Tài liệu Vấn đề chung của hợp đồng dân sự

  • Số trang: 16 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 2424 |
  • Lượt tải: 1
thucaothi349968

Tham gia: 25/12/2016

Mô tả:

Vấn đề chung của hợp đồng dân sự
TRƯỜNG ĐH LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT DÂN SỰ BÀI THẢO LUẬN MÔN HỢP ĐỒNG VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG. Buổi thảo luận thứ hai: Vấn đề chung của hợp đồng dân sự Giảng Viên thảo luận: PGS TS Đỗ Văn Đại Lớp Dân sự 40B2 1 VẤN ĐỀ 1: Im lặng trong quá trình giao kết hợp đồng - Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng? Căn cứ vào khoản 2 Điều 404 BLDS 2005 thì BLDS 2005 cho rằng “im lặng” cũng được xem như là chấp nhận giao kết hợp đồng. Theo đó, “hợp đồng dân sự cũng xem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết”. Ở đây, BLDS 2015 đã ghi nhận vai trò của “im lặng” nhưng không nêu trong phần chấp nhận giao kết hợp đồng mà trong phần xác định thời điểm hợp đồng được giao kết và BLDS 2015 đã khắc phục nhược điểm này. Cụ thể, theo khoản 2 Điều 393 BLDS 2015 lại cho rằng “im lặng” không được xem là chấp nhận giao kết hợp đồng. Theo đó, “sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên”. Ở đây, BLDS 2015 theo hướng thông thường im lặng không là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng nhưng có ngoại lệ, khi theo thỏa thuận hay thói quen của các bên, im lặng vẫn là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.1 - Đoạn nào của Quyết định cho thấy anh Đạt đã chuyển nhượng tài sản cho ông Nâu? Theo Quyết định 439/2011/DS-GĐT ngày 16-6-2011 có nêu: “Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thì ngày 30/3/2004 anh Nguyễn Phát Đạt lập hợp đồng chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn Nâu (là chú ruột của anh Đạt) 670m 2 đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng số 02164/QSDĐ/B2 ngày 16/4/1995 do Ủy ban nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp cấp đứng tên anh Đạt với giá 250.000.000đ. Hai bên thỏa thuận ông Nâu trả trước 120.000.000đ để trả Ngân hàng, khi làm xong thủ tục sang tên sẽ trả đủ. Anh Đạt đã giao đất để ông Nâu sử dụng tại thời điểm đó. Tuy nhiên, không thể hiện việc ông Nâu trả tiền thay anh Đạt tại Ngân hàng như hai bên thỏa thuận. Ngày 26/9/2005, anh Đạt lại kí hợp đồng chuyển nhượng 2.395m2 đất gồm thửa 734 diện tích 454m2 và thửa 2360 diện tích 1.941m2 với giá 126.553.000đ, có xác nhận 1 Đỗ Văn Đại (chủ biên): Bình luận khoa học những điểm mới của BLDS 2015, Nxb. Hồng Đức-Hội luật gia Việt Nam 2016. 2 của Ủy ban nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp (theo lời khai của anh Đạt anh đã kí khống hợp đồng này để Ngân hàng làm thủ tục nên Ngân hàng đã bán cho ông Nâu)”. - Đoạn nào của quyết định cho thấy tài sản anh Đạt chuyển nhượng là tài sản chung của anh Đạt và chị Linh (vợ anh Đạt)? Theo Quyết định 439/2011/DS-GĐT ngày 16-6-2011 có nêu: “Tuy nhiên, khối tài sản anh Đạt thế chấp cho ngân hàng là khối tài sản chung của anh Đạt và chị Linh (vợ của anh Đạt), nhưng các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên mới chỉ có chữ ký của anh Đạt nên cũng cần phải xem xét chị Linh có biết việc chuyển nhượng hay không?” - Việc chuyển nhượng trên có cần sự đồng ý của chị Linh không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lí khi trả lời. Việc chuyển nhượng trên cần sự đồng ý của chị Linh. Vì khối tài sản anh Đạt thế chấp cho Ngân hàng là tài sản chung của anh Đạt và chị Linh (vợ của anh Đạt), do đó anh Đạt và chị Linh có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung này. Mặt khác, vợ chồng phải cùng bàn bạc, thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Cơ sở pháp lý: Khoản 2, 3 Điều 219 BLDS 2005 - Theo thực tiễn xét xử Việt Nam khi nào im lặng được coi là chấp nhận (đồng ý) hợp đồng? Vấn đề pháp lý: Trong quá trình giao kết, đôi khi một bên không nói rõ quan điểm của mình. Nói cách khác, họ đã im lặng trong thời điểm này. Theo khoản 2, Điều 404 BLDS 2005, hợp đồng xem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp thuận giao kết”. Như vậy, nếu các bên thỏa thuận là khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng thì sự im lặng được coi như sự trả lời chấp thuận giao kết. Tuy nhiên, trong thực tế, không phải lúc nào các bên cũng thỏa thuận im lặng có giá trị như một chấp nhận hợp đồng. Phần lớn các giao dịch không có thỏa thuận như vậy. Vấn đề đặt ra là cần giải quyết như thế nào