VIỆT NAM ............................................................................................................ 1 1.1 Lý luận chung về Khủng hoảng nợ .............................................................. 1 1.1.1 Định nghĩa ............................................................................................... 1 1.1.2 Nguyên nhân ............................................................................................ 5 1.1.3 Hậu quả .................................................................................................. 12 1.2 Xây dựng mô hình cảnh báo sớm cho nền kinh tế Việt Nam ................... 17 1.2.1 Một số mô hình cảnh báo sớm Khủng hoảng nợ ..................................... 17 1.2.2 Lựa chọn mô hình thích hợp cho nền kinh tế Việt Nam .......................... 21 CHƯƠNG II: ÁP DỤNG MÔ HÌNH CẢNH BÁO SỚM KHỦNG HOẢNG NỢ VÀO NỀN KINH TẾ VIỆT NAM ...................................................................... 24 2.1 Lựa chọn các thông số cho mô hình........................................................... 24 2.1.1 Lựa chọn mẫu ........................................................................................ 24 2.1.2 Lựa chọn ngưỡng khả thi........................................................................ 26 2.1.3 Xây dựng chỉ số hỗn hợp ........................................................................ 29 2.1.4 Lựa chọn các biến vĩ mô ........................................................................ 31 2.2 Các kết quả thực nghiệm ........................................................................... 32 2.2.1 Các kết quả thực nghiệm về ngưỡng khả thi ........................................... 32 2.2.2 Kiểm tra mức độ hiệu quả của các chỉ số hỗn hợp trên mẫu ................... 34 2.2.3 Chuỗi chỉ số hỗn hợp thực nghiệm của Việt Nam ................................... 35 2.2.4 Chuỗi chỉ số hỗn hợp 8 biến thực nghiệm ............................................... 37 2.3 Đánh giá tính hiệu quả của mô hình đối với nền kinh tế Việt Nam ......... 37 2.3.1 Thực tiễn tình hình kinh tế Việt Nam giai đoạn 1997-2011 .................... 38 2.3.2 Đánh giá của các tổ chức quốc tế............................................................ 56 2.3.3 Nhìn nhận xác suất Việt Nam rơi vào Khủng hoảng nợ .......................... 59 CHƯƠNG III: CÁC KHUYẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM................................. 61 3.1 Các khuyến nghị về mô hình ...................................................................... 61 v 3.1.1 Đề xuất tăng tính hiệu quả của mô hình .................................................. 61 3.1.2 Đề xuất thêm các biến mới vào mô hình ................................................. 62 3.2 Các khuyến nghị về chính sách .................................................................. 65 3.2.1 Đề xuất chính sách đối với việc vay và quản lý nợ công ......................... 65 3.2.2 Đề xuất chính sách đối với các vấn đề nội tại trong nền kinh tế .............. 