Tài liệu Vài vấn đề xã hội nảy sinh trong quan hệ thương mại thuỷ sản giữa việt nam và hoa kỳ

  • Số trang: 107 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 291 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN -------------------------- Nguyễn Văn Thuật MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI NẢY SINH TRONG QUAN HỆ THƢƠNG MẠI THUỶ SẢN GIỮA VIỆT NAM VÀ HOA KỲ LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC HÀ NỘI, NĂM 2006 4 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN -------------------------- Nguyễn Văn Thuật MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI NẢY SINH TRONG QUAN HỆ THƢƠNG MẠI THUỶ SẢN GIỮA VIỆT NAM VÀ HOA KỲ Chuyên ngành: Xã hội học Mã số: 603130 LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC Giáo viên hƣớng dẫn: PGS.TS Nguyễn An Lịch HÀ NỘI, NĂM 2006 5 MỤC LỤC Trang Lời cam đoan 1 Mục lục 2 PHẦN I- MỞĐẦU 4 1.Tính cấp thiết của đề tài 5 2.Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 5 3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 6 4. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu 6 5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7 6. Điểm mới của luận văn 7 7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu cụ thể 10 8. Khung lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu 11 9. Kết cấu của luận văn 12 PHẦN II - NỘI DUNG 13 Chƣơng 1.Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 13 1. Cơ sở lý luận 13 1.1.Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin 13 1.2.Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam 15 1.3. Một số lý thuyết vận dụng nghiên cứu một số vấn đề xã hội nảy sinh trong quan hệ thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và HoaKỳ 15 1.3.1. Lý thuyết Lựa chọn hợp lý 16 1.3.2. Lý thuyết trao đổi 20 1.4. Các khái niệm công cụ 21 1.4.1.Khái niệm"Vấn đề xã hội" 21 1.4.2.Khái niệm"hành động xã hội" 25 6 1.4.3.Khái niệm"tương tác xã hội" 27 1.4.4.Khái niệm"quan hệ xã hội" 27 Chƣơng 2. Quan hệ thƣơng mại song phƣơng giữa Việt Nam và Hoa Kỳ 29 1. Khái quát về hệ thống chính trị và văn hoá của người dân Hoa Kỳ 29 2. Chính sách thương mại của Hoa Kỳ 31 3. Quan hệ thương mại song phương giữa Việt Nam và Hoa Kỳ 34 4. Quan hệ thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ 40 Chƣơng 3. Một số vấn đề xã hội nảy sinh trong quan hệ thƣơng mại thuỷ sản giữa Việt Nam và HoaKỳ 58 1. Những tranh chấp trong quan hệ thương mại thuỷ sản Việt - Mỹ 58 1.1. Chiến dịch chống lại việc nhập khẩu cá tra và cá ba sa Việt Nam 58 1.2. Vụ kiện các doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá philê cá tra và ba sa đông lạnh tại Hoa Kỳ 61 1.3. Vụ kiện các doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá một số sản phẩm tôm tại Hoa Kỳ 67 2. Một số vấn đề xã hội nảy sinh do những tranh chấp thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ 73 2.1. Tác động của các vụ kiện đến tình hình lao động, việc làm trong lĩnh vực thuỷ sản ở Đồng bằng Sông Cửu Long 75 2.2. Tác động của những vụ kiện bán phá giá thuỷ sản đến việc làm và thu nhập của các công nhân trong các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷsản 77 2.3. Tác động của những vụ kiện bán phá giá thuỷ sản đến đời sống,việc làm và thu nhập của ngư dân nuôi trồng và đánh bắt thuỷ hải sản 81 2.4. Tác động của vụ kiện tôm đến người tiêu dùng thuỷ sản Hoa Kỳ 86 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 88 KẾT LUẬN 89 KHUYẾN NGHỊ 90 TÀI LIỆU THAM KHẢO 91 PHỤ LỤC 7 Lời cam đoan Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ Xã hội học này là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn là do bản thân tôi trực tiếp thu thập và xử lý thông qua các tài liệu do Bộ thuỷ sản, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê Việt Nam và Cục Thống kê, Sở Kế hoạch và Đầu tư 13 tỉnh vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, Thương vụ - Đại sứ quán Việt Nam tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ cung cấp. Những tài liệu này chưa ai công bố dưới dạng các công trình nghiên cứu xã hội học. Tác giả Luận văn Nguyễn Văn thuật 8 PHẦN I - MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài. Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình tham gia vào toàn cầu hoá, là xu thế tất yếu của mọi quốc gia trong quá trình phân công lao động và mở rộng quan hệ quốc tế.Việt Nam đã từng bước chủ động hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả, vừa đảm bảo được lợi ích dân tộc, vừa nâng cao được sức cạnh tranh của nền kinh tế, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội tạo cơ sở phấn đấu trở thành nước công nghiệp hoá vào năm 2020. Nhìn lại 20 năm đổi mới và hội nhập, nước ta có quan hệ thương mại với 224/255 quốc gia và vùng lãnh thổ, từ đó góp phần tích cực vào việc phát triển thị trường xuất khẩu và mở cửa nền kinh tế. Nhờ vào tiến trình hội nhập kinh tế trong 20 năm qua mà nền kinh tế nước ta từ chỗ thiếu lương thực và hàng tiêu dùng đến chỗ đã có dư, tăng xuất khẩu và có dự trữ. Điều này chứng tỏ rằng chúng ta đã ngày càng nhận thức đúng quy luật vận động của quá trình toàn cầu hoá kinh tế thế giới mà nước ta chủ động hội nhập. Đảng đã khẳng định:"Việt Nam muốn là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế” [7]. Hội nhập kinh tế thế giới là một trong những quan điểm chiến lược, là con đường tất yếu đất nước ta phải trải qua để tiến nhanh trở thành nước công nghiệp hoá hiện đại.Trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới, một trong những quan hệ kinh tế được Nhà nước ta chú trọng, đó là quan hệ kinh tế giữa nước ta và Hoa Kỳ. Việt Nam và Hoa Kỳ bắt đầu đàm phán chính thức về bình thường hoá quan hệ vào năm 1991. Tháng 12 năm 1994, Hoa Kỳ bỏ cấm vận kinh tế đối với Việt Nam. Hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1995. Song song với quan hệ chính trị và ngoại giao, quan hệ kinh tế và thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ cũng không ngừng phát triển. Việc thông qua Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ và có hiệu lực từ năm 2001 đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình bình thường hoá quan hệ giữa quốc gia. Nhờ đó, kim ngạch thương mại hàng hoá hai chiều của hai bên đã không ngừng tăng lên và năm 9 2003 Việt Nam đã trở thành bạn hàng thương mại lớn thứ 40 của Hoa Kỳ. Những mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Hoa Kỳ gồm hàng may mặc, thuỷ sản, nông sản khô, dầu khí… Một trong những sản phẩm xuất khẩu sang Hoa Kỳ nêu trên là sản phẩm thuỷ sản và được Nhà nước Việt Nam coi phát triển và mở rộng thị trường xuất khẩu thuỷ sản trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế là ngành kinh tế “mũi nhọn” của đất nước. Mặc dù Hiệp định Thương mại song phương đang phát huy hiểu quả kinh tế thương mại nói chung của 2 nước. Song quan hệ thương mại thuỷ sản giữa 2 nước trong thời gian qua đã bộc lộ một số bất cập nhất định do cả yếu tố khách quan lẫn yếu tố chủ quan, và chưa được khắc phục một cách có hiệu quả. Điều đó đã và đang làm nảy sinh một số vấn đề xã hội và tác động tiêu cực đến hoạt động của các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản, của người sản xuất và nuôi trồng thuỷ sản của Việt Nam cũng như nhu cầu của người tiêu dùng thuỷ sản Hoa Kỳ.v.v. Hơn nữa tâm lý của người tiêu dùng thuỷ sản trên thị trường Hoa Kỳ vẫn còn chưa được các doanh nghiệp Việt Nam khai thác để kích cầu tạo cơ sở cho việc tăng tốc xuất khẩu các sản phẩm thuỷ sản sang Hoa Kỳ. Việc giao lưu văn hoá và trao đổi quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ còn hạn chế…làm cho thiết chế kinh tế và văn hoá chưa ổn định. Do đó việc tiến hành nghiên cứu “ Một số vấn đề xã hội nảy sinh trong quan hệ thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ” là một yêu cầu cấp thiết về mặt lý luận và thực tiễn góp phần làm sáng tỏ một số mặt tích cực cũng như một số mặt tiêu cực trong quan hệ thương mại thuỷ sản giữa hai bên, từ đó đưa ra một số giải pháp khoa học phù hợp với tình hình thực tế hiện nay của đất nước nhằm phát huy mặt tích cực và đẩy lùi mặt tiêu cực của nó để thúc đẩy sự phát triển quan hệ kinh tế - xã hội giữa hai bên và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam một cách có hiệu quả nhất. 2. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 2.1. Ý nghĩa khoa học Việc tiến hành nghiên cứu “ Một số vấn đề xã hội nảy sinh trong quan hệ thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ ” có một ý nghĩa khoa học quan 10 trọng là tìm hiểu những xu hướng tiềm ẩn trong quan điểm về quan hệ giữa hai bên trong đó có quan hệ thương mại thuỷ sản, trên cơ sở đó, hoạch định những chính sách phù hợp cũng như tạo ra cơ chế hoạt động bình đẳng cùng có lợi. 2.2. Ý nghĩa thực tiễn Nghiên cứu Một số vấn đề xã hội nảy sinh trong quan hệ thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ còn có một ý nghĩa thực tiễn hết sức quan trọng. Đó là nhận diện được thực trạng quan hệ thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, đồng thời cũng nắm bắt kịp thời những tác động tích cực và tiêu cực về lĩnh vực này nhằm giúp cho Ngành Thuỷ sản Việt Nam cũng như các cơ quan, ban ngành liên quan đến thương mại có những điều chỉnh thích hợp về chính sách góp phần vào sự phát triển ngành kinh tế “ thuỷ sản” của đất nước, hạn chế những vấn đề xã hội trong đời sống nhân dân 3. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu. 3.1. Đối tượng nghiên cứu: Những tranh chấp trong quan hệ thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ tác động đến các hoạt động nuôi trồng, khai thác thuỷ hải sản của ngư dân và doanh nghiệpViệt Nam xuất khẩu thuỷ sản sang Hoa Kỳ. Từ đó làm nảy sinh các vấn đề xã hội 3.2. Khách thể nghiên cứu: Các tư liệu và các chủ thể có liên quan đến thương mại thuỷ sản với Hoa Kỳ 4. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu: - Do nhiều khó khăn khách quan và chủ quan, đề tài chỉ nghiên cứu trên cơ sở thu thập và phân tích tài liệu do Bộ Thuỷ sản, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê Việt Nam và Cục Thống kê, Sở Kế hoạch và Đầu tư 13 tỉnh vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, Thương vụ Việt Nam tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ cung cấp và giới hạn nghiên cứu một số vấn đề xã hội nảy sinh trong quan hệ thương mại giữa hai bên về lĩnh vực thuỷ sản. Đó là các tranh chấp trong thương mại thuỷ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ và những tác động của chúng. - Về mặt thời gian xem xét thực trạng thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ từ năm 2001 - 2005. 11 5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5.1. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu Một số vấn đề xã hội nảy sinh trong quan hệ thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ nhằm cung cấp cơ sở khoa học giúp cho các cơ quan, ban ngành chức năng nói chung, các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản sang Hoa Kỳ nói riêng thấy rõ được những nguyên nhân làm nảy sinh ra các vấn đề xã hội trong thương mại thuỷ sản giữa 2 nước, trên cơ sở đó có những điều chỉnh về các hoạt động thương mại thuỷ sản với Hoa Kỳ nhằm giảm thiểu những tranh chấp cũng như giải quyết có hiệu quả những vấn đề thương mại thuỷ sản có thể nảy sinh góp phần phát triển mối quan hệ thương mại song phương giữa 2 nước. 5.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Nghiên cứu Một số vấn đề xã hội nảy sinh trong quan hệ thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trên cơ sở xem xét các chính sách hiện hành cũng như thực trạng của quá trình trao đổi thương mại thuỷ sản giữa hai bên. Cụ thể là những vấn đề sau: + Phân tích để nhận diện thực trạng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang Hoa Kỳ và phân tích để nhận diện những vấn đề xã hội nảy sinh + Phân tích nguyên nhân về những tranh chấp thương mại trong lĩnh vực thuỷ sản giữa 2 bên và những tác động của chúng đến đời sống xã hội + Đưa ra những khuyến nghị và giải pháp phù hợp để phát triển“Mối quan hệ thương mại” lành mạnh trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng các điều ước đã ký giữa 2 bên. 6. Điểm mới của luận văn Mở rộng quan hệ với các quốc gia trên thế giới là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam, là cơ sở để phát huy nội lực và tận dụng ngoại lực trong phát triển kinh tế nhằm đưa nền kinh tế nước ta có chất lượng tăng trưởng cao và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu:"dân giàu, nước mạnh,xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" 12 Ở Việt Nam, từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường do Đảng cộng sản khởi xướng (1986), đặc biệt là từ năm 1995 cho đến nay các nghiên cứu về quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới đã và đang được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, những nghiên cứu về quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước trên thế giới dưới góc độ của khoa học xã hội học vẫn chưa được các nhà nghiên cứu quan tâm, thậm chí các nghiên cứu của khoa học xã hội học về quan hệ thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ vẫn còn chưa có, mà mới chỉ được lồng ghép bằng phương pháp khảo sát vào các nghiên cứu của các khoa học khác. Đặc biệt các nghiên cứu mới chỉ tập trung ở kinh tế ngoại thương. Ngoài những bài báo, sách nhỏ, có thể nêu lên đây một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài này: 1- Đề tài:" Nâng cao khả năng đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn quốc tế về môi trường đối với một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế" của Tiễn sĩ Bùi Hữu Đạo, Vụ Khoa học - Bộ Thƣơng mại trong đó nhẫn mạnh, trước nhu cầu hội nhập và mở rộng hợp tác kinh tế với các nước cần có môi trường kinh tế quốc tế thuận lợi và năng động hỗ trợ hợp tác quốc tế, thực hiện các hành động cụ thể đã cam kết, chúng ta cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trườngcoi đây như là ba trụ cột của quá trình phát triển bền vững và chúng có sự phụ thuộc tương hỗ, củng cố lẫn nhau. Bản thân môi trường không thể tự bảo vệ chính mình trước những ảnh hưởng tiêu cực hết sức mạnh mẽ của các ngành thương mại không bền vững, việc sản xuất và tiêu thụ quá mức của con người, dân số gia tăng, phát triển công nghệ sản xuất không thân thiện với môi trường. 2- Đề tài: "Những giải pháp chủ yếu nhằm đẩy nhanh quá trình hội nhập của thương mại Việt Nam vào kinh tế khu vực và quốc tế" của PGS.TS Nguyễn Phúc Khánh, Đại học Ngoại thƣơng đã đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy nhanh tiến trình hội nhập của thương mại Việt Nam vào kinh tế khu vực và quốc tế. Đồng thời nêu rõ tầm quan trọng của vai trò mở rộng hợp tác quốc tế là 13 cơ sở cho việc hội nhập kinh tế có hiệu quả của Chính phủ, các bộ, ngành và các doanh nghiệp. 3-Nghiên cứu về:"Đạo luật COGSA của Hoa Kỳ với các công ước quốc tếđiều chỉnh vận đơn đường biển và luật hàng hải Việt Nam" của PGS.TS Nguyễn Như Tiến- Đại học Ngoại Thương đã làm rõ một số Điều luật về thương mại của Hoa Kỳ giúp cho các hoạt động kinh doanh và xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam vào Hoa Kỳ và đã so sánh sự giống và khác nhau giữa đạo luật chuyên chở hàng hoá bằng đường biển của Hoa Kỳ với các công ước quốc tế điều chỉnh vận đơn đường biển và luật hàng hảiViệt Nam là rất có ý nghĩa đáp ứng yêu cầu ngày càng phát triển quan hệ thương mại và hàng hải giữa Việt Nam với Hoa Kỳ hiện tại cũng như trong tương lai nhằm giảm thiểu các rủi rocó thể phát sinh về khía cạnh pháp lý. 4- Đề tài: "Nâng cao hiệu quả chính sách khuyến khích xuất khẩu củaViệt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế" của TS Lê Trịnh Minh Châu (Viện nghiên cứu thương mại) và Th.s PhạmThị Tuệ (Đại học ngoại thương) đã phân tích và cho thấy chính sách khuyến khích xuất khẩu của Việt Nam hiện nay mặc dù đã có nhiều cải cách, song do nhiều nguyên nhân khác nhau nên hiện nay còn chứa đựng nhiều vấn đề, vừa chưa phù hợp với các nguyên tắc và qui định của WTO, vừa chưa tác động tích cực đến sự tăng trưởng xuất khẩu bền vững của các ngành kinh tế. Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả của chính sách khuyến khích xuất khẩu phù hợp với thông lệ quốc tế là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự hội nhập thành công của nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế thế giới. Từ những khái quát vấn đề vừa nêu trên, Luận văn này có thể được coi là một trong số những nghiên cứu đầu tiên về quan hệ thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ từ tiếp cận của khoa học xã hội học. Quan hệ thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ là một sự kiện, một thực tế tồn tại tất yếu trong quá trình hội nhập và phát triển. Mọi Chính phủ và quốc gia đều coi việc mở rộng quan hệ quốc tế và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quan hệ quốc tế là một trong những nhân tố cơ bản của sự phát triển của đất nước mình theo những mức 14 độ, cách thức khác nhau tuỳ thuộc vào những điệu kiện, nền văn hoá, tập quán, pháp luật của mỗi nước. Do vậy đề tài này đi sâu vào nghiên cứu một số vấn đề xã hội nảy sinh trong quan hệ thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trên quan điểm của khoa học xã hội học. Đó cũng là điểm mới của Luận văn. 7. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể 7.1. Phương pháp luận nghiên cứu. Nghiên cứu Một số vấn đề xã hội nảy sinh trong quan hệ thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ” là một vấn đề mới, và có nhiều hướng tiếp cận khác nhau. Nghiên cứu vấn đề này phụ thuộc vào các thiết chế Kinh tế- Chính trịVăn hóa – xã hội của của Việt Nam và của quốc tế.Vì vậy, đề tài này dựa trên hướng tiếp cận liên ngành, vừa xã hội học, kinh tế học và chính trị học. Để thực hiện đề tài đạt kết quả, tác giả vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, trước hết là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta. Đề tài cũng dựa trên cơ sở tiếp cận“Lý thuyết lựa chọn hợp lý” của Coleman và “Lý thuyết trao đổi ” của Perter Blau 7.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể Các phương pháp cụ thể được tiến hành nghiên cứu là: Phân tích tài liệu, phỏng vấn sâu. 7.2.1.Phương pháp phân tích tài liệu:Thông qua các tài liệu về lý thuyết, các đề tài nghiên cứu và số liệu liên quan đến“ Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ” nhằm thu thập thông tin phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài luận văn 7.2.2. Phương pháp phỏng vấn sâu: là phương pháp định tính. Tác giả phỏng vấn sâu một số lãnh đạo, cán bộ thuộc Bộ Thuỷ sản, Bộ Ngoại giao, Bộ Thương Mại Việt Nam và một số lãnh đạo doanh nghiệp có sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ cung như một số ngư dân làm nghề nuôi trồng và khai thác thuỷ sản ở Đồng bằng Sông Cửu Long… 15 8. Khung lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu. 8.1. Khung lý thuyết Quan hệ thƣơng mại song phƣơng giữa Việt Nam và Hoa Kỳ Các Hiệp hội chế biến, đánh bắt và kinh doanh thuỷ sản Hoa Kỳ Thực trạng tranh chấp thương mại thuỷ sản giữa 2 nước Hiệp hội chế biến, XK thuỷ sản Việt Nam, các DN thành viên và người nuôi trồng thuỷ sản Các vấn đề XH nảy sinh trong thƣơng mại thuỷ sản 8.2. Giả thuyết nghiên cứu Giả thuyết 1:“Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ” đã góp phần nâng cao năng lực thâm nhập và mở rộng thị trường cũng như hiệu quả kinh tế cho các doanh nghiệp thuỷ sản Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế. Giả thuyết 2: Chính sách bảo hộ các ngành công nghiệp sản xuất nội địa của Hoa Kỳ nói chung và mối quan hệ giữa các ông chủ đứng đầu nền công nghiệp sản xuất thuỷ sản nội địa Hoa Kỳ với một số quan chức chính quyền bang và liên bang của họ nói riêng là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc chống lại các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam 16 Giả thuyết 3: Những tranh chấp trong thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã tác động tiêu cực đến thu nhập và lao động - việc làm của các công nhân trong các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản và ngư dân làm nghề nuôi trồng, đánh bắt thuỷ hải sản của Việt Nam. Đồng thời những tranh chấp đó cũng tác động tiêu cực đến người tiêu dùng thuỷ sản của Hoa Kỳ. 9. Kết cấu của luận văn. Ngoài phần mở đầu; Kết luận và khuyến nghị; phần II Nội dung luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài Chƣơng 2: Quan hệ thương mại song phương giữa Việt Nam và Hoa Kỳ Chƣơng 3: Một số vấn đề xã hội nảy sinh trong quan hệ thương mại thuỷ sản 17 PHẦN II - NỘI DUNG CHƢƠNG I- CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận 1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin Hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra quy luật phát triển lịch sử của xã hội loài người trên toàn thế giới. Hệ thống quan điểm biện chứng của Mác về các quá trình và hiện tượng là sự thống nhất của chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng về lịch sử và xã hội. Theo Mác, nghiên cứu đời sống xã hội phải hướng vào phân tích cuộc sống thực, phải xuất phát từ tiền đề " là những cá nhân hiện thực, là hoạt động của họ và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ ". Xuất phát điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử là việc phân tích các quá trình lịch sử từ góc độ hoạt động vật chất của con người, từ góc độ cơ sở kinh tế, từ quan điểm" tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội". Đồng thời phép duy vật biện chứng cũng đòi hỏi phải xem xét sự vật, hiện tượng trong mối liên hệ và tác động qua lại, trong mâu thuẫn và vận động, phát triển không ngừng của lịch sử xã hội. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin đòi hỏi nghiên cứu xã hội phải phân tích “các cá nhân hiện thực, hoạt động của họ và các điều kiện sống vật chất của họ ”. Mác cho rằng sự kiện lịch sử đầu tiên và quan trọng nhất là hành động sản xuất ra các phương tiện thoả mãn nhu cầu vật chất để tồn tại con người và “ tồn tại xã hội quyết định ý thức ”… Khi nghiên cứu xã hội, chủ nghĩa duy vật lịch sử xem xét xã hội với tư cách là một chỉnh thể gồm các bộ phận có mối liên hệ qua lại với nhau xã hội phát triển từ hình thái kinh tế - xã hội đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao,v.v. Ở đây luận văn chỉ đề cập một số quan điểm chung liên quan đến nghiên cứu:"một số vấn đề xã hội nảy sinh trong quan hệ thương thại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ". Chủ nghĩa duy vật lịch sử với tư cách là cơ sở lý luận và phương pháp luận trong nghiên cứu xã hội học nói chung và trong nghiên cứu về một số vấn đề xã hội nảy sinh trong quan hệ thương thại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ nói 18 riêng phải tập trung vào phân tích mối quan hệ về kinh tế - xã hội, chính trị, văn hoá giữa hai bên trong việc tạo ra các chính sách và cơ chế quan hệ cho thương mại giữa hai bên nói chung, quan hệ thượng mại thuỷ sản nói riêng. Chẳng hạn, nghiên cứu một số vấn đề xã hội nảy sinh trong quan hệ thương thại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ tác động đến cơ cấu kinh tế - thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ như thế nào và cũng như tác động đến các quan hệ về kinh tế, chính trị, văn hoá giữa hai bên theo xu hướng nào. Mác cho rằng:“ bản chất con người không phải là một cái trừu tượng, cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội”. Nghiên cứu một số vấn đề xã hội nảy sinh trong quan hệ thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ không chỉ phân tích ảnh hưởng của thiết chế kinh tế, các chính sách kinh tế và trao đổi thương mại tới hành vi, hoạt động của hai bên mà còn phân tích ảnh hưởng của các thiết chế khác, các chính sách xã hội tới việc cải thiện điều kiện vật chất và tinh thần của người dân làm nghề thuỷ sản nói chung, cũng như đến mối quan hệ thương mại thuỷ sản giữa hai bên trong thời kỳ hiện nay. Tất nhiên, nghiên cứu: "Một số vấn đề xã hội nảy sinh trong quan hệ thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ" phải đặt nó trong bối cảnh và mối tương tác cụ thể và phát triển theo quy luật quan hệ của nó vì không phải bối cảnh nào cũng nảy sinh ra các vấn đề xã hội giống nhau v.v…Trong nền kinh tế thị trường hiện nay của nước ta có nhiều thành phần kinh tế khác nhau và gắn liền với mục tiêu chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để xây dựng nước Việt Nam:“dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” thì sự nảy sinh ra một số vấn đề xã hội trong quan hệ kinh tế giữa hai bên là tất yếu và nó cũng diễn ra theo quy luật của nó, đồng thời cũng tác động đến khả năng hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam nói chung, của ngành thuỷ sản nói riêng. Chính vì vậy việc vận dụng các quy luật để giải quyết tốt các vấn đề nảy sinh trong quan hệ thương mại giữa hai bên góp phần tạo nên mối quan hệ tốt đẹp phù hợp với lợi ích của mỗi quốc gia. 19 1.