Tài liệu Vai trò của từ láy trong một số tác phẩm văn chương

  • Số trang: 137 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 54 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM ------------- NGUYỄN THỊ THANH HÒA NGUYỄN THỊ THANH HÒA VAI TRÒ CỦA TỪ LÁY TRONG MỘT SỐ VAI TRÒ CỦA TỪ LÁY TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN CHƢƠNG TÁC PHẨM VĂN CHƢƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC Thái Nguyên, năm 2010 Thái Nguyên, năm 2009 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM ------- NGUYỄN THỊ THANH HÒA VAI TRÒ CỦA TỪ LÁY TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN CHƢƠNG Chuyên ngành: Ngôn ngữ học Mã số: 602201 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS Hoàng Cao Cƣơng Thái Nguyên, năm 2010 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2 http://www.lrc-tnu.edu.vn LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành luận văn này, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ to lớn và quý báu. Tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Hoàng Cao Cương – Viện Ngôn Ngữ học đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình thực hiện luận văn. Tôi cũng xin cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn, khoa Sau đại học, trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu, cảm ơn bạn bè và các anh chị đồng nghiệp đã nhiệt tình trao đổi, góp ý để tôi có thể hoàn thành luận văn. Nguyễn Thị Thanh Hòa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 3 http://www.lrc-tnu.edu.vn LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan, công trình nghiên cứu này là thực sự của cá nhân, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, kiến thức kinh điển, nghiên cứu khảo sát các tác phẩm của các tác giả dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Hoàng Cao Cương. Các số liệu và khẳng định trong luận văn là trung thực, do tôi tự nghiên cứu, khảo sát và thực hiện. Nguyễn Thị Thanh Hòa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 4 http://www.lrc-tnu.edu.vn DANH MỤC CÁC BẢNG STT 1 Tên Bảng Trang Bảng 2.1. Kết quả khảo sát từ láy 33 trong các tác phẩm thơ ca 2 Bảng 2.2. Đối ứng thanh điệu trong các 37 từ láy được khảo sát 3 Bảng 2.3. Đối ứng âm đầu trong các 38- 39 từ láy được khảo sát 4 Bảng 2.4. Đối ứng âm chính trong các 40 từ láy được khảo sát 5 Bảng 2.5. Đối ứng âm cuối trong các 41 từ láy được khảo sát Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 5 http://www.lrc-tnu.edu.vn MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài ......................................................................................................... 8 2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu .......................................................................... 9 3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu ......................................... 10 4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu .......................................... 11 5. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 11 6. Đóng góp của luận văn ............................................................................. 11 7. Kết cấu luận văn ....................................................................................... 12 NỘI DUNG Chƣơng 1. ĐẶC ĐIỂM CỦA TỪ LÁY 1.1. Dẫn nhập ............................................................................................... 13 1.2. Các phương thức cấu tạo từ trong tiếng Việt ......................................... 13 1.2.1. Phương thức ghép ........................................................................ 