Tài liệu Xây dựng ebook thực hành hóa học hữu cơ sử dụng cho sinh viên khoa hóa học trường đhsp hà nội 2

  • Số trang: 60 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 147 |
  • Lượt tải: 0
okyeuniterd

Tham gia: 20/08/2016

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA: HÓA HỌC ********* LÊ ĐÌNH TUẤN XÂY DỰNG EBOOK THỰC HÀNH HÓA HỌC HỮU CƠ SỬ DỤNG CHO SINH VIÊN KHOA HÓA TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Hóa Hữu cơ HÀ NỘI - 2013 TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA: HÓA HỌC ********* LÊ ĐÌNH TUẤN XÂY DỰNG EBOOK THỰC HÀNH HÓA HỌC HỮU CƠ SỬ DỤNG CHO SINH VIÊN KHOA HÓA TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Hóa Hữu cơ Người hướng dẫn khoa học THS. CHU ANH VÂN HÀ NỘI - 2013 Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp LỜI CẢM ƠN Với lòng biết ơn chân thành, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới ThS. Chu Anh Vân – Khoa Hóa học, Trường ĐHSP Hà Nội 2, người đã tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khóa luận. Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, các bạn sinh viên lớp K35A khoa Hóa học đã giúp đỡ tôi trong quá trình làm đề tài tốt nghiệp. Tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn tới gia đình, người thân đã tạo mọi điều kiện vật chất và tinh thần để tôi hoàn thiện được đề tài của mình. Tôi xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, ngày 19/05/2013 Sinh viên Lê Đình Tuấn Lê Đình Tuấn K35A – SP Hóa Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp MỤC LỤC MỞ ĐẦU ........................................................ Error! Bookmark not defined. 1. Lý do chọn đề tài ...................................... Error! Bookmark not defined. 2. Mục đích nghiên cứu................................ Error! Bookmark not defined. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................... Error! Bookmark not defined. 4. Giả thuyết khoa học ................................. Error! Bookmark not defined. CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN ......................... Error! Bookmark not defined. 1.1. Đào tạo theo hệ thống tín chỉ ................ Error! Bookmark not defined. 1.1.1. Tìm hiểu chung về hình thức đào tạo tín chỉ ....................................Error! Bookmark not defined. 1.1.2. Đào tạo tín chỉ tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.....................Error! Bookmark not defined. 1.2. Vai trò của thực hành trong Hóa học ... Error! Bookmark not defined. 1.3. Ebook điện tử ........................................ Error! Bookmark not defined. CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM ................... Error! Bookmark not defined. 2.1. Quy trình vẽ hình mô phỏng thí nghiệm sử dụng phần mềm Chemwindow ................................................ Error! Bookmark not defined. 2.2. Cách bố trí hình ảnh và nội dung thí nghiệmError! Bookmark not defined. 2.3. Xây dựng ebook điện tử ........................ Error! Bookmark not defined. CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN Error! Bookmark not defined. 3.1. Định hướng xây dựng nội dung thí nghiệm thực hànhError! Bookmark not defin 3.2. Phương thức xây dựng nội dung ........... Error! Bookmark not defined. 3.2.1. Cấu trúc ebook ................................................................................Error! Bookmark not defined. 3.2.2. Các tiêu chí xây dựng nội dung.......................................................Error! Bookmark not defined. Lê Đình Tuấn K35A – SP Hóa Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp 3.2.3. Cách xây dựng hình vẽ mô phỏng thí nghiệm.................................Error! Bookmark not defined. 3.3. Ebook thực hành Hóa học Hữu cơ ........ Error! Bookmark not defined. 3.3.1. Cách thức trình bày ebook..............................................................Error! Bookmark not defined. 3.3.2. Quá trình xây dựng file điện tử cho ebook......................................Error! Bookmark not defined. 3.3.3. Xuất file “.PRC”.............................................................................Error! Bookmark not defined. 3.3.4. Những tiện ích khi sử dụng ebook...................................................Error! Bookmark not defined. KẾT LUẬN .................................................... Error! Bookmark not defined. TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................ Error! Bookmark not defined. Lê Đình Tuấn K35A – SP Hóa Trường ĐHSP Hà Nội 2 Lê Đình Tuấn Khóa luận tốt nghiệp K35A – SP Hóa Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Đại hội Đảng lần thứ XI, trên cơ sở kế thừa những tư tưởng chỉ đạo chiến lược của các kỳ đại hội trước đã đưa ra yêu cầu: Phải đổi mới và phát triển toàn diện, mạnh mẽ giáo dục và đào tạo [13]. Mặt khác, theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới đánh giá, một trong ba "vùng lõm" của Việt Nam chính là đào tạo và giáo dục Đại học [14]. Do đó, giáo dục Việt Nam, nhất là giáo dục Đại học phải thực hiện đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp... nhằm nâng cao chất lượng dạy và học. Xuất phát từ mục tiêu giáo dục và đào tạo của trường ĐHSP Hà Nội 2 là đào tạo ra những nhà giáo có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao cho xã hội; đặc biệt với việc chuyển đổi đào tạo từ hệ thống niên chế sang hệ thống tín chỉ thì việc thay đổi phương pháp, phương tiện dạy học càng trở nên cần thiết và cấp bách hơn. Hóa học là bộ môn khoa học thực nghiệm, do đó trong nội dung học tập không thể thiếu được nội dung thực hành. Tuy nhiên, số lượng đầu sách thực hành dùng cho sinh viên khoa Hóa trong nhà trường còn ít, hầu hết đều được xuất bản từ thập niên 90 của thế kỉ trước. Vì vậy, trong các tài liệu còn có một số điểm không phù hợp cũng như khả năng tương tác với sinh viên không cao, ít gây được hứng thú học tập, khiến cho quá trình học tập gặp nhiều hạn chế, đặc biệt với những sinh viên theo học chế tín chỉ bởi quá trình tự học là chủ yếu. Công nghệ thông tin (CNTT) ngày nay đang được ứng dụng rộng rãi và thiết thực trong các hoạt động của đời sống như: sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu khoa học.... Đặc biệt, với sự phát triển rộng khắp và mạnh mẽ của hệ thống internet, việc ứng dụng CNTT vào dạy và học Hóa học là một vấn đề cần thiết, mang lại hiệu quả cao. Lê Đình Tuấn 1 K35A – SP Hóa Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp Một cuốn sách điện tử với những ưu thế vượt trội của nó sẽ góp phần giải quyết những vấn đề trên: vừa đổi mới phương pháp học tập, vừa ứng dụng CNTT, vừa thay thế được những cuốn sách in đã cũ, lại có sự tương tác đa chiều với người học... Xuất phát từ những lý do đó, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Xây dựng ebook thực hành hóa học Hữu cơ sử dụng cho sinh viên khoa Hóa trường ĐHSP Hà Nội 2”. 2. Mục đích nghiên cứu Xây dựng nội dung thực hành hóa Hữu cơ phù hợp với mô hình đào tạo theo tín chỉ của trường ĐHSP Hà Nội 2 theo hướng đổi mới, chuẩn hóa, cập nhật về kiến thức và kỹ năng. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu Xây dựng nội dung các bài thực hành. Xây dựng hình ảnh minh họa thao tác thí nghiệm. Xây dựng một số lưu ý nội dung kiến thức khó. Xây dựng một số lưu ý về cách pha chế, chuẩn bị dung dịch chuẩn. 