khi một bên không thể hiện gì trong quá trình giao kết và các bên không có thỏa thuận rằng im lặng có giá trị chấp nhận hợp đồng. 3 Đánh giá sự im lặng trong thực tiễn: Theo thực tiễn pháp lý Việt Nam, sự im lặng không đủ để khẳng định việc chấp nhận hợp đồng.Tuy nhiên, sự im lặng có thể là một biểu hiện của sự chấp nhận nếu tồn tại yếu tố khác. Sau đây là các yếu tố cho phép suy luận đã có sự chấp nhận hợp đồng: Yếu tố thứ nhất có thể là việc bên giữ im lặng trong quá trình giao kết hợp đồng nhưng sau đó yêu cầu bên kia thực hiện hợp đồng. Ví dụ theo Quyết định số 18/2003/HĐTP-DS ngày 30/05/2003 của HĐTP TANDTC, ông Lung là chủ sở hữu diện tích 120m2 nhà trên diện tích 1199m2 đất. Vào ngày 24/09/1999, ông Lung thỏa thuận bán căn nhà trên cho vợ chồng ông Thọ. Năm 2000, hai bên xảy ra tranh chấp. Khi sự việc chưa được giải quyết thì ông Lung chết.Trong hợp đồng không có chữ ký của bà Hiền vợ ông Lung. Theo Viện kiểm sát, đây là việc bán nhà thuộc sở hữu của vợ chồng mà chưa có sự đồng ý của bà Hiền. Nhưng theo HĐTP: “Mặc dù bà Hiền là vợ ông Lung không ký hợp đồng mua bán nhà với ông Thọ nhưng bà Hiền không những không có ý kiến phản đối và còn yêu cầu ông Thọ thực hiện hợp đồng đã ký với ông Lung, nên không có căn cứ cho rằng ông Lung đã bán nhà mà không được sự đồng ý của bà Hiền như lập luận trong kháng nghị của Viện Kiểm sát”. Như vậy, trong quá trình giao kết hợp đồng, bà Hiền không ký vào hợp đồng và cũng không phản đối gì.Điều đó có nghĩa là trong quá trình giao kết hợp đồng, bà Hiền đã im lặng. Mặc dù vậy, theo HĐTP, bà Hiền đã đồng ý chấp nhận hợp đồng và điều đó được suy luận từ việc bà Hiền yêu cầu thực hiện hợp đồng. Yếu tố thứ hai có thể là bên giữ im lặng trong quá trình giao kết hợp đồng tiếp nhận việc thực hiện hợp đồng của bên kia và cũng tiến hành thực hiện hợp đồng từ phía mình. Ví dụ: theo Quyết định số 38/GĐT-DS ngày 29/03/2004 của Tòa dân sự TANDTC, vào ngày 03/01/2003, anh Nguyên ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc sở hữu của hai vợ chồng anh cho vợ chồng anh chị Kỷ, Lộc. Theo TANDTC, việc “Lập hợp đồng chuyển nhượng diện tích đất trên tuy không có mặt của chị Bá (vợ anh Nguyên) nhưng căn cứ vào biên bản giám định… và lời khai của chị Bá thì trong quá trình thực hiện hợp đồng, chị Bá đã tham gia nhận tiền hai lần. Mặt khác, tháng 06/2001, khi vợ chồng chị Bá, anh Nguyên chuyển về tp HCM đã bàn giao toàn bộ nhà, đất và tài sản khác cho vợ chồng chị Kỷ, anh Lộc. Như vậy có cơ sở khẳng định chị Bá biết và cũng đồng ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên cho vợ chồng chị Kỷ, anh Lộc”. 4 Yếu tố thứ ba có thể là bên giữ im lặng trong quá trình giao kết biết rõ việc thực hiện hợp đồng nhưng không có phản đối gì. Ví dụ: theo Quyết định số 27/2003/HĐTPDS ngày 26/08/2003 của HĐTP TANDTC, “Năm 1991 và 1993, ông Quang đã bán ao, đất vườn. Ông Khánh, bà Vân, ông Tuyến và cụ Lạc (đồng thừa kế) có biết và được nhận tiền bán đất từ ông Quang mà không có ý kiến gì. Nay các ông, bà này yêu cầu được chia thừa kế lại, Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu của họ là chưa đủ căn cứ”. Ở đây, theo TANDTC, người giữ im lặng trong quá trình giao kết hợp đồng biết hợp đồng và không có ý kiến gì thì có nhiều khả năng họ đồng ý chấp nhận hợp đồng. Yếu tố thứ tư có thể là dựa vào lời khai của bên giữ im lặng trong quá trình giao kết hợp đồng khi lời khai này cho thấy rằng người giữ im lặng đã đồng ý hợp đồng. Ví dụ, theo Bản án số 228/DSPT ngày 02/02/2005 của TAND thành phố HCM, ông Xáng ký giấy chuyển quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Đức, bà Hạnh nhưng không có chữ ký của bà Muống vợ ông Xáng. Theo TAND thành phố HCM: “Mặc dù bà Muống không ký tên trên hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất cho ông Đức, bà Hạnh nhưng tại tờ trình của ông Xáng, bà Muống lập ngày 15/01/2002 và tại các biên bản lời khai của Tòa án lập vào các ngày 20/11/2002, ngày 25/09/2003 đều thể hiện việc bà Muống cùng ông Xáng đồng ý chuyển quyền sử dụng đất cho ông Đức, bà Hạnh, sau đó lại đổi ý. Do đó, việc Tòa án xác định bà Muống phải liên đới cùng ông Xáng chịu trách nhiệm về các giao dịch chuyển quyền sử dụng đất đối với ông Đức, bà Hạnh là phù hợp với quy định…”. Như vậy, dựa vào những lời khai sau khi hợp đồng được giao kết mà Tòa án xác định bên không ký vào hợp đồng đã chấp nhận hợp đồng. Tham khảo tham luận của Tòa DS TANDTC tại hội nghị tổng kết ngành