Tài liệu Vai trò ni giới phật giáo huế đối với giáo hội phật giáo việt nam và xã hội (từ 1987 đến đầu 2017)​.

  • Số trang: 99 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 7 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ------------ TRẦN THỊ BÉ VAI TRÒ NI GIỚI PHẬT GIÁO HUẾ ĐỐI VỚI GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM VÀ XÃ HỘI (TỪ NĂM 1987 ĐẾN NĂM 2017) LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÂU Á HỌC HÀ NỘI – 2020 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ------------ TRẦN THỊ BÉ VAI TRÒ NI GIỚI PHẬT GIÁO HUẾ ĐỐI VỚI GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM VÀ XÃ HỘI (TỪ 1987 ĐẾN ĐẦU 2017) Chuyên ngành : Châu Á học Mã số : 17035041 LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÂU Á HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : GS.TS MAI HỌC CHỪ HÀ NỘI – 2020 LỜI CAM ĐOAN Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Mai Ngọc Chừ. Các số liệu, những kết luận nghiên cứu, hình ảnh được trình bày trong luận văn này hoàn toàn trung thực. Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này. Hà Nội, tháng 4 năm 2020 Trần Thị Bé LỜI CẢM ƠN Trước hết, tôi xin được tỏ lòng biết ơn và gửi lời cảm ơn chân thành đến GS.TS Mai Ngọc Chừ, người trực tiếp hướng dẫn đề tài này của tôi, Thầy đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tôi trong các bước nghiên cứu cũng như hoàn thành luận văn. Dù bận nhiều việc nhưng Thầy luôn giành thời gian nhắc nhở cũng như khích lệ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này. Ngoài ra, trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài tôi còn nhận được nhiều sự quan tâm, góp ý, hỗ trợ quý báu của quý thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè và người thân. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến: Ngôi chùa tôi đang tu học tại Huế đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian tôi theo học khóa thạc sĩ tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội. Quý thầy cô trong Khoa Đông Phương học cũng như quý thầy cô ngoài khoa của trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội đã truyền trao nhiều kinh nghiệm, kỷ năng cũng như kiến thức quý báu tại thời gian tôi theo học ở trường. Cuối cùng, tôi xin cảm ơn bạn bè cùng lớp và bạn bè đồng tu đã luôn giúp đở trong quá trình tìm kiếm tài liệu cũng như các thông tin có liên quan đến luận văn. Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu, song do khả năng và kinh nghiệm của bản thân có hạn, nên luận văn không tránh khỏi những tồn tại, hạn chế và thiếu sót. Vì vậy tôi rất mong được nhận được sự góp ý chân thành của các thầy giáo, cô giáo, của các đồng nghiệp nhằm bổ sung hoàn thiện trong quá trình nghiên cứu tiếp theo. Hà Nội, tháng 3 năm 2020 MỤC LỤC MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1 1. Lý do chọn đề tài .......................................................................................... 1 2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ..................................................... 3 3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ........................................................................... 3 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................ 4 5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................. 5 6. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 5 7. Cấu trúc luận văn .......................................................................................... 5 CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VÀ NI GIỚI PHẬT GIÁO VIỆT NAM ............................................................................... 7 1.1 Khái quát về giáo hội Phật giáo Việt Nam .............................................. 