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam Quan hệ hợp tác quốc tế để phát triển là xu thế tất yếu hiện nay của thế giới, cũng là nhu cầu của các quốc gia. Các nền kinh tế ( dù ở trình độ nào) đều phải cần liên kết với nhau để trao đổi, học hỏi kinh nghiệm và hỗ trợ nhau. Phát triển mối quan hệ hợp tác giữa các nước, các tổ chức quốc tế đã trở thành mối quan tâm của nhân loại. Đảng và Nhà Việt Nam đã thể hiện rõ quan điểm trước thế giới mong muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng Quốc tế và sẵn sàng hợp tác với các quốc gia, các tổ chức quốc tế và khu vực vì sự thịnh vượng chung của nhân dân Việt Nam và nhân dân các nước. Thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, Đảng cộng sản Việt Nam coi phát triển là phát huy mọi nguồn lực để phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hoá, từng bước cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân… Phát triển mạnh và phát huy vai trò chiến lược của kinh tế biển kết hợp với bảo vệ vùng biển, mở rộng nuôi trồng và đánh bắt, chế biến hải sản, tiến ra biển xa nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư dựa trên cơ sở phát huy các thế mạnh và các thế lợi so sánh của đất nước, tăng sức cạnh tranh, gắn với nhu cầu thị trường trong nước và ngoài nước... Tạo thêm sức mua của thị trường trong nước và mở rộng thị trường ngoài nước, đẩy mạnh xuất khẩu trong đó coi xuất khẩu thuỷ sản là một lĩnh vực mũi nhọn. 1.3. Một số lý thuyết vận dụng nghiên cứu một số vấn đề xã hội nảy sinh trong quan hệ thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ Trong nghiên cứu xã hội học, đặc biệt là nghiên cứu về "một số vấn đề xã hội nảy sinh trong quan hệ thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, có nhiều quan điểm và lý thuyết giúp các nhà nghiên cứu có thể vận dụng vào nghiên cứu của mình. Để thực hiện đề tài luận văn, tác giả vận dụng lý thuyết " 20 Lựa chọn hợp lý" của Coleman và lý thuyết " trao đổi" của Peter Blau làm cơ sở khoa học để phân tích, đánh giá và dự báo về quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trong thương mại thuỷ sản trong phạm vi giới hạn đã được xác định của đề tài. Trong quá trình nghiên cứu, căn cứ vào những nét văn hoá riêng của đất nước, tác giả cố gắng đặt nghiên cứu của mình vào trong bối cảnh cụ thể để nghiên cứu vừa vận dụng và lựa chọn hợp lý những ưu điểm của các lý thuyết đó. 1.3.1. Lý thuyết Lựa chọn hợp lý: Một số nét cơ bản vận dụng. Một số tác giả tiêu biểu của lý thuyết lựa chọn hợp lý này là Coleman, Friendman và Hechter cho rằng sự lựa chọn hợp lý của các chủ thể là có những mục đích, mục tiêu về cái mà hành động của họ hướng tới. Hành động của các chủ thể được thực hiện để đạt được các mục đích phù hợp với hệ tư tưởng của họ. Mặc dù các chủ thể hành động là nhằm vào các mục đích và dự định của họ. Song điều quan trọng là các chủ thể luôn tính đến 2 yếu tố cơ bản kìm hãm hành động của họ [14]: Thứ nhất, sự hiếm hoi các tiềm năng của các chủ thể, vì các chủ thể có các tiềm năng khác nhau cũng như cách thâm nhập khác nhau vào các tiềm năng khác. Đối với các chủ thể có nhiều tiềm năng thì họ có thể đạt được kết quả của họ một cách tương đối dễ (Ví như các ông chủ đứng đầu Hiệp hội các chủ trại nuôi cá nheo Hoa Kỳ (CFA) phải đối phó với sự cạnh tranh về sản phẩm cá tra, cá basa nhập khẩu từ Việt Nam vào Hoa Kỳ, họ dễ dàng tìm cách để đưa ra những lý do kiện các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu thuỷ sản vào Hoa Kỳ). Trái lại, đối với các chủ thể có ít tiềm năng thì sự đạt được mục đích của họ lại trở nên khó khăn hoặc không đạt được mục đích (Ví như, khi các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm cá tra, cá basa bị kiện cho rằng bán phá giá sản phẩm của mình trên thị trường Hoa Kỳ, thì các doanh nghiệp Việt Nam sẽ luôn gặp những khó khăn để bác bỏ được đơn kiện của Hiệp hội các chủ trại nuôi cá nheo Hoa Kỳ (CFA) vì nhiều yếu tố như chi phí cao, hoặc vì Việt Nam là một nước chưa được Hoa Kỳ công nhận là quốc gia có nền kinh tế thị trường, hoặc Hoa Kỳ luôn luôn có chính sách bảo hộ nền công nghiệp nội địa của họ.v.v.). 