tòa án năm 2008: “Trên thực tế có nhiều trường hợp người quản lý tài sản chung (một trong các đồng chủ sở hữu) chuyển nhượng tài sản thuộc sở hữu chung nhưng không có đủ các đồng chủ sở hữu tham gia ký kết văn bản chuyển nhượng hoặc sự đồng ý bằng văn bản của các chủ sở hữu chung khác. Tuy nhiên, có căn cứ xác định là những chủ sở hữu chung này đồng ý việc chuyển nhượng đó, sau này do giá trị tài sản tăng lên hoặc vì một lý do nào đó, nên những chủ sở hữu chung này và cả người trực tiếp giao kết hợp đồng chuyển nhượng tài sản đã lợi dụng việc khi chuyển nhượng tài sản không được sự đồng ý bằng văn bản của các chủ sở hữu chung khác để yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu. Trong trường hợp này, Tòa dân sự cho rằng cần phải xác định đã có sự thống nhất ý chí của các đồng chủ sở hữu về việc chuyển nhượng nên hợp đồng không vô hiệu do vi phạm 5 điều kiện về ý chí của các đồng chủ sở hữu. Qua thực tế xét xử, Tòa dân sự thấy cần chấp nhận những căn cứ xác định đã có sự đồng ý của đồng chủ sở hữu là: - Những chủ sở hữu chung này biết việc chuyển nhượng và không phản đối; - Những chủ sở hữu chung này có tham gia vào một giai đoạn nào đó của việc chuyển nhượng như tham gia nhận tiền,… - Tuy khi chuyển nhượng, những chủ sở hữu chung này không biết nhưng sau khi biết có việc chuyển nhượng đã sử dụng chung tiền chuyển nhượng hoặc được người chuyển nhượng chia tiền chuyển nhượng tài sản…2 - Chị Linh có biết, có phản đối việc chuyển nhượng trên không? Các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong bản án chỉ mới có chữ ký của anh Đạt nên cũng cần phải xem xét chị Linh có biết việc chuyển nhượng hay không? Nếu chị Linh biết mà không phản đối thì phải coi chị Linh cũng đồng ý việc chuyển nhượng. Nếu chị Linh không biết và không đồng ý chuyển nhượng thì cần phải căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết. - Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao trong vụ việc được bình luận, nếu chị Linh biết và không phản đối việc chuyển nhượng thì có được coi chị Linh đồng ý không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời? Theo Quyết định 439/2011/DS-GĐT ngày 16-6-2011 có nêu: “Tuy nhiên, khối tài sản anh Đạt thế chấp cho Ngân hàng là tài sản chung của anh Đạt và chị Linh (vợ của anh Đạt), nhưng các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên mới chỉ có chữ ký của anh Đạt nên cũng cần phải xem xét chị Linh có biết việc chuyển nhượng hay không? Nếu chị Linh biết mà không phản đối thì phải coi chị Linh cũng đồng ý việc chuyển nhượng. Nếu chị Linh không biết và không đồng ý chuyển nhượng thì cần phải căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết”. - Hướng giải quyết trên của Tòa dân sự đã có tiền lệ chưa? Cho biết tiền lệ mà anh/ chị biết. Hướng giải quyết trên của Tòa dân sự đã có tiền lệ. 2 Bản án số 6: Im lặng trong giao kết hợp đồng, Luật Hợp đồng bản án và bình luận án, tác giả Đỗ Văn Đại. 6 Tóm tắt bản án số 6 (Quyết định số 32/2003/HĐTP-DS ngày 4/11/2011 của HĐTPTANDTC): Vợ chồng cụ Đạo và cụ Mùi sinh được 5 người con là các ông bà Lành, Khởi, Chiến, Quang và Sâm. Sinh thời, hai cụ tạo lập được một ngôi nhà cấp 4 trên diện tích hơn 500m2 đất, một nhà ngói 5 gian trên diện tích hơn 500m 2 đất và một ngôi nhà mái bằng trên diện tích hơn 300m2 đất. Ngày 13/05/1991, ông Sâm ký hợp đồng bán cho ông Phong ngôi nhà cấp 4 trên diện tích 237,9m2. Hợp đồng có chữ ký làm chứng của cụ Mùi, ông Quang và được Ủy ban nhân dân xác nhận. Năm 2000, các bên xảy ra tranh chấp. Ông Phong đã trả đủ tiền, nay khởi kiện yêu cầu giao trả nhà đất đã mua, còn ông Quang yêu cầu hủy bỏ hợp đồng. Tại Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm lần hai, bà Lành, bà Khởi, ông Chiến cho rằng đây là di sản thừa kế của anh chị em nên đề nghị hủy hợp đồng vì ông bà không biết gì về việc mua bán. Về vấn đề này, Hội đồng thẩm phán xét rằng: “Do nhà, đất ông Sâm bán cho ông Phong là một phần tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng cụ Đạo, cụ Mùi. Cụ Đạo chết năm 1990 không để lại di chúc, nên tài sản này là một phần di sản thừa kế của cụ Đạo chưa chia. Theo lời khai của bà Lành, bà Khởi, ông Chiến thì tại thời điểm cụ Mùi cùng ông Quang, ông Sâm bán nhà, đất các ông, bà này có biết nhưng vì lý do tình cảm gia đình nên các ông, bà này không có ý kiến gì. Việc không có ý kiến của các ông, bà này chưa có cơ sở để xác định các ông, bà này đồng ý hay không đồng ý với