7 1.2 Mấy nét về Ni giới Phật giáo Việt Nam ................................................... 9 1.2.1 Khái niệm Ni giới ..................................................................................... 9 1.2.2 Sự hình thành Ni giới ............................................................................. 10 1.2.3 Sự hình thành Ni giới Việt Nam nói chung và Huế nói riêng ............... 14 1.2.4 Hội Sakyadhita ....................................................................................... 18 1.2.5 Đặc điểm Ni giới Phật giáo Huế ............................................................ 20 CHƢƠNG 2 : VAI TRÒ CỦA NI GIỚI HUẾ ĐỐI VỚI GIÁO HỘI ...... 25 2.1 Vai trò trong việc xây dựng tổ chức Giáo hội....................................... 25 2.1.1 Tham gia vào bộ máy hoạt động của Giáo Hội ..................................... 26 2.1.2 Đảm nhiệm các vai trò “ Tăng sai”....................................................... 33 2.2 Vai trò trong việc quản lý và nuôi dạy thế hệ Ni giới tiếp theo .......... 39 2.2.1 Vai trò quản lý Ni giới tại Huế............................................................... 40 2.2.2 Nuôi dạy thế hệ Ni giới tiếp theo ........................................................... 41 CHƢƠNG 3 : VAI TRÒ CỦA NI GIỚI HUẾ ĐỐI VỚI XÃ HỘI ........... 51 3.1 Hoạt động công tác xã hội ...................................................................... 51 3.1.1 Mở các trung tâm nuôi dạy trẻ mồ côi ................................................... 52 3.1.2 Thành lập các viện dưỡng lão cho những cụ già có hoàn cảnh khó khăn....54 3.1.3 Từ thiện an sinh xã hội ........................................................................... 56 3.2. Vai trò giáo dục ...................................................................................... 58 3.2.1 Mở các trường mầm non Phật giáo ....................................................... 58 3.2.2 Mở các lớp dạy nghề cho người khuyết tật và khó khăn ....................... 62 3.2.3 Giáo dục thanh thiếu niên Phật tử ........................................................ 63 3.3 Vai trò y tế................................................................................................ 65 3.4 Vai trò kinh tế .......................................................................................... 67 3.5 Vai trò về mặt tinh thần.......................................................................... 71 KẾT LUẬN .................................................................................................... 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 78 PHỤ LỤC ....................................................................................................... 83 DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1: thống kê bình quân Tăng Ni qua 6 kỳ Đại hội Phật giáo tỉnh TT Huế ................................................................................................................. 27 Bảng 2.2 : thống kê thành phần nhân sự Tăng Ni trong BTS TT Huế qua 6 nhiệm kỳ .......................................................................................................... 29 *Bảng 2.3: thống kê nhân sự bình quân trong các phân ban của Giáo hội qua các nhiệm kỳ (1987-2017) ............................................................................. 31 Bảng2.4 : Thống kê bình quân thành phần giảng sư và các buổi giảng pháp, dạy lớp Phật tử của Giáo hội từ năm 1997-2007. ........................................... 35 Bảng2. 5 : thống kê bình quân thành phần giảng sư và các buổi giảng pháp, dạy lớp Phật tử của Ban trị sự Huế từ năm 2007-2017 ................................... 37 Báng 2.6 : Thống kê trung bình số ni chúng ở 5 chùa lớn tại Huế năm19872017 ................................................................................................................. 