Tài liệu Văn hóa tinh thần của người thái ở huyện thuận châu tỉnh sơn la

  • Số trang: 163 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 165 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

1 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐỖ MINH HẢI VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƢỜI THÁI Ở HUYỆN THUẬN CHÂU TỈNH SƠN LA LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM THÁI NGUYÊN 2011 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 2 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM ĐỖ MINH HẢI VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƢỜI THÁI Ở HUYỆN THUẬN CHÂU TỈNH SƠN LA CHUYÊN NGÀNH LỊCH SỬ VIỆT NAM MÃ SỐ: 60.22.54 Người hướng dẫn khoa học PGS – TS NGUYỄN CẢNH MINH THÁI NGUYÊN 2011 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 3 MỤC LỤC Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 4 Trang PHẦN MỞ ĐẦU 1 1. Lí do chọn đề tài 1 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3 3. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu 5 4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài 6 5. Đóng góp của luận văn 7 6. Bố cục của luận văn 7 Chương 1. KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN THUẬN CHÂU (SƠN LA) 8 1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 8 1.2. Quá trình hình thành thành huyện Thuận Châu 9 1.3. Tình hình kinh tế 11 1.4. Tình hình văn hóa - xã hội 14 1.5. Khái quát về ngƣời Thái ở huyện Thuận Châu 18 1.5.1. Nguồn gốc, tên gọi và lịch sử cƣ trú của ngƣời Thái ở Thuận Châu 18 1.5.1.1. Nguồn gốc 18 1.5.1.2. Tên gọi 19 1.5.1.3. Lịch sử cƣ trú 19 1.5.2. Vài nét về văn hóa vật chất của ngƣời Thái ở huyện Thuận Châu 20 Tiểu kết chƣơng 1 26 Chương 2. VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƢỜI THÁI Ở HUYỆN THUẬN CHÂU 28 2.1. Tín ngƣỡng, tôn giáo 28 2.1.1. Quan niệm về thế giới “Phi” 28 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 5 2.1.1.1. Phi khuôn 30 2.1.1.2. Phi Mƣờng, Phi Bản 32 2.1.1.3. Phi hƣơn 33 2.1.1.4. Phi Pá Heo 35 2.1.1.5. Phi Pá 36 2.1.2. Quan niệm về Then và tín ngƣỡng “Phi Then” 37 2.1.3. Tục thờ cúng 40 2.1.3.1. Thờ cúng trời đất, mƣờng bản 41 2.1.3.2. Thờ cúng tổ tiên 43 2.2. Phong tục, tập quán 44 2.2.1. Hôn nhân 44 2.2.1.1. Giai đoạn tìm hiểu 45 2.2.1.2. Giai đoạn cƣới xin 46 2.2.2. Gia đình 53 2.2.3. Tang ma 57 2.3. Luật tục 64 2.3.1. Luật tục Thái 64 2.3.2. Nội dung của luật tục Thái Thuận Châu 66 2.3.3. Giá trị của luật tục Thái 68 2.4. Lễ hội 69 2.4.1. Lễ tết Nguyên đán 69 2.4.2. Lễ hội “Muôn lảu nó” 71 2.4.3. Lễ hội lên nhà mới 73 2.4.4. Lễ hội ném Còn 75 2.4.5. Lễ hội cầu mƣa ("Xên Xó Phốn") 77 2.4.6. Hạn Khuống 79 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 6 2.5. Văn học 82 2.5.1. Văn học thành văn 82 2.5.2. Văn học dân gian truyền miệng 89 2.5.3. Văn học tiếp thu các tác phẩm văn học của các dân tộc khác ở Sơn La 97 2.6. Nghệ thuật 98 2.6.1. Nghệ thuật trang trí điêu khắc gỗ, đan, mây, tre, giang 98 2.6.2. Nghệ thuật trang trí họa tiết trên vải 99 2.6.3. Nghệ thuật múa hát, âm nhạc 100 2.7. Chữ viết, lịch pháp và giáo dục 103 2.7.1. Chữ viết 103 2.7.2. Lịch pháp 104 2.7.3. Giáo dục 105 2.8. Đặc điểm về đời sống văn hóa tinh thần của ngƣời Thái ở huyện Thuận Châu (Sơn La) 105 Tiểu kết chƣơng 2 108 Chương 3. NHỮNG BIẾN ĐỔI TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƢỜI THÁI Ở HUYỆN THUẬN CHÂU (SƠN LA) 109 3.1. Những biến đổi về phong tục, tập quán của ngƣời Thái ở huyện Thuận Châu (Sơn La) hiện nay 109 3.2. Những biến đổi về giáo dục, văn học, nghệ thuật của ngƣời Thái ở huyện Thuận Châu (Sơn La) hiện nay 112 3.3. Mối quan hệ giao lƣu văn hoá và ảnh hƣởng qua lại giữa văn hóa Thái ở huyện Thuận Châu với các dân tộc khác 116 3.4. Sự khác biệt về văn hóa của ngƣời Thái ở huyện Thuận Châu (Sơn La) với ngƣời Thái ở một số địa phƣơng khác Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 121 http://www.lrc-tnu.edu.vn 7 Tiểu kết chƣơng 3 124 KẾT LUẬN 125 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 8 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Văn hóa gắn liền với quá trình phát triển của mỗi dân tộc, những di sản văn hóa ở nước ta được sáng tạo, bảo vệ bởi bàn tay khối óc và cả xương máu của nhân dân các dân tộc. Bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc được hình thành và phát triển qua sự sáng tạo của chính dân tộc đó. Muốn bảo vệ dân tộc phải giữ gìn, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, nhận thức về văn hóa và vai trò của văn hóa đã được nâng lên đúng tầm của nó. Chủ trương xây dựng một nền văn hóa Việt nam “tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” của Đảng và Nhà nước nhằm bảo tồn, phát huy truyền thống văn hóa của 54 dân tộc anh em sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam là một chủ trương đúng đắn. Trong quá trình phát triển của mỗi dân tộc, do hoàn cảnh và điều kiện khác nhau dẫn đến sự phát triển văn hóa không đều nhau. Tuy nhiên dù ở mức độ nào thì các yếu tố như: lịch sử, địa lí, chế độ kinh tế - xã hội cũng không tách rời yếu tố văn hóa. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, thể hiện tầm cao và chiều sâu phát triển của mỗi dân tộc, là sự kết tinh những giá trị tốt đẹp nhất trong quan hệ giữa con người với con người, với xã hội, với thiên nhiên. Nó vừa là động lực thúc đẩy, vừa là mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Mỗi dân tộc trên đất nước ta dù ở miền xuôi hay miền ngược, đồng bằng hay miền núi, trong quá trình phát triển đều sáng tạo nên nền văn hóa có bản sắc và giá trị riêng của mình. Bản sắc đó được biểu hiện trong lĩnh vực văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 9 Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, xu thế hòa hợp dân tộc luôn gắn liền với sự giao lưu về kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc, xu thế này diễn ra liên tục, thường xuyên đã tạo điều kiện hình thành nên một nền văn hóa đa dạng, phong phú, nhiều tính cách trong một thể thống nhất. Mỗi dân tộc với bản sắc văn hóa độc đáo của mình đã góp phần tạo nên một nền văn hóa Việt Nam đa dạng như một vườn hoa nhiều hương sắc. Trải qua những thăng trầm của lịch sử, cho dù phong kiến ngoại bang hay đế quốc tìm cách chia rẽ các dân tộc, nhưng các dân tộc vẫn giữ vững được truyền thống đoàn kết và giữ gìn những giá trị văn hóa của dân tộc mình, đồng thời vẫn giao lưu và tiếp thu những giá trị văn hóa của các dân tộc khác. Việc nghiên cứu văn hóa các dân tộc nói chung và văn hóa của người Thái nói riêng đang là vấn đề đặt ra không chỉ trong nhận thức về tầm quan trọng của di sản văn hóa dân tộc, mà còn là đòi hỏi cấp bách của chiến lược đại đoàn kết dân tộc trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Phải nghiên cứu một cách cụ thể, khoa học toàn bộ các mặt của đời sống từng dân tộc, nắm vững đặc điểm từng dân tộc để đánh giá đúng di sản văn hóa truyền thống từng dân tộc, lấy đó làm xuất phát điểm để đi lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nghiên cứu về dân tộc Thái ở nước ta trước hết là để đáp ứng yêu cầu đó. Huyện Thuận Châu – tỉnh Sơn La là nơi cư trú của hơn 10 dân tộc, trong đó dân tộc Thái chiếm tới 74% dân số và là một trong những dân tộc định cư sớm nhất ở vùng này. Lịch sử phát triển của huyện gắn liền với lịch sử phát triển của dân tộc Thái. Do đó muốn tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của huyện Thuận Châu phải tìm hiểu dân tộc Thái, muốn tìm hiểu dân tộc Thái ở đây không thể bỏ qua lĩnh vực văn hóa tinh thần. Việc nghiên cứu, tìm hiểu đời sống văn hóa tinh thần của người Thái ở huyện Thuận Châu tỉnh Sơn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 10 La, không chỉ cho chúng ta thấy đầy đủ hơn, sâu sắc hơn diện mạo văn hóa, truyền thống lịch sử của dân tộc Thái ở vùng đất này, mà còn góp phần bổ sung một số tư liệu về văn hóa dân tộc Thái ở Việt Nam, đồng thời cũng góp phần bảo vệ, giữ gìn bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Đây là một trong những vùng đất gắn liền với sự phát triển của dân tộc Thái, song từ trước đến nay do nhiều lí do khác nhau việc nghiên cứu về dân tộc Thái, đặc biệt là về đời sống văn hóa tinh thần của người Thái ở đây còn chưa được quan tâm một cách đúng mức và chưa có tính hệ thống. Với lí do trên, tôi quyết định chọn đề tài “Văn hóa tinh thần của ngƣời Thái ở huyện Thuận Châu tỉnh Sơn La” làm đề tài luận văn thạc sĩ. Tìm hiểu đời sống văn hóa tinh thần của người Thái ở Thuận Châu, trong tổng thể nền văn hóa các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc, ta thấy rõ hơn đó là: nền văn hóa đặc thù của cư dân ruộng nước ở vùng thung lũng miền nhiệt đới đã tỏ ra sức sống mãnh liệt như thế nào trong trường kì lịch sử, nền văn hóa ấy không chỉ là chất dinh dưỡng nuôi sống và đảm bảo cho dân tộc Thái tồn tại và phát triển. Hơn thế nữa còn tác động đến đời sống văn hóa tinh thần của các dân tộc anh em. Nghiên cứu đời sống văn hóa tinh thần của người Thái ở huyện Thuận Châu, ta còn tìm thấy một kho tàng văn hóa dân gian phong phú. Đó là một nền văn học dân gian với nhiều thể loại: truyện cổ, tục ngữ, thành ngữ, dân ca... Một nền nghệ thuật đặc trưng với các điệu vũ nổi tiếng: xòe, múa quạt, múa xạp... các tập tục tang ma, cưới gả, những trang phục độc đáo. Đó còn là một nền văn hóa ẩm thực độc đáo mang đậm chất Tây Bắc. Qua tìm hiểu đời sống văn hóa tinh thần của người Thái ở Thuận Châu, sẽ góp phần giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc, toàn diện hơn đời sống văn hóa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 11 tinh thần phong phú, đậm đà bản sắc của dân tộc Thái ở Thuận Châu nói riêng, ở nước ta nói chung. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Việc bảo tồn, giữ gìn và phát huy vốn văn hóa của các dân tộc, trong đó có dân tộc Thái trong những năm qua đã thu hút được sự quan tâm chú ý của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Quá trình nghiên cứu và tìm hiểu về người Thái nói chung đã có một số công trình, tác phẩm có giá trị như: + Tác phẩm “Sơ lược giới thiệu các nhóm dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam” của Lã Văn Lô, Đặng Nghiêm Vạn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1968, có đề cập tới lịch sử hình thành, phát triển của dân tộc Thái ở Việt Nam nói chung. + Tác phẩm “Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam”, tác giả Cầm Trọng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978, là tác phẩm viết khá đầy đủ về đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc Thái, đặc biệt là khu vực Tây Bắc, nơi họ sinh sống và tập trung đông nhất. + Tác phẩm “Giữ gìn và bảo vệ bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam”, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1990, tập hợp những bài phát biểu, những báo cáo tham luận của một số nhà lãnh đạo, các chuyên gia, những nhà văn hóa trong và ngoài nước tại Hội nghị quốc tế về văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Trong đó có một số bài viết về văn hóa Thái. + Tác phẩm “Sơ lược truyền thống văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam” của Vũ Ngọc Khánh, Nxb Giáo dục, Hà Nội 1995, đề cập về truyền thống văn hóa của các dân tộc thiểu số, có phần giới thiệu về văn hóa Thái nói chung. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 12 + Tác phẩm “Văn hóa Thái Việt Nam” của Cầm Trọng, Phan Hữu Dật, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội 1995, đề cập chủ yếu tới đời sống, loại hình văn hóa dân tộc Thái cũng như mối quan hệ giữa văn hóa Thái với văn hóa các dân tộc khác sử dụng ngôn ngữ Môn – Khơme ở Tây Bắc và một số tộc người ở miền Bắc Việt Nam. + Tác phẩm “Luật tục Thái ở Việt Nam” của Cầm Trọng, Ngô Đức Thịnh, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1999, chủ yếu tập trung vào các phong tục tập quán đã trở thành luật lệ của bản mường mà tất cả mọi người đều phải tuân theo và thực hiện trong sinh hoạt hàng ngày như cưới hỏi, tang ma, cúng bái... + Tác phẩm “Dân tộc Xinh Mun ở Việt Nam” của Trần Bình, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1999, có đề cập tới người Thái Tây Bắc. + Tác phẩm “Dân tộc Khơ Mú ở Việt Nam” do Khổng Diễn chủ biên, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1999, chủ yếu giới thiệu về dân tộc Khơ Mú, song cũng đề cập đến văn hóa Thái và ảnh hưởng của nền văn hóa này đối với tộc người Khơ Mú ở Tây Bắc. + Tác phẩm “Những hiểu biết về người Thái ở Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, là tác phẩm mới nhất của Cầm Trọng. Trong tác phẩm này, tác giả trình bày khá rõ ràng về tất các các mặt của đời sống văn hóa vật chất cũng như tinh thần của người Thái. Qua các tác phẩm trên, ta thấy hầu hết các tác giả đã đề cập khá đầy đủ và toàn diện lịch sử, xã hội cũng như truyền thống văn hóa dân tộc Thái, song còn ở phạm vi rộng, mang tính khái quát. Cho đến nay, vẫn chưa có một công trình nghiên cứu về người Thái ở Thuận Châu (Sơn La) một cách toàn diện, để từ đó có cái nhìn khái quát về sự phát triển của người Thái ở huyện Thuận Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 13 Châu (Sơn La). Luận văn này nhằm góp phần bổ sung cho sự khiếm khuyết đó. 3. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu 3.1. Nguồn tƣ liệu Đề hoàn thành luận văn này, tôi đã cố gắng sưu tầm, tập hợp tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm: + Nguồn tư liệu thành văn gồm: Các tác phẩm, các sách chuyên khảo: Đó là các tác phẩm viết về dân tộc Thái như “Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam”, tác giả Cầm Trọng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978; Tác phẩm “Văn hóa Thái Việt Nam” của Cầm Trọng, Phan Hữu Dật, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1995; Tác phẩm “Luật tục Thái ở Việt Nam” của Cầm Trọng, Ngô Đức Thịnh, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1999; Tác phẩm “Những hiểu biết về người Thái ở Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005... Các tác phẩm về Sơn La, về Thuận Châu như “Vài nét về người Thái ở Sơn La” của tác giả Vi Trọng Liên, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2002. Lịch sử Đảng bộ tỉnh Sơn La, Lịch sử Đảng bộ huyện Thuận Châu, Một số luận văn, đề tài nghiên cứu cấp cơ sở về phong tục, tập quán của người Thái ở Sơn La. + Nguồn tư liệu địa phương: Đây là nguồn tư liệu chủ yếu thông qua những đợt điền dã về các xã, bản vùng cao. Luận văn có sử dụng một số bản chữ Thái cổ bao gồm một số truyện thơ, tục ngữ, ca dao, truyện cổ Thái còn lại. Nội dung khai thác được ở nguồn tư liệu này là phong tục tập quán, đời sống tâm linh của người Thái. + Nguồn tư liệu hiện vật: Nhà sàn Thái, trang phục, các đồ cúng lễ vv... 3.2. Phƣơng pháp nghiên cứu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 14 Để nghiên cứu đề tài, tôi đã sử dụng các phương pháp như: Phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic, phương pháp khảo sát dân tộc học, phương pháp so sánh, đối chiếu, phương pháp tường thuật, miêu tả. 4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài 4.1. Đối tƣợng nghiên cứu Đời sống văn hóa tinh thần của người Thái. 4.2. Phạm vi nghiên cứu + Về không gian: Huyện Thuận Châu (Sơn La). + Về thời gian: Từ khi người Thái định cư ở huyện Thuận Châu đến nay. 4.2. Nhiệm vụ của đề tài + Ngiên cứu để làm rõ đời sống văn hóa tinh thần của người Thái ở huyện Thuận Châu (Sơn La) trên các khía cạnh: Tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục, tập quán, luật tục, lễ hội, văn học, nghệ thuật, chữ viết, lịch pháp và giáo dục. + Nêu lên được sự chuyển biến trong đời sống văn hóa tinh thần của người Thái ở huyện Thuận Châu từ ngày đất nước đổi mới đến nay. 5. Đóng góp của luận văn 5.1. Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên, toàn diện và có hệ thống về đời sống văn hóa tinh thần của người Thái ở huyện Thuận Châu (Sơn La). 5.2. Trên cơ sở đó nêu lên những đặc điểm trong đời sống văn hóa tinh thần của người Thái ở huyện Thuận Châu và sự chuyển biến trong đời sống văn hóa tinh thần của người Thái ở Thuận Châu hiện nay. 5.3.Luận văn góp phần tìm ra sự khác biệt giữa văn hóa truyền thống của người Thái ở huyện Thuận với người Thái ở một số địa phương khác, sự giao lưu văn hóa giữa dân tộc Thái với một số dân tộc khác. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 15 5.4. Luận văn là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và biên soạn về lịch sử văn hóa của người Thái, biên soạn bài giảng lịch sử ở địa phương. 