4. Giả thuyết khoa học Nếu thiết kế được ebook có chất lượng, biết cách khai thác và sử dụng chúng một cách hiệu quả sẽ có tác dụng nâng cao chất lượng học tập, giúp người học nắm vững kiến thức, phát triển hứng thú, óc sáng tạo, phát huy tính tích cực, tự giác trong quá trình học. Lê Đình Tuấn 2 K35A – SP Hóa Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN 1.1. Đào tạo theo hệ thống tín chỉ 1.1.1. Tìm hiểu chung về hình thức đào tạo tín chỉ [3, 15] Thế kỷ 21 được đánh dấu bằng các thành tựu trong nhiều lĩnh vực, trong đó các thành tựu trong lĩnh vực giáo dục Đại học đóng vai trò rất lớn trong sự nghiệp phát triển của loài người. Cùng với sự bùng nổ của CNTT, con người trong thế kỷ mới không ngừng có nhu cầu trao đổi kinh nghiệm của mình nhằm đóng góp vào quá trình phát triển của thế giới. Thế giới hiện đại luôn công nhận tầm quan trọng của giáo dục Đại học, nơi người học tiếp thu kiến thức và kỹ năng thông qua các chương trình học được sắp xếp có hệ thống. Thế giới đang trong tiến trình tìm tiếng nói chung ở các chương trình học, nơi người học có thể chuyển đổi từ hệ thống giáo dục này sang hệ thống giáo dục khác mà không gặp nhiều khó khăn. Chính vì vậy, các nhà giáo dục, khoa học, chuyên môn và quản lý nhà nước lẫn giáo dục Đại học đang cố gắng lập ra một không gian giáo dục thống nhất để người học có thể tiếp thu càng nhiều kiến thức càng tốt. Với mục đích đó, một hệ thống được gọi là “hệ thống chuyển đổi tín chỉ” được xây dựng và phát triển ở nhiều nước trên thế giới. Tín chỉ là một quan niệm dựa trên sự tín nhiệm vào khả năng cũng như năng lực của đối tác. Trong hệ thống giáo dục, tín chỉ mang ý nghĩa là sau một khóa học, người học sẽ có đủ khả năng, năng lực và trình độ đáng để chúng ta tin cậy. Như vậy, có thể nói tín chỉ là sự chứng nhận khả năng, năng lực nào đó của học viên sau một khóa học, được sử dụng để đo lường khối lượng công việc của một người học theo các hoạt động học tập đã được lên kế hoạch như lên lớp nghe giảng, tham dự seminar hoặc tự học... và hệ thống chuyển đổi tín chỉ là một hệ thống được sử dụng cho tất cả các môn học của một chương trình giáo dục đào tạo, giúp học viên có khả năng và năng lực Lê Đình Tuấn 3 K35A – SP Hóa Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp mưu sinh sau khi tốt nghiệp. Có hai hệ thống tín chỉ tương đối được sử dụng rộng rãi hiện nay. Đó là Hệ thống Tín chỉ của Hoa Kỳ được thực hiện từ những năm đầu tiên của thế kỷ 20 và Hệ thống Chuyển đổi Tín chỉ của Châu Âu được xây dựng từ những năm giữa của thập kỷ 80 và được Hội đồng Châu Âu công nhận như là một hệ thống thống nhất dùng để đánh giá kiến thức của người học trong khuôn khổ các nước thành viên EU từ năm 1997. Hệ thống chuyển đổi tín chỉ tạo cho giáo dục Đại học và người học nhiều tiện ích: - Giúp người học hình dung và định lượng ra tất cả các yêu cầu đối với bản thân trong từng giai đoạn cũng như trong suốt quá trình học tập của mình trong nhà trường. - Tạo điều kiện cho người học chủ động lên kế hoạch và thực hiện việc học tập dựa vào năng lực và điều kiện của mình, làm chủ thời gian và công việc. - Tăng cường tính mềm dẻo và linh hoạt của chương trình, giúp người học không bị mất đi những mảng kiến thức và kỹ năng đã tích lũy nếu như việc học của họ bị gián đoạn. - Giúp người học có thể chuyển đổi từ khoá học này sang khoá học khác trong cùng một hệ thống hay khác hệ thống. Tùy theo mỗi trường Đại học, mỗi chuyên ngành..., hệ thống giáo dục tín chỉ không nhất thiết phải tuân theo một khuôn mẫu nào. Như chúng ta thường thấy, những Đại học danh tiếng thường không đòi hỏi nhiều tín chỉ như các Đại học xếp hạng trung bình, và thi cử cũng tương đối ít hơn. Tại các Đại học như Oxford, Cambridge, Harvard, MIT, Caltech, Stanford... người học không phải thi nhiều như các Đại học hạng trung tại Mỹ và tại châu Á. Trong tiến trình hoà nhập với các nước trong khu vực và thế giới, các