44 Bảng 3.1 : Thống kê số lượng bình quân các trẻ tại cô nhi viện Đức Sơn và Ưu Đàm từ 1987 đến 2017 .............................................................................. 52 Bảng 3.2 : Thống kê số người đăng ký dưỡng lão tại chùa Tịnh Đức và Diệu Viên ................................................................................................................. 55 từ năm1987 đến 2017 ..................................................................................... 55 Bảng 3.3: Thống kê tổng chi bình quân từ thiện qua các năm của Ban từ thiện thuộc ................................................................................................................ 57 BTS GHPG TT Huế ....................................................................................... 57 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong thế giới ngày nay, khi nói đến người phụ nữ, cảm quan của chúng ta rất khác so với những thập niên của thế kỷ XX trở về trước, họ không còn nằm trong phạm vi của một người nội trợ hay chỉ “ tam tòng – tứ đức”, phụ nữ ngày nay đã dấn thân ra xã hội bằng tất cả năng lực của bản thân, góp phần vào công cuộc xây dựng gia đình và xã hội. Ngày nay người phụ nữ hiện đại đẹp từ nhân phẩm đến trí tuệ. Sự đối trọng giữa nam và nữ đã luôn tồn tại trong lòng xã hội qua các thời kỳ khác nhau, đã mặc định phụ nữ chẳng biết làm gì và cũng không nên làm gì ngoài việc chăm lo chồng con, nội ngoại, chính những phong tục và lễ nghi phong kiến đã trói buộc và kìm hãm khả năng của người phụ nữ. Thời nay, khi “thế giới phẳng” là xu thế, người nữ cũng lên bàn cân của xã hội, cũng làm việc và phát huy năng lực nội tại của bản thân, đóng góp một phần không nhỏ cho sự phát triển toàn cầu. Ni giới Phật giáo không ngoại lệ, tuy là người xuất gia, không màng đến thế tục, nhưng không có nghĩa là “yếm thế” như người ta từng nghĩ. Vai trò của họ trong thế giới ngay nay với sở tu sở học của mình cũng đã được khẳng định, bởi “Phật pháp bất ly thế gian pháp” (Phật pháp không xa rời thế gian mà thực hành). Ngay từ thời Đức Phật, địa vị người phụ nữ đã được Đức Phật xác định qua khả năng tu tập và chứng ngộ, thành lập tổ chức Ni đoàn và tham gia thuyết giảng cho hàng cư sĩ và giáo dục Ni giới1 . Cho đến bây giờ, vai trò Ni giới Phật giáo càng được đề cao trong sứ mệnh chung của Giáo hội, ngoài vai trò trong việc tổ chức Tăng đoàn ( gồm Tăng và Ni ) thì vai trò đối với xã hội cũng được quan tâm đến, được xem là mục tiêu trong việc hoằng dương chánh pháp. Huế là một trong những cái nôi của Phật Giáo Việt Nam ở Miền Trung, ở đây đã từng xuất hiện nhiều Ni Sư lỗi lạc như Ni Sư Diên Trường, Ni sư Diệu 1 Hoà Thượng Minh Châu Việt dịch,Trưởng lão Ni kệ,2005, NXB Tôn Giáo 1 Hương, Ni sư Diệu Không…đóng góp cho quá trình chấn hưng Phật giáo, cũng như tham gia các hoạt động thành lập cô nhi viện, viện dưỡng lão, từ thiện an sinh xã hội theo nhu cầu của thời cuộc, chư vị được xem là những Ni sư đi đầu trong việc dấn thân phụng sự xã hội, làm nền tảng cho những hoạt động sau này của chư Ni giới Huế nói riêng và Ni giới Việt Nam nói chung. Với nhãn quan của người thế tục (những người không phải Phật tử, không hiểu biết về Đạo Phật) một số người nghĩ rằng Phật giáo là tôn giáo của sự yếm thế, hạn chế trong việc đóng góp vào sự phát triển của xã hội, thì Ni giới vai trò đối với xã hội càng bị lu mờ. Ni giới chỉ được biết đến là người chỉ biết “tụng kinh gõ mõ”, cơm rau qua ngày trong chốn thiền môn, ít tham gia các hoạt động như chư Tăng. Tuy vậy, với người dân Huế - nơi mà giáo lý Đạo Phật thấm nhuần trong tư tưởng cũng như sanh hoạt thường nhật, họ luôn thấy được Ni giới ở Huế từ đầu thế kỷ XX đến nay đã luôn có những đóng góp thiết thực cho xã hội từ những nền tảng đóng góp trước đó