14 1.2.2. Phương thức láy ........................................................................... 16 1.3. Đặc điểm của từ láy tiếng Việt .............................................................. 16 1.3.1. Đặc điểm hình thức ................................................................. 16 1.3.1.1. Từ láy đôi ............................................................................. 17 1.3.1.2. Từ láy ba .............................................................................. 19 1.3.1.3. Từ láy tư .............................................................................. 20 1.3.2. Đặc điểm ngữ nghĩa ..................................................................... 21 1.3.2.1. Từ láy đôi................................................................................. 21 1.3.2.2. Từ láy ba, tư ............................................................................. 24 1.4. Láy và các biện pháp nghệ thuật trong văn chương ............................... 25 1.4.1. Tính nghệ thuật trong văn chương ............................................ 25 1.4.2. Vai trò của từ láy trong thể hiện tính nghệ thuật văn chương .... 28 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 6 http://www.lrc-tnu.edu.vn 1.5. Tiểu kết ................................................................................................. 31 Chƣơng 2. ĐẶC ĐIỂM CỦA TỪ LÁY TRONG THƠ CA 2.1. Dẫn nhập ............................................................................................... 32 2.2. Mật độ từ láy trong thơ ca ..................................................................... 32 2.3. Nhận xét về đặc điểm của từ láy trong thơ ca ........................................ 34 2.3.1. Đặc điểm hình thức ..................................................................... 34 2.3.1.1. Độ dài từ láy ......................................................................... 34 2.3.1.2. Quy tắc Điệp – Đối trong từ láy ............................................. 34 2.3.1.3. Các kiểu đối ứng ngữ âm ..................................................... 36 2.3.2. Đặc điểm ngữ nghĩa ................................................................... 41 2.4. Tiểu kết ................................................................................................. 45 Chƣơng 3. NHẬN XÉT VỀ VAI TRÒ CỦA TỪ LÁY TRONG THƠ CA 3.1 Dẫn nhập ............................................................................................... 47 3.2. Các vai trò của từ láy trong thơ ca ......................................................... 47 3.2.1. Trong vai trò thông báo ............................................................... 47 3.2.2. Trong vai trò biểu cảm ................................................................ 53 3.2.3. Trong vai trò tạo vần ................................................................... 57 3.2.4. Trong vai trò tạo nhịp .................................................................. 64 3.2.5. Trong vai trò tạo hình tượng ........................................................ 70 3.2.6. Từ láy và đặc thù cú pháp thơ ...................................................... 82 3.3. Tiểu kết .................................................................................................. 84 KẾT LUẬN ................................................................................................................. 86 DANH MỤC TÁC GIẢ, TÁC PHẨM ................................................................... 