trường Đại học Việt Nam trong những năm của thập kỷ 90 vừa qua đã tiến tới Lê Đình Tuấn 4 K35A – SP Hóa Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp việc tham khảo kinh nghiệm và áp dụng hệ thống tín chỉ vào chương trình đào tạo của mình. Có thể kể ra các trường đi đầu trong việc áp dụng này là các trường thuộc khối kỹ thuật như trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh, trường Đại học Bách khoa Hà Nội... Nhìn chung, các trường được phép áp dụng thử nghiệm học chế tín chỉ từ năm 1993 - toàn bộ chương trình đào tạo đã được chuyển sang hệ tín chỉ. Mô hình nhóm ngành - ngành rộng được áp dụng. Đối với hệ đào tạo chính quy tại trường áp dụng loại hình tập trung, đào tạo theo học chế tín chỉ. Các học phần tự chọn sẽ được giới thiệu chi tiết, cụ thể trong chương trình đào tạo theo từng ngành học và từng học kỳ, người học sẽ dựa vào quy chế mà có thể đăng ký học những học phần hoàn toàn theo khả năng và sở thích của mình. Theo hệ thống này, người học không phải trải qua kỳ thi tốt nghiệp hay phải bảo vệ luận văn tốt nghiệp như trước đây mà người học có thể lựa chọn là hoàn thành thêm một số (thường là 10) tín chỉ ngoài các học phần như đã công bố trong chương trình đào tạo của từng ngành học. Hiện nay, các hoạt động về tổ chức đào tạo phục vụ cho học chế tín chỉ của nhà trường như đăng ký môn học, thời khoá biểu của người học, kết quả điểm tích lũy của từng môn học theo số tín chỉ v.v..., từng bước đi vào thế ổn định và mang tính bền vững. Nhiều trường đã thực hiện chế độ tích luỹ kết quả học tập theo học phần thống nhất cho các loại hình đào tạo Đại học chính quy, Đại học văn bằng 2, Đại học tại chức... Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, khi hệ thống chuyển đổi tín chỉ đã được phổ biến rộng rãi ở các nước, nhiều trường Đại học Việt Nam vẫn trong tình trạng “đóng cửa” và loay hoay với những mô hình đã thể hiện nhiều bất cập của mình. Những áp dụng còn tính chất “nửa vời” hiện nay cho thấy sự yếu kém của một cơ chế “bao cấp” còn sót lại và sự chưa triệt để của quyết tâm đổi mới giáo dục Đại học của chúng ta. Lê Đình Tuấn 5 K35A – SP Hóa Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp 1.1.2. Đào tạo tín chỉ tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 [16] Hội nhập với nền giáo dục thế giới nói chung, nước ta nói riêng, năm 2010, trường ĐHSP Hà Nội 2 đã chuyển từ mô hình đào tạo theo hệ thống niên chế sang hệ thống tín chỉ, bắt đầu áp dụng với người học khóa 36. Trường ĐHSP Hà Nội 2 tổ chức đào tạo theo khoá học, năm học và học kỳ. Khóa học là thời gian thiết kế để sinh viên hoàn thành một chương trình đào tạo cho một ngành cụ thể. Thời gian thiết kế cho một khóa đào tạo Đại học trong trường ĐHSP Hà Nội 2 là 4 năm đối với đối tượng học sinh có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc trung cấp; là 3 năm đối với đối tượng có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng ngành đào tạo; là 2 năm đối với đối tượng có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng ngành đào tạo. Một năm học có hai học kỳ chính và có thể có một học kỳ phụ. - Học kỳ chính có 15 tuần thực học và 3 tuần thi. - Học kỳ phụ có 5 tuần thực học và 1 tuần thi, được tổ chức cho sinh viên học lại, học vượt hoặc học thêm các học phần ngoài chương trình đào tạo. Sinh viên đăng kí tham gia học kỳ phụ trên cơ sở tự nguyện, không bắt buộc. Việc tổ chức học kỳ phụ được căn cứ vào tình hình cụ thể từng năm học. -Ngoài ra, còn một số tuần dành cho các hoạt động khác như học Giáo dục Quốc phòng – An ninh, kiến tập, thực tập, nghỉ hè, nghỉ Tết. Tùy theo năng lực và điều kiện cụ thể mà sinh viên tự sắp xếp để rút ngắn hoặc kéo dài thời gian học tập như sau: - Thời gian rút ngắn tối đa là 2 học kỳ chính. - Thời