của chư Ni. Đó chính là lý do để chúng tôi chọn xứ Huế làm địa điểm nghiên cứu về vai trò của Ni giới Phật giáo. Sở dĩ người viết chọn mốc năm 1987 là bởi thời gian này “Hội nghị Quốc tế về nữ giới theo Phật giáo” (Sakyadhita International Conferecen on Buddhish Women) được tổ chức thành lập, từ hội nghị này, vị trí của Nữ giới Phật giáo được khẳng định, đặc biệt là Ni giới. Hội nghị là một diễn đàn chung cho giới nữ Phật tử, nơi có thể nói lên tâm tư nguyện vọng, cũng như tạo mọi điều kiện để Ni giới thực hiện được sứ mệnh “những người con gái Đức Phật”. Ở đây, phương hướng, mục tiêu được hoạch định phù hợp với từng quốc gia và thời cuộc, mạnh dạn đưa ra những khiếm khuyết cần khắc phục. Hơn nữa, năm 1986 Đại hội lần thứ VI của Đảng thực sự trở thành cột mốc đổi mới toàn diện đất nước trên mọi lĩnh vực, Việt Nam bước vào một thời kỳ mới, thời kỳ vực dậy để sánh bước với các quốc gia đã và đang phát triển trong khu vực và thế giới. Từ đây Phật giáo nói chung và Ni giới nói 2 riêng đóng một vai trò quan trọng trong công cuộc đổi mới đất nước. Với mục đích giúp mọi người nhận thức rõ hơn về vai trò của Ni giới Phật giáo, đặc biệt là Ni giới Huế và phát huy hơn nữa sự đóng góp của cộng đồng Ni giới Việt Nam nói chung và Ni giới Huế trong sứ mệnh “hoằng nguyện độ sanh” trên con đường lý tưởng của mình, người viết đã lựa chọn đề tài này. Ngoài việc làm rõ một số đặc điểm của Ni giới Huế so với những vùng miền khác, người viết đặc biệt quan tâm nghiên cứu vai trò của họ đối với cộng đồng xã hội hiện nay. 2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ vai trò của Ni giới Phật giáo xứ Huế đối với xã hội và Giáo hội Phật giáo Việt Nam, góp phần khẳng định vai trò và vị thế của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tư liệu tham khảo hữu ích cho những ai quan tâm đến Ni giới nói chung và Ni giới Huế nói riêng. Ngoài ra luận văn sẽ giúp các Ni hiểu rõ hơn tầm quan trọng của mình trong công cuộc “ hoằng pháp lợi sinh”, từ đó tích cực cống hiến cho Phật giáo và xã hội. 3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Vai trò của Nữ tu sĩ Phật giáo ít được quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, vấn đề này cũng đã được đề cập đến ít nhiều trong một số sách về Phật giáo. Trước đây có nhiều tác phẩm viết về Ni giới Phật giáo trên thế giới, nhưng những tác phẩm đó thường viết về cá nhân, như một dạng tự truyện về cuộc đời và những ảnh hưởng, đóng góp của họ đối với cộng đồng xã hội. Có thể kể ra một số tác phẩm như Những người con gái Đức Phật (Karma Lekshe Tsomo, Hoang Phong chuyển ngữ,1988, Snow Lion Publications), Hành trình của một Nữ tu sĩ Phật giáo: trước những luồng gió ngược chiều (The Journey of One Buddhist Nun: Even Against the Wind/Sid Brown, Albany, NY: State University of New York Press, 2001), Thân phận một nữ tu sĩ Phật giáo: 3 Tranh đấu để đạt giác ngộ trong rặng Hy-mã Lạp-sơn (Being a Buddhist Nun: The Struggle for Enlightenment in the Himalayas, Kim Gutschow, Harvard University Press, 2004). Ở Việt Nam, cho đến nay cũng đã có một số sách mang tính chất giới thiệu hoặc những bài viết nói về tình hình chung của Ni Giới. Ví dụ: Hành trạng chư Ni Việt Nam (Thích nữ Như Nguyệt, nxb Tôn Giáo, 2017) kể về công hạnh của các bậc Ni tài Việt Nam qua các thời kỳ, trong đó có đóng góp của Chư Ni (Nữ Tu) Huế, Vai trò của Phật giáo trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay (Đỗ Thu Hường, Luận văn Thạc sĩ Triết học, Hà Nội 2010), Quá trình hình thành và phát triển của ni giới Bắc Tông Thừa Thiên Huế (Trần Đình Sơn,2016, nxb Hồng Đức), Đường Thiền Sen nở (Lê Ngân & Hồ Đắc Hoài,nxb Lao Động, 2009). Ngoài ra còn có thể kể đến Hồi ký của Sư Bà Thích Nữ Diệu Không về môi trường tu học cũng như hành đạo của chư Ni Huế. Về cơ bản, các tác phẩm chủ yếu giới thiệu về lịch sử và vai trò Phật giáo Việt Nam nói chung và Phật giáo ở Huế nói riêng. Có thể nói, cho đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu toàn diện và chuyên sâu về vai trò của Ni giới Phật giáo Huế. 