việc mua bán. Vì vậy, xét thấy cần phải hủy Bản án dân sự phúc thẩm để xét xử phúc thẩm lại theo hướng tại thời điểm cụ Mùi, ông Quang, ông Sâm bán nhà, đất cho ông Phong thì bà Lành, bà Khởi và ông Chiến đồng ý hay không đồng ý với việc cụ Mùi, ông Quang và ông Sâm bán nhà, đất cho ông Phong. Nếu có cơ sở xác định những người này đồng ý với việc mua bán, nhưng do khó khăn khách quan nên không thể hiện bằng văn bản thì công nhận hợp đồng”. Ý nghĩa của bản án:Theo TANDTC, sự im lặng không đủ để suy luận sự đồng ý hay không đồng ý chấp nhận hợp đồng. Tòa án sơ thẩm hay phúc thẩm không thể kết luận ngay hợp đồng không có giá trị pháp lý khi chưa xác định rõ ý chí của người giữ im lặng. - Suy nghĩ của anh/ chị về vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng ở Việt Nam. 7 Về nguyên tắc, việc trả lời chấp nhận phải được biểu lộ ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định. Nhưng trong một số trường hợp hạn chế, các bên có thể qui ước bên được đề nghị có quyền từ chối giao kết hợp đồng bằng một hành vi tích cực hoặc một tuyên bố minh thị. Quá thời hạn đó mà không trả lời từ chối nữa, thì bên được đề nghị không được từ chối. Điều đó cũng có nghĩa, các bên đã thống nhất qui ước im lặng khi hết thời hạn trả lời đồng nghĩa với việc trả lời đồng ý. Việc này khác với việc hết thời hạn mà không phản đối. Việc phản đối hay đồng ý phải thể hiện dưới dạng một hành vi tích cực. Vấn đề im lặng trong việc suy đoán là trả lời giao kết hợp đồng tạo ra rất nhiều rủi ro pháp lý đối với bên được đề nghị cũng như bên đề nghị. Đối với các trường hợp quy ước im lặng là chấp nhận có thể dẫn đến nhiều trường hợp bên được đề nghị vì một lý do khách quan nào đó mà không thể gửi thư trả lời từ chối trong thời hạn chờ trả lời, hoặc khi bên được đề nghị chết, mất tích và các trở ngại khác làm cho việc phản hồi thông tin không thể thực hiện được, thì sẽ làm cho giao kết hợp đồng gặp trở ngại. Nếu các bên quá kỳ vọng vào sự im lặng của bên kia và tự mình thực hiện hợp đồng khi rơi vào các hoàn cảnh nêu trên thì các bên có thể phải gánh chịu nhiều rủi ro pháp lý. Mặt khác, việc cho phép bên đề nghị quy định trong đề nghị xem việc bên kia im lặng khi hết thời hạn xác định là đồng ý, thì sẽ xâm phạm đến quyền tự do hợp đồng. Bởi lẽ, chủ thể có quyền tự do giao kết hợp đồng thì họ có quyền tự do không giao kết hợp đồng. Theo đó, một người nhận được đề nghị giao kết hợp đồng không có nghĩa vụ phải trả lời một đề nghị được gửi đến địa chỉ giao dịch riêng của mình. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ người tiêu dùng trước tình trạng lạm dụng người tiêu dùng rất phổ biến hiện nay của các doanh nghiệp bán hàng qua mạng, hoặc gửi bằng thư bảo đảm…3 VẤN ĐỀ 2: Đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được - Nhìn từ góc độ văn bản, một bên có thể yêu cầu tuyên bố hợp đồng trên vô hiệu trên cơ sở Điều 411 BLDS 2005 không? Nhìn từ góc độ văn bản, một bên không thể yêu cầu tuyên bố hợp đồng trên vô hiệu trên cơ sở Điều 411 BLDS 2005. Vì để có thể tuyên bố hợp đồng vô hiệu theo Khoản 1 Điều 411 BLDS 2005 thì hợp đồng phải có đối tượng không thực hiện được vì 3 Trang 226, 227, Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh. 8 “lý do khách quan”. Theo các nhà bình luận thì “ lý do khách quan là các lý do không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các bên tham gia giao kết hợp đồng. Các lý do khách quan có thể xuất phát từ các điều kiện thiên nhiên, hoặc do chính sách của nhà nước thay đổi, v.v.”4. Hoặc có ý kiến cho rằng : “ Do sự kiện bất khả kháng làm đối tượng của hợp đồng không còn (sóng thần, lũ cuốn trôi tài sản là đối tượng của hợp đồng...)” 5. Trong hợp đồng trên, do các bên không thống nhất với nhau trong hợp đồng và thực tế về đối tượng của hợp đồng, cụ thể là không nêu rõ số hiệu máy Hitachi cũng như tình trạng của máy và khi thực hiện hợp đồng, hai bên cũng không thống nhất được với nhau về máy phải giao nhận. Chính sự không thống nhất này làm cho hợp đồng không thể thực hiện được. Tức là hợp đồng không thể thực hiện do yếu tố chủ quan của hai bên tham gia vào hợp đồng chứ không phải vì lí do khách quan nên về mặt văn bản thì ở hợp đồng trên một bên không thể yêu cầu tuyên bố hợp đồng đó vô hiệu theo cơ sở Điều 411 BLDS 2005. - Nhìn từ góc độ thực tiễn xét xử, một bên có thể yêu cầu tuyên bố hợp đồng trên vô hiệu trên cơ sở Điều 411 BLDS 2005 không? Nhìn từ góc độ thực tiễn xét xử, một