gian kéo dài tối đa là 4 học kỳ chính. Thời gian tối đa sinh viên được phép học tập tại trường bao gồm cả thời gian dành cho học ngành phụ, học lấy bằng thứ hai (khi chưa làm thủ tục ra trường), các học kỳ được phép nghỉ học tạm thời vì nhu cầu cá nhân và các Lê Đình Tuấn 6 K35A – SP Hóa Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp học kỳ học ở trường khác trước khi chuyển về trường ĐHSP Hà Nội 2 (nếu có). Tại trường ĐHSP Hà Nội 2, một tín chỉ được quy định bằng: 15 tiết học lý thuyết; 30 - 45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 45 - 90 giờ thực tập tại cơ sở; 45 - 60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc khóa luận tốt nghiệp. Đối với các học phần lý thuyết, hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu khối lượng kiến thức của 01 tín chỉ, sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân. Cuối mỗi học kỳ, nhà trường tổ chức một kỳ thi chính và có thể tổ chức thêm một kỳ thi phụ (thi lại) để thi kết thúc học phần. Kỳ thi phụ dành cho những sinh viên không tham dự kỳ thi chính hoặc có học phần bị điểm F ở kỳ thi chính và được tổ chức sớm nhất là hai tuần sau kỳ thi chính. Thời gian dành cho ôn thi kết thúc học phần tỉ lệ với số tín chỉ của học phần đó, ít nhất là 2/3 ngày cho 01 tín chỉ. Ngoài ra, người học có thể thi nâng điểm vào học kỳ chính. Học tập kinh nghiệm của những trường Đại học đi trước, qua 3 năm đào tạo theo hệ thống chuyển đổi tín chỉ, trường ĐHSP Hà Nội 2 đã đạt được một số thành tựu như thuận lợi cho người học vì người học hoàn toàn chủ động lựa chọn loại hình học tập cũng như việc thực hiện kế hoạch học tập trong quá trình đào tạo của mình, giải quyết được khủng hoảng về đội ngũ giảng viên, tiết kiệm về cơ sở vật chất và nâng cao tính chuẩn mực trong chương trình đào tạo cho các hệ đào tạo của nhà trường... Tuy nhiên, việc chuyển đổi cơ chế từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ đòi hỏi có sự tìm hiểu thấu đáo và cần có thời gian tiếp cận và hoàn thiện dần, thậm chí hàng chục năm, do đó, giống như các ngôi trường Đại học khác của Việt Nam, việc thay đổi hệ thống giáo dục cũ đã ăn sâu vào gốc rễ bằng một hệ thống mới: hệ thống chuyển đổi tín chỉ, Lê Đình Tuấn 7 K35A – SP Hóa Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp chắc chắn sẽ tồn tại những hạn chế nhất định như các mô hình liên kết đào tạo với các trường trong nước và quốc tế đến nay vẫn chưa có hoặc chưa phát triển mạnh, đội ngũ cố vấn học tập còn chưa chuyên nghiệp, chưa phát huy hết vai trò cố vấn cho người học, nhiều người học còn chưa nắm rõ được các qui định, qui chế về việc học theo hệ thống tín chỉ... 1.2. Vai trò của thực hành trong Hóa học [4] Trong lịch sử hình thành và phát triển khoa học Hóa học, thực nghiệm Hóa học giữ một vai trò hết sức quan trọng và không thể thiếu. Toàn bộ các thuyết Hóa học đều được xây dựng trên nền tảng vững chắc của thực nghiệm. Do đó, để người học có thể nắm bắt được các tri thức của bộ môn Hóa học thì việc tiến hành các thí nghiệm là hết sức cần thiết. Các thí nghiệm Hóa học sẽ tạo cơ hội cho sinh viên bổ sung kiến thức, nắm vững các khái niệm, định luật … về lý thuyết và rèn luyện kỹ năng làm thực nghiệm, nghiên cứu khoa học, làm sáng tỏ những gì học tại lớp và học qua sách vở. Sự hình thành những câu hỏi, kiểm chứng giả thuyết, thu thập dữ liệu và phân tích số liệu để giải quyết vấn đề trong lý luận và thực tiễn về Hóa học chỉ có thể thực hiện trong phòng thí nghiệm. Thí nghiệm thực hành là hình thức thí nghiệm do người học tự làm khi hoàn thiện kiến thức nhằm minh họa, ôn tập, củng cố, vận dụng kiến thức đã học và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo. Đây là dạng thí nghiệm mà người học tập triển khai nghiên cứu các quá