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu * Mục đích Luận văn hướng tới mục đích là làm sáng tỏ vai trò của Ni giới Phật giáo Huế đối với Giáo hội và xã hội Huế. * Nhiệm vụ Để đạt được mục đích trên, người viết thực hiện các nhiệm vụ sau: - Tổng hợp, phân tích các tài liệu liên quan đến Phật giáo và Ni giới Phật giáo Tỉnh Thừa Thiên Huế. - Phân tích, làm sáng tỏ vai trò của Ni giới Phật giáo Huế đối với Giáo hội Phật giáo tại Huế - Phân tích, làm sáng tỏ vai trò của Ni giới Phật giáo Huế đối với xã 4 hội tại Huế. 5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vai trò của Ni giới Huế đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam và xã hội. - Phạm vi + Phạm vi không gian : thành phố Huế + Phạm vị thời gian: 30 năm, từ 1987 đến đầu 2017. 6. Phƣơng pháp nghiên cứu Để thực hiện luận văn này, người viết sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau: - Phương pháp nghiên cứu tài liệu. Phương pháp này được thực hiện bằng việc thu thập thông tin từ thư viện, hiệu sách, v.v. - Phương pháp thống kê, tổng hợp và phân tích tài liệu, tư liệu thu thập được. - Phương pháp so sánh: tiến hành so sánh đặc điểm của nữ tu Phật Giáo Huế với các vùng miền liên quan, so sánh vai trò của họ đối với phụ nữ thế tục trong xã hội ngày nay. 7. Cấu trúc luận văn Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm có 3 chương. Chương 1: Khái quát về Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Ni giới Phật giáo Việt Nam Chương này đề cập đến khái niệm về Ni giới, sự hình thành Ni giới ở Việt Nam nói chung và ở Huế nói riêng, Hội Sakyadhita và vài nét về đặc điểm Ni giới Phật giáo Huế. Chương 2: Vai trò của Ni giới Huế đối với Giáo hội Chương này bàn về vai trò của Ni giới Huế trong việc xây dựng tổ chức Giáo hội (trong bộ máy hoạt động của Giáo hội, trong Tăng sai), trong việc quản lý Ni giới và nuôi dạy thế hệ Ni giới tiếp theo 5 Chương 3 : Vai trò của Ni giới Huế đối với xã hội Chương này làm sáng tỏ vai trò của Ni giới trong các hoạt động công tác xã hội, trong giáo dục, y tế, kinh tế và đời sống tinh thần của người dân. 6 CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VÀ NI GIỚI PHẬT GIÁO VIỆT NAM 1.1 Khái quát về giáo hội Phật giáo Việt Nam Từ khi Phật giáo xuất hiện ở Ấn Độ đã hình thành tổ chức giáo hội nguyên thủy với khái niệm Tam Bảo làm trụ cột, bốn chúng đệ tử thực hành và tuân theo những giáo lý mà Đức Phật đã truyền dạy. Hiện nay mỗi một quốc gia có Phật giáo, đều có những tổ chức giáo hội riêng, với những phương thức hành đạo và truyền giáo phù hợp với quốc gia và lãnh thổ mà mình tu học. Phật giáo có hai nhánh chính là Phật giáo Nguyên thủy (Srilanka, Miến Điện, Thái Lan...) và Phật giáo Phát triển (Trung Quốc, Triều Tiên, Việt Nam...). Ở Việt Nam đã tồn tại một tổ chức Giáo hội sơ khai được biết đến là trung tâm Phật giáo Luy Lâu, tồn tại vào khoảng thế kỷ II-III. Theo Việt Nam Phật giáo sử luận (Nguyễn Lang, 2014, tr21) : "Đạo Phật được truyền vào Việt Nam khoảng đầu kỷ nguyên Tây lịch. Tài liệu chắc chắn cho biết rằng vào hạ bán thế kỷ thứ hai, tại nước ta đã có một trung tâm Phật giáo phồn vinh và quan trọng rồi, nhưng có thể đạo Phật đã du nhập vào nước ta trong thế kỷ đầu của kỷ nguyên.” Khi thực dân Pháp đem quân xâm lược nước ta, cũng là lúc Pháp mang theo văn hoá, tín ngưỡng, Tôn giáo phương Tây truyền bá vào Việt Nam. Khi đó Phật giáo đã không còn được sự ủng hộ như trước đây, bản thân Phật giáo lúc này nặng về tín ngưỡng hơn tư duy, chư Tăng Ni Phật tử ít am hiểu về giáo lý. Từ bối cảnh đó, một số Tăng Ni, Cư sĩ có tâm huyết và tinh thần đạo pháp, dân