83 vi PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay nợ công đang là vấn đề nóng bỏng không chỉ riêng ở châu Âu, Mỹ, Nhật Bản mà còn nhiều quốc gia đang phát triển khác trên thế giới cũng phải đối mặt, trong đó có Việt Nam. Tính đến năm 2011, tỉ lệ nợ công trên GDP của nhiều quốc gia đã đạt đến mức đáng báo động1, vượt xa ngưỡng khuyến nghị 75% GDP do Quỹ tiền tệ quốc tế đưa ra cho các quốc gia phát triển2, trong đó Nhật Bản là 229.8%, Mỹ 102.9%, Hy Lạp 160.8%, Italia 120.1%, Ireland 105.0% và Bồ Đào Nha là 106.8%. Hệ quả tất yếu của mức nợ cao như trên là cuộc Khủng hoảng nợ công châu Âu bùng nổ năm 2010, bắt đầu từ Hy Lạp và đã lan ra trên nhiều nước châu Âu, tác động nghiêm trọng đến cả khu vực kinh tế tài chính lẫn khu vực kinh tế thực. Trên khu vực kinh tế tài chính, hàng loạt các quốc gia châu Âu bị S&P hạ bậc tín nhiệm, cùng với đó là sự tăng lên nhanh chóng của lợi suất trái phiếu chính phủ, sự sụt giảm giá trị của các tài sản tài chính và sự thoái vốn hàng loạt của các nhà đầu tư. Nhiều quốc gia đã phải nhận các gói cứu trợ từ IMF, ECB và các tổ chức quốc tế khác với những điều kiện chi tiêu ngặt nghèo cùng với sự giám sát chặt chẽ của các tổ chức này. Thị trường tài chính đi xuống, sự mất lòng tin của các nhà đầu tư và nguy cơ tan vỡ của liên minh tiền tệ châu Âu là những hậu quả thấy được của cuộc khủng hoảng. Trên khu vực kinh tế tế thực, Khủng hoảng nợ công châu Âu khiến nhiều quốc gia thành viên tăng trưởng GDP âm, đầu tư sụt giảm, lạm phát và thất nghiệp tăng cao, nền kinh tế nhanh chóng rơi vào suy thoái. Chính phủ nhiều quốc gia buộc phải thắt lưng buộc bụng, tăng thuế và cắt giảm các phúc lợi xã hội. Chính trị trở nên bất ổn, dẫn đến các cuộc biểu tình và bạo động liên tục diễn ra ở Hy Lạp, Tây Ban Nha, Italia và nhiều quốc gia khác, khiến chính phủ không thể kiểm soát được tình hình và liên tục tuyên bố sụp đổ. Tất cả những hậu quả trên chính là cái giá phải trả cho các khoản vay khổng lồ tài trợ cho chi tiêu vượt quá 1 World Economic Forum, “The global competitiveness report 2012-2013”, trang 425, năm 2012. 2 International Monetary Fund, “Fiscal policy as a countercyclical tool”, năm 2008. vii khả năng chi trả của chính phủ. Việt Nam từ khi mở cửa tới nay, vẫn bị xếp vào nhóm các quốc gia đang phát triển. Quy mô nền kinh tế vẫn còn nhỏ so với mặt bằng chung của thế giới và phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp thô và công nghiệp nhẹ là chủ yếu. Do vậy hiện tại và trong tương lai, việc tăng vay nợ chính phủ nói riêng cũng như nợ công nói chung là khá cần thiết để Việt Nam có thêm nguồn tài chính đầu tư cho cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế. Tuy nhiên, mức nợ công của Việt Nam3 năm 2001 mới chỉ là 10.681 tỉ USD (chiếm 33.4% so với GDP), đã tăng lên gần 6 lần là 61.808 tỉ USD vào năm 2011 (chiếm 51.3% so với GDP), vượt qua mức khuyến nghị 25% GDP của IMF đối với các nền kinh tế mới nổi4. Xác suất vỡ nợ tích lũy (cumulative probability of default) của Việt Nam luôn ở mức trên 20% trong giai đoạn 2011-2012 gần đây; cá biệt trong quý 2 năm 2011, Việt Nam còn đứng thứ 9 trong số những quốc gia có rủi ro vỡ nợ cao nhất5. Đây là những dấu hiệu không tốt đối với tình hình nợ công của Việt Nam hiện nay. Nếu một cuộc Khủng hoảng nợ công như vậy xảy ra thì hậu quả của nó khó mà có thể đánh giá hết và phải mất một thời gian dài để chúng ta có thể phục hồi lại được nền kinh tế. Chính vì lẽ đó, việc xây dựng được một công cụ cảnh báo sớm Khủng hoảng nợ cho nền kinh tế Việt Nam là thực sự cần thiết và hữu dụng. Hay nói một cách chính xác hơn là đưa ra một mô hình qua đó xác định được các dấu hiệu của bất ổn vĩ mô, và từ các dấu hiệu mất bất ổn đó khuyến cáo các cơ quan chức năng điều chỉnh chính sách để các chỉ báo vĩ mô trở lại mức an toàn. Điều này đã thôi thúc chúng tôi nghiên cứu và thực hiện đề tài “Xây dựng mô hình cảnh báo Khủng hoảng nợ và các khuyến nghị cho Việt Nam”. 