trình Hóa học như: nghiên cứu tính chất các chất, điều chế các chất, nhận biết các chất, giải bài tập thực nghiệm. Đây là phương pháp học tập đặc thù của Hóa học có tác dụng giáo dục, rèn luyện người học một cách toàn diện và có ý nghĩa to lớn trong việc thực hiện nhiệm vụ trí dục, đức dục, phát triển người học vì các lý do sau: + Bài thực hành giúp người học nắm vững kiến thức và thiết lập được lòng tin vào khoa học, hình thành và nâng cao hứng thú học tập bộ môn. Lê Đình Tuấn 8 K35A – SP Hóa Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp Trong giờ thực hành Hóa học, người học có điều kiện để tự mình thực hiện các thí nghiệm và quan sát đầy đủ các hiện tượng xảy ra trong thí nghiệm nên người học sẽ cảm nhận được vai trò của mình như một người nghiên cứu, có niềm vui của sự thành công và nỗi trăn trở của những lần thất bại. Từ các hiện tượng quan sát được, trong người học nảy sinh các câu hỏi tại sao và nhu cầu giải thích để tìm ra các mối liên hệ giữa các hiện tượng đó với bản chất các quá trình hóa học trong thí nghiệm, giữa nguyên nhân và kết quả. Sự hướng dẫn của người dạy, những ý kiến thảo luận với bạn bè sẽ giúp các em giải quyết được các mâu thuẫn nhận thức nảy sinh trong quá trình tiến hành thí nghiệm, nắm vững kiến thức và cả phương pháp vận dụng chúng trong việc giải quyết vấn đề đồng thời còn có được niềm vui của người nghiên cứu. + Trong quá trình thí nghiệm, người học phải phải phát huy tối đa các hoạt động của mọi giác quan và hoạt động tư duy. Trong giờ thực hành, người học phải thực hiện các thao tác thí nghiệm, quan sát, mô tả đầy đủ các hiện tượng Hóa học đã xảy ra trong quá trình thí nghiệm đồng thời đòi hỏi người học phải có hoạt động tư duy ở mức cao độ để hiểu được ý nghĩa các thao tác trong thí nghiệm, dự đoán các hiện tượng sẽ xảy ra theo lý thuyết, đối chiếu kết quả thu được với điều dự đoán, vận dụng kiến thức để giải thích các hiện tượng thí nghiệm và rút ra những nhận xét về kiến thức, kỹ năng tiến hành thí nghiệm. Cũng từ các hoạt động thực hành thí nghiệm mà các ý tưởng mới, sáng tạo của người học về cách tiến hành thí nghiệm, sự cải tiến dụng cụ thí nghiệm được nảy sinh và kiểm nghiệm. Như vậy, thông qua các bài thực hành, các hoạt động thực hành mà hoạt động của các giác quan, hoạt động tư duy sáng tạo của người học được phát triển tốt hơn. + Thí nghiệm thực hành là phương pháp học tập có ưu thế nhất trong việc rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo Hóa học cho người học, nhất là các kỹ Lê Đình Tuấn 9 K35A – SP Hóa Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp năng, thao tác sử dụng hóa chất, dụng cụ thí nghiệm, kĩ năng quan sát, mô tả hiện tượng thí nghiệm và kĩ năng vận dụng kiến thức Hóa học. + Thông qua bài thực hành Hóa học mà người dạy hình thành ở người học phương pháp nghiên cứu Hóa học như phát hiện, đề xuất vấn đề nghiên cứu, dự đoán lý thuyết, lựa chọn dụng cụ hóa chất và xây dựng phương án tiến hành thí nghiệm, quan sát trạng thái màu sắc các chất, tiến hành các thao tác thí nghiệm và quan sát, mô tả hiện tượng thí nghiệm, đối chiếu với dự đoán, giải thích hiện tượng, nhận xét và rút ra kết luận. Các phương pháp này được hình thành dần dần qua các bài thực hành cụ thể. + Thông qua các bài thực hành mà rèn luyện cho người học những đức tính của người nghiên cứu khoa học như phong cách làm việc nghiêm túc, bố trí chỗ làm việc ngăn nắp, gọn gàng và khoa học, cẩn thận và thành thạo trong thao tác, khách quan trong mô tả hiện tượng thí nghiệm, các kết luận đưa ra phải dựa trên những cơ sở lý thuyết chặt chẽ... Như vậy các bài thực hành có vai trò vô cùng quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo, nhằm hình thành và phát triển năng lực hành động, năng