88 TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 89 PHỤ LỤC..................................................................................................................... 93 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 7 http://www.lrc-tnu.edu.vn MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1.1. Láy là một phương thức cấu tạo từ quan trọng của tiếng Việt, giúp sản sinh ra khối lượng từ khá lớn bổ sung vào kho từ vựng tiếng Việt. Đây có thể được coi là mảng từ vựng thể hiện rõ nhất đóng góp của hình thức ngữ âm tiếng Việt trong việc biểu lộ tư tưởng tình cảm của người sử dụng ngôn ngữ. Sự hoà phối âm thanh trong nội bộ cấu trúc từ đã tạo ra những hiệu quả ngữ nghĩa bất ngờ cũng như tạo điểm nhấn cho sự diễn đạt mà chỉ khi đọc lên ta mới cảm thụ hết được. Chính vì vậy, từ láy đã và đang là đề tài nghiên cứu hấp dẫn với các học giả trong quá trình nghiên cứu về từ tiếng Việt. Bên cạnh những kết quả đã đạt được, các nhà ngôn ngữ học cũng nhận thấy vẫn còn nhiều vấn đề về từ láy chưa được giải quyết thoả đáng, cần có sự nghiên cứu thêm. 1.2. Văn học là một ngành nghệ thuật đặc biệt, nghệ thuật ngôn từ. Không một ngành nghệ thuật nào có thể tái hiện hoàn chỉnh bức tranh hiện thực đời sống phong phú, đa dạng, nhiều màu vẻ như văn học. Điều đó có được là nhờ chức năng thi ca của ngôn ngữ. Bản thân vỏ âm thanh của ngôn ngữ khi được chọn lựa, đặt vào đúng chỗ sẽ góp phần khơi gợi xúc cảm nơi người đọc người nghe. Đây chính là nơi để từ láy có cơ hội phát huy vai trò của mình nhờ những đặc điểm hài âm, hài thanh khác biệt. 1.3. Mỗi tác phẩm nghệ thuật là một bức thông điệp thẩm mỹ mà nhà văn , nhà thơ muốn chia sẻ, gửi gắm tới người đọc. Nội dung của tác phẩm không hiển hiện rõ ràng mà nó được người đọc nhận thức thông qua quá trình tiếp nhận tác phẩm. Một nguyên tắc cơ bản khi tiếp nhận tác phẩm văn học là phải xuất phát từ chính ngôn từ mà người sáng tác đã dày công chọn lựa. Trong đó, những từ mang sức nặng nội dung, đặc điểm nổi bật về hình thức luôn được chú ý hơn. Từ láy là một điểm nhấn như vậy. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 8 http://www.lrc-tnu.edu.vn Từ những lí do này, chúng tôi lựa chọn đề tài : “ Vai trò của từ láy trong một số tác phẩm văn chƣơng” với mong muốn tìm hiểu sâu thêm vốn từ láy Việt cũng như sự vận dụng từ láy để chuyên tải thông điệp nghệ thuật của các tác giả khi thai nghén đứa con tinh thần của mình. 2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu - Các công trình nghiên cứu về từ láy: Có thể khẳng định, cho tới hiện nay, số lượng công trình nghiên cứu về từ láy tiếng Việt của các học giả trong nước, ngoài nước là khá lớn. Hầu như tất cả các đặc trưng của từ láy đều đã được đề cập đến ở các mức độ khác nhau: cơ trình cấu tạo, đặc trưng ngữ nghĩa, giá trị biểu cảm,…Rất nhiều phát hiện đã trở thành tri thức mang tính chất nền móng để tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này. Trong phạm vi những tài liệu đã có, khái niệm “từ láy” đã có nhiều ý kiến khác nhau do các nhà nghiên cứu xuất phát từ hai quan điểm : Quan điểm coi từ láy là ghép( Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Thiện Giáp,…) Quan điểm coi từ láy là một loại của vốn từ vựng tiếng Việt( Đỗ Hữu Châu, Hoàng Văn Hành, Hà Quang Năng,…) Hiện nay các tác giả đều thống nhất coi từ láy là một tiểu loại tương đương với từ ghép, được sản sinh ra từ phương thức láy. Cuốn “Từ láy trong tiếng Việt” của tác giả Hoàng Văn Hành nhận được nhiều sự đồng tình, trở thành xuất phát điểm cho nhiều công trình nghiên cứu sau đó. Từ việc xem xét các cách nhìn khác nhau đối với hiện tượng láy, tác giả đã khẳng định quan điểm coi láy là