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu Về tình hình nghiên cứu trong nước, đã có rất nhiều bài báo và công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề nợ công ở nước ta, trong đó có thể kể ra một vài bài 3 http://www.economist.com/content/global_debt_clock, truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2012. 4 IMF (2008). 5 Dựa trên các báo cáo “CMA global sovereign debt credit report” của Standard and Poor’s. viii viết và bài nghiên cứu tiêu biểu như:  “Nợ công ở Việt Nam-Một số phân tích và thảo luận” của tiến sỹ Nguyễn Đức Thành, trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và chính sách VEPR.  “Chính sách tài khóa và vấn đề nợ công của Việt Nam” của tiến sỹ Vũ Đình Ánh, viện Nghiên cứu thị trường và giá cả, bộ Tài chính.  “Nợ công và những tác động của nó đến nền kinh tế” của giáo sư Ngô Thế Chi, giám đốc Học viện tài chính.  “Mối quan hệ giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế Việt Nam” của tác giả Nguyễn Hữu Tuấn đăng trên tạp chí Phát triển và Hội nhập số 4, tháng 6 năm 2012.  “Khả năng trả nợ và tính bền vững nguồn vốn ODA tại Việt Nam” của tác giả Nguyễn Kim Đức đăng trên tạp chí Phát triển và Hội nhập số 1, tháng 11 năm 2011.  “Luận bàn vấn đề nợ công ở Việt Nam” của thạc sỹ Nguyễn Quốc Nghi đăng trên tạp chí Nghiên cứu tài chính và marketing số 6, năm 2011. Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu trong nước chỉ dừng lại ở việc phân tích thực trạng và tính bền vững của nợ công, đưa ra các chính sách tái cơ cấu nợ công hoặc xem xét ảnh hưởng của nợ công đến sự phát triển kinh tế, mà chưa có công trình nào đề cập đến việc xây dựng một mô hình cảnh báo sớm khả năng xảy ra Khủng hoảng nợ ở Việt Nam. Về tình hình nghiên cứu nước ngoài, việc xây dựng một mô hình cảnh báo sớm Khủng hoảng nợ đã được các nhà kinh tế học thực hiện từ rất sớm. Các cách thức định nghĩa Khủng hoảng nợ cũng như phương pháp tiếp cận mô hình cảnh báo sớm Khủng hoảng nợ vô cùng đa dạng và phong phú. Trong số đó phải kể đến một vài công trình tiêu biểu như:  Công trình của Paolo Manasse, Nouriel Roubini và Axel Schimmelpfennig ix (2003)6, các ông định nghĩa một quốc gia lâm vào Khủng hoảng nợ khi quốc gia đó bị S&P xếp hạng là vỡ nợ (default) và nhận một khoản vay lớn7 không ưu đãi từ IMF (nonconcessional IMF loan). Từ định nghĩa này, các ông xây dựng được một mô hình cảnh báo sớm Khủng hoảng nợ bằng cách sử dụng phối hợp phương pháp Logit và phương pháp Tree analysis. Mô hình cảnh báo sớm được thực nghiệm trên 47 nền kinh tế từ năm 1970 đến năm 2002.  Công trình của Alessio Ciarlone và Giorgio Trebeschi (2006)8, các ông định nghĩa một quốc gia lâm vào Khủng hoảng nợ khi có một trong bốn điều kiện xảy ra9. Từ các định nghĩa này, các ông sử dụng phương pháp Multinomial Logit để xây dựng nên mô hình cảnh báo sớm Khủng hoảng nợ. Mô hình cảnh báo sớm được thực nghiệm trên 28 nền kinh tế mới nổi từ năm 1980 đến năm 2002.  