lực nghiên cứu khoa học, phát triển tư duy tích cực sáng tạo cho học sinh. 1.3. Ebook điện tử Thế giới đang biến động mạnh mẽ và sâu sắc do tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, trong đó phải kể đến tốc độ phát triển chóng mặt của công nghệ thông tin. Nhu cầu to lớn của con người ngày nay không gì khác, đó chính là thông tin. Thông tin ngày càng trở nên quan trọng tới mức có câu nói rằng "Người nào nắm được thông tin, Người đó sẽ chiến thắng". Và ebook là một phương tiện hữu hiệu để góp phần truyền tải những thông tin đó đến với mọi người. Ebook là từ viết tắt của electronic book, có Lê Đình Tuấn 10 K35A – SP Hóa Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp nghĩa là sách điện tử. Đây là một sự kết hợp hoàn hảo giữa tri thức và công nghệ. Ebook đầu tiên được coi như ra đời vào khoảng những năm 1940 - gần như cùng thời với những chiếc máy tính đầu tiên [17]. Khi có máy tính, tận dụng việc hiển thị được văn bản trên thiết bị này, người ta đã đưa nhiều loại văn bản vào bộ nhớ máy tính. Dữ liệu được chứa trong các ổ cứng, ổ mềm, đĩa quang nhỏ gọn. Nhờ đó, cả núi sách nặng nề có thể chứa gọn trong một chiếc đĩa nhỏ, nhẹ. Tiếp theo đó, sự phát triển và bùng nổ của mạng Internet, kết hợp với các thiết bị kỹ thuật cao cấp đã tiếp sức cho văn bản điện tử: hầu hết các sách in giấy thông thường đều có thể được làm thành sách điện tử. Chính vì vậy mà ngày nay, không quá khó khăn để bạn có thể tìm một tác phẩm nổi tiếng để đọc trực tiếp trên mạng hay tải về máy tính để đọc theo dạng ebook. Mặt khác, nội dung các cuốn sách không nhất thiết phải lưu trên ổ đĩa nữa. Chúng có thể được đưa lên mạng Internet để mọi người có thể đọc mọi lúc, mọi nơi. Ngay cả các định dạng văn bản phổ biến cũng góp phần vào sự phát triển của ebook. Đơn cử như Microsoft Word: với định dạng văn bản .doc, người ta có thể chuyển tải nội dung từ một cuốn sách, kèm theo hình ảnh và liên kết vào Internet. Tuy nhiên, tính năng có thể chỉnh sửa được nội dung văn bản của Word khiến định dạng này không phải là một chỗ trú hoàn hảo cho ebook. Hãng Adobe năm 1993 đã cho ra đời định dạng văn bản PDF. Đây là một định dạng cũng giúp hiển thị văn bản, hình ảnh, liên kết hay các nội dung cần thiết khác trên một giao diện cố định theo ý đồ của người tạo văn bản. Khác với Word, chính giao diện cố định của một văn bản PDF giúp nó hiển thị nội dung đồng nhất trên mọi môi trường máy tính, hệ điều hành hay ứng dụng đọc định dạng này, không có sự xô lệch về font chữ, cách sắp Lê Đình Tuấn 11 K35A – SP Hóa Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp xếp bảng biểu, hình ảnh. Chính ưu điểm này khiến PDF trở nên thông dụng hơn và được sử dụng vào các mục đích như tạo catalogue, brochure điện tử và sau này là ebook. Ebook có thể bao gồm các văn bản, hình ảnh minh hoạ, hay có thể chèn âm thanh và video. Hơn thế nữa ebook còn chứa cả đường "liên kết nóng" (hot link) giúp cho khách hàng có thể ngay lập tức tới được các website liên quan tới thông tin mà họ đang xem. Do vậy, ebook có thể là một cuốn tiểu thuyết với nhiều tranh ảnh minh hoạ, là một cuốn sách chuyên ngành với đầy đủ thuật ngữ chuyên môn hay là một CD-ROM đa năng có đầy đủ âm thanh, hình ảnh và video clips... Ebook là một đĩa CD Ebook có hình ảnh, âm thanh, video Ebook là một cuốn tiểu thuyết Ebook là một cuốn sách chuyên ngành Ebook có nhiều tính năng, công dụng cũng như lợi ích độc đáo. Với một cuốn sách điện tử, chúng ta có thể tinh chỉnh về cỡ chữ, màu sắc, phông nền và các thao tác cá nhân hoá tuỳ theo sở thích của mình như: chú thích, đánh dấu đoạn văn, truyện ngắn mà không sợ làm bẩn nó giống như một cuốn Lê Đình Tuấn 12 K35A – SP Hóa Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp sách in thông