bên có thể yêu cầu tuyên bố hợp đồng trên vô hiệu trên cơ sở Điều 411 BLDS 2005 vì: Thực tế trên thị trường có rất nhiều loại máy đào mang nhãn hiệu Hitachi. Thế nhưng, tại văn bản của hợp đồng giữa các bên không thể hiện rõ ràng về đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao. Cụ thể, tại văn bản của hợp đồng mua bán giữa ông An và ông Bình không nêu rõ số hiệu máy cũng như tình trạng bình thường của máy. Ngoài văn bản của hợp đồng, các bên lại không xuất trình được chứng cứ nào khác chứng minh cho lời khai của mình là có căn cứ. Vì vậy lời khai của các bên về đối tượng của hợp đồng đều không có cơ sở để chấp nhận. Hợp đồng mà các bên giao kết là hợp đồng thương mại trong lĩnh vực mua bán hàng hóa theo quy định của Luật thương mại. Thấy rằng, các bên không chứng minh được là đã thỏa thuận rõ ràng, chi tiết với nhau về đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, giữa các bên lại không có thói quen đã được thiết lập. Ở đây, thực chất là do giữa văn bản và thực tế đã có sự không thống nhất với nhau về đối tượng của hợp đồng là máy Hitachi, vì thế làm cho hợp đồng không thực hiện được. Thực tiễn xét xử thì Tòa án vẫn áp dụng Điều 411 để giải quyết tình huống trên. Điều đó cho thấy Tòa án đã hiểu khá rộng khái niệm “lý do khách quan”. Chính vì vậy, Hội đồng xét xử thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xác định đây là một hợp đồng không thể thực hiện được. Theo Điều 411 BLDS 2005 thì hợp đồng giữa ông An với ông Bình vô hiệu (Bản án số 4 Hoàng Thế Liên (chủ biên): Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự 2005 ( tập II), Nxb. Chính trị quốc gia, 2009, tr. 248. 5 Lê Đình Nghị (chủ biên): Giáo trình luật dân sự Việt Nam, Nxb. Giáo dục Việt Nam, 2009, tập 2, tr. 83. 9 04/2007/KDTM-ST ngày 05-09-2007 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai). - Những thay đổi và suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi giữa BLDS 2015 và BLDS 2005 về chủ đề đang được nghiên cứu.  Những thay đổi giữa BLDS 2015 và BLDS 2005 về chủ đề đang được nghiên cứu là: + Thứ nhất, tại Điều 408 BLDS 2015 đã thay thế từ “ký kết” thành “giao kết” hợp đồng. + Thứ hai, tại khoản 1 Điều này đã bỏ cụm từ “vì lý do khách quan”. + Thứ ba, khoản 3 của Điều này đã thay đổi cụm từ “có giá trị pháp lý” thành cụm từ khác với nội dung “Quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này cũng được áp dụng đối với trường hợp hợp đồng có một hoặc nhiều phần đối tượng không thể thực hiện được nhưng phần còn lại của hợp đồng vẫn có hiệu lực”.  Suy nghĩ của chúng tôi về những thay đổi giữa BLDS 2015 và BLDS 2005 về chủ đề đang được nghiên cứu: Thứ nhất, Điều 411 BLDS 2005 có quy định trong trường hợp hợp đồng vô hiệu do không thể thực hiện được nhưng chỉ khoanh vùng ở trường hợp “vì lý do khách quan” trong đó thực tiễn vận dụng điều luật này cả cho trường hợp không thể thực hiện vì lý do “chủ quan” như trường hợp các bên không thỏa thuận về tứ cận của mảnh đất được chuyển nhượng hay đời máy cụ thể nên hợp đồng không thể thực hiện được. Thực ra, việc khoanh vùng như hiện nay không thuyết phục vì nếu áp dụng đúng luật thì việc không thể thực hiện vì lý do chủ quan không làm cho hợp đồng vô hiệu nhưng nếu hợp đồng không vô hiệu thì hợp đồng cũng không thể thực hiện được và trong trường hợp này phải làm gì? Câu hỏi không có câu trả lời thuyết phục. Do đó, nên bỏ “lý do khách quan” làm cho hợp đồng không thể thực hiện. Thứ hai, BLDS hiện hành nói về “ký” kết hợp đồng và thuật ngữ này không có tính bao quát vì ký kết chỉ đúng cho hợp đồng bằng văn bản có chữ ký trong khi đó hợp đồng có thể được hình thành mà không có chữ ký (như hợp đồng miệng, hợp đồng được giao kết thông qua im lặng...). Việc thay đổi từ “ký” kết bằng từ “giao” kết có tính bao quát hơn. Thứ ba, khoản 3 của Điều này đã thay đổi cụm từ “có giá trị pháp lý” thành cụm từ khác với nội dung “Quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này cũng được áp dụng đối 10 với trường hợp hợp đồng có một hoặc nhiều phần đối tượng không thể thực hiện được nhưng phần còn lại của hợp đồng vẫn có hiệu lực” Những thay đổi ở Điều 408, BLDS 2015 theo hướng hoàn thiện hơn, phù hợp với thực tế hơn và thuận tiện cho các hoạt động tư pháp. VẤN ĐỀ 3: Xác lập hợp đồng giả tạo và nhằm tẩu tán tài sản  Đối vụ việc thứ nhất: - Thế nào là giả tạo trong xác lập giao dịch? Theo Điều 129 BLDS 2005 quy định: “Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này. Trong trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu”. BLDS sử dụng thuật ngữ “giả tạo” tại Điều 129 nhưng không nêu rõ thuật ngữ này cần được hiểu như thế nào. Bộ nguyên tắc Châu Âu về hợp đồng có quy định về giả tạo và cũng không có định nghĩa về giả tạo: Theo Điều 6:103, “khi các bên đã xác lập một hợp đồng bên ngoài che giấu thỏa thuận thực chất của họ, thỏa thuận bị che giấu có giá trị pháp lý giữa các bên”. Theo một số nhà bình luận Bộ luật dân sự: “Giao dịch dân sự giả tạo là giao dịch mà trong đó việc thể hiện ý chí ra bên ngoài khác với ý chí nội tâm và kết quả thực hiện của các bên tham gia giao dịch”. Có hai loại giao dịch dân sự giả tạo: + Thứ nhất, giao dịch được xác lập để che giấu một giao dịch dân sự khác. Ví dụ: A bán cho B một căn nhà, các bên thỏa thuận giá trị của ngôi nhà là 1.750.000.000 đồng. Nhưng hai bên đã lập một hợp đồng trong đó chỉ ghi giá trị của ngôi nhà là 750.000.000 đồng để gian lận việc nộp phí trước bạ sang tên. Như vậy, hợp đồng ghi giá trị ngôi nhà là 750.000.000 đồng bị coi là hợp đồng giả tạo. + Thứ hai, giao dịch được xác lập nhưng không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng. Ví dụ: C phạm tội tham nhũng bị phát hiện, để tẩu tán tài sản C thỏa thuận với D ký hợp đồng giả bán ngôi nhà của C cho D để tránh bị kê biên tài sản. - Trong cả hai trường hợp trên đều có đặc điểm chung là có sự thông đồng, nhất trí của cả hai bên tham gia giao dịch dân sự nhằm tạo ra sự nhận thức sai lầm bên ngoài sự việc. Các giao dịch dân sự giả tạo đều bị coi là vô hiệu, đối với ví dụ thứ nhất giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực pháp luật. 11 Như vậy, trong giao dịch dân sự giả tạo, pháp luật một mặt quy định loại hành vi này là vô hiệu đối với các bên, nhưng một mặt vẫn bảo vệ quyền lợi của người thứ ba khi người đó không biết việc thể hiện ý chí đích thực của giao dịch giả tạo đó”6 Tóm lại, giả tạo trong giao dịch dân sự là trường hợp có một giao dịch thể hiện ra bên ngoài nhưng giao dịch này không có thật. - Đoạn của quyết định cho thấy các bên có giả tạo trong giao kết hợp đồng? Các bên xác lập giao dịch giả tạo có mục đích gì? Đoạn “vì không có tiền trả cho bà Tuyết nên bà đồng ý bán căn nhà cho bà Tuyết với giá 1.200.000.000đ. Ngày 02/06/2006 hai bên thỏa thuận ra phòng Công chứng số 5 Thành phố Hồ Chí Minh ký hợp đồng tặng cho nhà và số tiền còn lại 500.000.000đ bà Tuyết hẹn sẽ trả trong hạn 10 ngày, nhiều lần bà đòi nhưng bà Tuyết không trả” và đoạn “Như vậy, có đủ cơ sở xác định hợp đồng tặng cho ngày 05/6/2006 là hợp đồng giả tạo nhằm che dấu hợp đồng mua bán nhà” cho thấy các bên có giả tạo trong giao kết hợp đồng. Các bên xác lập giao dịch giả tạo có mục đích là để giảm tiền thuế phải nộp cho nhà nước. - Hướng giải quyết của Tòa giám đốc thẩm đối với hợp đồng giả tạo và hợp đồng che giấu là: Theo Điều 129 BLDS 2005 thì hợp đồng tặng cho nhà 69/4B2 Phạm Văn Chiêu lập ngày 05/6/2006 tại Phòng Công Chứng số 5 Thành phố Hồ Chí Minh giữa bà Vân và bà Tuyết là đương nhiên bị vô hiệu. Đối với hợp đồng che giấu (hợp đồng mua bán nhà) là có sự tự nguyện thỏa thuận giữa bà Vân và bà Tuyết. Nhưng các bên chưa thực hiện hình thức của hợp đồng mua bán nhà nên khi giải quyết lại vụ án, Tòa án cần phải ấn định thời gian cho các bên đương sự hoàn tất về hình thức của hợp đồng mua bán nhà. Nếu các bên không thực hiện dẫn tới hợp đồng mua bán nhà cũng bị vô hiệu thì Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng mua bán nhà. - Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý của Tòa giám đốc thẩm về hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che giấu. Hướng xử lý của Tòa giám đốc thẩm về hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che giấu là hợp lý. Pháp luật của chúng ta theo hướng tôn trọng tự do ý chí của các bên nên quy định giao dịch thực tế có giá trị pháp lý nếu thỏa mãn các điều kiện thông thường áp dụng cho giao dịch này. Về nguyên tắc, sự vô hiệu của hợp đồng giả tạo không làm ảnh hưởng đến hợp đồng bị che giấu và thực tế hợp đồng giả tạo vô hiệu nhưng hợp đồng che giấu 6 3 Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2005, Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, PGS.TS Hoàng Thế Liên (Chủ biên) 12 vẫn có hiệu lực trong tranh chấp này Tòa không công nhận giá trị pháp lý của hợp đồng tặng cho và việc này không ảnh hưởng đến hợp đồng bị che giấu. Tòa án công nhận hợp đồng mua bán nhà giữa bà Vân và bà Tuyết. Các bên đều tự nguyện thỏa thuận trong việc mua bán nhà nhưng chưa thực hiện hình thức của hợp đồng mua bán nhà theo quy định của pháp luật tại Điều 450 BLDS 2005. Dó đó, khi giải quyết vụ án Tòa án cần ấn định thời gian cho các bên hoàn tất về hình thức của hợp đồng mua bán nhà. Nếu bên nào không thực hiện dẫn đến hợp đồng mua bán nhà cũng bị vô hiệu thì Tòa án giải quyết hậu quả vô hiệu của hợp đồng mua bán nhà.  