6. Bố cục của luận văn Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, nội dung của luận văn được chia thành 3 chương: Chƣơng I: Khái quát về huyện Thuận Châu (Sơn La). Chƣơng II: Văn hóa tinh thần của ngƣời Thái ở huyện Thuận Châu. Chƣơng III: Những biến đổi trong đời sống văn tinh thần của ngƣời Thái ở huyện Thuận Châu (Sơn La). Chương 1. KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN THUẬN CHÂU (SƠN LA) 1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên Huyện Thuận Châu nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Sơn La, nằm dọc trên đường quốc lộ 6 (Hà Nội - Hoà Bình - Sơn La- Điện Biên), cách Thành phố Sơn La 34 Km, cách huyện Tuần Giáo tỉnh Điện Biên 52 Km. Toạ độ địa lý: 21o12’ đến 21o 41’ vĩ độ bắc, 103o 20’đến 103o 59’ kinh độ đông. Phía Đông giáp huyện Mường La và Thành phố Sơn La tỉnh Sơn La. Phía Tây giáp huyện Điện Biên Đông, huyện Mường Ảng và huyện Tuần Giáo tỉnh Điện Biên. Phía Nam giáp huyện Mai Sơn và huyện Sông Mã tỉnh Sơn La. Phía Bắc giáp huyện Quỳnh Nhai và huyện Mường La tỉnh Sơn La. Địa hình Thuận Châu bị chia cắt, cao và dốc, có đỉnh núi Copia cao 1.817 m, trên địa bàn có 2 con sông Đà, Nậm Mu chảy qua, có nhiều dãy núi đá vôi nối tiếp trung điệp, nhiều dãy núi cao, vách dựng đứng có hang động. Những dãy núi dất xen kẽ các thung lũng, đồng ruộng, khe suối, đất đai tương Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 16 đối màu mỡ tạo ra các tiểu vùng thích hợp với nhiều loại hình sản xuất nông lâm nghiệp, chăn nuôi đại gia súc, phát triển nghề rừng. Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 154.126 ha, trong đó đất nông nghiệp 91.195,54 ha chiếm 59,17%, đất phi nông nghiệp 3.143,93 ha chiếm 2,04%, đất chưa sử dụng 59.786,53 chiếm 38,79%. Khí hậu ở huyện Thuận Châu thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm hai mùa rõ rệt. Mùa hè trùng với mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9 âm lịch, mưa nhiều, độ ẩm cao, lượng mưa trung bình/năm phổ biến từ 1400 mm đến 1800 mm. Mùa đông trùng với mùa khô lạnh, ít mưa, khô hanh từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau theo âm lịch. Trong mùa khô này còn chịu ảnh hưởng của gió Lào. Nhìn một các khái quát khí hậu Thuận Châu có hai mùa, nhưng nhìn vào khí hậu của một ngày ta thấy rõ nét sự riêng biệt của khí hậu núi rừng. Ban ngày có thể cảm nhận theo mùa, nhưng từ khoảng 12 giờ đêm đến sáng, hầu như quanh năm là mùa đông. Yếu tố khí hậu đã có ảnh hưởng đến văn hóa. Để thích nghi, dân tộc Thái Thuận Châu đã biết trồng bông, dệt vải và ngủ đệm. Trong ăn uống, họ sử dụng nhiều chất nóng cay, các loại gia vị ớt, mắc khén, giềng, gừng, tỏi, xả và đặc biệt là rất thích uống rượu. 1.2. Quá trình hình thành thành huyện Thuận Châu Thuận Châu tên địa phương còn gọi là Mường Muổi là một mảnh đất hình thành từ rất sớm. Một loạt các di chí khảo cổ thuộc loại hình di chỉ thềm sông, hang động, mái đá được phát hiện ở Thuận Châu cho ta thấy những đặc điểm cư trú của các bộ lạc săn bắn, hái lượm của thời đại đá mới, điều đó chứng tỏ nơi đây đã có người Việt cổ sinh sống. Trước năm 1479, phần lớn tỉnh Sơn La ngày nay (gồm thành phố Sơn La, huyện Mộc Châu, Yên Châu, Mai Sơn, Sông Mã, Thuận Châu) là lãnh thổ của Vương Quốc Bồn Man (gồm Tương Dương, Kỳ Sơn của Nghệ An, Quan Hoa, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 17 Quan Sơn, Mường Lát của Thanh Hóa, tỉnh Hủa Phan của Lào và phần lớn Sơn La). Năm 1479, Sơn La được sáp nhập vào Đại Việt thời vua Lê Thánh Tông, thuộc xứ Hưng Hóa. Dưới thời Pháp thuộc, có một thời gian Thuận Châu bị đặt dưới chế độ quân quản. Ngày 24/5/1886, châu Sơn La được