thường bởi bạn có thể xóa những dòng chú thích đó đi bất cứ lúc nào bạn muốn. Với ebook, các bạn không cần phải lo sách bị sờn, rách, mối mọt khi để lâu không sử dụng hay sử dụng quá nhiều. Việc tra cứu thông tin thường chiếm rất nhiều thời gian của chúng ta. Với sách in thông thường, bạn sẽ tốn khá nhiều thời gian để tìm được những đầu sách có liên quan, sau đó lại bỏ ra hàng giờ đồng hồ để đọc, rồi sàng lọc, lựa chọn những đoạn thực sự quan trọng. Tuy nhiên, với chiếc máy tính cá nhân và những cuốn ebook, bạn chỉ cần gõ từ khóa cần tìm và nhấn phím enter, mọi thông tin liên quan tới vấn đề đó sẽ hiện ra, rút ngắn thời gian tìm kiếm. Hơn nữa, thay vì phải đến thư viện, bạn có thể tiến hành công việc ở ngay tại nhà của mình. Ưu điểm nổi bật của sách điện tử - ebook chính là khả năng lưu trữ của nó: chỉ cần một chiếc điện thoại di động có thể cài đặt được phần mềm đọc ebook là bạn có thể chứa hàng trăm cuốn sách trong đó để mở ra đọc bất cứ khi nào bạn muốn chứ không cồng kềnh như việc đem theo một cuốn sách in. Mỗi tập tin sách trung bình vào khoảng 300 đến 500Kb. Như vậy, với sức chứa của 1 CD-ROM, bạn có thể lưu trữ đến hơn 2.000 quyển sách, một con số quá ấn tượng. Một lợi ích khác của ebook là giúp những ai muốn quan tâm đến những chủ đề mang tính chất riêng tư như các chủ đề về tôn giáo, giới tính... thì không còn phải ngại ngùng trước những thái độ dò xét, tò mò của người bán hàng ở các quầy sách. Hơn nữa, ô nhiễm môi trường đang là một vấn đề cấp thiết, có tính chất toàn cầu, cần sự chung tay góp sức của tất cả mọi người thì những cuốn sách điện tử không sử dụng giấy và mực in, đã góp phần không nhỏ vào việc giữ gìn môi trường Lê Đình Tuấn 13 K35A – SP Hóa Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp sống của chúng ta. Do có chi phí sản xuất rất rẻ nên ebook còn giúp tiết kiệm chi phí mua sách: giá bán của một cuốn ebook chỉ bằng 50- 80% so với sách in, thường từ 5.000-10.000 đồng, đôi khi còn có một số cuốn sách điện tử được tải về miễn phí. Đặc biệt, chỉ với một số thao tác cơ bản ta có thể tạo mật khẩu cho ebook, giúp người phát hành ebook có thể bảo mật một số trang hay toàn bộ nội dung cuốn ebook. Điều này có nghĩa là người phát hành ebook có thể cho ngăn chặn được việc copy tài liệu, đồ hoạ hay thay đổi, sửa chữa nội dung ebook khi chưa được sự cho phép. Thậm chí, khi người sử dụng đã copy được ebook thì người phát hành vẫn có thể quyết định tài liệu có thể in ra được hay không. Hơn thế nữa người phát hành cũng có thể ấn định thời gian sử dụng sách, ví dụ như người đọc chỉ được sử dụng ebook trong vòng 30 ngày, quá thời gian này người đọc sẽ không đọc được nội dung của ebook... Đối với cuốn ebook đã được sự cho phép thì người đọc có thể tải về đọc và nhân thành nhiều bản một cách dễ dàng mà không mất một khoản chi phí nào. Sau đó gửi cuốn ebook đó cho bạn bè hoặc người thân dưới dạng email, đĩa mềm hay CD. Ngoài ra, với sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ thông tin, ebook được lan truyền với tốc độ chóng mặt, góp phần đưa nội dung thông tin đến với người đọc một cách nhanh chóng. Trước đây, với những cuốn sách in, sau khi xuất bản phải mất một thời gian để đến được tay độc giả, đôi khi tại một số nhà sách còn không đáp ứng đủ nhu cầu do số lượng sách nhập về có hạn nhưng giờ đây, với sự phát triển của ebook, gần như ngay lập tức, người đọc sẽ có được thứ mình muốn. Chính vì những lý do này mà ebook ngày càng phổ biến và trở thành một công cụ không thể thiếu được trong quá trình chiếm lĩnh tri thức của loài người. Giống như email (thư điện tử) ebook chỉ có thể dùng các công cụ máy tính như máy vi tính, máy trợ giúp kỹ thuật số cá nhân (palm, pocket pc…) để xem. Lê Đình Tuấn 14 K35A – SP Hóa
- Xem thêm -