Đối với vụ việc thứ hai - Vì sao Tòa án xác định giao dịch giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng là giả tạo nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với bà Thu? Tòa án xác định giao dịch giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng là giả tạo nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với bà Thu vì: quá trình giải quyết vụ án thì vợ chồng bà Anh thừa nhận còn nợ của bà Thu 3,1 tỷ đồng, đồng thời vợ chồng bà Anh cam kết chuyển nhượng nhà đất (đang có tranh chấp) để trả nợ cho bà Thu, nhưng vợ chồng bà Anh không thực hiện cam kết với bà Thu mà làm thủ tục chuyển nhượng trên cho anh là vợ chồng ông Vượng. Thỏa thuận chuyển nhượng giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng không phù hợp với thực tế vì giá thực tế nhà đất là gần 5,6 tỷ đồng, nhưng hai bên thỏa thuận chuyển nhượng chỉ với giá 680 triệu đồng nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ dân sự với bà Thu và thực tế các bên cũng chưa hoàn tất thủ tục chuyển nhượng. - Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định trên của Tòa án (giả tạo để trốn tránh nghĩa vụ)? Hướng xác định trên của Tòa án là có căn cứ. Vợ chồng bà Anh phải trả cho bà Thu số tiền 3.962.850.000 đồng, trong đó tiền gốc là 3.100.000.000 đồng và tiền lãi là 862.850.000 đồng. Đồng thời, vợ chồng bà Anh cam kết chuyển nhượng nhà đất (đang có tranh chấp) để trả nợ cho bà Thu, nhưng vợ chồng bà Anh không thực hiện cam kết với bà Thu mà làm thủ tục chuyển nhượng nhà đất cho anh là vợ chồng ông Vượng với giá với giá 680 triệu đồng, số tiền đó không tương ứng với giá thị trường nhà đất là 5,6 tỷ đồng, không những thế, ông Vượng lại là anh của bà Anh. Hành vi này có thể thấy được vợ chồng bà Anh không có thiện chí trong việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà Thu: không muốn dùng khoản tiền thu được (gần 5,6 tỷ đồng) từ việc chuyển nhượng nhà đất để trả số tiền 3.962.850.000 đồng cho bà Thu. - Cho biết hệ quả của việc Tòa án xác định hợp đồng trên là giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ. 13 Hệ quả của việc Tòa án xác định hợp đồng trên là giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ là Tòa án tuyên giao dịch giữa vợ chồng bà Anh và vợ chồng ông Vượng là vô hiệu (Điều 129 BLDS 2005). Vợ chồng bà Anh có trách nhiệm trả lại cho vợ chồng ông Vượng 4 tỷ đồng, vợ chồng ông Vượng trả lại cho vợ chồng bà Anh nhà, đất (khoản 2 Điều 137 BLDS 2005). VẤN ĐỀ 4: Đứng tên giùm mua bất động sản - Việc Tòa án nhân dân tối cao xác định nhà có tranh chấp do bà Tuệ bỏ tiền ra mua và nhờ ông Bình, bà Vân đứng tên hộ có thuyết phục không? Vì sao? Việc Tòa án nhân dân tối cao xác định nhà có tranh chấp do bà Tuệ bỏ tiền ra mua và nhờ ông Bình, bà Vân đứng tên hộ là hoàn toàn thuyết phục. Vì có đủ căn cứ chứng minh vấn đề trên, cụ thể là: + “Giấy cam đoan xác định tài sản nhà ở” lập ngày 7/6/2001 có nội dung xác nhận căn nhà số 16-B20 do bà Tuệ bỏ tiền ra mua và nhờ ông Bình, bà Vân đứng tên hộ, giấy cam đoan này có chữ ký của ông Bình và bà Vân. “Giấy khai nhận tài sản” ngày 9/8/2001 của bà Tuệ cũng có nội dung năm 1993 bà Tuệ mua căn nhà số 16-B20 phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội có tổng diện tích sử dụng là 134m 2 xây 02 tầng trên 68,5m2 đất của công ty xây dựng nhà ở dân dụng và đã được Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở ngày 25/5/2001, do bà Tuệ là người Việt Nam định cư ở nước ngoài không được đứng tên mua nhà tại Việt Nam, nên bà Tuệ đã nhờ ông Bình và bà Vân đứng tên hộ. Giấy này có chữ ký của bà Tuệ, bà Vân và ông Bình ký tên dưới mục người đứng tên mua hộ. + Đồng thời kết quả giám định số 285/C54-P5 ngày 14/9/2011 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an có nội dung chữ viết, chữ ký ông Nguyễn Văn Bình trên “Giấy cam đoan xác định tài sản nhà ở” ngày 7/6/2001 và “Giấy khai nhận tài sản” ngày 9/8/2001 là chữ viết và chữ ký của ông Bình. + Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Xuân