thành lập, thuộc phủ Gia Hưng, tỉnh Hưng Hoá. Năm 1895, Thuận Châu thuộc tỉnh Vạn Bú (được tách từ tỉnh Hưng Hoá) Năm 1904, tỉnh Vạn Bú đổi thành tỉnh Sơn La. Từ năm 1948-1953, Thuận Châu thuộc Liên khu Việt Bắc. Từ năm 1953-1955, Thuận Châu thuộc khu Tây Bắc. Đến năm 1955, thành lập khu Tự trị Thái - Mèo, bỏ cấp tỉnh, Thuận Châu trực thuộc khu Tự trị. Ngày 27/12/1962, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá II đã ra Nghị quyết đổi tên khu Tự trị Thái - Mèo thành khu tự trị Tây Bắc, lập lại 2 tỉnh Sơn La, Lai Châu và thành lập tỉnh Nghĩa Lộ; huyện Thuận Châu thuộc tỉnh Sơn La. Sau khi khu tự trị Tây Bắc giải thể, Thuận Châu là huyện thuộc tỉnh Sơn La. Đến năm 2003 toàn huyện có 34 xã và 1 thị trấn, huyện lỵ đặt tại Thị trấn Thuận Châu. Thực hiện Nghị quyết số 43/2002/NQ - HĐND ngày 11/1/2002 của Hội đồng nhân dân tỉnh Sơn La khoá XI - kỳ họp thứ 5, về xây dựng phương án điều chỉnh địa giới hành chính một số huyện, xã của tỉnh do ảnh hưởng di dân tái định cư xây dựng nhà máy Thuỷ Điện Sơn La đã điều chỉnh chuyển 6 xã thuộc huyện Thuận Châu sáp nhập vào huyện Quỳnh Nhai. Hiện nay huyện Thuận Châu 29 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm thị trấn Thuận Châu (huyện lỵ) và 28 xã: Phổng Lái, Thôm Mòn, Bon Phặng, Mường Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 18 Khiêng, Bản Lầm, Noong Lay, Co Tòng, Liệp Tè, Muổi Nọi, Bó Mười, Púng Tra, Tông Lệnh, Chiềng Pha, É Tòng, Chiềng Ngàm, Mường É, Co Mạ, Pá Lông, Tông Cọ, Mường Bám, Chiềng La, Nậm Lầu, Chiềng Pấc, Long Hẹ, Phổng Lăng, Chiềng Bôm, Chiềng Ly, Phỏng Lập. Thuận Châu là địa bàn sinh sống của các dân tộc: Thái (74,05%), H’Mông (11,16%), Kinh (9,32%), Kháng (2,57%) và các dân tộc khác (2,94%). Ở Thuận Châu có 100% số xã có đường ô tô, điện lưới quốc gia, trên 90% dân số được nghe đài, 70% số hộ được xem truyền hình. Trên địa bàn Thuận Châu có quốc lộ 6, tỉnh lộ 107, 108 chạy qua. Đất đai ở Thuận Châu thích hợp trồng các loại cây như: chè, cà phê, cao su, sắn, đậu tương, mía, hồng không hạt, nhãn, đào, xoài, lúa, ngô, hành, tỏi … và chăn nuôi trâu, bò, cá, gia cầm. Đến Thuận Châu, du khách có thể khám phá rừng Copia, đèo Pha Đin, khu căn cứ du kích Long Hẹ, di tích lịch sử Kỳ đài Thuận Châu, bãi đá cổ Pá Màng, khu bảo tồn thiên nhiên Copia... 1.3. Tình hình kinh tế Người Thái ở huyện Thuận Châu nói riêng, ở Tây Bắc nói chung đều làm kinh tế nông nghiệp. Ruộng của họ được chia theo nguồn nước: Ruộng nước mưa và ruộng nước ngâm. Ruộng nước mưa thường thấy ở khu vực vùng đất cao, hoặc ven các sườn và chân đồi, hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn nước mưa. Ruộng loại này chỉ cấy được một vụ. Ruộng nước ngâm thường tập trung ở các thung lũng, dọc theo ven sông, ven suối, khi canh tác, đồng bào chủ động được nguồn nước tưới. Loại ruộng này cho phép canh tác một năm hai vụ. Như thế: “Trong trồng trọt thì điều kiện tự nhiên đã dẫn dắt con người tới việc thiết chế đồng ruộng. Theo con đường đó, người Thái là một cộng đồng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 19 tộc người sớm có nền văn hóa lúa nước ở trong các cánh đồng thung lũng, lòng chảo”. [65;55] Giống lúa nước của người Thái canh tác trước đây chủ yếu là lúa nếp. Việc trồng lúa tẻ chỉ phổ biến từ 1954 đến nay. Thời vụ sản xuất nông nghiệp thường bắt đầu từ tháng 5, 6 (tháng 11,12 theo lịch