Công trình của Ana Maria Feurtes và Elena Kalotychou (2007)10, các ông định nghĩa một quốc gia bị xếp vào vỡ nợ (default) nếu lượng tiền nợ chưa trả vượt quá ngưỡng cho phép so với nợ nước ngoài và có sự xuất hiện của một thỏa thuận giãn nợ, ở đó tổng số nợ được giãn vượt quá vượt quá lượng tiền nợ đã giảm. Từ định nghĩa này, các ông xây dựng được một mô hình cảnh báo sớm Khủng hoảng nợ bằng cách sử dụng phối hợp ba phương pháp là Logit-M, Logit-R và K-clustering. Mô hình cảnh báo sớm được thực nghiệm trên 75 nền kinh tế mới nổi và đang phát triển từ năm 1983 đến năm 2000. 6 Paolo Manasse et al, “Predicting sovereign debt crises”, IMF working paper, năm 2003 7 “Khoản vay lớn” ở đây theo Paolo Mansse et al định nghĩa là vượt quá 100% hạn ngạch của IMF. 8 Alessio Ciarlone và Giorgio Trebeschi, “A multinomial approach to early warning system for debt crises”, Ngân hàng trung ương Italia, năm 2006. 9 10 Xem thêm ở phần phụ lục 1. Ana Maria Feurtes và Elena Kalotychou, “Optimal design of early warning systems for sovereign debt crises”, International Journal of Forecasting, năm 2007. x  Công trình của Marco Fioramanti (2008)11, ông định nghĩa một quốc gia lâm vào Khủng hoảng nợ tương tự như trong công trình của Paolo Manasse et al. Từ định nghĩa này, ông sử dụng phương pháp Artificial neural networks để xây dựng nên mô hình cảnh báo sớm Khủng hoảng nợ. Mô hình cảnh báo sớm được thực nghiệm trên tất cả các cuộc Khủng hoảng nợ diễn ra ở các quốc gia đang phát triển từ năm 1980 đến năm 2004.  Công trình của Tobias Knedlik và Gregor von Schweinitz (2011)12, các ông sử dụng trái phiếu 10 năm loại AAA làm chuẩn mực để định nghĩa khi nào một quốc gia lâm vào Khủng hoảng nợ. Từ định nghĩa này, các ông sử dụng phương pháp Signals Approach để xây dựng nên mô hình cảnh báo sớm Khủng hoảng nợ. Mô hình cảnh báo sớm được thực nghiệm trên tất cả các cuộc Khủng hoảng nợ của các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu từ năm 1999 đến năm 2011. Dựa trên tất cả các công trình nghiên cứu về nợ công đã tham khảo, chúng tôi quyết định chọn phương pháp Signals Approach để xây dựng nên một mô hình cảnh báo sớm Khủng hoảng nợ cho nền kinh tế Việt Nam. Về ưu nhược điểm của từng loại phương pháp đã đề cập và lý do chọn phương pháp Signals Approach sẽ được nhóm trình bày cụ thể ở các phần sau. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng của đề tài chủ yếu tập trung vào nghiên cứu tình hình kinh tế vĩ mô của 42 quốc gia trong mẫu nghiên cứu của Reinhart và Rogoff13, và được nhóm nghiên cứu bổ sung thêm Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu là trong khoảng thời gian từ năm 1990-2010. 11 Marco Fioramanti, “Predicting sovereign debt crises using artificial neural networks: A comparative approach”, Journal of Financial Stability, năm 2008 12 Tobias Knedlik và Gregor von Schweinitz, “Maccroeconomic imbalances as indicators for debt crises in Europe”, Viện nghiên cứu kinh tế Halle, năm 2011 13 Carmen Reinhart và Kenneth Rogoff, “A decade of debt”, Policy Analyses in International Economics, năm 2011. xi 4. Mục đích nghiên cứu Mục đích của đề tài nhằm tính toán thực nghiệm trên tình hình kinh tế của 43 quốc gia được khảo sát, để từ đó rút ra được các “ngưỡng khả thi” cho mô hình Signal Approach. Từ các ngưỡng khả thi thực nghiệm này, nhóm nghiên cứu sẽ tiến hành tính toán xác suất xảy ra Khủng hoảng nợ cho nền kinh tế Việt Nam và đưa ra các chính sách nhằm giảm thiểu rủi ro khủng hoảng trong tương lai. 5. Phương pháp nghiên cứu Đề tài có tính kế thừa và sử dụng các kết quả nghiên cứu của nhiều công trình đi trước nhằm xây dựng một bộ biến tốt nhất