Hải trình bày: Căn nhà số 16-B20 là do bà Tuệ bỏ tiền ra mua và nhờ bố mẹ anh trông coi hộ. 14 Chị Nguyễn Thị Hằng Hải trình bày: Từ khi chị về làm dâu, bố mẹ chồng và các em chồng đều nói nhà và đất có tranh chấp là của bà Tuệ. - Ở thời điểm mua nhà trên, bà Tuệ có được đứng tên không? Vì sao? Ở thời điểm mua nhà trên, bà Tuệ không được đứng tên căn nhà. Vì bà Tuệ có nguyện vọng mua nhà năm 1992, lúc này pháp luật Việt Nam chưa cho phép người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua nhà ở tại Việt Nam. Đến năm 1994, pháp luật mới cho phép việc mua nhà ở, quyền sử dụng đất tại Việt Nam đối với người nước ngoài, nhưng đây vẫn là một hạn chế, cụ thể được quy định tại Điều 19 Nghị định 61/CP ngày 5/7/1994. - Ở thời điểm hiện nay, bà Tuệ có được đứng tên mua nhà ở tại Việt Nam không? Ở thời điểm hiện nay, bà Tuệ đã được đứng tên mua nhà ở tại Việt Nam. Bà Tuệ được cơ quan có thẩm quyền cấp “Giấy miễn thị lực” để nhập cảnh đến Việt Nam nhiều lần, mỗi lần nhập cảnh tạm trú không quá 90 ngày. Căn cứ khoản 2 Điều 1 Luật số 34/2009/QH12 ngày 18/6/2009 của Quốc Hội về việc sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở và Điều 121 của Luật Đất đai “Người gốc Việt Nam không thuộc các đối tượng quy định tại điểm b khoản 1 Điều này được cơ quan thẩm quyền của Việt Nam cấp Giấy miễn thị lực và được phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì có quyền sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ chung cư tại Việt Nam để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam”. - Ngày nay, theo Tòa án nhân dân tối cao, bà Tuệ được công nhận quyền sở hữu nhà riêng không? Hướng giải quyết này của Tòa án nhân dân tối cao đã có tiền lệ chưa? - Ngày nay, theo Tòa án nhân ân tối cao, bà Tuệ đã được công nhân quyền sở hữu căn nhà trên. Bà Tuệ được cơ quan có thẩm quyền cấp “Giấy miễn thị lực” để nhập cảnh đến Việt Nam nhiều lần, mỗi lần nhập cảnh tạm trú không quá 90 ngày. Căn cứ khoản 2 Điều 1 Luật số 34/2009/QH12 ngày 18/6/2009 của Quốc Hội về việc sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở và Điều 121 của Luật Đất đai “Người gốc Việt Nam không thuộc các đối tượng quy định tại điểm b khoản 1 Điều này được cơ quan thẩm quyền của Việt Nam cấp Giấy miễn thị lực và được phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì 15 có quyền sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ chung cư tại Việt Nam để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam”. Hướng giải quyết trên chưa có tiền lệ. - Theo Tòa án nhân dân tối cao, phần giá trị chênh lệch giữa số tiền bà Tuệ bỏ ra và giá trị hiện tại của nhà đất có tranh chấp được xử lý như thế nào? Trong trường hợp này, Tòa án đã công nhận cho bà Tuệ quyền sở hữu căn nhà 16-B20 và xem xét đến công sức quản lý, giữ gìn nhà cho gia đình ông Bình trên cơ sở xác định nhà đất theo giá thị trường ở thời điểm xét xử sơ thẩm, trừ đi số tiền mua nhà đất do bà Tuệ bỏ ra, phần giá trị còn lại sẽ chia đôi cho bà Tuệ và ông Bình. - Hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tối cao đã có tiền lệ chưa? Hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tối cao đã có tiền lệ. (một ví dụ minh chứng là Quyết định số 36/2010/GĐT-DS ngày 17/8/2010 của Hội đồng thẩm phán Toàn án nhân dân tối cao).7 - Suy nghĩ của anh chị về hướng giải quyết trên? Ở Việt Nam, chúng ta chưa có một quy định cụ thể nào về vấn đề tồn tại giao dịch đứng tên giùm mua bất động sản (nhà và quyền sử dụng đất), mà người được đứng tên giùm là người Việt Kiều hay người nước ngoài không đủ điều kiện đứng tên sở hữu ở Việt Nam. Điều đó có nghĩa là Tòa án đang theo hướng người nước ngoài khi tin tưởng vào giao dịch mà người đứng tên giùm đã xác lập hộ thì họ được bảo vệ, giao dịch mà họ xác lập với người đứng tên giùm có giá trị pháp lý, cho dù trong thực tế việc người đứng tên giùm thực hiện việc chuyển nhượng trái với ý chí của người nhờ đứng tên giùm. Tòa án nhân dân tối cao đã và đang thiết lập một xu hướng xử lý rất đáng quan tâm về vấn đề này là án lệ. Theo đó, Tòa án sẽ xác định tồn tại giao dịch đứng tên giùm là có căn cứ. Đồng thời bảo vệ được quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch đứng tên giùm. Vì vậy, hướng giải quyết của Tòa án trong vụ án trên là có sức thuyết phục, hoàn toàn vì quyền và lợi ích của các bên. 7 Đỗ Văn Đại,Luật hợp đồng Việt Nam- Bản án và bình luận án, Nxb. CTQG 2013 (tái bản lần thứ 4). 16
- Xem thêm -