tộc đã quyết tâm chỉnh đốn lại bằng cách mở các trường Phật học tại các tỉnh thành, dịch kinh điển sang chữ quốc ngữ cho Tăng Ni, Phật tử dễ học, dễ hiểu, xây dựng các cơ sở xã hội, ra các tờ tạp chí với mục đích giúp đỡ nhau cùng học Phật và hoằng pháp, nêu cao tinh thần dân tộc, chương 7 trình phổ cập văn hoá cũng được đưa vào giáo dục cho Tăng Ni. Phong trào “Chấn hưng Phật giáo” ở cả 3 miền Trung - Nam - Bắc trong những thập niên 30, 40 của thế kỷ XX đã thổi bùng lên truyền thống yêu nước và ý thức trách nhiệm đối với Dân tộc và Đạo pháp của Tăng Ni, Phật tử, nhất là sau khi Cách mạng tháng Tám thành công. Cho đến thời điểm Việt Nam được thống nhất về mặt nhà nước vào năm 1976 tại miền Bắc và miền Nam có nhiều tổ chức Phật giáo khác nhau hoạt động. Ở miền Nam, vào ngày 31/12/1963, đại diện 11 tông phái và hội Phật giáo Bắc tông và Nam tông đã cùng nhau họp tại chùa Xá Lợi, Sài Gòn, để soạn thảo Hiến chương thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất*. Năm 1964 các hội đoàn Phật giáo miền Nam Việt Nam đã thống nhất dưới một mái nhà chung là Giáo Hội Phật Gíao Việt Nam Thống Nhất và sau 17 năm hoạt động giáo hội này đã ngưng mọi sinh hoạt vào năm 1981. Đầu năm 1980, thể theo nguyện vọng của toàn thể Tăng Ni, Cư sĩ, Phật tử, các vị Giáo phẩm đại diện cho các tổ chức hệ phái lớn của Phật giáo họp tại thành phố Hồ Chí Minh và quyết định thành lập “Ban Vận động thống nhất Phật giáo” để xúc tiến cuộc vận động trong phạm vi cả nước, bao gồm đại diện của 9 tổ chức, hệ phái: - Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam (ở miền Bắc); - Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất (Ấn Quang); - Ban Liên lạc Phật giáo yêu nước thành phố Hồ Chí Minh; - Giáo hội Phật giáo cổ truyền Việt Nam; - Giáo hội Tăng già nguyên thuỷ Việt Nam; - Hội đoàn kết sư sãi yêu nước Tây Nam bộ (Phật giáo Khmer); * Minh Nga, Phó Vụ trưởng Vụ Phật giáo, Ban Tôn giáo Chính phủ: Đôi nét về đạo Phật và GHPGVN http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/162/0/944/Doi_net_ve_dao_Phat_va_Giao_hoi_Phat_giao_Viet_ Nam 8 - Giáo phái Khất sĩ Việt Nam; - Giáo hội Thiên Thai giáo quán tông; - Hội Phật học Nam Việt. Ngày 07/11/1981 Đại hội thống nhất Phật giáo đã được tổ chức tại chùa Quán Sứ, Hà Nội với sự tham dự của 168 vị Giáo phẩm, Tăng Ni, Cư sĩ đại diện cho 9 tổ chức, hệ phái nói trên để thành lập nên một tổ chức chung của Phật giáo cả nước lấy tên là "Giáo hội Phật giáo Việt Nam" (GHPGVN). Cho đến nay gần 36 năm, cơ chế tổ chức Giáo Hội đã tự hoàn thiện và hiện có 63/63 đơn vị tỉnh/thành hội Phật giáo trong toàn quốc. Tại Lời nói đầu của Hiến chương, GHPGVN đã khẳng định: Sự thống nhất Phật giáo Việt Nam đặt trên nguyên tắc: “Thống nhất ý chí và hành động, thống nhất lãnh đạo và tổ chức, tuy nhiên, các truyền thống hệ phái và phương tiện tu hành đúng chính pháp vẫn được duy trì”, và xác định “Phương châm hoạt động của GHPGVN là: Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”, “GHPGVN là tổ chức Giáo hội duy nhất đại diện cho Tăng Ni, Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước” . Hiến chương GHPGVN đã khẳng định: "Mục đích của GHPGVN là điều hoà, hợp nhất các tổ chức, hệ phái Phật giáo Việt Nam cả nước để hộ trì hoằng dương Phật pháp và tham gia xây dựng bảo vệ Tổ quốc, phục vụ dân tộc, góp phần xây dựng hoà bình, an lạc cho thế giới”* 1.2 Mấy nét về Ni giới Phật giáo Việt Nam 1.2.1 Khái niệm Ni giới Theo Phật học từ điển ( Đoàn Trung Còn, 2011, NXB Tổng hợp TP HCM) : Ni có nghĩa là Bà vãi, Cô vãi, người phụ nữ đã thọ giái xuất gia và * Ngày 30-1-2013, HT.Thích Trí Tịnh, Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN đã ký Quyết định số 016/QĐ/HĐTS chính thức ban hành Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam tu chỉnh lần thứ V