sự hoà phối ngữ âm có giá trị biểu trưng hoá. Ông đã khái quát thành qui tắc điệp và đối trong hình thức ngữ âm của từ láy, chỉ ra các kiểu láy, cơ cấu nghĩa của từ láy, cung cấp một số cứ liệu về quá trình hình thành và phát triển của từ láy Tiếng Việt, giá trị sử dụng của từ láy trong thực tế. Ngoài ra cũng không thể không nhắc tới các tác giả Phi Tuyết Hinh, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 9 http://www.lrc-tnu.edu.vn Nguyễn Thị Hai, Phan Văn Hoàn, Hoàng Cao Cương, Hà Quang Năng,… với những công trình luận án, những bài nghiên cứu có giá trị về vốn từ láy tiếng Việt. - Các công trình nghiên cứu về vai trò của từ láy trong văn chương: Trong điều kiện những tư liệu có được, chúng tôi nhận thấy cũng đã có nhiều tác giả chú ý tới vấn đề này. Nhìn chung họ đều chỉ ra giá trị gợi hình, gợi cảm, tạo âm hưởng của từ láy song chủ yếu ở tầm khái quát. Ngay cả trong cuốn “ Từ láy trong tiếng Việt” Hoàng Văn Hành, cuốn “Phong cách học tiếng Việt” – Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hoà, cuốn “99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt” – Đinh Trọng Lạc, dung lượng dành cho giá trị nghệ thuật của từ láy trong tác phẩm văn học cũng chưa tương xứng với biểu hiện của thực tiễn. Hoặc các tác giả đi sâu nghiên cứu giá trị của từ láy trong phạm vi sáng tác của một tác giả cụ thể ( Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Lan - Từ láy trong thơ Nguyễn Đình Chiểu, khoá luận tốt nghiệp của Trần Thị Kim Loan – Tìm hiểu về từ láy trong một số truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, …). Đáng kể nhất phải kể tới tác giả Nguyễn Thị Thanh Hà với luận án tiến sĩ “ Giá trị nghệ thuật và phương thức sử dụng hiện tượng láy trong thơ ca Việt Nam” . Tác giả đã đưa ra bảy tiêu chí để xác định từ láy trong tiếng Việt, trên cơ sở đó nghiên cứu giá trị và cách thức từ láy được sử dụng để từ láy phát huy tác dụng với thơ ca ở hai phương diện: tạo tính nhạc và tạo hình. Luận án thực sự có nhiều đóng góp cho việc nghiên cứu ngôn ngữ thơ Việt Nam. Như vậy có thể thấy vấn đề đóng góp của từ láy trong văn chương chưa phải đã được lấp đầy. Vẫn còn những mảng có thể đi sâu. Vì vậy, lựa chọn đề tài này, chúng tôi hi vọng sẽ đưa ra được những ý kiến thiết thực, đóng góp vào công tác nghiên cứu và giảng dạy tác phẩm văn chương. 3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 10 http://www.lrc-tnu.edu.vn Thực hiện đề tài “Vai trò của từ láy trong một số tác phẩm văn chƣơng” chúng tôi hướng tới một sự nghiên cứu cụ thể hơn về vai trò của từ láy với ngôn ngữ văn học qua việc khảo sát các tác phẩm thơ ca. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn thực hiện các nhiệm vụ: - Tìm hiểu cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu từ láy . - Miêu tả đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa, sự phân bố của từ láy trong các tác phẩm thơ được nghiên cứu. - Đưa ra những nhận xét bước đầu về vai trò của từ láy trong thơ ca. 4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của từ láy trong các tác phẩm thơ ca. Phạm vi nghiên cứu: từ láy trong các tác phẩm: Thơ Tố Hữu( NXB Giáo dục, 1998), Tuyển tập Nguyễn Bính( NXB Văn học, 2001), Huy Cận – Tác phẩm chọn lọc ( NXB Giáo dục, 2009), Nguyễn Đình Thi – Tuyển tác phẩm văn học – Thơ ( NXB Văn học, 2001) 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: - Phương pháp miêu tả : các thủ pháp được áp dụng là các thủ pháp luận giải bên trong và luận giải bên ngoài . Với các thủ pháp luận giải bên trong chính là việc phân loại , hệ thống hóa các đơn vị ngôn ngữ thành các nhóm, các loại, các tiểu hệ thống phân cấp , các hệ thống con ; thủ pháp phân tích; thủ pháp đối lập ; thủ pháp phân tích trường nghĩa... Cùng với chúng là các thủ pháp luận giải bên ngoài: văn hóa, tâm lí tộc người, thống kê... - Các phương pháp nghiên cứu của các ngành khoa học khác: quy nạp, diễn dịch, mô hình hóa... 6. Những đóng góp của luận văn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 11 http://www.lrc-tnu.edu.vn Thực hiện đề tài này, chúng tôi mong muốn bước đầu chỉ vai trò, hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng từ láy trong tác phẩm văn chương, trước hết là thơ ca. Chúng tôi hi vọng đề tài này cũng sẽ giúp ích nhất định cho việc giảng dạy các tác phẩm thơ của các tác giả trong nhà trường. 7. Kết cấu luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, nội dung chính của luận văn được phân bố trong ba chương: Chương 1. Đặc điểm của từ láy Chương 2. Đặc điểm của từ láy trong thơ ca Chương 3. Nhận xét về vai trò của từ láy trong thơ ca Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 12 http://www.lrc-tnu.edu.vn NỘI DUNG Chƣơng 1. ĐẶC ĐIỂM CỦA TỪ LÁY 1.1. Dẫn nhập Như những ngôn ngữ đơn lập khác, xét từ phương diện hình thái học, tiếng Việt có hai đặc điểm quan trọng. Đó là: a.) Đơn vị hình thái nhỏ nhất của từ (hình vị) đa phần có vỏ ngữ âm là một âm tiết và b.) Ranh giới giữa từ và cấu trúc lớn hơn từ (từ tổ) thường không rõ ràng và hiển nhiên. Hai đặc điểm này là nguyên nhân chính dẫn đến sự không trùng hợp nhau hoàn toàn về danh sách từ ngữ giữa các nhà Việt ngữ học. Do nhiệm vụ của luận văn là bước đầu khảo sát hoạt động của từ láy trong văn bản nghệ thuật nên chúng tôi không thể đặt trọng tâm vào việc phân tích phê bình các đặc điểm vừa nêu đối với nhận diện từ tiếng Việt. Các nhận thức sau đây về từ láy dựa trên sự công nhận các tri thức truyền thống, mang tính phổ thông về kiểu cấu tạo loại từ này. Trên cơ sở đó chúng tôi tiến hành nhận diện và lên danh sách các từ láy đã xuất hiện trong văn bản được thu thập. Nhận thức về cấu tạo từ tiếng Việt có liên quan với đề tài gồm: 1. Các phương thức cấu tạo từ tiếng Việt 2. Các đặc điểm của kiểu từ láy. 1.2. Phƣơng thức cấu tạo từ trong tiếng Việt Phương thức cấu tạo từ là cách thức mà hệ thống ngôn ngữ tác động vào các hình vị nhằm sản sinh ra các từ cụ thể cho các chức năng ở cấp độ hình thái học của một ngôn ngữ. Nếu coi hình vị và từ là hai đơn vị quan trọng trong cấp độ này thì việc phương thức cấu tạo từ chính là cách làm cho các hình vị, những đơn vị hình thái không độc lập, được gia nhập vào một cấu trúc hình thái mang tính độc lập cao hơn, thực hiện được các nhiệm vụ cụ thể như định danh hoặc tham gia vào các cấu tạo của cấp độ cấu trúc cao hơn: nhiệm vụ cú pháp ở phát ngôn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 13 http://www.lrc-tnu.edu.vn Nếu không kể đến phương thức từ hóa hình vị để tạo nên từ (đơn) [10, 27], như kiểu: {bàn} (hình vị)  "bàn" (từ); {học} (hình vị)  "học" (từ); {lá} (hình vị)  "lá" (từ),... thì từ tiếng Việt có thể coi là kết quả tác động vào hình vị và chuỗi hình vị theo 2 phương thức chính là ghép và láy. 1.2.1. Phƣơng thức ghép Theo Đỗ Hữu Châu : “ Ghép là phương thức dùng hai hoặc hơn hai đơn vị cấu tạo từ riêng rẽ ghép lại với nhau theo những qui tắc nhất định để được một từ, gọi là từ ghép” [ 9, 34]. Như vậy phương thức ghép tác động vào những đơn vị cấu tạo từ có sẵn, riêng rẽ với nhau trên cơ sở mối quan hệ về nghĩa giữa các đơn vị đó. Nhìn chung, các đơn vị tạo thành một từ ghép đều mang ý nghĩa ( có thể hoạt động độc lập hay không độc lập) Ví dụ: Xe đạp, quốc gia, hải phận. Trên thực tế cũng có một