Thái) với quy trình: tháng 5, 6 cày bừa, gieo mạ, tháng 7, 8 cấy xong, tháng 9, 10, 11 thu hoạch lúa. Công cụ sản xuất nông nghiệp ruộng nước của người Thái Thuận Châu cũng giống như các cư dân nông nghiệp trồng lúa nước ở các nơi khác. Họ sớm biết chế tác và sử dụng một số công cụ như: cày, cuốc, hái, liềm, mai... chiếc cày là công cụ không thể trong công việc đồng áng, tiếng Thái gọi là “Thay”, được làm bằng gỗ, lưỡi sắt. Hình ảnh chiếc cày đối với dân tộc Thái không chỉ thân quen trong lao động sản xuất, mà còn chiếm lĩnh một phần quan trọng trong đời sống tâm linh của họ. Sau vụ cày cấy, người ta thường dựa cày vào bên vách gian cúng tổ tiên. Trong lễ khai trương nhà mới, có nghi lễ chủ gia đình cầm bắp cày đẩy đi, đẩy lại ba vòng trên gian Hoóng tượng trưng cho việc cày ruộng, nhằm biểu đạt sự thỉnh cầu làm ăn phát đạt. Người Thái rất giỏi và có nhiều kinh nghiệm trong việc sử dụng nguồn nước tưới tiêu cho đồng ruộng và sinh hoạt bằng các loại cọn, guồng nước, hệ thống mương, phai, lai... Người Thái ở Thuận Châu cũng phát rừng làm nương rẫy, trồng lúa cạn và các loại hoa màu khác, phổ biến là ngô, khoai, sắn, các loại rau đậu, bầu bí... Do điều kiện đất đai, tập tục, nên trong sản xuất kinh tế nông nghiệp, ruộng nước vẫn mang tính chất quyết định, nhằm giải quyết vấn đề lương thực. Kinh tế nông nghiệp nương rẫy chiếm vị trí thứ yếu, chỉ mang tính chất hỗ trợ cho kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước. Ý thức về tầm quan trọng của Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 20 ruộng nước đối với người Thái khá rõ ràng, thể hiện qua câu ngạn ngữ: “Nương hút tầm mắt không bằng ruộng một thửa”. [5;25] Công cụ làm nương gồm có: dao, rìu, cuốc... công cụ gieo hạt là chiếc gậy vót nhọn dùng để chọc lỗ. Nơi được chọn làm nương là những cánh rừng già hoặc rừng bãi, độ dốc không lớn lắm thuận lợi cho việc gieo trồng và thu hoạch. Thời gian đốt nương thường là vào mùa khô tháng 1, 2 âm lịch (tháng 7, 8 lịch Thái). Qua quá trình thời gian, người Thái đã đúc rút kinh nghiệm: “Cá tẳng lao hay đông, cá phông lao hay đầu” (Bông gianh nở phát nương rừng già, bông gianh rụng phát nương rừng bãi). Sau khi phát nương xong đợi cho cây cỏ khô mới đốt. Ngô và lúa là hai cây trồng chính. Lúa nương thường được tra vào khoảng tháng 3 âm lịch (tháng 9 lịch Thái). Họ dùng gậy chọc lỗ, mỗi lỗ tra từ 3 đến 4 hạt lúa, ngô thì mỗi lỗ tra một hạt. Sau khi tra hạt xong là mùa mưa, một tháng sau lúa, ngô lên cao thì có thể vun gốc và làm cỏ. Mỗi mảnh nương thường chỉ canh tác tối đa là 3 năm, sau đó bỏ hoang vài năm mới quay trở lại làm tiếp. Canh tác nương rẫy có mặt tích cực là bổ sung nguồn lương thực, giải quyết nạn đói trong những năm mất mùa, đặc biệt giải quyết đất canh tác cho những người nghèo không có ruộng nước (trước đây trong xã hội phong kiến Thái, bọn thống trị đã chiếm hết ruộng nước). Luật tục xã hội Thái thừa nhận nương là đất tự do của người lao động. Tuy nhiên canh tác nương rẫy lại có mặt tiêu cực là con người gần như hoàn toàn lệ thuộc vào thiên nhiên đến 90%, hiệu quả kinh tế thấp, rừng bị tàn phá, đời sống của những cư dân sống bằng nương rẫy không ổn định. Vì thế tục ngữ Thái có câu nói về những người làm nương rẫy “Pí đẩy quai, pí khai luk” (Năm được trâu, năm bán con). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Xem thêm -