21 Sự hiếm hoi các tiềm năng là một nhân tố kìm hãm các chủ thể hành động. Các chủ thể luôn tính đến vấn đề chi phí của các cơ hội hay các chi phí đó luôn gắn liền với chuỗi hành động theo đuổi mục đích của họ, các chủ thể luôn phải tính đến cái giá của các hành động kế tiếp của họ. Một chủ thể có thể chọn cách không theo đuổi mục đích có giá trị, lợi nhuận cao nhất nếu tiềm năng của chủ thể đó hạn chế hoặc nếu kết quả là các cơ may để đạt được mục đích là rất mỏng manh. Các chủ thể luôn luôn cố gắng để tối đa hoá các lợi ích, giá trị và mục đích của họ và những mục đích, giá trị, lợi ích đó có thể bao gồm việc đánh giá mối quan hệ giữa các cơ may để đạt được một mục đích ban đầu và xem xét các cơ may đó để đạt được mục đích có giá trị tiếp theo. Thứ hai, sự kìm hãm các hành động của các chủ thể là các thiết chế, chuẩn mực xã hội. Các yếu tố kìm hãm hành động của các chủ thể cũng còn bao gồm cả các hình phạt tích cực và tiêu cực đan xen nhau kích thích các chủ thể hành động một cách xác định có nên lựa chọn hành động đó không hay loại trừ các hành động đó. Cơ sở của việc lựa chọn hợp lý được Friendman và Hecchter liệt kê hai ý tưởng sau: (1)- Tập hợp cơ cấu hay quá trình mà qua đó " các hành vi cá thể riêng biệt được kết hợp để tạo ra kết quả xã hội", (2)- Do nhận thức càng ngày càng cao về tầm quan trọng của thông tin trong việc lựa chọn hợp lý trong từng thời điểm, giả sử các chủ thể có được các thông tin hoàn hảo hoặc đầy đủ thì họ sẽ thực hiện các lựa chọn để theo đuổi mục đích giữa các chuỗi hành động có thể thế nhau bỏ ngỏ cho anh ta và tất nhiên là việc nhận thức tầm quan trọng của thông tin là rất đa dạng và sẵn có lại ảnh hưởng sâu sắc tới các lựa chọn của các chủ thể. Sự lựa chọn hợp lý (mô hình của hành động hợp lý) được Coleman vận dụng như là cơ sở ở cấp độ vi mô để lý giải các hiện tượng vĩ mô và ông cho rằng xã hội học phải tập trung vào các hệ thống xã hội và việc lý giải các hiện tượng trong các hệ thống xã hội phải được lý giải bởi các yếu tố nội tại của chúng (các hệ thống - nguyên mẫu là các chủ thể). Hơn nữa, các ý tưởng, quan điểm thường được tập hợp ở cấp độ cá thể rồi mới được kết hợp lại ở cấp độ hệ thống, cấp độ 22 cá thể chính là nơi "các sự can thiệp" thường được thực hiện để tạo ra các biến đổi xã hội. Hành động hợp lý của các chủ thể chính là hành động có mục đích để hướng tới một mục tiêu và mục tiêu đó cũng như hành động đó định hình bởi các giá trị hay các sở thích nhằm tối đa hoá các lợi ích hay nhằm thoả mãn các nhu cầu và kỳ vọng của chủ thể.. Trọng tâm trong quan điểm của Coleman là hai nhân tố cơ bản sau: các chủ thể và các tiềm năng của họ. Các tiềm năng là những cái mà qua đó các chủ thể kiểm soát và họ có sự quan tâm nhất định về việc kiểm soát các tiềm năng này. Sự tương tác của các chủ thể và tiềm năng của họ dẫn tới cấp độ hệ thống.: " Nền tảng tối thiểu đối với một hệ thống xã hội là hai chủ thể, mỗi chủ thể kiểm soát các tiềm năng về mối quan tâm của chủ thể kia và chính mối quan tâm của từng chủ thể về các tiềm năng thuộc sự kiểm soát của các chủ thể còn lại dẫn tới việc cả hai thực hiện các hành động bao gồm…một hệ thống hành động… chính cấu trúc này và các định hướng của các chủ thể về mục đích thì mỗi chủ thể có mục tiêu để tối đa hoá nhận thức về các quan tâm của họ dẫn tới sự phụ thuộc lẫn nhau trong các hành động của họ" [14] Trong thực tiễn, Coleman cũng cho rằng các chủ thể cũng thường không ứng xử một cách hợp lý. Song hành động hợp lý của các chủ thể lại được thể hiện trong mối liên kết vi mô- vĩ mô hay theo cách thức kết hợp của các hành động cá thể để đưa tới hành vi của hệ thống và hệ thống này có cách thức để kìm hãm các định hướng hành động của các chủ thể. Quan điểm của Coleman là tiếp cận cấp vi mô để giả thích các hiện tượng vĩ mô và những khác biệt trong các hiện tượng vĩ mô có thể truy nguyên tới các cấu trúc khác nhau của các quan hệ ở cấp độ vĩ mô chứ không phải ở các dạng khác nhau của cấp độ vi mô. Sự vận động từ cấp độ vi mô sang vĩ mô là việc ban thẩm quyền và các quyền lợi thuộc sở hữu, kiểm soát của một chủ thể cho một chủ thể khác và hành động này có xu hướng dẫn tới sự phụ thuộc lẫn nhau của một chủ thể này vào một chủ thể khác.Điều quan trọng hơn là nó tạo ra một hiện tượng vĩ mô cơ bản nhất - một đơn vị hành động bao gồm hai chủ thể hay đúng hơn là hai chủ thể độc lập. Mối liên hệ trong một cấu 23
- Xem thêm -