cho Việt Nam. Các bộ biến này sẽ được kiểm tra tính hiệu quả trực tiếp để từ đó có thể loại đi các biến chưa tốt và giữ lại các biến tốt. Các chỉ báo vĩ mô sẽ được lấy từ cùng một nguồn để hạn chế tối đa tình trạng không nhất quán của số liệu. Các số liệu về Khủng hoảng nợ cũng sẽ chỉ được lấy từ nguồn của Reinhart và Rogoff14 để đảm bảo tính tương đồng giữa số liệu và định nghĩa. Trong quá trình nghiên cứu, phương pháp phân tích sẽ được sử dụng chủ yếu, đồng thời kết hợp thu thập dữ liệu, nghiên cứu tình huống để so sánh, đánh giá hiệu quả của mô hình. 6. Kết quả dự kiến Trong quá trình nghiên cứu và thực nghiệm, nhóm nghiên cứu kỳ vọng đạt được một số kết quả sau: -Xây dựng thành công mô hình cảnh báo sớm Khủng hoảng nợ sử dụng mô hình Signal Approach cho Việt Nam. Các ngưỡng khả thi tính được của mô hình không khác nhiều so với các ngưỡng khuyến nghị được đề xuất bởi nhiều học giả trên thế giới. -Các kết quả tính toán rủi ro Khủng hoảng nợ của Việt Nam là phù hợp với các báo cáo của các tổ chức quốc tế uy tín, như Moody’s, Standard and Poor’s hay Institutional Investors. 14 Số liệu về Khủng hoảng nợ sẽ được lấy từ: http://www.reinhartandrogoff.com/. xii -Trên cơ sở các kết quả tính toán, nhóm nghiên cứu có thể đưa ra được các chính sách hợp lý nhất nhằm hạn chế tối thiểu rủi ro khủng hoảng trong tương lai. 7. Cấu trúc đề tài -Chương 1: Lý luận chung về Khủng hoảng nợ và xây dựng mô hình cảnh báo sớm Khủng hoảng nợ cho nền kinh tế Việt Nam. -Chương 2: Áp dụng mô hình cảnh báo sớm Khủng hoảng nợ vào nền kinh tế Việt Nam. -Chương 3: Các khuyến nghị cho Việt Nam. xiii CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHỦNG HOẢNG NỢ VÀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH CẢNH BÁO SỚM KHỦNG HOẢNG NỢ CHO NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 1.1 Lý luận chung về Khủng hoảng nợ 1.1.1 Định nghĩa Định nghĩa về nợ công Trước khi làm rõ khái niệm Khủng hoảng nợ, chúng ta hãy xem xét về khái niệm nợ công. Hiện nay có rất nhiều cách để định nghĩa về nợ công, tùy theo cách thức định nghĩa nợ công và phương pháp sưu tập dữ liệu, mà các tổ chức quốc tế có những con số thống kê khác nhau. Chẳng hạn, xét riêng Việt Nam vào năm 2011, bốn tổ chức lớn đã có bốn con số thống kê khác nhau về mức nợ công của Việt Nam: Bảng 1: Các số liệu về mức nợ công Việt Nam năm 20111 Tổ chức Mức nợ công của Việt Nam năm 2011 (%GDP) CIA Factbook 48.8 IMF 38.0 Economist 51.2 Bộ tài chính Việt Nam 55.4 Sự không đồng nhất giữa các số liệu ở bảng trên thể hiện rõ sự khác nhau đáng kể trong việc định nghĩa và tính toán nợ công của mỗi tổ chức. Tùy từng mục đích sử dụng và đặc thù kinh tế riêng của mỗi quốc gia mà chúng ta có cách định nghĩa nợ công riêng. Việc định nghĩa nợ công quá rộng và tính toán nợ công quá cao gây ra sự phức tạp trong tính toán, khiến nợ công trở nên khó quản lý và không có nhiều ý nghĩa kinh tế. Thêm nữa, việc tính nợ công ở mức cao còn tạo ra sự hoang mang trong các nhà đầu tư, khiến việc huy động vốn nước ngoài của chính phủ trở nên 1 Do nhóm nghiên cứu tự tổng hợp, số liệu được lấy trên trang chủ của các tổ chức. 1 khó khăn hơn và đôi khi chi phí phải trả cao hơn. Ngược lại, việc định nghĩa nợ công ở mức quá hẹp và tính toán quá thấp khiến các các nhà quản lý không lường trước được rủi ro của các khoản nợ công tiềm tàng, hoặc của các khoản nợ không được tính đến. Điều này sẽ khiến các