số từ ghép mà chỉ còn một thành tố là rõ nghĩa, thành tố còn lại đã mờ nghĩa do quá trình biến động của lịch sử ( chợ búa, tre pheo…) Mối quan hệ về nghĩa giữa các đơn vị trong từ ghép được chia thành hai loại: quan hệ chính phụ, và quan hệ đẳng lập. Theo cách phân chia đó, chúng ta cũng có hai loại từ ghép tương ứng: từ ghép chính phụ, từ ghép đẳng lập. Từ ghép chính phụ còn có tên gọi: từ ghép phân nghĩa, từ ghép phụ nghĩa. Từ ghép chính phụ là những từ ghép được cấu tạo từ hai hình vị (hay đơn vị) theo quan hệ chính phụ, trong đó có một hình vị chỉ loại lớn (sự vật, hoạt động, tính chất) và một hình vị có tác dụng phân hóa loại lớn đó thành những loại nhỏ hơn nhưng độc lập với nhau và độc lập với loại lớn. Các từ ghép phân nghĩa lập thành những hệ thống gồm một số từ thống nhất với nhau nhờ hình vị chỉ loại lớn. Do đó, ý nghĩa trong từ ghép phân nghĩa bao giờ cũng nhỏ hơn ý nghĩa của từ đơn chỉ loại tương ứng, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 14 http://www.lrc-tnu.edu.vn Ví dụ: Xe đạp < xe Xe máy < xe Từ ghép phân nghĩa lại bao gồm từ ghép phân nghĩa một chiều và từ ghép phân nghĩa hai chiều. Từ ghép phân nghĩa một chiều là những từ ghép chỉ có một hình vị chỉ loại lớn có tác dụng sắc thái hóa ý nghĩa của các hình vị chỉ loại lớn: Xe đạp < xe Cá chép < cá Xanh lá < xanh Từ ghép phân nghĩa hai chiều là những từ ghép mà cả hai hình vị vừa có tính chất chì loại lớn, vừa có tính chất hình vị phân nghĩa- hình vị này phân nghĩa cho hình vị kia và ngược lại. Ví dụ: Đảng viên, điện năng… Từ ghép đẳng lập, còn có tên gọi từ ghép hợp nghĩa là những từ ghép do hai hình vị tạo nên trong đó không có hình vị nào là hình vị chỉ loại lớn, không có hình vị nào là hình vị phân nghĩa. Từ ghép loại này không biểu thị những loại nhỏ hơn, trái lại chúng biểu thị loại rộng hơn, lớn hơn, bao trùm hơn so với loại của từng hình vị tách riêng. Hai hình vị trong từ ghép hợp nghĩa phải mang ý nghĩa bình đẳng với nhau (cùng thuộc một phạm trù ngữ nghĩa, đồng nghĩa, gần nghĩa, hoặc trái nghĩa,…). Từ ghép hợp nghĩa cũng được chia thành ba tiểu loại dựa vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa và phạm vi biểu đạt của từ: Từ ghép hợp nghĩa tổng hợp: là những từ thuộc mô hình ngữ nghĩa: AB > A +B. Ví dụ: ếch nhái, quần áo… Từ ghép hợp nghĩa chuyên chỉ loại: là những từ thuộc mô hình ngữ nghĩa AB = A hoặc AB = B. Ví dụ: thuyền bè, chợ búa… Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 15 http://www.lrc-tnu.edu.vn Từ ghép hợp nghĩa bao gộp: Là những từ thuộc mô hình ngữ nghĩa AB > A + B. Ví dụ: điện nước, gang thép, chạy nhảy… Ngoài ra, trong phương thức ghép còn có thể kể thêm loại từ ghép ngẫu hợp: những từ chưa xác định được quan hệ giữa các hình vị tạo nên nó (cả về ngữ âm lẫn ngữ nghĩa). Ví dụ: bởi vì, mặc dù, cho nên, cao su … Tuy nhiên số lượng các từ ghép ngẫu hợp không nhiều trong danh sách các từ ghép của tiếng Việt, chúng thường được tạo nên từ các hình vị hư. 1.2.2. Phƣơng thức láy Trường hợp điển hình của phương thức cấu tạo từ này là sự tác động của phương thức cấu tạo từ vào một hình vị gốc để tạo nên một hình vị thứ hai, láy lại hình vị gốc. Hình vị láy có hình thức ngữ âm giống hoàn toàn hay giống một bộ phận với hình vị gốc. Cấu trúc mới tạo ra bao gồm hình vị gốc kết hợp với hình vị láy tạo nên từ láy. Ví dụ: đèm đẹp, lâng lâng, lao xao… Nếu như phương thức ghép tác động vào những đơn vị cấu tạo từ sẵn có, riêng rẽ, đối lập với nhau thì phương thức láy chỉ tác động vào một đơn vị cấu tạo từ làm nảy sinh đơn vị mới có quan hệ thứ sinh với đơn vị gốc, cũng phải tuân theo những quy luật nhất định. Theo Hoàng Văn Hành đó là quy tắc điệp - đối. Theo qui tắc này, các hình vị trong một từ láy vừa phải có sự điệp lại (giống nhau) vừa phải có sự đối lập (khác nhau). Quy tắc này hiện hữu trong tất cả các bộ phận cấu tạo nên một âm tiết: thanh điệu, âm đầu, vần…Kết quả của sự điệp, đối này cho ta các loại từ láy: láy hoàn toàn, láy âm, láy vần. 1. 