tại Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VII, sau khi đã được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn 9 tu tại chùa am. Ni chúng , nhiều người phụ nữ xuất gia nhóm họp lại một chỗ để tu học, để làm Phật sự. giới là một trong bốn chúng đệ tử quan trọng của Đức Phật, chỉ cho những người nữ xuất gia theo Phật giáo, cũng thuộc vào hàng Tăng bảo, thay Phật hoằng dương chánh pháp. Bao gồm: Tỳ Khưu, Tỳ Khưu Ni, Ưu Bà Tắc và Ưu Bà Di. Tỳ-khưu: chỉ cho người nam xuất gia.Tỳ- khưu là dịch âm của chữ Phạn Bhikkhu (sanscrik là Bhiksu) ý nghĩa chủ yếu là khất sĩ. Khất sĩ có nghĩa trên thì theo Như Lai khất cầu Phật pháp để dưỡng dục huệ mạng của pháp thân, dưới thì hướng về thế gian xin cầu cơm áo để nuôi sống sinh mạng của mình, của pháp thân vì thế gọi là khất sĩ. Tỳ-khưu-ni : là dịch âm của Phạn văn Bhiksuni. Tỳ-khưu-ni có nghĩa là nữ Tỳ khưu hoặc nữ khất sĩ. Ni giới ở đây chỉ cho người nữ xuất gia gồm nữ tập sự, Sa-di-ni, Thức-xoa-ma-na và Tỳ-khưu-ni. Ưu-bà-tắc và Ưu-bà-di ( Cận sự nam và Cận sự nữ) : “Người sống đời sống gia đình không phải là vị tu sĩ của Giáo hội, gọi là người tại gia (gahaṭṭha) hay cư sĩ (Gihi)”. Ngoài việc thực hành giáo pháp với cương vị là người tại gia, họ còn là người hộ trì đắc lực của Tăng đoàn, cúng dường tứ sự là ăn, mặc, chỗ ở và thuốc men cho Tăng chúng. 1.2.2 Sự hình thành Ni giới Ấn Độ được xem là một trong những nền văn minh lớn của nhân loại, với những thành tựu mang đậm nét Tôn giáo, là nơi nguồn cội chính thống ủa các tôn giáo lớn như Ấn Độ giáo, Phật giáo, đạo Jaina và đạo Sikh. Dù là một quốc gia có nền văn minh lớn và sớm, nhưng với những thành tựu đó cũng không làm Ấn Độ thoát khỏi cái khung nói chung của các quốc gia phương Đông, một mô-típ của cư dân nông nghiệp - địa vị và vai trò của người phụ nữ vẫn luôn đứng sau người đàn ông. 10 Phật giáo với khẳng định : “ Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” [ 30;tr 201] đã có một cái nhìn chung về nhân sinh cũng như khả năng của mỗi con người. Nhìn lại lịch sử Ấn Độ hơn 2500 về trước, khi mà giai cấp được phân định rất rõ trong xã hội, phụ nữ yếu thế trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là về các nghi lễ và nghi thức đọc tụng Tôn giáo, người nữ càng không được quyền chạm đến. Tôn giáo cổ của Ấn Độ cho rằng phụ nữ không có khả năng giác ngộ, và Ấn Độ giáo coi phụ nữ là thấp hèn, ô uế… Từ khi Phật giáo xuất hiện thì phụ nữ đã bước lên một nấc thang mới theo tinh thần “ai cũng được quyền để hạnh phúc”, với sự kiện nổi bật là việc thành lập Ni đoàn Phật giáo, phụ nữ đã được đặt chân vào ngôi nhà Tôn giáo, mà ở đây chính là Phật giáo, cũng tham gia vào tổ chức Giáo hội, là một phần quan trọng của Tăng đoàn. Đến nay vẫn còn nhiều tranh luận về sự thành lập Ni đoàn Phật giáo và ai là Tỳ- khưu-ni đầu tiên, nhưng nhìn chung, mọi người đã ngấm ngầm chấp nhận thời gian thành lập Ni đoàn là lúc Đức Phật chấp nhận sự xuất gia của Di mẫu Mahaprajapati* và 500 phụ nữ trong dòng họ Thích xuất gia, sự kiện này đánh dấu một mốc lịch sử quan trọng - giải phóng nữ giới. Với sự chấp thuận của Đức Phật, Tăng đoàn Tỳ-khưu-ni được thành lập khoảng 5 năm sau khi Phật thành đạo. Các sử liệu kinh tạng ghi lại rằng : ngày kia Ðức Phật đến thành Kapilavattu để giảng hòa một cuộc tranh chấp dữ dội giữa hai dân tộc, Sakyan và Koliyan, đang dành quyền sử dụng nước của dòng sông Rohini. Sau khi cuộc cãi vã cay đắng đã được dàn xếp ổn thỏa và hai bên dịu giọng, như thường lệ, Ðức Thế Tôn mở lời thuyết giảng Giáo pháp, và sau khi lắng nghe thời Pháp một số đông người trai trẻ Sakyan xin gia nhập vào Giáo hội chư Tỳ-Kheo. Các bà vợ của những vị ấy, do Maha Pajapati Gotami hướng dẫn cũng đến xin xuất gia với Ðức Bổn Sư. "Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, khu * Mahaprajapati sanh trưởng tại thị trấn Devadaha