khoản nợ ngày càng chồng chất và nguy cơ vỡ nợ của quốc gia cao hơn. Như vậy câu hỏi đặt ra là chúng ta phải định nghĩa nợ công như thế nào cho hợp lý? Theo quan điểm của Luật quản lý nợ công Việt Nam2, nợ công là khoản nợ bao gồm nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương. Định nghĩa này hẹp hơn định nghĩa của các tổ chức quốc tế như IMF, WB hay UNDTAD và vấp phải nhiều tranh cãi trong việc có nên đưa nợ của doanh nghiệp nhà nước vào trong tính toán nợ công hay không. Còn theo quan điểm rộng hơn của IMF, nợ công là nợ của toàn bộ khu vực công. Ở đó khu vực công bao gồm chính quyền (general government) và các tổ chức công (public corporations). So với định nghĩa của Luật quản lý nợ công Việt Nam, định nghĩa của IMF bổ sung thêm nợ của ngân hàng trung ương và nợ của doanh nghiệp nhà nước ở tất cả các cấp chính quyền vào trong tính toán3. Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi sẽ sử dụng định nghĩa nợ công của IMF làm chuẩn mực vì những lý do sau: -Thứ nhất, định nghĩa nợ công của IMF là một định nghĩa rộng và bao quát được hầu hết các khía cạnh của nợ công. Định nghĩa này được nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế chấp nhận rộng rãi và được coi là một chuẩn mực để định nghĩa về nợ công. Các định nghĩa nợ công của các tổ chức quốc tế khác hầu như chỉ tương đương hoặc hẹp hơn so với định nghĩa của IMF. -Thứ hai, phương pháp tính toán nợ công theo định nghĩa của IMF được chia thành nhiều cấp độ và tùy từng đặc thù riêng của nền kinh tế mà chúng ta lựa chọn được từng cấp độ riêng. Chính vì vậy định nghĩa của IMF khá linh hoạt và có thể áp dụng được cho mọi nền kinh tế. Thêm nữa, tùy thuộc cấp độ sử dụng mà một nền 2 Luật quản lý nợ công của quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 5. Số hiệu 29/2009/QH12, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2010. 3 Xem thêm ở phụ lục 3. 2 kinh tế có thể tính ra được nhiều mức nợ công khác nhau, điều này tạo điều kiện cho các nhà hoạch định chính sách có thêm sự đối chiếu, tham khảo để có thể nắm rõ hơn về cơ cấu nợ công của quốc gia mình. -Thứ ba, số liệu về nợ công theo tính toán của IMF khá dồi dào, đầy đủ và liên tục cho nhiều quốc gia. Bài nghiên cứu của chúng tôi sử dụng nhiều nguồn số liệu, nhưng chủ yếu là từ IMF và World Bank, chính vì vậy việc sử dụng các định nghĩa của IMF là khá hợp lý. Định nghĩa về Khủng hoảng nợ Cũng giống như khái niệm nợ công, khái niệm Khủng hoảng nợ hiện nay không cố định và cũng được nhiều nhà nghiên cứu định nghĩa trên các cơ sở khác nhau 4 . Hiểu theo nghĩa hẹp, thì Khủng hoảng nợ là tình trạng chính phủ của một quốc gia mất khả năng chi trả các khoản nợ đến hạn của mình. Tuy nhiên, trải qua thời gian dài vận động và phát triển của nền kinh tế thế giới, nhiều cuộc Khủng hoảng nợ mới đã liên tục nổ ra, các cuộc khủng hoảng sau dường như diễn biến phức tạp và bất quy luật hơn so với các cuộc khủng hoảng trước đó. Điều này sớm biến các định nghĩa cổ điển trở nên lỗi thời và đòi hỏi các nhà nghiên cứu cần phải phát triển các định nghĩa về Khủng hoảng nợ theo hướng mới rộng và bao quát hơn. Chính vì lẽ đó, định nghĩa về Khủng hoảng nợ luôn thay đổi nhiền lần và liên tục cải biến. Nhìn chung, khi nói về Khủng hoảng nợ, thì chúng ta có thể xem xét một vài định nghĩa tiêu biểu của một số học giả sau:  Theo quan điểm của Detragiache và Spilimbergo (2001)5, các ông cho rằng một cuộc Khủng hoảng nợ xảy ra khi thõa mãn một trong hai điều kiện: thứ nhất, các nghĩa vụ nợ phải trả hoặc các khoản lãi vay đối với nước ngoài của các chủ nợ là ngân hàng hoặc các chủ sở hữu trái phiếu vượt quá hơn 5% số nợ còn lại; thứ hai, các quốc gia xin giãn nợ hoặc kéo dài thời gian trả nợ đối với chủ nợ được niêm yết trên danh sách của Trung tâm phát triển tài chính toàn 4 Xem thêm ở phần phụ lục 1. 