3. Đặc điểm từ láy tiếng Việt 1. 3. 1. Đặc điểm hình thức Đa số các nhà nghiên cứu đều tán đồng quan điểm: láy là phương thức cấu tạo từ. Từ láy là kết quả của phương thức láy với đặc trưng hòa phối ngữ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 16 http://www.lrc-tnu.edu.vn âm. Như vậy, ngữ âm chính là đặc điểm nổi bật, được quan tâm hàng đầu khi xem xét từ láy bởi nhắc đến từ láy, người bản ngữ sẽ có ấn tượng trước hết đến hình thức đặc thù của nó. Điệp và đối là những quy tắc, hay là những hình thái thể hiện sự hòa phối đó[ 24, 30]. Hoàng Văn Hành chỉ rõ “ điệp và đối ở đây được hiểu theo nghĩa rộng. Điệp là sự lặp lại, sự đồng nhất về âm, về nghĩa, còn đối là sự sai khác, sự dị biệt cũng về âm, về nghĩa. Đồng nhất và dị biệt có quy tắc chứ không phải là tùy tiện, là ngẫu nhiên” [ 24, 88). Xuất phát từ quan điểm trên, từ láy được phân loại về hình thức ngữ âm theo tiêu chí: - Số lượng âm tiết( tiếng) trong từ láy. - Sự đồng nhất hay khác biệt trong thành phần cấu tạo trong các thành tố trong từ láy do cách phối hợp ngữ âm tạo nên. 1. 3.1.1. Từ láy đôi Về mặt hình thức, từ láy đôi bao gồm hai âm tiết (tiếng) có quan hệ với nhau về mặt ngữ âm, số lượng từ láy đôi là rất lớn, dành được nhiều sự quan tâm. “Từ láy đôi chiếm vị trí hàng đầu không chỉ vì nó chiếm số lượng lớn nhất trong tổng số các từ láy mà chính là vì ở từ láy đôi, tất cả các đặc trưng cơ bản thể hiện các bản chất của hiện tượng láy cả ở bình diện thể hiện bằng âm thanh lẫn ở bình diện ngữ nghĩa đều được biểu lộ đầy đủ” [37, 21]. Để tiện cho việc nghiên cứu, người ta tiếp tục dựa vào quy tắc “ điệp – đối” về hình thức ngữ âm để phân loại từ láy đôi thành: từ láy đôi hoàn toàn, từ láy đôi bộ phận. * Từ láy hoàn toàn Từ láy hoàn toàn “là những từ láy có sự đồng nhất, tương ứng hoàn toàn giữa các thành phần cấu tạo của hai thành tố” [37, 21]. Có những ý kiến khác nhau về sự “láy hoàn toàn” này. Song các nhà ngôn ngữ học đã thống nhất: láy hoàn toàn không phải là sự lặp lại đơn thuần của âm thành một cách cơ giới mà “ là sự lặp lại âm thanh có biến đổi theo Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 17 http://www.lrc-tnu.edu.vn quy tắc hòa phối ngữ âm chặt chẽ và có tác dụng tạo nghĩa”. Mức độ biến đổi ngữ âm cụ thể: Từ láy hoàn toàn giữa hai tiếng giống hệt nhau về thành phần cấu tạo, chỉ khác nhau về trọng âm, thể hiện ở độ nhấn mạnh và kéo dài trong phát âm: xanh xanh, ầm ầm, chằm chằm… trọng âm thường rơi vào tiếng thứ hai của từ. - Từ láy hoàn toàn có sự khác biệt về thanh điệu. Do hiện tượng phát âm lướt nhẹ ở tiếng thứ nhất nên có thể xảy ra hiện tượng biến thanh này tạo thế đối. Sự biến thanh này tuân theo quy luật: + Đối lập bằng trắc: + Đối lập âm vực cao- thấp theo quy luật cùng âm vực. Thanh điệu trong từ láy phải tuân theo quy luật: cùng âm vực. Các thanh ở hai tiếng đều phải có cùng âm vực (hoặc cùng cao: không, sắc, hỏi hoặc cùng thấp: huyền, ngã, nặng) và nếu đã cùng âm vực thì sẽ đối lập bằngtrắc. Sự biến thanh này nhằm tạo ra sự hài hòa, dễ đọc, dễ nghe. Tuy nhiên, cũng có một số từ thanh điệu không tuân theo quy luật cùng âm vực này: khít khịt, sát sạt…và cả hai tiếng đều có nghĩa. Chính vì vậy Hoàng Cao Cương đã mở rộng đặc điểm thanh điệu trong từ láy đôi : “các