của xứ Ấn Ðộ cổ xưa, trong gia đình Suppabuddha. Bà là em của Hoàng Hậu Maha Maya-mẹ Thái Tử Siddhattha 11 vườn Nigrodha. Rồi Mahàpajàpatì Gotamì đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, Mahàpajàpatì Gotamì bạch Thế Tôn: - Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng. - Thôi vừa rồi, này Gotamì, chớ có ưa thích nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.” [6; tr 654,655] Sau ba lần thưa thỉnh đều bị Phật từ chối, Bà Mahàpajàpatì Gotamì, với tóc cạo sạch, đắp áo cà-sa, cùng với nhiều nữ nhân Sàkya ra đi đến Vesàli, tiếp tục bộ hành và đến Vesàli. Khi đến nơi với chân bị sưng, với tay chân lấm bụi, đau khổ, sầu muộn, nước mắt đầy mặt, khóc than, đứng ngoài cửa chính, Tôn giả Ananda đã thay mặt để cầu xin cho Mahapajàpatì và 500 quyến thuộc xuất gia, sau cuộc đối thoại khẳng định về sự chấn ngộ, cũng như nói đến công ơn của Di mẫu, Đức Phật đã chấp nhận cho phái đoàn nữ giới xuất gia với điều kiện giữ gìn “Bát Kỉnh pháp”. Tôn giả A Nan trao truyền lại tám điều giới pháp ấy cho bà Mahà Pajàpati Gotami. Bà vui mừng khôn xiết, hoan hỷ lãnh thọ và nguyện kính cùng chư Ni giữ trọn đời không vi phạm. Hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu vẫn đang tranh luận liệu “ Bát kỉnh pháp” có phải do Phật thuyết hay do các vị đời sau thêm vào? Và liệu có kỳ thị giới không khi bắt người nữ phải tuân thủ tám điều đó mới được phép xuất gia? Ở bài này không đặt nặng về nghiên cứu có hay không Phật dạy về Bát Kỉnh Pháp, vì nó là một vấn đề bàn luận sâu rộng vượt qua phạm vi nghiên cứu của đề tài, nhưng chắc một điều, với cương vị là một người nữ xuất gia, thì Bát Kỉnh pháp không phải là sự kỳ thị về giới mà Đức Phật muốn hướng đến. Nếu có sự kỳ thị thì ngay từ đầu, Đức Phật đã không làm cuộc cách mạng lớn về giới như vậy, bằng cách cho người nữ gia nhập giáo đoàn; nếu có kỳ thị thì 12 những năm sau khi Ni đoàn thành lập, Đức Phật đã không tán thán đến thành tựu mà những vị Ni đã đạt được qua quá trình tu đạo và chứng đạo [3, tr 540735] ; nếu có sự kỳ thị thì Đức Phật đã mâu thuẫn với chính những giáo pháo mà mình chỉ dạy: không quan trọng đến địa vị xã hội mà quan trọng đến nhân cách đạo đức. Nhìn ở góc độ lịch sử, Bát Kỉnh pháp ở giai đoạn đó chính là sự bảo hộ thiết yếu cho phái nữ và là sự bảo hộ cho Tăng chúng Phật giáo; với việc Di mẫu là người lớn tuổi trong bộ tộc, là người đã chăm nuôi khi Thái tử còn bé, là mẹ là cô của bao nhiêu vương thất công tử xuất gia theo Phật, nếu không có Bát Kỉnh pháp, liệu rằng Bà có thuần túy từ bỏ được lối sống vương giả cũng như vai trò “người lớn” của mình đối với những người đáng hàng con hàng cháu của mình trong Tăng đoàn. Đến thế kỷ III trước Tây lịch, Vua Asoka đã phái Hoàng tử Mahinda và Công chúa Sanghamitta sau khi xuất gia thì cùng phái đoàn Phật giáo sang Srilanka truyền đạo. Từ đây Phật giáo bắt đầu cắm rễ, lan tỏa ra toàn khu vực và thế giới. Có thể nói, Công chúa Sanghamitta là tổ Ni cho các nước Phật giáo trên thế giới ngày nay. Sự kiện thành lập Ni đoàn đã mở ra cho giới phụ nữ một cánh cửa mới, họ có thể chọn lựa hướng đi cũng như cách nhìn nhận của mình đối với gia đình và xã hội. Vượt ra ngoài định kiến rằng từ bỏ gia đình, sống không gia đình là thiếu trách nhiệm, trốn chạy xã hội vì vị thế thấp kém, gia nhập Tăng đoàn giúp họ hướng đến một chân trời rộng lớn, cao xa - giải thoát tự thân và giải thoát con người khỏi những tâm lý tiêu cực giữa cuộc đời biến động. Vượt qua bản tánh thường tình của người phụ nữ, MahàPajàpati Gotamiđã chứng minh rằng, người nữ cũng có khả năng chứng ngộ như nam giới, ngoài bản thân mình, bà cũng giúp cho nhiều nữ nhân khác thể nghiệm được chân lý Phật Đà. Việc khai sinh ra Ni đoàn hơn 2500 trước nếu không có một MahàPajàpati với quyền lực vốn có (vốn là một đương kim Hoàng 13
- Xem thêm -