5 Enrica Detragiache và Antonio Spilimbergo, “Crises and liquidity: Evidence and interpretation”, IMF working paper, năm 2001. 3 cầu thuộc Ngân hàng thế giới (World Bank’s Global Development Finance).  Theo quan điểm của Knedlik và Schweinitz (2011)6, các ông gọi = − là hiệu giữa lợi xuất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 10 năm tại thời điển t của quốc gia k nào đó với lợi xuất trái phiếu Chính phủ loại AAA của các quốc gia thuộc khu vực đồng tiền chung Châu Âu. Gọi bình và phương sai của chuỗi các giá trị rơi vào Khủng hoảng nợ nếu ≥ + 1.6. và lần lượt là trung , khi đó một quốc gia được coi là .  Theo quan điểm của Manasse và Roubini (2008)7, các ông cho rằng một quốc gia được coi như lâm vào Khủng hoảng nợ nếu xảy ra một trong hai điều kiện: quốc gia đó bị xếp loại vỡ nợ (default) bởi Standard and Poor’s; hoặc nhận một khoản vay lớn không ưu đãi từ IMF (“khoản vay lớn” ở đây có nghĩa là vượt quá 100% hạn ngạch của IMF).  Theo quan điểm của Pescatori và Sy (2003)8, các ông cũng định nghĩa một quốc gia là lâm vào Khủng hoảng nợ nếu nhất là 94.7 9 vượt quá điểm phân vị 95% ít trong phân phối thực nghiệm của . Như vậy vấn đề đặt ra là chúng ta nên lựa chọn định nghĩa nào thì hợp lý nhất? Trên thực tế, việc lựa chọn định nghĩa ảnh hưởng rất lớn đến thời điểm xảy ra của Khủng hoảng nợ. Chẳng hạn khi đối chiếu ba định nghĩa của Knedik và Schweinitz (2011), Pescatori và Sy (2004) và Manansse và Roubini (2008) lên các nước châu Âu, chúng ta sẽ thấy sự khác nhau đáng kể trong thời điểm xảy ra Khủng hoảng nợ giữa các định nghĩa: 6 Tobias Knedlik và Gregor von Schweinitz, “Macroeconomic imbalances as indicators for debt crises in Europe”, Viện nghiên cứu kinh tế Halle, năm 2011. 7 Paolo Manasse và Nouriel Roubini, “Rule of thumbs for sovereign debt crises”, Journal of International Economics, năm 2009. 8 Andrea Pescatori và Amadou Sy, “Debt crisises and the development of international capital markets, International Monetary Fund, năm 2004. 9 Bps là viết tắt của basic points, một đơn vị đo của . 4 Bảng 2: Ảnh hưởng của định nghĩa lên thời điểm xảy ra Khủng hoảng10 Knedlik và Schweinitz Pescatori và Sy Manasse và Roubini Hy Lạp Ireland Bồ Đào Nha Tây Ban Nha Italia 01/01/2010 01/06/2010 01/07/2010 01/06/2010 (chưa xảy ra) 01/11/2008 01/02/2009 01/05/2010 01/06/2010 01/06/2010 01/05/2010 01/12/2010 01/05/2011 (chưa xảy ra) (chưa xảy ra) Do công trình của chúng tôi sử dụng dữ liệu Khủng hoảng nợ từ các công trình của Reinhart và Goroff nên để đảm bảo tính nhất quá của số liệu, chúng tôi sẽ sử dụng định nghĩa của Reinhart và Goroff làm định nghĩa Khủng hoảng nợ xuyên suốt bài nghiên cứu lần này. Theo Reinhart và Goroff11, sự kiện Khủng hoảng nợ sẽ bao gồm 2 sự kiện đó là vỡ nợ nước ngoài và vỡ nợ trong nước. Vỡ nợ nước ngoài được định nghĩa là khi Chính phủ thất bại trong việc trả nợ lãi hoặc nợ gốc đúng hạn với các chủ nợ nước ngoài. Và nó còn bao gồm cả việc tái cơ cấu nợ nhưng với các điều khoản ít thuận lợi hơn so với các điều khoản ban đầu. Vỡ nợ trong nước liên quan đến sự kiện đóng băng các khoản tiền gửi ngân hàng và/hoặc bắt buộc các khoản tiền gửi đó phải chuyển đổi từ đồng dollar sang đồng bản tệ12. 