thanh chung nhau một nét ngữ âm nào đó đều có thể được kết hợp với nhau trong các từ láy”[13, 6]. - Từ láy hoàn toàn giữa hai tiếng có sự khác nhau về âm cuối. Do hiện tượng phát âm lướt nhẹ ở tiếng đầu tiên nên trong câu xảy ra hiện tượng biến vần theo quy luật chặt chẽ: phụ âm tắc vô thanh chuyển thành phụ âm vang mũi: -p => -m -t => -n -k => -ng * Từ láy bộ phận Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 18 http://www.lrc-tnu.edu.vn Từ láy bộ phận là từ láy trong đó có sự phối hợp ngữ âm của từng bộ phận, âm tiết theo những nguyên tắc nhất định. Trong từ láy đôi, kiểu láy bộ phận là kiểu láy chính, xét cả về số lượng từ, cả về tính đa dạng, phong phú của quy tắc phối hợp âm thanh[ 37, 26]. Dựa vào bộ phận được láy lại, chúng ta có hai kiểu nhỏ: từ láy âm và từ láy vần. Từ láy âm: là những từ láy mà âm đầu được láy lại, phần vần khác nhau, thanh điệu có thể giống hoặc khác nhau. Ví dụ: thập thò, bập bềnh…các khuôn vần được kết hợp để tạo từ có các nguyên âm chính biến đổi theo quy luật: có sự luân phiên giữa các nguyên âm khác dòng, cùng độ mở, các nguyên âm trầm luân phiên với các nguyên âm bổng cùng một bậc âm lượng. Ví dụ: /u-i/, /ê-a/, /u-ơ/,… Một số khuôn vần trong từ láy âm có tính sản sinh cao:[a], [u], [âp], [ăn], [ênh – ang],… Từ láy vần: là từ láy trong đó phần vần được lặp lại ở hai âm tiết, phần âm đầu khác biệt. Khi vần đồng nhất thì phần âm đầu phải khác biệt nhau theo xu hướng: trong mỗi cặp hai phụ âm đầu phải khác nhau về phương thức và bộ vị cấu âm. 1. 3.1.2.Từ láy ba Từ láy ba là những đơn vị gồm ba tiếng có sự hòa phối ngữ âm với nhau, chúng là kết quả của hai lần lặp lại tiếng gốc bằng cách biến đổi theo những quy tắc nhất định. Số lượng từ láy ba không nhiều, hầu hết là từ láy hoàn toàn. Quy tắc điệp – đối được thể hiện trong cấu tạo của từ láy ba là + Dị hóa phụ âm đầu: mơ > tơ mơ > lơ tơ mơ + Chuyển đổi phụ âm cuối theo /m-p, n-t, ng-k/. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 19 http://www.lrc-tnu.edu.vn + Chuyển đổi thanh điệu: tiếng thứ nhất và tiếng thứ ba phải đối lập nhau về bằng trắc hoặc đối lập về âm vực cao- thấp. Tiếng thứ hai của từ láy ba phải mang thanh bằng. 1. 3.1.3.Từ láy tƣ Có nhiều ý kiến khác nhau về việc xác định bản chất của từ láy tư. Có người quan niệm từ láy tư là “ hình thức lặp lại trong phạm vi từ lắp láy” [35, 365]. Có quan niệm cho rằng từ láy tư : “là loại từ láy âm xây dựng trên cơ sở từ láy đôi”. Quan niệm thứ ba lại cho rằng “láy tư là kết quả của phép nhân đôi từ láy đôi dưới sự chi phối của quy tắc điệp và đối”. Quan niệm khác lại cho rằng từ láy tư có một phần gốc là một từ ghép. Theo Hà Quang Năng: từ láy tư là một cấu trúc gồm bốn tiếng trong đó chỉ có nhiều nhất một tiếng hoặc một cặp đôi hai tiếng liền nhau có ý nghĩa từ vựng chân thực, có khả năng hoạt động độc lập, nằm trong sự hòa phối âm thanh với cả tổng thể hoặc cặp hai tiếng còn lại theo những quy luật nhất định tạo nên ý nghĩa khái quát nào đó [37, 39]. Từ láy tư gồm có những kiểu nhỏ: - Từ láy tư trong đó lặp lại 2 lần từ láy đôi cơ sở, đồng thời đổi vần của yếu tố thứ 2 thành [a] hoặc [ơ] cho phù hợp với thanh điệu và âm vực của vần bị thay thế. Ví dụ: lập cà lập cập, hớt hơ hớt hải,... - Từ láy tư có sự tách ra giữa hai tiếng ở phần láy và hai tiếng ở phần gốc. Mỗi tiếng của từ láy đôi cơ sở được ghép thêm một tiếng ở phần láy điệp vần với nó để tạo nên một cặp láy vần. Ví dụ: xăng xít => lăng xăng lít xít Nhồm nhoàm => lồm nhồm loàm nhoàm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 20 http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Xem thêm -