1.1.2 Nguyên nhân Nhìn chung, khi quan sát lịch sử và diễn biến của nhiều cuộc Khủng hoảng nợ trên thế giới13, chúng ta có thể đúc kết được một số nguyên nhân cơ bản sau. Chính sách tỉ giá cố định cứng nhắc Nhiều quốc gia lâm vào Khủng hoảng nợ đều có chung một lịch sử đó là: duy trì tỉ giá hối đoái cố định một cách cứng nhắc theo USD trong một thời gian dài. Chính sách này tạo ra hai rủi ro: Thứ nhất, khi đồng USD tăng giá, đồng bản tệ được định giá theo USD cũng sẽ tăng giá theo. Điều này dẫn đến xuất khẩu trì trệ và 10 Knedlik và Schweinitz (2011). 11 Carmen Reinhart và Kenneth Goroff, “This time is different: Eight centuries of financial folly”, Princeton University Press, năm 2010. 12 Trường hợp gần đây nhất đó là sự kiện Khủng hoảng nợ của đảo Síp xảy ra vào tháng 3 năm 2013 vừa rồi, khi Chính phủ Síp ra lệnh đóng băng tiền gửi ở các ngân hàng lớn trong nước nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ trước mắt của quốc gia. 13 Xem thêm phần phụ lục 2. 5 kích thích nhập khẩu, làm giảm nguồn thu cho quốc gia. Thứ hai, khi nhà đầu tư kỳ vọng rằng chính phủ sẽ phải từ bỏ chính sách tỉ giá cố định trong tương lai, giới đầu cơ sẽ bắt đầu tấn công đồng nội tệ. Chính phủ sẽ phải tăng lãi suất hoặc bán ra dự trữ ngoại hối để bảo vệ tỉ giá. Thông thường chính phủ sẽ không chọn phương án tăng lãi suất vì điều này sẽ kìm hãm tăng trưởng kinh tế và gia tăng thất nghiệp, mà chọn phương án đơn giản hơn đó là bán ra ngoại tệ. Tuy nhiên việc bán ra ngoại tệ sẽ làm dữ trự ngoại hối dần cạn kiệt, buộc chính phủ phải đi vay nợ để bảo vệ tỉ giá đến cùng. Với quy mô to lớn của các cuộc tấn công tiền tệ trong lịch sử, chính phủ cuối cùng cũng lựa chọn việc từ bỏ chính sách tỉ giá cố định để giảm thiệt hại cho nền kinh tế. Khi đó, quốc gia sẽ nhanh chóng rơi vào Khủng hoảng nợ do đã vay nợ để bù đắp lượng ngoại tệ thiếu hụt, trong khi nguồn thu lớn từ xuất khẩu giảm sút do một thời gian dài định giá cao đồng bản tệ. Tác động của cú sốc kinh tế-tài chính trên thế giới Khi một quốc gia mở cửa và hội nhập một cách sâu rộng với các nền kinh tế trên thế giới, thì chỉ cần có những bất ổn về kinh tế-tài chính xảy ra với các nền kinh tế khác, quốc gia đó cũng sẽ bị ảnh hưởng không nhỏ. Điều này lý giải tại sao các cú sốc kinh tế-tài chính từ bên ngoài có thể kéo theo nó là những cuộc Khủng hoảng nợ trong nước. Thực tiễn đã chứng minh rất nhiều ví dụ như vậy, chẳng hạn cuộc Đại khủng hoảng 1929-1933, bắt đầu từ Hoa Kỳ, đã nhanh chóng lan ra trên toàn cầu. Hậu quả của nó là gần 50% các quốc gia trên thế giới bị lâm vào tình trạng vỡ nợ hoặc phải tái cơ cấu nợ với các chủ nợ nước ngoài trong suốt những năm 1934-1939 tiếp sau14. Hay sự tăng giá dầu lửa trong những năm 1979-1981 và sự tăng lãi xuất cho vay trên thế giới trong những năm 1979-1983 cũng đã trực tiếp tạo ra cuộc Khủng hoảng nợ ở các quốc gia Mỹ Latin 1982. Gần đây nhất là cuộc Khủng hoảng nợ dưới chuẩn ở Mỹ năm 2008, đã tác động không nhỏ đến nền kinh tế châu Âu và góp phần tạo ra cuộc Khủng hoảng nợ công châu Âu năm 2010 kéo dài cho đến hiện nay. Cơ chế chung của các cuộc Khủng hoảng nợ như thế này đều 14 Reinhart và Rogoff (2010). 6
- Xem thêm -